Chương II. CÁI BÓNG

Bà Darling hét lên một tiếng kinh hãi. Như thể được đánh động bởi một hồi chuông báo nguy, cánh cửa bật mở, và Nana lao vào. Cô chó bảo mẫu vừa trở về sau buổi tản bộ buổi tối. Lập tức, Nana gầm gừ xông thẳng về phía cậu bé lạ mặt, kẻ vừa nhẹ nhàng lao mình qua bậu cửa sổ. Bà Darling lại thét lên lần nữa, nhưng lần này là vì quá đỗi lo sợ cho sinh mạng của cậu bé. Đinh ninh rằng cậu đã rơi xuống mà bỏ mạng, bà hốt hoảng chạy ùa xuống phố để tìm kiếm thân thể bé nhỏ ấy. Nhưng chẳng có cậu bé nào ở đó cả. Ngước nhìn lên khoảng không bao la, giữa màn đêm đen thăm thẳm, bà chỉ thấy duy nhất một vệt sáng mỏng manh lướt qua mà bà ngỡ là một vì sao đổi ngôi.

Lúc quay trở lại phòng trẻ, bà phát hiện Nana đang ngậm chặt một thứ gì đó trong mõm. Hóa ra, đó chính là cái bóng của cậu bé. Khoảnh khắc cậu lao ra ngoài không trung, Nana đã dập sập cánh cửa sổ lại thật lẹ làng. Tuy quá trễ để tóm được cậu, nhưng cái bóng thì đã chẳng thể thoát thân. Cánh cửa đóng sầm xuống với một tiếng "rầm" chát chúa, và cắt phăng đi cái bóng mỏng tang.

Bạn cứ tin chắc đi, bà Darling đã ngắm nghía và săm soi cái bóng ấy vô cùng cẩn thận, nhưng rốt cuộc nó cũng chỉ là một cái bóng bình thường như bao cái bóng khác.

Riêng Nana thì chẳng mảy may do dự về cách xử trí món đồ này. Cô chó liền đem vắt nó ra ngoài bệ cửa sổ, ngụ ý rành rành: "Thằng nhóc chắc chắn sẽ quay lại tìm. Cứ treo ở đây cho cậu ta dễ lấy, đỡ phải quấy rầy giấc ngủ của lũ trẻ."

Ngặt một nỗi, bà Darling không đời nào chịu để nó treo lủng lẳng ngoài cửa sổ như thế. Trông nó chẳng khác gì mớ đồ giặt đang phơi, thật làm mất đi vẻ trang nghiêm của ngôi nhà. Bà định bụng mang cho ông Darling xem, nhưng lúc bấy giờ ông lại đang vò đầu bứt tai tính toán khoản tiền sắm áo khoác mùa đông cho John và Michael. Ông thậm chí còn phải quấn một chiếc khăn ướt sũng quanh đầu để ép cho trí óc được tỉnh táo, nên sẽ thật quá đáng nếu làm phiền ông lúc này. Hơn nữa, bà thừa biết chồng mình sẽ lại cằn nhằn câu gì: "Tất cả chỉ tại cái thói rước một con chó về làm bảo mẫu mà ra!"

Sau cùng, bà quyết định cuộn tròn cái bóng lại rồi cất gọn gàng vào trong một ngăn kéo, tự nhủ sẽ đợi đến một dịp thuận tiện mới hé lời với chồng. Ôi, chao ôi!

Cơ hội cuối cùng cũng tìm đến vào một tuần sau đó, đúng vào cái ngày thứ Sáu khó quên ấy. Lẽ dĩ nhiên phải là một ngày thứ Sáu1.

"Đáng lý ra em phải thật cẩn trọng vào cái ngày thứ Sáu ấy," sau này bà thường thủ thỉ với chồng, trong lúc Nana có lẽ đang nép mình bên cạnh, khẽ nắm lấy tay bà.

"Không, không," ông Darling luôn cất lời, "Anh mới là người phải chịu trách nhiệm cho tất cả mọi chuyện. Chính anh, George Darling, đã gây ra cớ sự này. Lỗi tại anh, lỗi tại anh." Ông vốn là người từng được hưởng một nền giáo dục cổ điển2.

Đêm này qua đêm khác, họ ngồi đó hồi tưởng lại ngày thứ Sáu định mệnh, cho đến khi từng chi tiết nhỏ nhặt nhất in hằn sâu vào tâm trí, xuyên thấu sang tận mặt bên kia tựa như hình ảnh lỗi trên một đồng xu đúc hỏng.

"Giá như em đừng nhận lời mời dùng bữa tối tại nhà số 27," bà Darling nói.

"Giá như anh đừng đổ thuốc của mình vào bát của Nana," ông Darling đáp lời.

"Giá như tôi cứ vờ như mình thích thứ thuốc ấy," đôi mắt ướt át của Nana như thầm oán trách.

"Chỉ tại em quá ham mê tiệc tùng, George ạ."

"Tất cả là do thói đùa dai tai hại của anh, mình ạ."

"Chỉ tại tôi quá để tâm đến những chuyện vặt vãnh, thưa cậu chủ và cô chủ kính mến."

Sau những lời dằn vặt ấy, một hay nhiều người trong số họ sẽ gục ngã trong tuyệt vọng; Nana thầm nghĩ, "Đúng thế, quả đúng là như thế, người ta chẳng bao giờ nên để một con chó làm bảo mẫu." Đã không biết bao lần ông Darling phải rút khăn tay ra để lau những giọt nước mắt lăn dài trên má Nana.

"Tên ác quỷ đó!" ông Darling sẽ bật khóc nức nở, và tiếng sủa của Nana vang lên như một lời phụ họa đầy bi thương. Thế nhưng, bà Darling chẳng bao giờ nỡ buông lời trách mắng Peter; có một thứ gì đó đọng lại nơi khóe miệng bên phải luôn cản bà buông lời mắng nhiếc cậu bé.

Họ cứ ngồi lặng lẽ trong căn phòng trẻ trống hoác, trìu mến nhớ lại từng chi tiết vụn vặt của cái buổi tối kinh hoàng ấy. Mọi chuyện khởi đầu thật êm đềm, hệt như hàng trăm buổi tối bình yên khác, với cảnh Nana cặm cụi đun nước tắm cho Michael rồi cõng cậu bé trên lưng mang đi tắm.

"Con không đi ngủ đâu," cậu bé hét toáng lên, làm như thể mình vẫn nắm quyền quyết định tối cao trong chuyện này, "Con không, con không đi ngủ đâu. Nana, còn chưa tới sáu giờ cơ mà. Ôi trời đất ơi, con sẽ không thèm thương mi nữa đâu, Nana. Con đã bảo mi là con không tắm, con không, con không!"

Đúng lúc đó, bà Darling bước vào phòng, khoác trên mình chiếc váy dạ hội màu trắng. Bà chủ ý thay đồ từ sớm bởi Wendy rất thích ngắm mẹ diện váy dạ hội, lấp lánh cùng sợi dây chuyền mà George đã tặng. Trên tay, bà còn đang đeo chiếc vòng của Wendy; bà đã mượn nó. Wendy luôn tỏ ra thích thú mỗi khi cho mẹ mượn chiếc vòng tay của mình.

Bà bắt gặp hai đứa con lớn đang say sưa chơi trò đóng giả làm ba mẹ vào đúng cái ngày Wendy chào đời, và John đang cất cao giọng:

"Tôi vô cùng hân hạnh được thông báo với em, bà Darling, rằng giờ đây em đã chính thức trở thành một người mẹ," cậu bé bắt chước y hệt cái giọng điệu mà ông Darling hẳn đã dùng trong thực tế.

Nghe vậy, Wendy liền nhảy cẫng lên vì vui sướng, hệt như phản ứng của bà Darling lúc ấy.

Kế đến là sự ra đời của John, mang theo vẻ vô cùng trang trọng mà cậu tự cho là xứng tầm với sự xuất hiện của một bé trai. Vừa lúc đó, Michael tắm xong bước ra và nài nỉ xin cũng được chào đời, nhưng John lại phũ phàng gạt đi, bảo rằng họ chẳng cần thêm một đứa con nào nữa.

Michael tủi thân đến mức chực khóc. "Chẳng có ai cần em cả," cậu bé nức nở, và dĩ nhiên, người phụ nữ trong bộ váy dạ hội lộng lẫy kia sao có thể làm ngơ trước cảnh tượng ấy.

"Mẹ cần con," bà dịu dàng nói, "Mẹ rất muốn có thêm một đứa con thứ ba."

"Là con trai hay con gái hở mẹ?" Michael rụt rè hỏi, giọng điệu chẳng mấy hy vọng.

"Là một bé trai."

Chỉ chờ có thế, cậu bé liền lao vút vào vòng tay âu yếm của mẹ. Quả là một khoảnh khắc nhỏ bé để ông bà Darling và Nana phải hoài niệm lúc này, nhưng nó hẳn sẽ chẳng còn nhỏ bé nữa nếu họ biết đó chính là đêm cuối cùng của Michael trong căn phòng trẻ thơ.

Họ cứ thế đắm chìm vào những hoài niệm.

"Lúc ấy anh đã lao vào như một cơn lốc, đúng không?" ông Darling hay nói thế, giọng đầy tự trào; và quả thực, trông ông hệt như một cơn lốc.

Có lẽ cũng nên dành đôi chút cảm thông cho ông. Ông đang chuẩn bị phục trang để đi dự tiệc, mọi thứ đều trôi chảy cho đến khi ông đụng tới chiếc cà vạt. Thật khó tin nhưng phải thừa nhận rằng, người đàn ông cực kỳ sành sỏi về các con số cổ phiếu, cổ phần3 kia lại chẳng mảy may biết cách thắt một chiếc cà vạt. Đôi lúc, cái mớ vải vóc ấy ngoan ngoãn đầu hàng mà chẳng hề chống cự, song cũng có những khi, thà rằng ông gạt bỏ chút tự ái cá nhân để dùng loại cà vạt thắt sẵn thì cả nhà đã được nhờ.

Đây chính là một trong những lần trớ trêu như vậy. Ông xồng xộc lao vào phòng trẻ, tay vung vẩy cái thứ vải nhăn nhúm quái quỷ ấy.

"Sao thế, ba thân yêu?"

"Sao à!" ông gào lên; ông thực sự đã gào lên. "Cái cà vạt này, nó nhất quyết không chịu thắt lại." Giọng ông chuyển sang vẻ châm biếm đầy đe dọa. "Không chịu ngoan ngoãn nằm trên cổ anh! Nó chỉ thích thắt quanh cột giường thôi! Ồ phải, anh đã thắt nó quanh cái cột giường đến cả hai chục lần, nhưng quanh cổ anh thì không! Ồ không đời nào! Nó xin được miễn!"

Dường như cảm thấy bà Darling chưa mấy bận tâm, ông bèn hắng giọng nói tiếp, "Anh cảnh báo em điều này, mẹ bọn trẻ ạ, nếu tối nay cái cà vạt này không được thắt nếp trên cổ anh, chúng ta sẽ chẳng có bữa tối tiệc tùng nào sất. Và nếu anh không đi ăn tối, anh sẽ không bao giờ bước chân đến văn phòng nữa. Còn nếu anh đoạn tuyệt với văn phòng, cả anh và em sẽ chết đói, rồi các con của chúng ta sẽ bị tống khứ ra ngoài đường."

Ngay cả khi nghe những lời dọa dẫm ấy, bà Darling vẫn giữ thái độ điềm nhiên. "Để em thử xem sao, anh yêu," bà dỗ dành. Thực ra, đó chính là mục đích thực sự khiến ông tìm đến bà. Bằng đôi bàn tay mát lạnh và điêu luyện, bà nhanh chóng thắt xong chiếc cà vạt cho chồng, trong lúc lũ trẻ đứng quây quần xung quanh, nín thở chờ xem số phận mình được định đoạt ra sao. Vài gã đàn ông hẳn sẽ phật ý khi thấy vợ giải quyết vấn đề quá đỗi nhẹ nhàng, nhưng bản tính ông Darling vốn dĩ quá tốt đẹp để vướng bận chuyện đó. Ông hờ hững buông lời cảm ơn, tức thì ném cơn thịnh nộ ra sau đầu, và chỉ phút chốc sau đã thấy ông cõng Michael trên lưng, nhảy múa tưng bừng quanh phòng.

"Chúng ta đã từng có những trận nô đùa rộn rã biết bao!" giờ đây bà Darling bồi hồi cất lời, khi bao ký ức lại ùa về.

"Trận nô đùa cuối cùng của chúng ta!" ông Darling cất giọng rên rỉ xót xa.

"Ôi George, anh còn nhớ lúc Michael bất chợt quay sang hỏi em không, ‘Làm sao mẹ quen được con hả mẹ?’"

"Anh nhớ chứ!"

"Bọn trẻ đáng yêu nhường nào, anh có thấy vậy không, George?"

"Và chúng là của chúng ta, trọn vẹn là của chúng ta! Vậy mà giờ đây, chúng đã bỏ đi mất rồi."

Cuộc vui buộc phải khép lại khi Nana xuất hiện. Chẳng may ông Darling lại va phải cô chó, khiến chiếc quần dính đầy những lông. Xui xẻo thay, đó không chỉ là chiếc quần mới tinh tươm, mà còn là chiếc quần đầu tiên của ông được may viền thêu tinh tế. Ông đã phải cắn chặt môi để nén lại những giọt nước mắt chực trào. Dĩ nhiên, bà Darling lập tức ân cần phủi sạch đám lông chó cho chồng, nhưng ông vẫn không ngừng càu nhàu, lải nhải rằng việc chọn một con chó làm bảo mẫu quả là một sai lầm tai hại.

"George à, Nana thực sự là một báu vật đấy."

"Chẳng có gì phải bàn cãi về chuyện đó, nhưng thỉnh thoảng anh cứ có cảm giác gợn gợn rằng nó đang coi lũ trẻ nhà mình như những chú cún con vậy."

"Ôi không đâu, anh yêu, em tin chắc nó đủ thông minh để biết bọn trẻ có linh hồn."

"Anh thì tự hỏi điều đó đấy," ông Darling trầm ngâm đáp, "Anh thực sự tự hỏi." Nhận thấy đây là thời điểm thích hợp, vợ ông bèn nắm lấy cơ hội kể cho chồng nghe về cậu bé bí ẩn kia. Thoạt tiên, ông gạt phắt câu chuyện đi, nhưng rồi khuôn mặt ông thoáng vẻ đăm chiêu khi bà đưa ra cái bóng.

"Anh chẳng quen ai sở hữu cái bóng như thế này cả," ông nói, đưa mắt xem xét nó cẩn thận, "nhưng trông dáng vẻ thì có vẻ đích thị là một kẻ vô lại."

"Chúng ta vẫn đang nói về chuyện đó mà, em nhớ không," ông Darling cất tiếng, "ngay cái lúc Nana ngậm thìa thuốc của Michael bước vào. Mi sẽ chẳng bao giờ ngậm chai thuốc trong miệng nữa đâu, Nana ạ, và tất cả là lỗi tại ta."

Dẫu là một đấng nam nhi mạnh mẽ, ông Darling lại cư xử có phần ngớ ngẩn trước chuyện thuốc thang. Nếu ông có một điểm yếu chí mạng, thì đó chính là ảo tưởng rằng cả đời mình luôn là một kẻ dũng cảm nuốt trọn mọi thứ thuốc đắng ngắt. Thế nên lúc này, khi thấy Michael rụt cổ né tránh chiếc thìa trên miệng Nana, ông liền lớn tiếng trách mắng: "Ra dáng đàn ông lên xem nào, Michael."

"Không; con không uống đâu!" Michael hư đốn gào khóc. Bà Darling đành bước ra khỏi phòng để lấy cho cậu bé một viên sô-cô-la, một hành động mà ông Darling cho là minh chứng rõ rệt của sự yếu mềm.

"Mẹ nó à, em đừng có nuông chiều con quá," ông gọi với theo bóng bà. "Michael, hồi bằng tuổi con, ba nốc cạn thuốc mà chẳng hề hé răng than vãn lấy nửa lời. Ba chỉ nói, 'Cảm ơn ba mẹ hiền từ đã cho con thuốc để con mau khỏe lại.'"

Bản thân ông thực sự tin vào lời nói dối ấy. Cả Wendy, lúc này đang xúng xính trong chiếc váy ngủ, cũng tin sái cổ. Cô bé bèn lên tiếng để động viên Michael: "Thứ thuốc ba thỉnh thoảng vẫn uống còn khó nuốt hơn nhiều, phải không ba?"

"Khó nuốt hơn vạn lần ấy chứ," ông Darling dõng dạc tuyên bố đầy tự hào, "và ba sẽ uống ngay bây giờ để làm gương cho con, Michael, nếu như ba không vô tình làm mất cái chai đó."

Thực ra, ông không hẳn là làm mất nó; chỉ là vào một đêm khuya vắng, ông đã lén lút trèo lên nóc tủ quần áo rồi giấu tịt nó trên đó. Có điều ông chẳng hề hay biết rằng, cô hầu gái mẫn cán Liza đã tìm thấy nó và đặt ngay ngắn trở lại trên bồn rửa mặt của ông.

"Con biết chai thuốc ấy ở đâu, ba ơi," Wendy hớn hở reo lên, luôn tỏ ra sốt sắng trong việc giúp đỡ người khác. "Để con mang tới cho." Và cô bé phóng vút đi trước khi ông kịp há miệng ngăn cản. Ngay lập tức, tinh thần ông tụt dốc thảm hại.

"John," ông thì thào, khẽ rùng mình ớn lạnh, "đó quả thực là thứ thuốc kinh tởm nhất trần đời. Nó là cái loại ngọt lợ, deo dẻo, buồn nôn kinh khủng ấy."

"Sẽ nhanh qua thôi mà ba," John hồn nhiên an ủi, và rồi Wendy lao xộc vào phòng, tay bưng ly thuốc sóng sánh.

"Con đã vắt chân lên cổ để lấy nhanh nhất có thể đấy," cô bé thở hổn hển báo cáo.

"Tốc độ của con quả là đáng kinh ngạc đấy," ba cô bé vặn vẹo bằng một phép lịch sự đầy tính mỉa mai mà Wendy hoàn toàn không thể nhận ra. "Michael uống trước đi," ông ngang ngạnh đùn đẩy.

"Ba uống trước đi," Michael cự nự, cậu nhóc vốn dĩ rất đa nghi.

"Ba sẽ nôn thốc nôn tháo ra đấy, con biết không hả," ông Darling buông lời hăm dọa.

"Thôi nào, ba," John giục giã.

"Ngậm ngay miệng lại, John," ba cậu quắt thước nạt nộ.

Wendy ngơ ngác không hiểu chuyện gì. "Con tưởng ba uống thứ này dễ như trở bàn tay cơ mà, thưa ba."

"Đó chẳng phải là vấn đề," ông gân cổ cãi. "Vấn đề nằm ở chỗ, trong ly của ba có nhiều thuốc hơn hẳn trong thìa của Michael." Trái tim đầy kiêu hãnh của ông như muốn vỡ vụn. "Và điều đó thật bất công: ba sẽ gào lên điều đó cho đến tận lúc trút hơi thở cuối cùng; nó hoàn toàn không công bằng."

"Ba, con đang đợi đây," Michael lạnh lùng cất giọng.

"Con nói con đang đợi nghe êm tai nhỉ; ba cũng đang đợi đây này."

"Ba là đồ nhát gan."

"Con cũng là đồ nhát gan."

"Con không sợ."

"Ba cũng không sợ."

"Vậy thì, ba uống đi."

"Vậy thì, con uống đi."

Chợt Wendy nảy ra một sáng kiến tuyệt vời. "Tại sao cả hai người không uống cùng một lúc nhỉ?"

"Chắc chắn rồi," ông Darling vỗ đùi đánh đét. "Con sẵn sàng chưa, Michael?"

Wendy dõng dạc hô khẩu lệnh, một, hai, ba, và Michael nhắm mắt nhắm mũi nuốt ực chỗ thuốc của mình, thế nhưng ông Darling lại nhanh tay giấu tịt ly thuốc ra sau lưng.

Michael ré lên một tiếng giận dữ tột độ, và "Ôi ba!" Wendy thất vọng kêu lên.

"Con nói 'Ôi ba' là có ý gì cơ chứ?" ông Darling nhăn nhó chất vấn. "Dừng ngay cái trò ầm ĩ đó lại đi, Michael. Ba định uống phần của ba đấy chứ, nhưng ba... ba lỡ nhịp mất rồi."

Thật kinh khủng khi phải hứng chịu ánh nhìn của cả ba đứa trẻ lúc này, cứ như thể chúng chẳng còn chút ngưỡng mộ nào dành cho ông nữa. "Này, các con nhìn đây," ông khẩn khoản phân bua, ngay khoảnh khắc Nana lững thững bước vào phòng tắm. "Ba vừa nghĩ ra một trò đùa tuyệt cú mèo. Ba sẽ lén đổ thuốc của ba vào bát của Nana, và nó sẽ uống ngon lành vì tưởng đó là sữa cho xem!"

Màu sắc của thứ thuốc đó quả thực giống hệt sữa; ngặt nỗi lũ trẻ lại chẳng chia sẻ được khiếu hài hước quái gở của ba chúng, và chúng nhìn ông bằng ánh mắt đầy trách móc khi ông nhẫn tâm đổ thuốc vào bát của Nana. "Thật là một trò vui nổ trời!" ông gượng gạo thốt lên, và lũ trẻ không nỡ vạch trần ông khi bà Darling cùng Nana quay trở lại.

"Nana, cô chó ngoan," ông vừa nói vừa mơn trớn vuốt ve lớp lông mượt mà, "Ta đã đặc biệt đổ thêm một ít sữa vào bát của mi đấy, Nana."

Nana mừng rỡ vẫy đuôi, lăng xăng chạy đến chỗ bát thuốc, và bắt đầu thè lưỡi liếm láp. Sau đó cô chó ngước lên nhìn ông Darling, chẳng hề mang vẻ hằn học hay tức giận: cô chó chỉ lặng lẽ để lộ một giọt nước mắt to tròn màu đỏ tía khiến ai nấy đều phải xót xa cho những giống chó cao quý, rồi lủi thủi rúc vào chiếc chuồng của mình.

Ông Darling cảm thấy vô cùng hổ thẹn về bản thân, nhưng ông vẫn nhất quyết không chịu nhún nhường. Giữa một bầu không khí im lặng đến rợn người, bà Darling cúi xuống ngửi cái bát. "Ôi trời, George," bà thốt lên, "đây rõ ràng là thuốc của anh mà!"

"Đó chỉ là một trò đùa thôi mà," ông gầm lên bực tức, trong khi bà dịu dàng dỗ dành mấy đứa con trai, còn Wendy thì dang tay ôm chặt lấy Nana. "Ích lợi gì cơ chứ," ông cay đắng buông lời, "anh đã vắt kiệt cả sức lực để cố gắng chọc cười cho cái nhà này vui vẻ mà xem ra chẳng ai trân trọng."

Và Wendy vẫn kiên quyết ôm chặt lấy Nana. "Đúng thế đấy," ông hét toáng lên. "Cứ cưng chiều nó đi! Chẳng có ai thèm cưng chiều tôi cả. Ồ không đâu! Tôi chỉ là cái cột trụ gánh vác cả cái gia đình này, cớ sao tôi lại cần được cưng chiều cơ chứ-tại sao, tại sao, tại sao!"

"George," bà Darling thiết tha khẩn khoản, "xin anh đừng lớn tiếng thế; bọn người hầu4 sẽ nghe thấy mất." Thật kỳ lạ là không hiểu sao họ lại có cái thói quen gọi cô hầu gái Liza nhỏ bé bằng cái danh xưng "bọn người hầu".

"Mặc kệ chúng chứ!" ông gắt gỏng đáp lời một cách bất cần. "Có lôi cả thế giới vào đây tôi cũng chẳng sợ. Nhưng tôi tuyệt đối từ chối để cái con chó đó lên mặt hống hách trong phòng trẻ của tôi thêm một giờ phút nào nữa."

Lũ trẻ òa khóc nức nở, và Nana cuống cuồng chạy đến chỗ ông với ánh mắt van nài tha thiết, nhưng ông lạnh lùng xua cô chó lùi lại. Ông lại thấy bản thân mình bừng bừng khí thế của một người đàn ông mạnh mẽ. "Vô ích thôi, vô ích," ông rống lên; "nơi thích hợp dành cho mi là ngoài sân kia, và mi phải bước ngay ra đó để bị xích lại, ngay lập tức."

"George, George," bà Darling hốt hoảng thì thầm, "hãy nhớ lại những gì em vừa kể với anh về cậu bé bí ẩn đó đi."

Than ôi, ông nào có chịu lọt tai. Ông đã quyết tâm phải chứng tỏ cho bằng được ai mới là người chủ thực sự trong cái ngôi nhà này. Khi những lời ra lệnh gắt gao không thể lôi nổi Nana ra khỏi chuồng, ông bèn chuyển sang dùng những lời đường mật để dụ dỗ nó ra, rồi bất thần tóm lấy nó một cách thô bạo, xộc xệch kéo lê nó ra khỏi phòng trẻ. Tự thâm tâm, ông thấy vô cùng hổ thẹn về hành động của chính mình, nhưng ông vẫn nhắm mắt làm ngơ. Tất cả âu cũng là do cái bản tính quá đỗi ủy mị của ông, luôn cồn cào khao khát được người khác ngưỡng mộ. Sau khi đã nhẫn tâm xích cô chó ở sân sau, người cha khốn khổ ấy lững thững bước đến ngồi gục xuống ở hành lang, tì chặt những đốt ngón tay thô ráp lên đôi mắt vương lệ của mình.

Trong lúc đó, bà Darling đã dỗ bọn trẻ chìm vào giấc ngủ giữa một sự tĩnh lặng hiếm hoi, rồi cẩn thận thắp sáng những ngọn đèn ngủ. Bọn trẻ vẫn nghe văng vẳng tiếng sủa của Nana. John sụt sùi: "Đó là vì ba đang xích nó ngoài sân," nhưng Wendy lại tinh ý hơn nhiều.

"Đó không phải là tiếng sủa tủi thân của Nana đâu," cô bé cất lời, hoàn toàn chẳng mường tượng được chuyện gì sắp ập tới; "đó là tiếng sủa mỗi khi nó đánh hơi thấy hiểm nguy."

Nguy hiểm!

"Chị có chắc không, Wendy?"

"Ồ, chắc chắn mà."

Bà Darling khẽ rùng mình, bước vội tới bên cửa sổ. Chốt cửa đã được gài chặt. Bà phóng tầm mắt ra ngoài, nơi màn đêm đang được điểm xuyết bởi vô vàn tinh tú. Các vì sao đang rủ nhau tụ tập quanh ngôi nhà, đong đầy vẻ hiếu kỳ như muốn tận mắt chứng kiến điều sắp xảy ra nơi đây, nhưng bà chẳng mảy may để tâm đến cảnh tượng ấy, cũng không hề nhận ra có vài ngôi sao bé xíu đang tinh nghịch nháy mắt với mình. Dẫu vậy, một nỗi sợ hãi vô hình vẫn siết lấy trái tim bà, khiến bà bất giác thốt lên: "Ôi, giá như tối nay em không phải đi dự tiệc!"

Ngay cả Michael, dẫu đã chìm vào nửa giấc nồng, dường như cũng cảm nhận được sự bồn chồn của mẹ. Cậu nhóc cất tiếng hỏi: "Có thứ gì có thể làm hại chúng ta không hả mẹ, khi mà những ngọn đèn ngủ đã được thắp lên?"

"Sẽ không có gì đâu, cục cưng ạ," bà dịu dàng đáp; "đó chính là những đôi mắt mà một người mẹ để lại để canh chừng cho các con của mình."

Bà nhẹ bước từ giường này sang giường khác, khe khẽ hát những câu thần chú êm đềm ru lũ trẻ say giấc, và cậu bé Michael vòng tay ôm siết lấy bà. "Mẹ ơi," cậu thỏ thẻ, "con vui lắm vì có mẹ." Đó là những lời cuối cùng bà được nghe từ cậu trong một quãng thời gian dài đằng đẵng.

Ngôi nhà số 27 dẫu chỉ cách đó vài thước, nhưng ngoài trời tuyết đang lất phất rơi, buộc ông bà Darling phải cẩn trọng nhón chân để giày khỏi lấm bẩn. Họ là những bóng người duy nhất rảo bước trên con phố vắng, và mọi vì sao trên cao đều đang chăm chú dõi theo. Các vì sao kiều diễm là thế, nhưng chúng lại không được quyền can dự vào bất cứ việc gì, vĩnh viễn chỉ có thể đứng nhìn. Đó là hình phạt giáng xuống cho một lỗi lầm thuở xa xưa nào đó, lâu đến mức giờ đây chẳng một vì sao nào còn nhớ nổi nguyên do. Chính vì thế, những ngôi sao già cỗi dần trở nên đờ đẫn và hiếm khi chịu cất lời (với các vì sao, nháy mắt chính là ngôn ngữ giao tiếp), thế nhưng những ngôi sao nhỏ tuổi thì vẫn luôn ấp ủ đầy trí tò mò. Thực tình, chúng chẳng mấy thân thiện với Peter đâu, bởi cậu nhóc có cái tật tinh quái chuyên lẻn ra sau lưng rồi chu mỏ cố thổi tắt chúng. Dẫu vậy, vốn bản tính ham vui, đêm nay chúng quyết định đứng về phe cậu, nôn nóng mong cho người lớn mau mau đi khuất mắt. Vậy nên, ngay khoảnh khắc cánh cửa ngôi nhà số 27 vừa khép lại sau lưng vợ chồng Darling, cả bầu trời bỗng chốc xôn xao, và ngôi sao nhỏ bé nhất trong dải Ngân Hà lanh lảnh hét vang:

"Bây giờ, Peter!"



  1. Trong văn hóa truyền thống phương Tây, thứ Sáu thường được xem là ngày mang lại xui xẻo (liên quan đến ngày Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập giá hoặc truyền thuyết thứ Sáu ngày 13). Lời kể 'Lẽ dĩ nhiên phải là một ngày thứ Sáu' đóng vai trò như một điềm báo trước cho những biến cố sắp ập đến với gia đình Darling. 

  2. Trong văn bản gốc, ông Darling đã thốt lên cụm từ tiếng Latinh 'Mea culpa, mea culpa' (lỗi tại tôi). Sự hài hước nằm ở chỗ tác giả dùng chi tiết ông 'được hưởng một nền giáo dục cổ điển' (tức được học tiếng Latinh và Hy Lạp cổ - tiêu chuẩn của tầng lớp trung lưu Anh bấy giờ) chỉ để giải thích cho việc ông hay dùng từ Latinh rườm rà nhằm kịch tính hóa lỗi lầm của bản thân. Khi dịch nghĩa sang tiếng Việt, lớp nghĩa châm biếm này đã bị ẩn đi. 

  3. Nghề nghiệp liên quan đến chứng khoán tại Trung tâm Tài chính London (The City) là biểu tượng cho sự thực dụng của nam giới trung lưu Anh thời bấy giờ. Tác giả cố tình đặt sự giỏi giang ngoài xã hội này cạnh sự vụng về khi thắt cà vạt ở nhà để châm biếm những lố bịch của thế giới người lớn, tạo sự tương phản với thế giới thần tiên của trẻ thơ. 

  4. Gia đình Darling có tài chính eo hẹp nên chỉ thuê được một cô hầu gái nhỏ là Liza. Việc họ cố tình dùng đại từ số nhiều 'bọn người hầu' (the servants) phản ánh thói chuộng hư vinh của tầng lớp trung lưu Anh thời Edward, luôn khao khát thể hiện mình có một gia thế quyền quý với đội ngũ gia nhân đông đảo.