Chương I. PETER XUẤT HIỆN

Mọi đứa trẻ trên thế gian này rồi sẽ phải lớn lên, ngoại trừ một người. Chúng chẳng mấy chốc sẽ tự nhận ra sự thật phũ phàng ấy, và cách Wendy ngộ ra cũng thật nhẹ nhàng. Lên hai tuổi, vào một ngày nọ, khi đang mải mê nô đùa ngoài vườn, cô bé hái một bông hoa rồi chạy ùa đến bên mẹ. Hẳn là dáng vẻ con gái lúc ấy đáng yêu vô ngần, nên bà Darling vô thức áp tay lên ngực, buột miệng thốt lên: "Ôi, giá mà con cứ mãi bé bỏng thế này thì tốt biết bao!" Chuyện chỉ có vậy, hai mẹ con không bàn thêm nửa lời, nhưng kể từ dạo ấy, Wendy biết chắc chắn rằng mình rồi sẽ lớn. Bất kỳ đứa trẻ nào bước qua tuổi lên hai cũng đều tự hiểu được điều đó. Hai tuổi, chính là dấu mốc khởi đầu cho một sự kết thúc.

Nhà của gia đình Darling nằm ở số 14. Trước khi Wendy cất tiếng khóc chào đời, mẹ cô bé nghiễm nhiên là người giữ vị trí độc tôn trong nhà. Bà là một quý bà mang vẻ đẹp kiều diễm, sở hữu một tâm hồn lãng mạn bay bổng cùng khuôn miệng lấp lửng những nét trêu đùa tinh nghịch. Tâm hồn tuyệt đẹp ấy có nét gì đó giông giống những chiếc hộp gỗ xếp lồng vào nhau của phương Đông huyền bí1; dẫu bạn có háo hức mở ra bao nhiêu chiếc đi chăng nữa, thì vẫn sẽ luôn còn một chiếc khác ẩn sâu bên trong. Và trên khóe miệng ngọt ngào, tinh nghịch của bà còn vương vấn một nụ hôn mà Wendy chưa bao giờ chạm tới được, dù cho nó vẫn luôn ngự trị ngay phía góc phải viền môi.

Chuyện ông Darling giành được trái tim bà cũng thật ly kỳ. Ngày ấy, những quý ngài từng quen biết bà từ thuở nhỏ đồng loạt nhận ra mình đã trót si tình cô thiếu nữ xinh đẹp. Bọn họ kéo đến nhà bà nườm nượp để cầu hôn. Ngoại trừ ông Darling! Ông đã nhanh trí vẫy ngay một chiếc xe ngựa, lao đến đầu tiên và nhờ sự nhanh nhạy đó mà rước được nàng về dinh. Ông có được trọn vẹn tình yêu và con người bà, chỉ trừ chiếc hộp sâu thẳm nhất nằm tít bên trong và nụ hôn bí ẩn kia. Ông chẳng bao giờ biết đến sự tồn tại của chiếc hộp, và theo thời gian, ông cũng bỏ luôn ý định đoạt lấy nụ hôn ấy. Wendy vẫn thường nghĩ, có họa chăng là hoàng đế Napoleon2 mới mong chiếm được nó. Nhưng tôi lại mường tượng ra cảnh ngài ấy hùng hổ xông vào nỗ lực, để rồi phải hậm hực đóng sầm cửa bỏ đi.

Ông Darling rất hay khoe với Wendy rằng mẹ cô không chỉ yêu thương, mà còn vô cùng kính trọng ông. Ông tự nhận mình là một học giả uyên thâm trong thế giới cổ phiếu và trái phiếu. Đương nhiên, chẳng ai thực sự tường tận những thứ rắc rối ấy, nhưng ông lại toát ra vẻ của một người thấu hiểu vạn vật. Cái cách ông phán xanh rờn về chuyện cổ phiếu lên giá hay trái phiếu rớt giá dư sức khiến bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải nể phục sát đất.

Vào ngày cưới, bà Darling khoác lên mình chiếc váy trắng tinh khôi. Thuở mới lập gia đình, bà ghi chép sổ sách chi tiêu vô cùng cẩn thận, mải mê tới mức như thể đang chơi một trò chơi thú vị. Bà không bỏ sót dù chỉ là một mầm cải Brussels. Ấy thế nhưng, lâu dần, bóng dáng những cây súp lơ cứ thế biến mất khỏi những trang sổ, nhường chỗ cho các bức bích họa vẽ những đứa trẻ không có khuôn mặt. Bà say sưa vẽ chúng vào đúng cái lúc lẽ ra phải ngồi cộng sổ. Đó là cách bà Darling gửi gắm những dự cảm về tương lai.

Wendy chào đời đầu tiên, sau đó đến John, và cuối cùng là Michael.

Suốt một hai tuần đầu sau khi Wendy ra đời, mọi người trong nhà vẫn còn lo sốt vó không biết có đủ khả năng tài chính để nuôi cô bé hay không, bởi gia đình giờ lại đèo bòng thêm một miệng ăn. Dù vô cùng tự hào về con gái, nhưng ông Darling vẫn là một người đàn ông vô cùng thực tế. Ông ngồi bên mép giường, nắm lấy tay vợ và bắt đầu nhẩm tính các khoản chi tiêu, trong khi bà Darling nhìn ông bằng ánh mắt van nài. Bà khao khát được giữ con lại dẫu có chuyện gì xảy ra. Nhưng ông thì không làm việc theo cảm tính. Cách của ông là rút một chiếc bút chì và một mảnh giấy ra; nếu bà vô tình đưa ra vài lời gợi ý làm ông phân tâm, ông sẽ bắt buộc phải tính lại từ đầu.

"Nào, em đừng có ngắt lời anh," ông khẩn khoản.

"Anh đang có một bảng mười bảy shilling3 ở đây, cộng thêm hai bảng sáu shilling ở văn phòng. Anh có thể bớt chút tiền cà phê ở chỗ làm, cứ cho là mười shilling đi, vậy là ta có hai bảng chín shilling sáu pence. Cộng với mười tám bảng ba shilling của em, tổng cộng là ba bảng chín shilling bảy pence. Thêm năm bảng không shilling không pence trong sổ séc của anh, vị chi là tám bảng chín shilling bảy pence-ai đang ngọ nguậy thế nhỉ?-tám bảng chín shilling bảy pence, nhớ số bảy nhé-đừng nói gì cả, em yêu-rồi trừ đi một bảng em vừa cho gã đàn ông đến gõ cửa mượn-suỵt, im nào, con-đấy em thấy chưa, em làm anh quên béng rồi!-anh vừa nói chín bảng chín shilling bảy pence phải không? Đúng rồi, anh nói chín bảng chín shilling bảy pence. Vấn đề cốt lõi bây giờ là, liệu chúng ta có thể chật vật nuôi con một năm với đúng chín bảng chín shilling bảy pence không?"

"Tất nhiên là chúng ta làm được rồi, anh George," bà quả quyết. Thực ra bà đã trót thiên vị Wendy quá đỗi, chứ trong hai vợ chồng, ông Darling mới thực sự là người vĩ đại hơn.

"Nhớ tính cả tiền chữa bệnh quai bị đấy nhé," ông cảnh báo vợ với một giọng gần như đe dọa, rồi lại cặm cụi tính toán. "Quai bị một bảng, anh đã ghi chú rõ ràng đây rồi, nhưng anh dám cá là nó sẽ ngốn đứt khoảng ba mươi shilling-đừng nói gì cả-sởi một bảng năm shilling, sởi Đức4 nửa guinea5, tổng cộng là hai bảng mười lăm shilling sáu pence-đừng có lắc lắc ngón tay với anh thế, em yêu-ho gà, cứ cho là mười lăm shilling đi" -ông cứ lẩm nhẩm như thế, mỗi lần cộng lại ra một con số khác nhau. Nhưng rốt cuộc Wendy vẫn an toàn vượt qua bài toán kinh tế, với chi phí điều trị bệnh quai bị được cắt giảm xuống còn mười hai shilling sáu pence, và hai loại sởi được gộp chung làm một.

Lúc John ra đời, một trận xôn xao tương tự cũng nổ ra, và đến lượt Michael thì tình hình còn căng thẳng hơn gấp bội. Nhưng cuối cùng, cả hai cậu bé đều được giữ lại. Chẳng bao lâu sau, người ta đã thấy ba đứa trẻ xếp thành một hàng ngay ngắn, rồng rắn theo bảo mẫu đến trường Mẫu giáo của cô Fulsom.

Bà Darling vốn chuộng sự tươm tất, còn ông Darling lại mang một niềm đam mê mãnh liệt với việc phải giống hệt hàng xóm láng giềng. Thế nên, chuyện nhà họ có một bảo mẫu âu cũng là lẽ dĩ nhiên. Vì gia cảnh túng bấn - hậu quả của việc lũ trẻ uống quá nhiều sữa - người "bảo mẫu" này thực chất lại là một cô chó săn giống Newfoundland6 đạo mạo tên là Nana. Trót sinh ra vô chủ, cô cứ lang thang cho đến khi nhà Darling nhận vào làm. Tuy mang lốt chó, Nana lại luôn coi việc chăm sóc trẻ em là sứ mệnh thiêng liêng, và gia đình Darling đã làm quen với cô ở vườn Kensington7, nơi cô thường dành phần lớn thời gian rảnh rỗi để dòm ngó vào những chiếc xe nôi. Đám hầu gái cẩu thả ghét cay ghét đắng Nana, bởi cô chuyên môn bám đuôi họ về tận nhà để mách lẻo với các vị phu nhân.

Nana quả là một vú em vô giá. Cô tắm rửa cho bọn trẻ vô cùng cẩn trọng, và chỉ cần một đứa trong vòng tay cô chăm sóc khẽ ré lên trong đêm, cô sẽ choàng tỉnh ngay lập tức. Đương nhiên, chuồng của cô được đặt ngay trong phòng trẻ. Cô có thiên phú bẩm sinh trong việc phân biệt đâu là tiếng ho qua loa không đáng ngại, và đâu là lúc cần phải quấn tất quanh cổ lũ trẻ. Cho đến những ngày cuối đời, cô vẫn một mực tin vào những phương thuốc dân gian như lá đại hoàng8, và luôn phát ra những tiếng hừ hừ khinh bỉ trước mọi lời bàn tán thời thượng về dăm ba con vi khuẩn vi trùng. Nhìn cách cô hộ tống bọn trẻ đến trường đúng là một bài học mẫu mực về sự khuôn phép: khi chúng ngoan ngoãn, cô khoan thai rảo bước bên cạnh; nhưng hễ chúng đi chệch hàng, cô liền húc đầu lùa chúng vào nề nếp. Những ngày John chơi bóng bầu dục, chẳng bao giờ cô quên mang theo áo len cho cậu, và miệng cô thường xuyên ngoạm hờ một chiếc ô để phòng khi trời đổ mưa. Ở trường của cô Fulsom có một căn phòng dưới tầng hầm dành riêng cho các bảo mẫu ngồi đợi. Trong khi những người khác an tọa trên ghế dài thì Nana nằm ngoan trên sàn nhà, nhưng đó cũng là điểm khác biệt duy nhất giữa họ. Đám bảo mẫu kia cố tình phớt lờ cô như thể cô thuộc tầng lớp thấp kém hơn, còn cô thì khinh khỉnh ngó lơ những câu chuyện phiếm vô thưởng vô phạt của họ. Cô cực kỳ ghét đám bạn của bà Darling tạt ngang phòng trẻ, nhưng hễ có ai ghé thăm, cô liền thoăn thoắt lột chiếc tạp dề lấm lem của Michael ra để tròng cho cậu bé chiếc áo viền xanh, vuốt lại váy áo Wendy cho phẳng phiu và vội vã chải chuốt lại mái tóc bù xù của John.

Chẳng có phòng trẻ nào có thể được điều hành bài bản hơn thế, ông Darling thừa biết điều đó, nhưng thỉnh thoảng ông vẫn canh cánh nỗi lo không biết hàng xóm có bàn tán gì không.

Ông còn phải lo giữ thể diện cho vị trí của mình ở chốn thị thành này nữa chứ.

Ngoài ra, Nana cũng khiến ông bận tâm theo một cách khác. Đôi lúc ông có linh cảm rằng cô ả chẳng hề ngưỡng mộ mình chút nào. "Em biết cô ấy vô cùng ngưỡng mộ anh mà, anh George," bà Darling thường mềm mỏng trấn an ông, rồi bà đưa mắt ra hiệu cho bọn trẻ phải tỏ ra đặc biệt ngoan ngoãn để lấy lòng cha. Và rồi những điệu nhảy tuyệt đẹp bắt đầu, thỉnh thoảng cô hầu gái duy nhất trong nhà - Liza - cũng được phép nhập hội. Trông cô bé lọt thỏm và bé nhỏ làm sao trong chiếc váy dài thượt cùng chiếc mũ hầu gái, dù hồi mới được thuê, cô bé đã thề thốt rằng mình đã qua cái tuổi lên mười từ lâu lắm rồi. Những trò đùa nghịch ấy mới rộn rã làm sao! Và người vui vẻ nhất bao giờ cũng là bà Darling. Bà xoay vòng cuồng nhiệt đến mức thứ duy nhất người ta có thể chớp được ở bà là nụ hôn nọ, và nếu cứ đâm sầm về phía bà, biết đâu bạn lại giành được nó. Chưa từng có một mái ấm nào giản dị và ngập tràn hạnh phúc đến thế, cho tới khi Peter Pan xuất hiện.

Bà Darling lần đầu tiên biết đến cái tên Peter là vào một đêm khi bà đang tần ngần dọn dẹp tâm trí của lũ trẻ. Đó là một thói quen tĩnh lặng mà bất kỳ người mẹ hiền nào cũng làm hằng đêm. Sau khi những đứa con bé bỏng chìm sâu vào giấc ngủ, họ sẽ nhẹ nhàng bước vào tiềm thức của chúng, bắt đầu thu dọn và sắp xếp lại mọi thứ cho thật tinh tươm để đón chờ một buổi sáng mới. Những món đồ lỡ đi lạc trong suốt một ngày dài được cẩn thận xếp lại về đúng chỗ cũ. Nếu bạn có khả năng thức tỉnh trong giấc mộng (điều mà dĩ nhiên chẳng ai làm được), bạn sẽ thấy chính mẹ mình cũng đang cặm cụi làm điều tương tự, và hẳn bạn sẽ thấy vô cùng thích thú khi ngắm nhìn bà lúc ấy. Công việc ấy hệt như thể dọn dẹp các ngăn kéo tủ vậy. Tôi đoán bạn sẽ hình dung ra cảnh bà đang quỳ gối, đôi lúc bật cười nán lại trước một vài món đồ của bạn, tự hỏi không biết bạn đã nhặt nhạnh thứ này ở xó xỉnh nào, bắt gặp những thứ ngọt ngào dễ thương và cả những điều không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm. Rồi bà sẽ trìu mến áp một món đồ lên má như ôm ấp một chú mèo con mềm mại, trong khi lại vội vã giấu nhẹm đi thứ khác cho khuất mắt. Sáng hôm sau, khi bạn tỉnh giấc, những trò nghịch ngợm tai quái và bao cảm xúc xấu xí bám riết lấy bạn lúc lên giường đều đã được xếp nhỏ lại, cất gọn lỏn dưới tận cùng tâm trí. Thay vào đó, nằm ngay ngắn ở trên cùng và được phơi phóng phẳng phiu là những suy nghĩ trong trẻo, đẹp đẽ nhất, sẵn sàng khoác lên người bạn cho ngày mới.

Không biết bạn đã bao giờ mường tượng ra bản đồ tâm trí của một con người trông như thế nào chưa. Đôi khi các bác sĩ vẫn vẽ ra biểu đồ về những bộ phận khác trên cơ thể, và chính bản đồ của riêng bạn có thể trở thành một thứ vô cùng kỳ thú. Thế nhưng, hãy cứ thử thách họ vẽ lại bản đồ tâm trí của một đứa trẻ mà xem, nó không những rối tinh rối mù mà còn xoay chuyển không ngừng nghỉ. Nơi ấy chằng chịt những đường ngoằn ngoèo, y hệt như nét vẽ biểu đồ nhiệt độ trên thẻ bệnh án của bạn, và có lẽ đó chính là những con đường trên hòn đảo, bởi Vùng Đất Không Bao Giờ9 - theo một cách nào đó - bao giờ cũng mang dáng dấp của một hòn đảo. Ở đó điểm xuyết những vệt màu rực rỡ đến sửng sốt, những rạn san hô lấp lánh và những con tàu mang vẻ gian xảo rình rập ngoài khơi, những bộ tộc hoang dã, những sào huyệt quạnh hiu, những gã lùn mà hầu hết đều làm nghề thợ may, những hang động với dòng sông róc rách chảy xuyên qua, những chàng hoàng tử có tới sáu người anh trai, một túp lều đang ngày một lụi tàn, và một bà lão bé xíu xiu với chiếc mũi khoằm. Sẽ thật dễ nhìn nếu tấm bản đồ chỉ có chừng ấy thứ, nhưng không, nó còn nhồi nhét cả ngày đầu tiên đến trường, tôn giáo, các ông bố, cái ao hình tròn10, việc thêu thùa may vá, những vụ án mạng, những án treo cổ, những động từ đòi hỏi tân ngữ gián tiếp, ngày được ăn bánh pudding sô-cô-la, chuyện phải mặc quần yếm chéo lưng, đếm đến chín mươi chín, ba xu cho việc tự nhổ cái răng sâu, và vô vàn thứ lặt vặt khác nữa. Tất cả hoặc hòa làm một phần của hòn đảo, hoặc chập chờn như một tấm bản đồ khác hiện ra mờ ảo xuyên qua tấm này. Mọi thứ quyện vào nhau đầy rắc rối, nhất là khi chẳng có thứ gì chịu nằm yên.

Lẽ dĩ nhiên, các Vùng Đất Không Bao Giờ cũng mang những dáng vẻ khác nhau. Chẳng hạn như hòn đảo của John có một đầm phá, nơi bầy hồng hạc sải cánh bay lượn phía trên và cậu nhóc thì đang mải mê nã súng vào chúng. Trong khi đó, của Michael - bởi cậu bé hãy còn quá nhỏ - lại là một con hồng hạc khổng lồ với những đầm phá đang lơ lửng ngay trên lưng nó. John sống trong một chiếc thuyền lật úp trên bãi cát, Michael ở trong một túp lều chóp nón, còn Wendy thì trú ngụ trong một ngôi nhà dệt nên từ những chiếc lá được khâu lại với nhau đầy khéo léo. John chẳng có lấy một người bạn, Michael chỉ có bè bạn vào lúc đêm buông, còn Wendy thì nuôi một con sói cưng bị bỏ rơi từ tấm bé. Dù vậy, nhìn chung thì các Vùng Đất Không Bao Giờ của cùng một gia đình đều phảng phất những nét tương đồng, và nếu đem xếp chúng thành một hàng, bạn hẳn sẽ thấy chúng giống nhau ở nét mũi hay vài điểm đại loại thế. Trên những bờ biển nhuốm màu phép thuật ấy, những đứa trẻ mải mê nô đùa sẽ luôn mải miết kéo những chiếc thuyền thúng của chúng lên bờ. Chúng ta cũng từng ở đó; âm vang của tiếng sóng vỗ vẫn thoảng dội về, dẫu ta biết mình sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội đặt chân lên bờ cát ấy thêm một lần nào nữa.

Trong số mọi hòn đảo chốn bồng lai, Vùng Đất Không Bao Giờ là nơi gọn gàng và ấm cúng nhất. Nó không hề rộng lớn thênh thang hay trải dài vô tận để bạn phải vượt qua những quãng cách tẻ nhạt từ cuộc phiêu lưu này đến cuộc phiêu lưu khác, mà ngược lại, mọi thứ được lấp đầy một cách khéo léo và sít sao. Ban ngày, khi bạn đùa nghịch trên đảo với những chiếc ghế và những tấm khăn trải bàn, nó chẳng hề mang dáng vẻ đáng sợ, nhưng ngay trong hai phút ngắn ngủi trước khi chìm vào giấc ngủ, nó bỗng trở nên vô cùng chân thực. Đó chính là lý do vì sao người ta lại cần đến những chiếc đèn ngủ.

Thỉnh thoảng, trong những chuyến viễn du qua tâm trí của các con, bà Darling lại bắt gặp vài điều vượt quá sự hiểu biết của mình, và thứ khiến bà băn khoăn nhất chính là cái tên Peter. Bà chẳng hề quen biết bất kỳ ai mang tên Peter cả, thế nhưng cái tên ấy lại xuất hiện rải rác trong tiềm thức của John và Michael, trong khi tâm trí của Wendy thì bắt đầu bị viết nguệch ngoạc đầy rẫy tên cậu ta. Cái tên này hiện lên nổi bật, những nét chữ in đậm hằn sâu hơn mọi từ ngữ khác, và khi bà Darling chăm chú nhìn vào, bà mơ hồ cảm nhận được một vẻ kiêu ngạo đến lạ lùng toát ra từ nó.

"Vâng, cậu ấy khá kiêu ngạo," Wendy đầy tiếc nuối thừa nhận khi bị mẹ gặng hỏi.

"Nhưng cậu ta là ai vậy, con yêu?"

"Cậu ấy là Peter Pan, mẹ biết đấy."

Ban đầu, bà Darling thực tình không nhớ ra, nhưng sau khi lần mò lại ký ức thời ấu thơ của chính mình, bà chợt nhớ ra một Peter Pan được cho là sống chan hòa với những nàng tiên. Có vô vàn câu chuyện kỳ lạ vây quanh cậu, chẳng hạn như chuyện khi có đứa trẻ nào qua đời, cậu sẽ nắm tay đưa đường dẫn lối chúng một đoạn để chúng bớt phần hoảng sợ. Thuở thiếu thời, bà từng tin tưởng tuyệt đối vào sự tồn tại của cậu, nhưng giờ đây, khi đã làm vợ làm mẹ và sống bằng lý trí vững vàng, bà hoàn toàn gạt bỏ ý nghĩ rằng có một người như vậy tồn tại trên đời.

"Hơn nữa," bà nói với Wendy, "đến giờ này thì cậu ta chắc hẳn cũng lớn lắm rồi."

"Ồ không đâu mẹ, cậu ấy không lớn lên đâu," Wendy tự tin quả quyết, "và cậu ấy chỉ bằng cỡ con thôi." Ý cô bé là cậu nhóc ấy bằng cỡ cô cả về tầm vóc lẫn tâm hồn; Wendy không biết giải thích thế nào, cô bé chỉ đơn giản là tin chắc điều đó.

Bà Darling đem chuyện hỏi ý kiến ông Darling, nhưng ông chỉ mỉm cười gạt đi. "Em cứ nghe anh," ông dỗ dành, "đó toàn là mấy thứ nhảm nhí mà Nana đã tiêm nhiễm vào đầu bọn trẻ thôi; đúng là lối suy nghĩ của một con chó. Cứ mặc kệ đi, rồi mọi chuyện sẽ qua thôi."

Nhưng mọi chuyện đã không qua như ông nghĩ, và chẳng bao lâu sau, thằng bé phiền phức ấy đã giáng cho bà Darling một cú sốc thật sự.

Lũ trẻ có thể trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ lạ nhất trần đời mà chẳng mảy may bận tâm. Chẳng hạn, đôi khi cả tuần lễ trôi qua sau sự việc, chúng mới chợt nhớ ra để kể cho bạn nghe rằng lúc ở trong rừng, chúng đã gặp lại người cha quá cố và còn bày trò chơi đùa cùng ông. Chính bằng cái thái độ bâng quơ như thế, vào một buổi sáng nọ, Wendy đã buông lời tiết lộ một điều hết sức đáng ngại. Lúc đó, bà Darling đang cau mày bối rối xem xét mấy chiếc lá rơi vãi trên sàn phòng trẻ - những thứ chắc chắn không hề có mặt ở đó khi bọn trẻ lên giường đi ngủ. Thấy vậy, Wendy liền nhoẻn một nụ cười bao dung:

"Con tin chắc lại là cậu Peter đó thôi!"

"Ý con là sao hả Wendy?"

"Cậu ấy rõ hư, vào phòng mà chẳng chịu chùi chân gì cả," Wendy cất tiếng thở dài. Vốn dĩ, cô bé luôn là một đứa trẻ thích sự ngăn nắp.

Cô bé cứ thế giải thích bằng một giọng điệu hiển nhiên, bảo rằng thỉnh thoảng Peter vẫn hay lẻn vào phòng trẻ giữa đêm hôm khuya khoắt, ngồi xếp bằng nơi chân giường và thổi sáo cho cô bé nghe. Tiếc một nỗi, chưa bận nào Wendy tỉnh giấc để tận mắt chứng kiến. Thế nên, nếu hỏi vì sao cô bé biết, thì cô cũng chịu, chỉ là trong lòng cô tự nhiên biết thế thôi.

"Con lại nói ngớ ngẩn gì thế, con yêu. Làm sao có người vào nhà mà không cần gõ cửa cơ chứ."

"Con nghĩ cậu ấy bay qua cửa sổ," cô bé đáp.

"Con yêu, phòng chúng ta ở tận tầng ba cơ mà."

"Nhưng chẳng phải những chiếc lá kia nằm ngay dưới bậu cửa sổ sao hở mẹ?"

Sự thật đúng là như vậy; mấy chiếc lá nằm vương vãi ngay sát cửa sổ.

Bà Darling chẳng biết phải nghĩ sao cho phải, bởi mọi chuyện tuôn ra từ miệng Wendy nghe quá đỗi tự nhiên, đến mức người ta chẳng thể nào tặc lưỡi gạt đi và coi đó chỉ là giấc mơ của con trẻ.

"Con ngoan của mẹ," người mẹ hoảng hốt kêu lên, "sao con không kể cho mẹ nghe chuyện này sớm hơn?"

"Con quên khuấy mất tiêu," Wendy đáp nhẹ tênh. Cô bé còn đang mải vội vàng đi ăn sáng.

Chà, chắc hẳn là cô bé chỉ đang mộng mị mà thôi.

Nhưng kẹt nỗi, lại có sự hiện diện của mấy chiếc lá. Bà Darling cầm lấy chúng, tỉ mẩn xem xét; chỉ là những chiếc lá khô đã rụng hết phần thịt, trơ lại những đường gân mỏng manh, nhưng bà dám chắc chúng không hề thuộc về bất kỳ loại cây nào từng mọc trên đất nước Anh này. Bà thắp một ngọn nến, bò loanh quanh khắp sàn nhà, săm soi tìm kiếm dấu vết của một bàn chân lạ. Bà lấy chiếc gạt lò khua khoắng lên trên ống khói, rồi gõ gõ dọc theo các bức tường. Bà thả một thước dây từ cửa sổ xuống tận lề đường, và con số chỉ rành rành một độ sâu thẳng đứng tới ba mươi feet, bức tường nhẵn thín chẳng hề có lấy một chiếc máng xối nào để bấu víu mà trèo lên.

Đích thị là Wendy nằm mơ rồi.

Nhưng không, Wendy chẳng hề nằm mơ. Cái đêm ngay sau đó đã chứng minh tất cả - cái đêm mà sau này người ta vẫn thường bảo, đó là lúc những cuộc phiêu lưu phi thường của lũ trẻ chính thức bắt đầu.

Vào cái đêm mà chúng ta đang nhắc tới, đám trẻ lại một lần nữa ngoan ngoãn lên giường. Tình cờ đó lại đúng vào đêm nghỉ phép của Nana, thế nên chính tay bà Darling đã tắm táp và hát ru lũ trẻ, cho đến khi từng bàn tay nhỏ xíu lơi dần khỏi tay bà và êm đềm trôi vào xứ sở của những giấc mơ.

Khung cảnh trông mới thật an toàn và ấm áp làm sao. Giờ đây, bà mỉm cười xua tan đi những nỗi sợ hãi vẩn vơ của chính mình, rồi bình thản ngồi xuống bên bếp lửa để bắt đầu khâu vá.

Món đồ đó là dành cho Michael, cậu nhóc sắp sửa được mặc áo sơ mi vào ngày sinh nhật tới đây. Dẫu vậy, hơi ấm từ lò sưởi tỏa ra thiu thiu, còn căn phòng trẻ chỉ được thắp sáng mờ ảo nhờ ba ngọn đèn ngủ, nên chẳng mấy chốc, món đồ khâu vá đã nằm ngoan ngoãn trên đùi bà Darling. Rồi đầu bà cứ thế gật gù, ôi, mới duyên dáng làm sao! Bà đã thiếp đi từ lúc nào chẳng hay. Hãy nhìn bốn mẹ con họ xem, Wendy và Michael ở đằng kia, John ở ngay đây, còn bà Darling thì đang ngồi bên bếp lửa. Đáng lẽ ra phải có ngọn đèn ngủ thứ tư mới phải.

Trong cơn say giấc, bà đã lạc vào một giấc mơ. Bà mơ thấy Vùng Đất Không Bao Giờ đã tiến đến sát sạt và một cậu bé lạ mặt đã xuyên qua đó để bước vào. Cậu bé chẳng hề làm bà kinh sợ, bởi bà cứ ngỡ mình đã từng bắt gặp cậu đâu đó qua gương mặt của biết bao người phụ nữ khao khát con cái. Có lẽ cậu cũng hiện diện trên khuôn mặt của vài người mẹ nữa. Thế nhưng trong giấc mơ ấy, cậu bé đã xé toạc bức màn che khuất Vùng Đất Không Bao Giờ, và bà chợt thấy Wendy, John cùng Michael đang ríu rít ghé mắt nhìn trộm qua lỗ hổng.

Bản thân giấc mơ đó vốn dĩ chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt, nhưng ngay trong lúc bà đang chìm trong mộng mị, cánh cửa sổ phòng trẻ đột ngột bị gió thổi tung, và một cậu bé nhẹ nhàng đáp xuống sàn nhà. Theo chân cậu là một vệt sáng kỳ lạ, chẳng lớn hơn nắm tay người, cứ thế phóng vút quanh căn phòng tựa một sinh thể sống động, và tôi nghĩ hẳn chính luồng sáng này đã làm bà Darling choàng tỉnh.

Bà bật dậy kèm theo một tiếng kêu thất thanh. Vừa nhìn thấy cậu bé, chẳng hiểu sao bà lập tức biết ngay đó chính là Peter Pan. Nếu bạn, tôi hay Wendy có mặt ở đó, chúng ta hẳn sẽ nhận ra cậu bé trông rất giống với nụ hôn bí ẩn của bà Darling. Đó là một cậu bé vô cùng kháu khỉnh, khoác trên mình bộ cánh tết từ những chiếc lá khô trơ gân và nhựa ứa ra từ thân cây; thế nhưng điều đầy mê hoặc nhất ở cậu lại là việc cậu vẫn còn giữ nguyên hàm răng sữa. Vừa trông thấy bà là một người lớn, cậu đã lập tức nhe những viên ngọc trai nhỏ xíu ấy ra mà gầm gừ đầy đe dọa.



  1. Ám chỉ những bộ hộp gỗ xếp lồng vào nhau (như búp bê Matryoshka hoặc các loại hộp bí mật của Trung Quốc), đặc trưng cho sự phức tạp và có nhiều lớp lang giấu kín bên trong. Những món đồ vật phương Đông này rất được giới quý tộc Anh thời Victoria ưa chuộng và coi là biểu tượng của sự huyền bí. 

  2. Napoleon Bonaparte (1769-1821), vị Hoàng đế Pháp và là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất lịch sử. Tác giả sử dụng hình ảnh một vị tướng bách chiến bách thắng nhưng vẫn phải bất lực trước tâm hồn người phụ nữ để tạo ra sự hài hước. 

  3. Đơn vị tiền tệ của Anh trước khi được thập phân hóa vào năm 1971. Hệ thống cũ quy định 1 bảng Anh (pound) tương đương 20 shilling, và 1 shilling bằng 12 pence. Hệ thống này khiến việc tính toán chi tiêu hằng ngày rất phức tạp, đòi hỏi khả năng tính nhẩm tốt như ông Darling đang thể hiện. 

  4. Tên gọi phổ biến thời đó của bệnh Rubella. Vào thời kỳ đầu thế kỷ 20, căn bệnh này bắt đầu được phân biệt với bệnh sởi thông thường (measles) và được y học xem là một loại sởi nhẹ hơn, nhưng vẫn tốn kém chi phí chữa trị đối với các gia đình. 

  5. Guinea là đồng tiền vàng cũ của Anh, có giá trị bằng 21 shilling (tức 1 bảng và 1 shilling). Đồng tiền này mang sắc thái trang trọng và quý tộc, thường được dùng trong các giao dịch dịch vụ chuyên nghiệp hoặc để trả phí cho bác sĩ, luật sư. 

  6. Giống chó khổng lồ có nguồn gốc từ Canada. Ở Anh thời Victoria, chó Newfoundland rất được ưa chuộng làm thú cưng trong gia đình nhờ bản tính cực kỳ hiền lành, trung thành và đặc biệt có bản năng bảo vệ trẻ em, nên thường được mệnh danh là "chó bảo mẫu" (nanny dog). 

  7. Kensington Gardens là một trong những công viên Hoàng gia rộng lớn và nổi tiếng nhất ở London. Đây chính là bối cảnh đời thực nơi tác giả J.M. Barrie thường đi dạo, gặp gỡ những đứa trẻ nhà Llewelyn Davies và lấy cảm hứng sáng tạo ra nhân vật Peter Pan. 

  8. Đại hoàng (rhubarb) là một loại cây được người Anh thời xưa sử dụng phổ biến làm phương thuốc dân gian giúp nhuận tràng hoặc chữa các bệnh tiêu hóa cho trẻ em. Việc Nana khinh bỉ "vi khuẩn" phản ánh thái độ hoài nghi của những người bảo thủ trước Thuyết vi trùng (Germ theory) mới bắt đầu được giới y học công bố lúc bấy giờ. 

  9. Được dịch từ "Neverland" (hoặc Never-Never Land). Thuật ngữ "Never-never" ban đầu là tiếng lóng của người Úc dùng để chỉ những vùng đất hoang vu, xa xôi hẻo lánh không ai đặt chân tới. Tác giả đã mượn khái niệm này để sáng tạo ra một miền đất không tưởng, đại diện cho trí tưởng tượng và sự chối từ trưởng thành của trẻ thơ. 

  10. Tên gốc là "Round Pond", một hồ nước nhân tạo nổi tiếng nằm trong Vườn Kensington ở London. Đây là địa điểm vui chơi quen thuộc của trẻ em London thời Victoria, nơi chúng thường tụ tập mang những chiếc thuyền mô hình bằng gỗ đến thả.