Chương 5: HÒN ĐẢO THÀNH HIỆN THỰC
Cảm nhận được bước chân Peter đang trở về, Neverland lại bừng tỉnh. Đáng lẽ ta nên lùi về thì quá khứ mà nói rằng hòn đảo "đã bừng tỉnh", nhưng "bừng tỉnh" nghe vẫn xuôi tai hơn và đó cũng là cách Peter thường dùng.
Khi cậu vắng mặt, mọi thứ trên đảo thường chìm trong cõi tĩnh lặng. Các nàng tiên ngủ nướng thêm một giờ vào mỗi sáng, thú dữ thong dong chăm sóc bầy con nhỏ, người da đỏ mải mê tiệc tùng sáu ngày sáu đêm ròng rã, và dẫu cướp biển có đụng mặt các cậu bé đi lạc, chúng cũng chỉ hậm hực lườm nguýt rồi thôi. Nhưng với sự trở lại của Peter, kẻ thù không đội trời chung của thói uể oải, mọi thứ lại rộn rã hẳn lên: lúc này đây, chỉ cần áp tai xuống đất, bạn sẽ nghe thấy cả hòn đảo đang sục sôi sức sống.
Vào đêm ấy, các thế lực chính trên đảo được bố trí như sau. Các cậu bé đi lạc ra ngoài tìm kiếm Peter, bọn cướp biển bám theo tìm các cậu bé, người da đỏ lần theo dấu vết cướp biển, và bầy thú hoang lại săn lùng người da đỏ. Họ cứ đi vòng quanh hòn đảo, nhưng chẳng bao giờ chạm trán bởi tất cả đều di chuyển với cùng một tốc độ.
Tất cả đều khát máu, ngoại trừ các cậu bé đi lạc. Dẫu ngày thường bọn trẻ cũng mê mẩn những trò đánh đấm, nhưng đêm nay chúng chỉ ra ngoài để nghênh đón thủ lĩnh của mình. Số lượng các cậu bé trên đảo dĩ nhiên luôn thay đổi, tùy thuộc vào việc chúng bị giết hay vì những nguyên do nào đó; và hễ đứa nào có dấu hiệu lớn lên, làm trái với luật lệ, Peter sẽ lập tức loại bỏ; nhưng lúc này đây, nhóm có sáu đứa, tính cả cặp song sinh là hai. Hãy thử giả vờ nằm nấp giữa đám mía và quan sát bọn trẻ khi chúng rón rén nối đuôi nhau đi ngang qua, tay mỗi đứa lăm lăm một thanh dao găm.
Bọn trẻ bị Peter cấm tiệt không được có vẻ gì giống cậu, nên chúng khoác lên mình bộ lông của những con gấu do chính tay mình hạ gục. Lớp lông lá dày cộm khiến bọn trẻ trông tròn xoe, đến mức hễ ngã là chúng lại lăn lông lốc. Nhờ thế, chúng lại đi đứng vô cùng vững vàng.
Dẫn đầu là Tootles, không hề kém phần dũng cảm nhưng lại là kẻ mang số nhọ nhất trong cả nhóm quả cảm ấy. Cậu ít được trải nghiệm những chuyến phiêu lưu hơn bất kỳ ai, bởi vì những chuyện tày đình luôn chực chờ lúc cậu vừa quay lưng đi khuất; khi bề ngoài sóng yên biển lặng, cậu thường tranh thủ đi nhặt nhạnh ít cành củi khô, để rồi lúc trở về thì những người khác đã đang dọn dẹp chiến trường. Vận rủi ấy phảng phất một nét u buồn nhẹ nhàng trên khuôn mặt cậu, nhưng thay vì khiến cậu trở nên cáu bẳn, nó lại làm cậu thêm phần ngọt ngào, đến độ cậu chính là đứa khiêm nhường nhất bọn. Tootles hiền lành và tội nghiệp ơi, đêm nay nguy hiểm đang rình rập cậu đấy. Hãy cẩn thận, kẻo một cuộc phiêu lưu sắp sửa mở ra, mà nếu dấn thân vào, sẽ đẩy cậu đến tận cùng bi thương. Tootles à, nàng tiên Tink đang rắp tâm quậy phá đêm nay, đang lùng sục một công cụ, và ả cho rằng cậu là đứa dễ bị xỏ mũi nhất. Hãy dè chừng Tinker Bell.
Giá mà cậu có thể nghe thấy chúng ta, nhưng chúng ta đâu thực sự ở trên đảo, và cậu ấy cứ thế lầm lũi bước qua, vừa đi vừa cắn đốt ngón tay.
Tiếp theo là Nibs, vui tươi và thanh lịch, theo sau là Slightly, người đang mải mê vót những chiếc còi từ cành cây và say sưa nhảy múa theo nhịp điệu của riêng mình. Slightly là đứa huênh hoang nhất bọn. Cậu luôn đinh ninh rằng mình vẫn nhớ được những tháng ngày trước khi đi lạc, nhớ cả những phép tắc và phong tục, và điều đó khiến mũi cậu lúc nào cũng hếch lên đầy vẻ hợm hĩnh. Curly đi ở vị trí thứ tư; cậu là một kẻ rắc rối, và thường xuyên phải đứng ra trình diện mỗi khi Peter cất giọng nghiêm nghị: "Đứa nào làm chuyện này bước ra", đến nỗi giờ đây, hễ nghe lệnh là cậu tự động bước ra bất kể mình có làm hay không. Cuối cùng là cặp song sinh, những nhân vật chẳng thể nào miêu tả nổi bởi vì ta rất dễ nhầm lẫn đứa này với đứa kia. Peter chưa bao giờ thực sự hiểu rõ khái niệm song sinh là gì, và nhóm của cậu không được phép biết bất cứ điều gì vượt quá sự hiểu biết của thủ lĩnh, nên hai cậu bé này luôn lơ mơ về chính bản thân mình, và luôn cố gắng làm hài lòng mọi người bằng cách kề vai sát cánh bên nhau với vẻ mặt vô cùng áy náy.
Các cậu bé chìm khuất vào bóng tối, và chỉ một lát sau, không quá lâu, vì mọi thứ trên đảo đều diễn ra thoăn thoắt, lũ cướp biển đã bám theo dấu chân bọn trẻ. Chúng ta nghe thấy tiếng chúng trước khi nhìn thấy người, và lúc nào cũng là bài ca sặc mùi tử khí ấy:
"Dừng tay kéo neo, yo ho, hò dô, Cướp biển ta cùng ra khơi, Và nếu một phát súng khiến ta chia phôi, Chắc chắn ta sẽ gặp nhau dưới mồ!"
Một toán người mang dáng vẻ đê tiện chưa từng thấy, đáng lẽ phải bị treo cổ thành hàng trên bến Hành hình1, giờ đây lại đang hiện diện. Dẫn đầu một chút, luôn áp tai xuống đất nghe ngóng, để lộ đôi tay trần vạm vỡ và đôi khuyên tai đúc bằng tiền vàng, chính là Cecco người Ý đẹp trai, kẻ từng dùng dao khắc tên mình bằng những nét máu rỏn rỏn trên lưng viên thống đốc nhà tù ở Gao. Tên da đen khổng lồ lầm lì theo sau đã thay tên đổi họ không biết bao nhiêu lần kể từ khi vứt bỏ cái tên mà những bà mẹ da ngăm bên bờ sông Guadjo-mo vẫn thường dùng để dọa dẫm con trẻ. Rồi đây là Bill Jukes, kẻ xăm trổ kín mình, cũng là gã Bill Jukes từng bị Flint2 quất đến bảy mươi hai roi trên tàu Walrus trước khi chịu nhè túi tiền vàng ra; rồi Cookson, kẻ được đồn là anh trai của Black Murphy (dù điều này chưa bao giờ được kiểm chứng), và Starkey Quý Tộc, từng làm gác cửa tại một trường công giáo, giữ nguyên vẻ tao nhã ngay cả khi giết người; rồi Skylights (tên Skylights của Morgan3); và gã thủy thủ trưởng người Ireland tên Smee, một kẻ kỳ quái với vẻ ngoài hiền lành, đâm người mà chẳng mảy may lộ nét hung ác, cũng là kẻ Bất Tuân duy nhất trong băng đảng của Hook; rồi Noodler, gã đàn ông có đôi bàn tay mọc ngược; rồi Robt. Mullins, Alf Mason cùng vô số những tên lưu manh khét tiếng khác từng gieo rắc nỗi kinh hoàng trên khắp vùng biển Caribe.
Nổi bật giữa đám đông ấy, đen tối và vĩ đại nhất trong cái khung cảnh mờ mịt, chính là James Hook đang ngả ngớn, hay như cách hắn tự ký tên: Jas. Hook, kẻ được cho là người duy nhất khiến Đầu Bếp Biển (John Silver)4 cũng phải e dè. Hắn ngả mình thoải mái trên một cỗ xe ngựa thô kệch do đám thuộc hạ vừa kéo vừa đẩy, và thay vì bàn tay phải, hắn sở hữu một chiếc móc sắt mà thỉnh thoảng lại vung vẩy để hối thúc bọn đàn em tăng tốc. Gã đàn ông đáng sợ này đối xử và ném lời với thủ hạ chẳng khác nào đối với bầy chó, và chúng cũng răm rắp phục tùng hắn như những con khuyển trung thành. Ngoại hình hắn hốc hác, sạm đen, mái tóc chải thành những lọn dài mà nhìn từ xa trông như những ngọn nến đen ngòm, hắt bóng đe dọa lên khuôn mặt đẹp mã của hắn. Đôi mắt mang màu xanh của hoa lưu ly, chất chứa một nỗi u buồn thăm thẳm, ngoại trừ những lúc hắn cắm phập chiếc móc vào thịt da kẻ khác; khi ấy, hai đốm đỏ rực sẽ lóe lên trong mắt, thắp sáng chúng một cách rợn người. Về phong cách, hắn vẫn vương vấn chút cốt cách của tầng lớp quý tộc, đến độ hắn có thể xé xác ngươi với một thái độ đầy kiêu hãnh; và ta nghe đồn hắn là một tay kể chuyện cừ khôi. Hắn chưa bao giờ nguy hiểm hơn những lúc tỏ ra nhã nhặn tột bậc, đó có lẽ là minh chứng rõ ràng nhất cho một nền giáo dục hoàn hảo; và sự trau chuốt trong ngôn từ, ngay cả khi hắn đang chửi rủa, cùng với phong thái khác biệt, cho thấy hắn xuất thân từ một tầng lớp hoàn toàn chênh lệch với đám lâu la. Vốn là kẻ có lòng can đảm sắt đá, người ta kháo nhau rằng thứ duy nhất khiến hắn rùng mình là việc nhìn thấy máu của chính mình, thứ máu đặc quánh mang màu sắc dị thường. Về phục trang, hắn chuộng bắt chước phong cách thời vua Charles II, bởi từng nghe nói đâu đó trong quá khứ rằng mình mang nét hao hao với gia tộc Stuart xấu số5; miệng hắn lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu tự chế, cho phép hút một lúc hai điếu xì gà. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, phần đáng sợ nhất trên cơ thể hắn chính là chiếc vuốt sắt lạnh lẽo.
Giờ ta hãy thử giết một tên cướp biển để minh chứng cho cách hành xử của Hook. Lấy Skylights làm ví dụ. Khi đám đông đi ngang qua, Skylights lảo đảo va phải hắn, làm xô lệch chiếc cổ áo viền ren; lập tức chiếc móc phóng ra, một tiếng xé toạc vang lên kèm theo tiếng thét chói tai, sau đó cái xác bị đá lăn sang một bên, và đám cướp biển lại thản nhiên bước tiếp. Hắn thậm chí còn chưa thèm rút điếu xì gà khỏi miệng.
Đó chính là gã đàn ông gieo rắc nỗi kinh hoàng mà Peter Pan sắp phải đối đầu. Ai sẽ là người giành chiến thắng?
Bám sát gót bọn cướp biển, lặng lẽ rón rén dọc theo con đường mòn chiến tranh mà những đôi mắt thiếu kinh nghiệm không tài nào nhìn thấy, là những người da đỏ với đôi mắt mở to cảnh giác. Họ mang theo rìu chiến và dao găm, thân hình trần trụi bóng nhẫy màu vẽ và dầu tẩm. Quanh hông họ lủng lẳng những bộ da đầu, chiến lợi phẩm từ cả các cậu bé lẫn bọn cướp biển, bởi vì đây là bộ tộc Piccaninny, tuyệt nhiên không phải những kẻ yếu mềm như người Delaware hay Huron6. Bò bằng cả tứ chi dẫn đầu là Great Big Little Panther, một chiến binh sở hữu quá nhiều da đầu chiến lợi phẩm đến mức chúng trở nên vướng víu trong tư thế bò lê bò càng này. Cầm trịch phía sau, vị trí hiểm nguy nhất, là Tiger Lily, đứng thẳng kiêu hãnh như một nàng công chúa thực thụ. Cô là đóa hoa rực rỡ nhất trong số những nữ thần săn bắn da ngăm, đóa hoa khôi của bộ tộc Piccaninny, khi thì đỏng đảnh xấc xược, lúc lại lạnh lùng và đa tình; không có chiến binh nào lại không ao ước cưới được cô gái bướng bỉnh này làm vợ, nhưng cô gạt phăng mọi lời cầu hôn chỉ bằng một nhát rìu sắc lẹm. Hãy xem cách họ lướt qua những cành cây khô mà không gây ra mảy may một tiếng động nhỏ. Âm thanh duy nhất lọt vào tai chỉ là tiếng thở hơi nặng nề của họ. Thật ra, lúc này tất cả bọn họ đều hơi mập mạp sau đợt ăn uống no say, nhưng rồi thời gian sẽ bào mòn hết đống mỡ thừa ấy. Dẫu vậy, trong lúc này, thân hình ục ịch lại chính là mối nguy lớn nhất của họ.
Những người da đỏ tan biến như những bóng ma, hệt như cách họ xuất hiện, và ngay tức thì, vị trí của họ bị lấp đầy bởi bầy thú dữ, một đoàn diễu hành khổng lồ, hỗn tạp: sư tử, hổ, gấu, cùng vô số những sinh vật hoang dã nhỏ bé hơn đang hốt hoảng chạy trốn, bởi lẽ trên hòn đảo kỳ lạ này, mọi loài dã thú, đặc biệt là loài ăn thịt người, đều chung sống sát cánh bên nhau. Chúng thè chiếc lưỡi dài, đêm nay bầy thú đang cồn cào cơn đói.
Khi chúng vừa lướt qua, sinh vật cuối cùng xuất hiện, một con cá sấu khổng lồ. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ biết nó đang lùng sục kẻ nào.
Con cá sấu trườn đi, nhưng ngay lập tức các cậu bé lại xuất hiện, bởi vòng tuần hoàn phải tiếp diễn mãi cho đến khi có một nhóm dừng bước hoặc thay đổi tốc độ. Rồi đây, chúng sẽ nhanh chóng đụng độ nhau.
Tất cả đều căng mắt cảnh giác những hiểm nguy phía trước, nhưng chẳng một ai ngờ rằng tử thần đang rình rập ngay từ phía sau lưng. Chỉ điều này thôi cũng đủ thấy hòn đảo này thực sự đáng sợ đến nhường nào.
Nhóm đầu tiên tách khỏi vòng tròn di chuyển là các cậu bé. Bọn trẻ thả mình lăn bò ra thảm cỏ, ngay phía trên mái nhà dưới lòng đất của chúng.
"Bọn tớ thật lòng mong cậu ấy quay lại," từng đứa một thầm thì đầy lo âu, dẫu xét về cả chiều cao lẫn bề ngang, bọn chúng đều vạm vỡ hơn vị thủ lĩnh của mình rất nhiều.
"Tớ là đứa duy nhất không biết sợ lũ cướp biển là gì," Slightly vênh váo, cất lên cái giọng điệu khó ưa thường ngày; thế nhưng, có lẽ một tiếng động loáng thoáng nào đó vừa sượt qua khiến cậu chột dạ, nên cậu vội vàng lấp liếm, "nhưng tớ vẫn mong cậu ấy mau về, để còn kể cho bọn mình nghe xem có tin tức gì mới về nàng Lọ Lem không chứ."
Thế là bọn trẻ rôm rả bàn tán về Lọ Lem, còn Tootles thì quả quyết rằng mẹ của cậu chắc chắn mang dáng dấp giống hệt nàng.
Thực ra, chỉ khi Peter đi vắng, bọn trẻ mới dám lén lút nhắc đến những người mẹ, bởi chủ đề này đã bị cậu ban lệnh cấm tiệt với lý do là quá đỗi ngớ ngẩn.
"Tất cả những gì tớ còn nhớ về mẹ mình," Nibs rủ rỉ kể với các bạn, "đó là bà thường hay than thở với bố tớ rằng, 'Ôi, em chỉ ước sao mình có một cuốn sổ séc của riêng mình!' Tớ chẳng biết sổ séc là cái thứ gì đâu, nhưng tớ thật sự muốn mang tặng mẹ một cuốn."
Ngay giữa lúc rầm rì trò chuyện, bọn trẻ bỗng bắt được một thanh âm vọng lại từ chốn xa xăm. Bạn hay tôi, những kẻ vốn dĩ chẳng phải là sinh vật hoang dã của chốn rừng sâu, hẳn sẽ chẳng tài nào nghe thấu; nhưng bọn trẻ thì có, và đó là một bài ca rợn người:
"Yo ho, yo ho, kiếp hải tặc, Treo cao ngọn cờ đầu lâu xương chéo, Một giờ vui thú, một sợi thòng lọng, Và gửi lời chào lão Davy Jones7."
Tức thì, các cậu bé đi lạc-ơ kìa, nhưng bọn trẻ đi đâu cả rồi? Chẳng còn mống nào ở đó nữa. Kể cả một bầy thỏ dẫu có lủi nhanh đến mấy cũng chẳng thể biến mất tăm dạng thần tốc đến vậy.
Để tôi kể cho bạn nghe bọn trẻ đang trốn ở đâu. Ngoại trừ Nibs đã nhanh nhẹn vọt đi thám thính, cả đám đã chui tọt vào trong ngôi nhà dưới lòng đất của mình, một chốn trú ngụ diệu kỳ mà chúng ta sẽ sớm được mục sở thị ngay sau đây. Nhưng bọn trẻ xuống đó bằng cách nào kia chứ? Chẳng có lấy một lối vào nào lộ diện, ngay cả một hòn đá tảng để có thể lăn đi và làm lộ ra miệng hang cũng bặt tăm. Dẫu vậy, nếu tinh mắt quan sát, bạn sẽ nhận ra xung quanh đó có bảy cái cây cổ thụ, mỗi cây đều hở ra một cái lỗ lớn trên thân cây rỗng tuếch, vừa vặn bằng kích cỡ của một cậu bé. Đó chính là bảy lối dẫn xuống căn nhà dưới lòng đất, nơi mà tay thuyền trưởng Hook đã cất công lùng sục trong tuyệt vọng suốt bao tháng trời. Liệu đêm nay hắn có đánh hơi ra được nơi này không?
Bọn cướp biển rầm rập tiến tới. Ánh mắt sắc sảo của Starkey thoáng thấy bóng Nibs vụt biến vào rừng, gã liền lăm lăm chĩa khẩu súng lục về phía đó. Nhưng một chiếc vuốt sắt lạnh lẽo đã tóm chặt lấy vai gã.
"Thuyền trưởng, thả tôi ra!" gã vặn vẹo, thét lên.
Đây là lần đầu tiên chúng ta được nghe giọng của Hook, một chất giọng tối tăm và rùng rợn. "Cất súng đi đã," hắn gầm gừ hăm dọa.
"Đó là một trong những thằng nhãi mà thuyền trưởng căm ghét. Tôi đã có thể bắn chết nó."
"Ừ, và tiếng súng sẽ dẫn lũ người da đỏ của Tiger Lily đến thẳng chỗ chúng ta. Ngươi muốn mất mảng da đầu hả?"
"Tôi có nên đuổi theo nó không, thưa thuyền trưởng," Smee ủ rũ hỏi, "rồi chọc léc nó bằng Johnny Mở Nút Chai nhé?" Smee luôn dành những cái tên êm ái cho mọi thứ. Gã gọi thanh mã tấu của mình là Johnny Mở Nút Chai, bởi gã có thú vui ngoáy lưỡi dao vào vết thương của nạn nhân. Người ta có thể tìm thấy không ít nét đáng yêu ở Smee. Chẳng hạn, sau khi giết người, gã thường thong thả lau kính cận thay vì lau sạch vũ khí.
"Johnny vốn là một gã ít nói mà," gã mủm mỉm nhắc nhở Hook.
"Chưa phải lúc này, Smee," Hook ủ dột đáp. "Thằng nhãi đó chỉ có một mình, mà ta thì muốn tóm gọn cả bảy đứa. Tản ra và lùng sục chúng cho ta!"
Bọn cướp biển nhanh chóng tản mát vào những tán cây, chốc lát sau chỉ còn lại viên thuyền trưởng và Smee. Hook buông một tiếng thở dài thườn thượt. Chẳng hiểu vì sao, có lẽ màn đêm dịu dàng đã khơi gợi trong lòng hắn khao khát được trút bầu tâm sự với người thủy thủ trưởng trung thành về cuộc đời mình. Hắn giãi bày thật lâu, thật tha thiết, nhưng Smee, vốn dĩ ngu ngốc, lại chẳng lọt tai được chữ nào.
Mãi lúc sau, gã mới bắt được cái tên Peter.
"Hơn tất cả," Hook say sưa nghiến răng, "ta muốn tên thủ lĩnh của chúng, Peter Pan. Chính hắn đã chặt đứt cánh tay ta." Hắn vung vẩy chiếc móc đầy hăm dọa. "Ta đã chờ đợi quá lâu để được 'bắt tay' hắn bằng thứ này. Ôi, ta sẽ xé xác hắn thành từng mảnh!"
"Nhưng mà," Smee chép miệng, "tôi vẫn thường nghe thuyền trưởng bảo chiếc móc đó đáng giá bằng cả hai chục bàn tay gộp lại, dùng để chải tóc và làm khối việc lặt vặt khác trong nhà cơ mà."
"Ừ," viên thuyền trưởng đáp lời, "nếu ta là một bà mẹ, ta sẽ cầu nguyện cho những đứa con của mình sinh ra với cái này thay vì cái kia." Hắn phóng một ánh mắt đầy tự hào vào chiếc vuốt sắt rồi liếc nhìn bàn tay còn lại bằng vẻ khinh bỉ tột độ. Rồi hắn lại cau mày sầu não.
"Peter đã ném cánh tay của ta," hắn nhăn nhó kể lể, "cho một con cá sấu vô tình bơi ngang qua."
"Tôi vẫn thường thắc mắc," Smee gật gù, "về nỗi sợ hãi kỳ lạ của thuyền trưởng đối với loài cá sấu."
"Không phải loài cá sấu nói chung," Hook vội vàng nắn gân gã, "mà là con cá sấu đó." Hắn thì thào ớn lạnh. "Nó khoái khẩu cánh tay ta đến mức, Smee ạ, nó đã bám riết lấy ta kể từ dạo ấy, rảo quanh từ vùng biển này sang vùng biển khác, từ vùng đất này sang vùng đất nọ, lúc nào cũng liếm mép thèm thuồng phần thịt xương còn lại của ta."
"Nói theo một khía cạnh nào đó," Smee triết lý, "đó có thể xem như một lời tâng bốc."
"Ta khước từ những lời tâng bốc gở mồm như vậy," Hook gắt gỏng quát lớn. "Ta muốn xé xác Peter Pan, kẻ đầu tiên đã tiêm nhiễm cho con quái thú đó sở thích nhấm nháp thịt ta."
Hắn ngồi phịch xuống một cây nấm lớn, giọng điệu bất giác run rẩy. "Smee," hắn khàn giọng thú nhận, "con cá sấu đó lẽ ra đã nuốt chửng ta từ lâu rồi, nhưng phước đức làm sao, nó lại lỡ nuốt phải một chiếc đồng hồ vẫn còn kêu tích tắc trong bụng. Vì thế, cứ mỗi lần nó lảng vảng đến gần, ta lại nghe thấy tiếng tích tắc và kịp thời co cẳng bỏ chạy." Hắn phá lên cười, một nụ cười rỗng tuếch và méo mó.
"Nhưng rồi sẽ có ngày," Smee tỉnh rụi bồi thêm, "chiếc đồng hồ sẽ cạn cót, và lúc đó nó sẽ chộp được thuyền trưởng."
Hook liếm láp đôi môi khô khốc. "Ừ," hắn run rẩy, "đó chính là nỗi sợ hãi tột cùng luôn ám ảnh tâm trí ta."
Kể từ lúc ngồi xuống, hắn bỗng cảm thấy một hơi ấm kỳ lạ lan tỏa. "Smee," hắn lẩm bẩm, "chỗ ngồi này nóng rang." Rồi hắn nhảy dựng lên như bị bỏng. "Ối giời đất ơi, búa với kìm8, ta đang bốc cháy đây!"
Cả hai lom khom xúm lại xem xét cây nấm. Kích thước và độ cứng cáp của nó quả thực chưa từng thấy ở bất kỳ loài nấm đất liền nào. Chúng thử nhổ nó lên, và ngạc nhiên thay, cây nấm tuột khỏi mặt đất dễ dàng như không hề có rễ. Kỳ lạ hơn nữa, một luồng khói mỏng lập tức bốc lên từ cái hốc vừa lộ ra. Hai tên cướp biển trố mắt nhìn nhau. "Một cái ống khói!" cả hai đồng thanh thốt lên.
Bọn chúng thực sự đã phát hiện ra ống khói cất giấu của ngôi nhà dưới lòng đất. Lũ trẻ đi lạc thường có thói quen lấy một cây nấm lớn bịt kín miệng ống khói mỗi khi đánh hơi thấy kẻ thù lảng vảng quanh quẩn.
Nhưng không chỉ có khói bốc lên. Từ dưới sâu còn vọng lại tiếng nói cười ríu rít của trẻ con, bởi lẽ bọn trẻ luôn cảm thấy vô cùng an toàn trong căn hầm bí mật nên cứ vô tư trò chuyện rôm rả. Bọn cướp biển nhăn nhó vểnh tai lắng nghe, rồi rón rén đặt cây nấm về lại chỗ cũ. Chúng đưa mắt dò xét xung quanh và bất chợt để ý thấy những cái hốc tò vò khoét trên bảy thân cây lớn.
"Thuyền trưởng có nghe lũ nhãi rỉ tai nhau rằng Peter Pan đang đi vắng không?" Smee thì thầm, tay bồn chồn vuốt ve thanh mã tấu Johnny Mở Nút Chai.
Hook im lặng gật đầu. Hắn đứng trầm ngâm một đỗi lâu, và cuối cùng, một nụ cười rùng rợn xé toạc khuôn mặt đen đúa đầy sẹo. Smee háo hức chờ đợi khoảnh khắc này. "Phun kế hoạch ra đi, thuyền trưởng!" gã sốt sắng reo lên.
"Quay lại tàu," Hook chậm rãi rít qua kẽ răng, "và nướng một chiếc bánh khổng lồ, thật béo ngậy, phủ một lớp đường xanh mướt bên trên. Chỉ có thể có một căn phòng duy nhất bên dưới, vì ở đây chỉ có một cái ống khói. Lũ chuột chũi đần độn ấy không đủ thông minh để nhận ra rằng chúng chẳng cần mỗi đứa một cái cửa riêng biệt. Điều đó chứng tỏ chúng là lũ trẻ không có mẹ. Chúng ta sẽ đặt chiếc bánh ngay trên bờ Đầm Nàng Tiên Cá. Lũ oắt con lúc nào cũng bơi lội quanh đó, đàn đúm với lũ tiên cá. Chúng sẽ chộp lấy chiếc bánh và ngấu nghiến nhồi nhét, bởi vì thiếu vắng bàn tay chăm sóc của một người mẹ, chúng làm sao biết được việc tọng vào bụng một chiếc bánh vừa ngậy vừa ẩm nguy hiểm đến nhường nào." Hắn ngửa cổ phá lên cười, chẳng còn là tiếng cười trống rỗng lúc nãy nữa, mà là một tràng cười khoái trá đầy ác độc. "Aha, chúng sẽ chết chắc!"
Smee dỏng tai lắng nghe, ánh mắt ánh lên sự ngưỡng mộ ngày một cuồng nhiệt.
"Đó là kế sách thâm độc nhất, hoàn hảo nhất mà tôi từng được nghe!" gã hân hoan rú lên. Trong cơn phấn khích tột độ, chúng vừa nắm tay nhau nhảy nhót lố lăng vừa gào lên bài ca cướp biển:
"Buông chèo, kéo neo, khi ta xuất hiện, Sợ hãi sẽ bóp nghẹt tim can; Thịt xương mi sẽ nát bươm tơi tả Khi mi bắt tay bằng vuốt với Hook."
Chúng mới bắt đầu gào thét câu hát, nhưng chẳng bao giờ có cơ hội hát trọn vẹn, bởi một âm thanh quái gở chợt xen ngang, bóp nghẹt tiếng hát trong cổ họng. Ban đầu, âm thanh ấy nhỏ bé đến mức tiếng xào xạc của một chiếc lá rơi cũng đủ sức lấp liếm. Nhưng khi nó trườn đến gần hơn, nhịp điệu chết chóc ấy bỗng trở nên rõ rệt.
Tích tắc... tích tắc... tích tắc!
Hook đứng chết trân, toàn thân run lẩy bẩy, một chân vẫn còn cứng đờ lơ lửng trên không trung.
"Con cá sấu!" hắn lắp bắp hổn hển, rồi co giò vọt chạy trối chết, theo sát gót là gã thủy thủ trưởng.
Quả thực, đó chính là con cá sấu bạo chúa. Nó đã lướt qua bãi cắm trại của những người da đỏ, những kẻ lúc này đang mải mê theo dấu đám cướp biển còn lại. Và giờ đây, nó đang nhẩn nha trườn bám theo từng bước chân kinh hoàng của Hook.
Một lần nữa, các cậu bé lại nhô lên khỏi mặt đất, nhưng hiểm nguy của đêm đen vẫn chưa khép lại. Bởi ngay giây phút ấy, Nibs hớt hải chạy ập vào giữa bọn trẻ, theo sát gót là một bầy sói đói. Những chiếc lưỡi thè ra dữ tợn, và tiếng tru sủa của chúng nghe mới rợn người làm sao.
"Cứu tớ, cứu tớ với!" Nibs thét lên rồi ngã khuỵu xuống bãi cỏ.
"Nhưng bọn mình phải làm sao, bọn mình có thể làm gì bây giờ?"
Thật đáng khen cho sức ảnh hưởng của Peter, bởi ngay trong thời khắc sinh tử ấy, tâm trí của bọn trẻ vẫn nhất nhất hướng về cậu.
"Peter sẽ làm gì?" tất cả đồng thanh kêu lên.
Và gần như chung một nhịp thở, bọn trẻ reo to: "Peter sẽ cúi xuống nhìn chúng qua háng."
Rồi ngay tắp lự: "Hãy làm theo cách của Peter!"
Đó quả là một nước đi hữu hiệu nhất để xua đuổi loài sói. Bọn trẻ đồng loạt cúi rạp người xuống, đảo mắt nhìn ngược qua hai chân mình. Những giây tiếp theo trôi qua tưởng chừng như vô tận, nhưng chiến thắng đã gõ cửa rất nhanh. Bởi khi các cậu bé mang cái tư thế kỳ dị ấy nhích dần về phía bầy thú, lũ sói đã phải cụp đuôi tháo chạy.
Bấy giờ, Nibs mới lồm cồm bò dậy từ mặt đất. Những đứa trẻ khác ngỡ rằng đôi mắt mở to trừng trừng của cậu vẫn đang dõi theo lũ sói, nhưng thực ra không phải vậy.
"Tớ vừa thấy một thứ còn kỳ diệu hơn cơ," cậu reo lên giữa đám bạn đang háo hức xúm xít quanh mình. "Một con chim trắng khổng lồ. Nó đang bay thẳng về phía này."
"Cậu đoán xem đó là loài chim gì?"
"Tớ cũng chịu," Nibs đáp lời, giọng đầy kinh ngạc, "nhưng trông nó kiệt sức lắm rồi, và khi bay nó cứ rền rĩ mãi câu: 'Wendy tội nghiệp'."
"Wendy tội nghiệp ư?"
"A, tớ nhớ ra rồi," Slightly lanh chanh tiếp lời ngay tắp lự, "trên đời này có một loài chim tên là Wendy đấy."
"Nhìn kìa, nó bay đến rồi kìa!" Curly cất tiếng kêu, tay chỉ thẳng về bóng dáng Wendy đang lướt qua bầu trời.
Lúc này, Wendy đã bay đến ngay trên đỉnh đầu, và bọn trẻ có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng khóc nức nở của cô bé. Thế nhưng, xé toạc màn đêm lại là chất giọng the thé của Tinker Bell. Cô tiên nhỏ đầy lòng đố kỵ giờ đây đã lột sạch lớp vỏ bọc bằng hữu tốt đẹp, điên cuồng lao vào tấn công nạn nhân tội nghiệp từ mọi phía, cấu xé không thương tiếc mỗi khi chạm được vào cô.
"Chào cậu, Tink!" các cậu bé kinh ngạc reo lên.
Từ trên không trung, tiếng Tink lạnh lùng vọng xuống: "Peter muốn các cậu bắn hạ con Wendy."
Bản tính của bọn trẻ đi lạc là không bao giờ mảy may hoài nghi những mệnh lệnh của Peter. "Hãy làm theo lệnh của Peter!" những cậu bé ngây thơ ngoan ngoãn hô vang. "Nhanh lên, cung tên đâu cả rồi!"
Ngoại trừ Tootles, tất thảy đều vội vã lao tuột xuống cái cây của mình. Nhưng Tootles thì đang thủ sẵn một bộ cung tên trong tay. Vừa lúc Tink phát hiện ra điều đó, cô ả đã khoái trá xoa xoa hai bàn tay nhỏ xíu vào nhau.
"Nhanh lên, Tootles, nhanh lên nào!" cô ả gào thét hối thúc. "Peter sẽ vui lắm đây."
Tootles hồ hởi tra mũi tên lên dây cung. "Tránh đường nào, Tink!" cậu hét lớn. Mũi tên xé gió lao đi, và Wendy chao đảo giữa không trung rồi rơi tự do xuống nền đất ẩm, mang theo một mũi tên ghim chặt giữa lồng ngực.
-
Nguyên gốc là "Execution Dock" - một địa điểm có thật dọc bờ sông Thames ở London (Anh), nơi Hải quân Hoàng gia Anh từng dùng để treo cổ các tội phạm hàng hải (đặc biệt là cướp biển và kẻ buôn lậu) trong suốt hơn 400 năm. ↩
-
Thuyền trưởng Flint và con tàu Walrus là những biểu tượng nổi tiếng bước ra từ cuốn tiểu thuyết cướp biển kinh điển Đảo giấu vàng (Treasure Island) của nhà văn Robert Louis Stevenson. ↩
-
Ám chỉ Ngài Henry Morgan (1635-1688), một trong những cướp biển (privateer) vĩ đại và khét tiếng nhất lịch sử vùng biển Caribe. Chi tiết này nhằm phô trương bề dày thành tích bất hảo của các thuộc hạ dưới trướng Hook. ↩
-
"Đầu bếp biển" (Sea-Cook) là biệt danh của Long John Silver - gã cướp biển một chân xảo quyệt trong tiểu thuyết Đảo giấu vàng (Treasure Island). Tác giả J.M. Barrie khéo léo mượn nhân vật này để tôn lên mức độ tàn độc của thuyền trưởng Hook. ↩
-
Ám chỉ Vương triều Stuart từng cai trị nước Anh. Gia tộc này được gọi là "xấu số" vì vướng vào nhiều bi kịch lịch sử, điển hình là việc Vua Charles I bị xử chém và Vua Charles II phải sống lưu vong trước khi giành lại ngai vàng. ↩
-
Delaware và Huron là tên hai bộ tộc da đỏ (Native American) có thật ở vùng Bắc Mỹ, từng được khắc họa là những chiến binh dũng cảm trong văn học kinh điển. Sự so sánh ngầm này nhằm cường điệu hóa mức độ hiếu chiến của bộ tộc hư cấu Piccaninny trên đảo Neverland. ↩
-
Bắt nguồn từ thành ngữ "Davy Jones' Locker" (Tủ đồ của lão Davy Jones) rất phổ biến trong giới đi biển phương Tây. Đây là một cách nói ẩn dụ để chỉ đáy đại dương bao la - nơi yên nghỉ cuối cùng của những thủy thủ bỏ mạng trên biển. ↩
-
Dịch từ câu cảm thán "Odds bobs, hammer and tongs". Trong tiếng Anh, thành ngữ "hammer and tongs" (búa và kìm) gợi hình ảnh người thợ rèn đập sắt quyết liệt. Thuyền trưởng Hook dùng cụm này như một câu chửi thề bộc phát quen thuộc của cướp biển khi bị giật mình hoặc đau đớn. ↩
Chapter V. THE ISLAND COME TRUE
Feeling that Peter was on his way back, the Neverland had again woke into life. We ought to use the pluperfect and say wakened, but woke is better and was always used by Peter.
In his absence things are usually quiet on the island. The fairies take an hour longer in the morning, the beasts attend to their young, the redskins feed heavily for six days and nights, and when pirates and lost boys meet they merely bite their thumbs at each other. But with the coming of Peter, who hates lethargy, they are under way again: if you put your ear to the ground now, you would hear the whole island seething with life.
On this evening the chief forces of the island were disposed as follows. The lost boys were out looking for Peter, the pirates were out looking for the lost boys, the redskins were out looking for the pirates, and the beasts were out looking for the redskins. They were going round and round the island, but they did not meet because all were going at the same rate.
All wanted blood except the boys, who liked it as a rule, but to-night were out to greet their captain. The boys on the island vary, of course, in numbers, according as they get killed and so on; and when they seem to be growing up, which is against the rules, Peter thins them out; but at this time there were six of them, counting the twins as two. Let us pretend to lie here among the sugar-cane and watch them as they steal by in single file, each with his hand on his dagger.
They are forbidden by Peter to look in the least like him, and they wear the skins of the bears slain by themselves, in which they are so round and furry that when they fall they roll. They have therefore become very sure-footed.
The first to pass is Tootles, not the least brave but the most unfortunate of all that gallant band. He had been in fewer adventures than any of them, because the big things constantly happened just when he had stepped round the corner; all would be quiet, he would take the opportunity of going off to gather a few sticks for firewood, and then when he returned the others would be sweeping up the blood. This ill-luck had given a gentle melancholy to his countenance, but instead of souring his nature had sweetened it, so that he was quite the humblest of the boys. Poor kind Tootles, there is danger in the air for you to-night. Take care lest an adventure is now offered you, which, if accepted, will plunge you in deepest woe. Tootles, the fairy Tink, who is bent on mischief this night is looking for a tool, and she thinks you are the most easily tricked of the boys. ’Ware Tinker Bell.
Would that he could hear us, but we are not really on the island, and he passes by, biting his knuckles.
Next comes Nibs, the gay and debonair, followed by Slightly, who cuts whistles out of the trees and dances ecstatically to his own tunes. Slightly is the most conceited of the boys. He thinks he remembers the days before he was lost, with their manners and customs, and this has given his nose an offensive tilt. Curly is fourth; he is a pickle, and so often has he had to deliver up his person when Peter said sternly, “Stand forth the one who did this thing,” that now at the command he stands forth automatically whether he has done it or not. Last come the Twins, who cannot be described because we should be sure to be describing the wrong one. Peter never quite knew what twins were, and his band were not allowed to know anything he did not know, so these two were always vague about themselves, and did their best to give satisfaction by keeping close together in an apologetic sort of way.
The boys vanish in the gloom, and after a pause, but not a long pause, for things go briskly on the island, come the pirates on their track. We hear them before they are seen, and it is always the same dreadful song:
“Avast belay, yo ho, heave to,
A-pirating we go,
And if we’re parted by a shot
We’re sure to meet below!”
A more villainous-looking lot never hung in a row on Execution dock. Here, a little in advance, ever and again with his head to the ground listening, his great arms bare, pieces of eight in his ears as ornaments, is the handsome Italian Cecco, who cut his name in letters of blood on the back of the governor of the prison at Gao. That gigantic black behind him has had many names since he dropped the one with which dusky mothers still terrify their children on the banks of the Guadjo-mo. Here is Bill Jukes, every inch of him tattooed, the same Bill Jukes who got six dozen on the Walrus from Flint before he would drop the bag of moidores; and Cookson, said to be Black Murphy’s brother (but this was never proved), and Gentleman Starkey, once an usher in a public school and still dainty in his ways of killing; and Skylights (Morgan’s Skylights); and the Irish bo’sun Smee, an oddly genial man who stabbed, so to speak, without offence, and was the only Non-conformist in Hook’s crew; and Noodler, whose hands were fixed on backwards; and Robt. Mullins and Alf Mason and many another ruffian long known and feared on the Spanish Main.
In the midst of them, the blackest and largest in that dark setting, reclined James Hook, or as he wrote himself, Jas. Hook, of whom it is said he was the only man that the Sea-Cook feared. He lay at his ease in a rough chariot drawn and propelled by his men, and instead of a right hand he had the iron hook with which ever and anon he encouraged them to increase their pace. As dogs this terrible man treated and addressed them, and as dogs they obeyed him. In person he was cadaverous and blackavized, and his hair was dressed in long curls, which at a little distance looked like black candles, and gave a singularly threatening expression to his handsome countenance. His eyes were of the blue of the forget-me-not, and of a profound melancholy, save when he was plunging his hook into you, at which time two red spots appeared in them and lit them up horribly. In manner, something of the grand seigneur still clung to him, so that he even ripped you up with an air, and I have been told that he was a raconteur of repute. He was never more sinister than when he was most polite, which is probably the truest test of breeding; and the elegance of his diction, even when he was swearing, no less than the distinction of his demeanour, showed him one of a different cast from his crew. A man of indomitable courage, it was said that the only thing he shied at was the sight of his own blood, which was thick and of an unusual colour. In dress he somewhat aped the attire associated with the name of Charles II, having heard it said in some earlier period of his career that he bore a strange resemblance to the ill-fated Stuarts; and in his mouth he had a holder of his own contrivance which enabled him to smoke two cigars at once. But undoubtedly the grimmest part of him was his iron claw.
Let us now kill a pirate, to show Hook’s method. Skylights will do. As they pass, Skylights lurches clumsily against him, ruffling his lace collar; the hook shoots forth, there is a tearing sound and one screech, then the body is kicked aside, and the pirates pass on. He has not even taken the cigars from his mouth.
Such is the terrible man against whom Peter Pan is pitted. Which will win?
On the trail of the pirates, stealing noiselessly down the war-path, which is not visible to inexperienced eyes, come the redskins, every one of them with his eyes peeled. They carry tomahawks and knives, and their naked bodies gleam with paint and oil. Strung around them are scalps, of boys as well as of pirates, for these are the Piccaninny tribe, and not to be confused with the softer-hearted Delawares or the Hurons. In the van, on all fours, is Great Big Little Panther, a brave of so many scalps that in his present position they somewhat impede his progress. Bringing up the rear, the place of greatest danger, comes Tiger Lily, proudly erect, a princess in her own right. She is the most beautiful of dusky Dianas and the belle of the Piccaninnies, coquettish, cold and amorous by turns; there is not a brave who would not have the wayward thing to wife, but she staves off the altar with a hatchet. Observe how they pass over fallen twigs without making the slightest noise. The only sound to be heard is their somewhat heavy breathing. The fact is that they are all a little fat just now after the heavy gorging, but in time they will work this off. For the moment, however, it constitutes their chief danger.
The redskins disappear as they have come like shadows, and soon their place is taken by the beasts, a great and motley procession: lions, tigers, bears, and the innumerable smaller savage things that flee from them, for every kind of beast, and, more particularly, all the man-eaters, live cheek by jowl on the favoured island. Their tongues are hanging out, they are hungry to-night.
When they have passed, comes the last figure of all, a gigantic crocodile. We shall see for whom she is looking presently.
The crocodile passes, but soon the boys appear again, for the procession must continue indefinitely until one of the parties stops or changes its pace. Then quickly they will be on top of each other.
All are keeping a sharp look-out in front, but none suspects that the danger may be creeping up from behind. This shows how real the island was.
The first to fall out of the moving circle was the boys. They flung themselves down on the sward, close to their underground home.
“I do wish Peter would come back,” every one of them said nervously, though in height and still more in breadth they were all larger than their captain.
“I am the only one who is not afraid of the pirates,” Slightly said, in the tone that prevented his being a general favourite; but perhaps some distant sound disturbed him, for he added hastily, “but I wish he would come back, and tell us whether he has heard anything more about Cinderella.”
They talked of Cinderella, and Tootles was confident that his mother must have been very like her.
It was only in Peter’s absence that they could speak of mothers, the subject being forbidden by him as silly.
“All I remember about my mother,” Nibs told them, “is that she often said to my father, ‘Oh, how I wish I had a cheque-book of my own!’ I don’t know what a cheque-book is, but I should just love to give my mother one.”
While they talked they heard a distant sound. You or I, not being wild things of the woods, would have heard nothing, but they heard it, and it was the grim song:
“Yo ho, yo ho, the pirate life,
The flag o’ skull and bones,
A merry hour, a hempen rope,
And hey for Davy Jones.”
At once the lost boys-but where are they? They are no longer there. Rabbits could not have disappeared more quickly.
I will tell you where they are. With the exception of Nibs, who has darted away to reconnoitre, they are already in their home under the ground, a very delightful residence of which we shall see a good deal presently. But how have they reached it? for there is no entrance to be seen, not so much as a large stone, which if rolled away, would disclose the mouth of a cave. Look closely, however, and you may note that there are here seven large trees, each with a hole in its hollow trunk as large as a boy. These are the seven entrances to the home under the ground, for which Hook has been searching in vain these many moons. Will he find it tonight?
As the pirates advanced, the quick eye of Starkey sighted Nibs disappearing through the wood, and at once his pistol flashed out. But an iron claw gripped his shoulder.
“Captain, let go!” he cried, writhing.
Now for the first time we hear the voice of Hook. It was a black voice. “Put back that pistol first,” it said threateningly.
“It was one of those boys you hate. I could have shot him dead.”
“Ay, and the sound would have brought Tiger Lily’s redskins upon us. Do you want to lose your scalp?”
“Shall I after him, Captain,” asked pathetic Smee, “and tickle him with Johnny Corkscrew?” Smee had pleasant names for everything, and his cutlass was Johnny Corkscrew, because he wiggled it in the wound. One could mention many lovable traits in Smee. For instance, after killing, it was his spectacles he wiped instead of his weapon.
“Johnny’s a silent fellow,” he reminded Hook.
“Not now, Smee,” Hook said darkly. “He is only one, and I want to mischief all the seven. Scatter and look for them.”
The pirates disappeared among the trees, and in a moment their Captain and Smee were alone. Hook heaved a heavy sigh, and I know not why it was, perhaps it was because of the soft beauty of the evening, but there came over him a desire to confide to his faithful bo’sun the story of his life. He spoke long and earnestly, but what it was all about Smee, who was rather stupid, did not know in the least.
Anon he caught the word Peter.
“Most of all,” Hook was saying passionately, “I want their captain, Peter Pan. ’Twas he cut off my arm.” He brandished the hook threateningly. “I’ve waited long to shake his hand with this. Oh, I’ll tear him!”
“And yet,” said Smee, “I have often heard you say that hook was worth a score of hands, for combing the hair and other homely uses.”
“Ay,” the captain answered, “if I was a mother I would pray to have my children born with this instead of that,” and he cast a look of pride upon his iron hand and one of scorn upon the other. Then again he frowned.
“Peter flung my arm,” he said, wincing, “to a crocodile that happened to be passing by.”
“I have often,” said Smee, “noticed your strange dread of crocodiles.”
“Not of crocodiles,” Hook corrected him, “but of that one crocodile.” He lowered his voice. “It liked my arm so much, Smee, that it has followed me ever since, from sea to sea and from land to land, licking its lips for the rest of me.”
“In a way,” said Smee, “it’s sort of a compliment.”
“I want no such compliments,” Hook barked petulantly. “I want Peter Pan, who first gave the brute its taste for me.”
He sat down on a large mushroom, and now there was a quiver in his voice. “Smee,” he said huskily, “that crocodile would have had me before this, but by a lucky chance it swallowed a clock which goes tick tick inside it, and so before it can reach me I hear the tick and bolt.” He laughed, but in a hollow way.
“Some day,” said Smee, “the clock will run down, and then he’ll get you.”
Hook wetted his dry lips. “Ay,” he said, “that’s the fear that haunts me.”
Since sitting down he had felt curiously warm. “Smee,” he said, “this seat is hot.” He jumped up. “Odds bobs, hammer and tongs I’m burning.”
They examined the mushroom, which was of a size and solidity unknown on the mainland; they tried to pull it up, and it came away at once in their hands, for it had no root. Stranger still, smoke began at once to ascend. The pirates looked at each other. “A chimney!” they both exclaimed.
They had indeed discovered the chimney of the home under the ground. It was the custom of the boys to stop it with a mushroom when enemies were in the neighbourhood.
Not only smoke came out of it. There came also children’s voices, for so safe did the boys feel in their hiding-place that they were gaily chattering. The pirates listened grimly, and then replaced the mushroom. They looked around them and noted the holes in the seven trees.
“Did you hear them say Peter Pan’s from home?” Smee whispered, fidgeting with Johnny Corkscrew.
Hook nodded. He stood for a long time lost in thought, and at last a curdling smile lit up his swarthy face. Smee had been waiting for it. “Unrip your plan, captain,” he cried eagerly.
“To return to the ship,” Hook replied slowly through his teeth, “and cook a large rich cake of a jolly thickness with green sugar on it. There can be but one room below, for there is but one chimney. The silly moles had not the sense to see that they did not need a door apiece. That shows they have no mother. We will leave the cake on the shore of the Mermaids’ Lagoon. These boys are always swimming about there, playing with the mermaids. They will find the cake and they will gobble it up, because, having no mother, they don’t know how dangerous ’tis to eat rich damp cake.” He burst into laughter, not hollow laughter now, but honest laughter. “Aha, they will die.”
Smee had listened with growing admiration.
“It’s the wickedest, prettiest policy ever I heard of!” he cried, and in their exultation they danced and sang:
“Avast, belay, when I appear,
By fear they’re overtook;
Nought’s left upon your bones when you
Have shaken claws with Hook.”
They began the verse, but they never finished it, for another sound broke in and stilled them. There was at first such a tiny sound that a leaf might have fallen on it and smothered it, but as it came nearer it was more distinct.
Tick tick tick tick!
Hook stood shuddering, one foot in the air.
“The crocodile!” he gasped, and bounded away, followed by his bo’sun.
It was indeed the crocodile. It had passed the redskins, who were now on the trail of the other pirates. It oozed on after Hook.
Once more the boys emerged into the open; but the dangers of the night were not yet over, for presently Nibs rushed breathless into their midst, pursued by a pack of wolves. The tongues of the pursuers were hanging out; the baying of them was horrible.
“Save me, save me!” cried Nibs, falling on the ground.
“But what can we do, what can we do?”
It was a high compliment to Peter that at that dire moment their thoughts turned to him.
“What would Peter do?” they cried simultaneously.
Almost in the same breath they cried, “Peter would look at them through his legs.”
And then, “Let us do what Peter would do.”
It is quite the most successful way of defying wolves, and as one boy they bent and looked through their legs. The next moment is the long one, but victory came quickly, for as the boys advanced upon them in the terrible attitude, the wolves dropped their tails and fled.
Now Nibs rose from the ground, and the others thought that his staring eyes still saw the wolves. But it was not wolves he saw.
“I have seen a wonderfuller thing,” he cried, as they gathered round him eagerly. “A great white bird. It is flying this way.”
“What kind of a bird, do you think?”
“I don’t know,” Nibs said, awestruck, “but it looks so weary, and as it flies it moans, ‘Poor Wendy.’”
“Poor Wendy?”
“I remember,” said Slightly instantly, “there are birds called Wendies.”
“See, it comes!” cried Curly, pointing to Wendy in the heavens.
Wendy was now almost overhead, and they could hear her plaintive cry. But more distinct came the shrill voice of Tinker Bell. The jealous fairy had now cast off all disguise of friendship, and was darting at her victim from every direction, pinching savagely each time she touched.
“Hullo, Tink,” cried the wondering boys.
Tink’s reply rang out: “Peter wants you to shoot the Wendy.”
It was not in their nature to question when Peter ordered. “Let us do what Peter wishes!” cried the simple boys. “Quick, bows and arrows!”
All but Tootles popped down their trees. He had a bow and arrow with him, and Tink noted it, and rubbed her little hands.
“Quick, Tootles, quick,” she screamed. “Peter will be so pleased.”
Tootles excitedly fitted the arrow to his bow. “Out of the way, Tink,” he shouted, and then he fired, and Wendy fluttered to the ground with an arrow in her breast.