Chương XIII. BẠN CÓ TIN VÀO NHỮNG NÀNG TIÊN KHÔNG?

Cảnh tượng kinh hoàng này tốt nhất nên được kể lại thật nhanh chóng. Curly là đứa trẻ đầu tiên ngoi lên khỏi gốc cây của mình. Cậu bé vừa thò đầu ra đã rơi tõm vào vòng tay của Cecco. Gã hải tặc lập tức quăng bổng cậu sang cho Smee, Smee chuyền cho Starkey, Starkey ném cho Bill Jukes, Bill Jukes lại hất sang cho Noodler. Cứ thế, cậu bé bị chuyền tay qua lại như một món đồ chơi cho tới khi lăn lóc ngay dưới chân gã hải tặc da đen. Bọn hải tặc nhẫn tâm lôi xềnh xệch tất cả những đứa trẻ khác ra khỏi thân cây theo cách thô bạo y như vậy. Thậm chí, có những lúc vài cậu bé cùng lúc bay lơ lửng giữa không trung, chẳng khác nào những kiện hàng bị ném qua quăng lại không thương tiếc.

Wendy, cô bé lên cuối cùng, lại nhận được một đặc ân khác hẳn. Mang theo nụ cười mỉa mai đầy lịch thiệp, Hook khẽ nhấc mũ chào, rồi lịch sự đưa tay ra dìu cô bé bước đến nơi những đứa trẻ khác đang bị bịt miệng. Hắn làm việc ấy với một phong thái quá đỗi khác thường, đỉnh đạc đến mức rợn người, khiến Wendy bị cuốn vào mớ cảm xúc hỗn độn, sợ hãi đến mức chẳng thể thốt lên nửa lời kêu cứu. Dẫu sao, cô bé cũng chỉ là một bé gái nhỏ nhoi.

Có lẽ sẽ thật thừa thãi khi nói rằng trong khoảnh khắc ấy, Hook đã hoàn toàn mê hoặc được cô bé. Chúng ta nhắc lại điều này chỉ bởi chính sự bất cẩn của Wendy đã kéo theo những ngã rẽ lạ kỳ sau đó. Cứ thử tưởng tượng xem, nếu Wendy kiêu hãnh hất tung bàn tay dơ bẩn của gã ra (và thực tình chúng ta rất muốn viết về cô bé như thế), hẳn cô cũng đã bị ném văng đi trong không trung như bao người khác. Nếu vậy, Hook có lẽ đã không rảnh rỗi đứng đó quan sát lúc bọn trẻ bị trói gô lại. Và nếu không có mặt lúc đó, hắn sẽ chẳng thể nào phát hiện ra bí mật động trời của Slightly. Chẳng có bí mật ấy, làm sao hắn có thể giăng ra cái bẫy hèn hạ hòng sát hại Peter lúc này đây.

Bọn hải tặc thô bạo bẻ gập người bọn trẻ lại, ép chặt đầu gối vào tận tai để ngăn chúng không thể bay lên. Gã hải tặc da đen lạnh lùng cắt một sợi dây thừng thành chín đoạn đều tăm tắp để trói bọn trẻ. Mọi chuyện vẫn cứ suôn sẻ cho đến lượt của Slightly. Bọn chúng chợt nhận ra cậu bé mập mạp này trông hệt như một gói hàng quá khổ, ngốn sạch trơn cả đoạn dây quấn quanh người mà chẳng thòi ra nổi chút đầu dây nào để thắt nút. Đám hải tặc tức tối tung những cú đá điếng người vào bụng cậu, hệt như cách người ta đá một gói hàng vướng víu (dù nói một cách công bằng, chúng nên đá sợi dây thì đúng hơn). Nhưng thật kỳ lạ, chính Hook lại là kẻ ra lệnh cho bọn chúng dừng tay. Một nụ cười nham hiểm, đắc thắng từ từ nở trên môi hắn. Trong khi đám tay chân của hắn toát mồ hôi hột, chật vật cố nhét thân hình phổng phao của cậu bé bất hạnh vào một chỗ, thì chỗ khác trên người cậu lại phình ra. Khác với chúng, bộ óc bậc thầy của Hook đã nhanh chóng nhìn thấu lớp vỏ bọc bên ngoài của Slightly. Hắn không bận tâm đến việc trói cậu bé ra sao, mà chú tâm truy tìm nguyên nhân cốt lõi. Và niềm vui sướng ánh lên trong mắt hắn chứng tỏ hắn đã tìm ra câu trả lời. Gương mặt Slightly nhợt nhạt, cắt không còn giọt máu. Cậu biết tỏng Hook đã nắm được điểm yếu chí mạng của mình: chẳng có đứa trẻ nào to béo như vậy lại có thể chui lọt qua một cái lỗ cây mà đến người lớn bình thường cũng phải kẹt cứng. Tội nghiệp Slightly, lúc này cậu là đứa trẻ khốn khổ nhất trong bọn. Nỗi hoảng loạn tột độ về sự an nguy của Peter bao trùm lấy cậu. Cậu ôm hận cay đắng vì chính sự nông nổi của mình. Vốn mắc chứng nghiện uống nước bất chấp mỗi khi trời nóng, cơ thể cậu ngày một phát tướng, to đùng như hiện tại. Thay vì chịu khó nhịn ăn giảm cân để chui vừa cái cây, cậu lại giấu giếm mọi người, tự ý đẽo gọt, khoét rộng thân cây ra cho vừa vặn với thân hình đồ sộ của mình.

Hook ngầm hiểu bấy nhiêu đó là quá đủ để tin chắc rằng cuối cùng Peter Pan đã hoàn toàn nằm gọn trong lòng bàn tay mình. Nhưng hắn tịnh không hé răng nửa lời về cái kế hoạch đen tối vừa nảy mầm trong ngóc ngách sâu thẳm của tâm trí. Hắn chỉ hất hàm ra hiệu cho đám thuộc hạ lùa lũ tù binh lên tàu, để mặc hắn đứng lại một mình.

Nhưng làm cách nào để đưa bọn trẻ đi bây giờ? Trong tư thế bị trói cuộn tròn lại như những quả bóng, chúng hoàn toàn có thể bị lăn từ trên đồi xuống như những chiếc thùng rỗng. Nhưng vấn đề là phần lớn quãng đường lại phải băng qua một bãi lầy lội nhớp nháp. Lần này, bộ óc thiên tài của Hook lại tiếp tục phát huy tác dụng. Hắn ra hiệu trưng dụng luôn ngôi nhà nhỏ của Wendy làm phương tiện vận chuyển. Bọn trẻ bị tống thẳng vào trong. Bốn tên hải tặc to con, vạm vỡ ghé vai vác ngôi nhà lên. Đám còn lại lầm lũi bám theo sau. Vừa rống lên bài ca hải tặc với những âm điệu chói tai, đoàn người kỳ dị bắt đầu lếch thếch rẽ rừng mà đi. Tôi cũng chẳng rõ liệu có đứa trẻ nào đang khóc thút thít bên trong hay không. Nếu có, tiếng hát khản đặc kia cũng đã lấn át đi mất rồi. Nhưng khi ngôi nhà nhỏ khuất dần vào màn sương rừng sâu, một luồng khói mỏng manh nhưng đầy kiêu hãnh bất chợt bốc lên từ ống khói, như một lời thách thức thẳng mặt gã Hook.

Hook lườm thấy nó, và điều đó lại vô tình rước thêm một tai họa nữa giáng xuống đầu Peter. Chút lòng trắc ẩn cỏn con, nếu có thể coi là còn sót lại nơi lồng ngực đang sục sôi ngọn lửa hận thù của gã hải tặc, nay cũng bị thiêu rụi hoàn toàn.

Việc đầu tiên hắn làm khi đứng trơ trọi một mình giữa màn đêm đang sập xuống là rón rén bước đến bên gốc cây của Slightly. Hắn ướm thử và chắc mẩm rằng cái lỗ cây này thừa sức tạo ra một lối đi vừa vặn cho hắn. Sau đó, hắn đứng trầm ngâm, ấp ủ âm mưu quỷ quyệt suốt một lúc lâu. Chiếc mũ mang đầy điềm gở của hắn bị vứt chỏng chơ trên bãi cỏ, nhường chỗ cho những cơn gió mơn man luồn lách vào mái tóc, mang đến cho hắn cảm giác sảng khoái vô cùng. Thật trớ trêu, dẫu cho tâm trí có mục nát và đen tối đến nhường nào, thì đôi mắt xanh của hắn vẫn ánh lên vẻ dịu dàng đến nao lòng như những đóa dừa cạn mong manh. Hắn căng tai, nín thở lắng nghe từng động tĩnh nhỏ nhất từ thế giới dưới lòng đất. Nhưng mọi thứ xung quanh hắn, cả ở trên lẫn ở dưới, đều tĩnh lặng như tờ. Ngôi nhà dưới lòng đất kia dường như chỉ là một khoảng không trống rỗng, cô độc giữa cõi hư vô. Thằng oắt đó đang say giấc nồng, hay đang đứng mai phục ngay dưới gốc cây của Slightly, lăm lăm con dao găm sắc lẹm trên tay?

Chẳng có cách nào kiểm chứng được, ngoại trừ việc đích thân chui xuống dưới. Hook khẽ để chiếc áo choàng trượt nhẹ xuống mặt đất. Hắn nghiến chặt răng, cắn rách cả môi dưới, mặc cho những giọt máu tươi ứa ra, rồi lách mình bước vào thân cây. Dù sao hắn cũng là một kẻ can trường, nhưng trong khoảnh khắc ấy, hắn vẫn phải khựng lại, đưa tay quệt vội vầng trán đang vã mồ hôi túa ra như sáp nến nung chảy. Rồi, trong sự im lặng đáng sợ, hắn thả mình trôi tuột xuống cõi tăm tối mù mịt.

Hắn đáp xuống tận đáy căn hầm một cách êm ru, rồi đứng khựng lại, nín thở, tưởng chừng như không khí xung quanh đã bị hút cạn. Khi đôi mắt dần quen với thứ ánh sáng lờ mờ, leo lét, mọi vật dụng trong ngôi nhà dưới gốc cây hiện ra lờ mờ. Nhưng thứ duy nhất thu hút ánh nhìn hau háu, rực lửa tham lam của hắn, thứ mà hắn đã điên cuồng tìm kiếm bấy lâu và cuối cùng cũng đạt được, chính là chiếc giường lớn. Trên chiếc giường ấy, Peter Pan đang chìm sâu vào giấc ngủ bình yên.

Không hề hay biết thảm kịch đang diễn ra ngay trên đầu, sau khi bọn trẻ rủ nhau rời đi được một lúc, Peter vẫn cứ tiếp tục vui vẻ thổi sáo. Quả thực, đó chẳng qua chỉ là nỗ lực tuyệt vọng nhằm tự dối lòng rằng cậu chẳng hề bận tâm. Cậu quyết định không uống thuốc để chọc cho Wendy phải buồn phiền. Rồi cậu ngả lưng xuống giường mà chẳng thèm đắp chăn cốt để cô bé thêm tức tối. Thường ngày, Wendy luôn cẩn thận tém chăn cho lũ trẻ, bởi chẳng ai lường được liệu nửa đêm trời có trở lạnh hay không. Có lúc cậu gần như đã bật khóc; nhưng rồi cậu lại nghĩ hẳn Wendy sẽ điên tiết lắm nếu thấy mình cứ nhăn nhở cười. Nghĩ vậy, cậu bèn cất một tiếng cười thật kiêu ngạo, và chìm vào giấc ngủ ngay giữa tiếng cười ấy.

Đôi khi, dù chẳng thường xuyên, cậu cũng hay mộng mị, và những giấc mơ của cậu lại đớn đau hơn hẳn những cậu bé khác. Hàng giờ liền, cậu mắc kẹt trong cõi mộng, rên rỉ đầy thảm thương. Tôi nghĩ những giấc mơ ấy hẳn có liên quan đến bí ẩn về sự tồn tại của cậu. Những lúc như thế, Wendy thường có thói quen bế cậu ra khỏi giường, đặt cậu ngồi vào lòng rồi vỗ về bằng những cử chỉ âu yếm do chính cô bé nghĩ ra. Chờ đến khi cậu đã bình tâm lại, cô bé mới nhẹ nhàng đặt cậu trở về giường trước khi cậu kịp tỉnh giấc, để cậu không hay biết về sự "nhục nhã" mà mình vừa bị ép phải trải qua. Nhưng lần này, cậu lập tức chìm vào một giấc ngủ không mộng mị. Một cánh tay buông thõng bên mép giường, một chân cong lên, và dư âm của tiếng cười vẫn đọng lại nơi khóe miệng hé mở, để lộ ra những chiếc răng bé xíu như những viên ngọc trai.

Hook đã tìm thấy cậu trong tình cảnh không một chút phòng bị như thế. Hắn đứng nấp lặng lẽ dưới hốc cây, phóng tầm mắt xuyên qua căn phòng để quan sát kẻ thù. Chẳng nhẽ không còn chút lòng trắc ẩn nào xao động trong lồng ngực u ám của hắn hay sao? Gã đàn ông này đâu phải kẻ tột cùng xấu xa; hắn yêu hoa (theo như tôi được kể lại) và say mê thứ âm nhạc êm ái (bản thân hắn cũng là một tay chơi đàn harpsichord1 cừ khôi). Thành thật mà nói, vẻ bình yên của cảnh tượng trước mắt đã làm hắn vô cùng xúc động. Lẽ ra, phần thiện trong con người hắn đã chiến thắng, khiến hắn phải miễn cưỡng quay trở lên ngọn cây, nếu không vì một điều.

Điều níu bước chân hắn lại chính là dáng vẻ xấc xược của thằng oắt khi đang say giấc. Cái miệng há ra, cánh tay buông thõng, đầu gối cong lên: tất cả toát lên một sự kiêu ngạo tột bậc, đến độ người ta chỉ mong thứ chướng mắt ấy đừng bao giờ xuất hiện lại trước những ánh nhìn quá đỗi nhạy cảm. Chúng làm trái tim Hook đanh lại. Dẫu cơn thịnh nộ có xé xác hắn ra thành trăm mảnh đi chăng nữa, thì mỗi mảnh ấy cũng sẽ bất chấp tất cả mà lao thẳng vào kẻ đang say giấc kia.

Tuy ánh sáng từ ngọn đèn duy nhất rọi lờ mờ xuống giường, nhưng bản thân Hook lại đứng khuất trong bóng tối. Ngay ở bước lén lút đầu tiên tiến tới, hắn đã va phải một chướng ngại vật: cánh cửa dẫn xuống gốc cây của Slightly. Cánh cửa ấy không che kín hoàn toàn miệng hố, và nãy giờ hắn vẫn luôn rình rập qua khoảng hở đó. Cố lần tìm chốt cửa, hắn điên tiết nhận ra nó nằm tít mãi phía dưới, nằm ngoài tầm với. Trong tâm trí đang rối bời của hắn, những nét đáng ghét trên gương mặt và dáng vóc của thằng oắt dường như lại càng hiển hiện rõ rệt. Hắn lách cách lắc cánh cửa, rồi hung hăng lao cả người đập mạnh vào đó. Chẳng nhẽ kẻ thù lại vuột khỏi tay hắn dễ dàng thế sao?

Nhưng kia là cái gì thế? Đôi mắt vằn đỏ của hắn chợt bắt gặp lọ thuốc của thằng oắt đặt hớ hênh trên gờ đá, vừa vặn trong tầm tay. Hắn đoán ra ngay nó là gì, và lập tức hiểu rằng kẻ đang say ngủ kia đã nằm gọn trong lòng bàn tay mình.

Để đề phòng trường hợp bị bắt sống, Hook luôn mang theo bên mình một thứ nước khủng khiếp, do chính tay hắn pha chế từ tất cả những chiếc nhẫn mang mầm mống tử thần2 mà hắn từng sở hữu. Hắn đã đun chảy chúng thành một thứ chất lỏng màu vàng nằm ngoài mọi tri thức khoa học, có lẽ là loại kịch độc nguy hiểm nhất trần đời.

Giờ đây, hắn nhỏ đúng năm giọt chất lỏng ấy vào chiếc cốc của thằng oắt. Đôi bàn tay hắn run lẩy bẩy, nhưng đó là sự run rẩy của niềm hân hoan tột độ chứ không phải vì sợ hãi hay hổ thẹn. Trong lúc nhỏ thuốc, hắn cố tránh liếc nhìn kẻ đang say giấc. Chẳng phải hắn sợ chút lòng thương hại trỗi dậy sẽ làm mình chùn bước; mà đơn giản chỉ vì không muốn làm sánh giọt thuốc nào ra ngoài. Xong xuôi, hắn ném cho nạn nhân của mình một ánh nhìn hả hê thật lâu, rồi mới quay người, khó nhọc luồn lách leo lên lại thân cây. Khi ngoi được lên đến mặt đất, trông hắn đích thị là một linh hồn tội lỗi vừa đội mồ chui lên. Đội chóp chiếc mũ nghiêng một cách ngạo nghễ nhất, hắn quấn chặt tấm áo choàng quanh người, dùng một tay giữ vạt áo phía trước như thể muốn giấu mình khỏi màn đêm - nơi mà chính hắn mới là một phần tăm tối nhất. Hắn cứ thế vừa rầm rì lẩm bẩm những lời lẽ quái gở với chính mình, vừa lén lút lẩn khuất qua những bóng cây.

Peter vẫn chìm trong giấc ngủ. Ánh sáng chập chờn rồi phụt tắt, trùm lên căn nhà ngầm một màn đêm đặc quánh; nhưng cậu vẫn say sưa ngủ. Đồng hồ trong bụng con cá sấu ắt hẳn đã điểm không dưới mười giờ khi cậu chợt ngồi bật dậy, bị đánh thức bởi một âm thanh vô hình nào đó. Đó là một tiếng gõ dè dặt, khẽ khàng vẳng đến từ cánh cửa giấu trong thân cây của cậu.

Khẽ khàng và dè dặt, nhưng giữa không gian tĩnh mịch, tiếng gõ ấy nghe rợn ngợp đến lạ. Peter quờ quạng trong bóng tối tìm con dao găm, cho đến khi tay cậu siết chặt lấy chuôi dao. Rồi cậu cất tiếng hỏi.

"Ai đó?"

Bóng tối chìm vào im lặng hồi lâu, rồi tiếng gõ lại vang lên.

"Cậu là ai?"

Vẫn không có tiếng đáp lời.

Sống lưng cậu khẽ rùng mình phấn khích, cậu khoái trá tận hưởng cảm giác đó. Chỉ hai sải bước chân, cậu đã áp sát tới cửa. Không giống với lối vào của Slightly, cánh cửa này lấp vừa vặn toàn bộ miệng hang, thế nên cậu chẳng thể nhìn ra ngoài, và kẻ lạ mặt kia cũng không tài nào nhìn thấy cậu.

"Tớ sẽ không mở cửa trừ khi cậu lên tiếng!" Peter lớn giọng.

Thế rồi người khách cuối cùng cũng chịu lên tiếng, bằng một chất giọng ngân nga trong vắt như tiếng chuông bạc.

"Cho tớ vào đi, Peter."

Là Tink! Cậu vội vàng gạt chốt cửa. Nàng tiên nhỏ bay ùa vào đầy hoảng loạn, khuôn mặt đỏ bừng bừng và bộ váy xinh đẹp lấm lem bùn đất.

"Có chuyện gì thế?"

"Ôi, cậu không đời nào đoán được đâu!" cô tiên thảng thốt kêu lên, đòi cậu phải đoán thử ba lần. "Nói ngay đi!" cậu quát lớn. Thế là bằng một tràng giang đại hải sai bét ngữ pháp, tuôn trào như những dải ruy băng lôi ra từ miệng ảo thuật gia, Tink kể toạc ra chuyện Wendy và lũ trẻ đã bị bắt cóc.

Trái tim Peter đánh thịch một cái. Wendy bị trói và lôi lên tàu hải tặc ư; cô bé lúc nào cũng ưa mọi thứ phải thật tươm tất cơ mà!

"Tớ sẽ đi cứu cô ấy!" cậu thét lên, lao đi tìm vũ khí. Giữa lúc sục sôi đó, một ý nghĩ xẹt qua đầu cậu: cậu phải làm điều gì đó để cô bé vui lòng. Cậu có thể uống thuốc.

Bàn tay cậu vươn tới liều thuốc chí mạng.

"Không!" Tinker Bell thét lên xé ruột. Khi lao như bay qua khu rừng, cô đã loáng thoáng nghe thấy gã Hook lầm bầm về kế hoạch đê tiện của hắn.

"Tại sao lại không?"

"Nó có độc đấy."

"Có độc á? Ai thèm bỏ độc vào đó cơ chứ?"

"Hook."

"Đừng có ngốc thế. Làm sao Hook xuống được tận đây?"

Than ôi, Tinker Bell chẳng thể nào giải thích ngọn ngành, vì chính cô cũng mù tịt về bí mật đen tối của cái cây nhà Slightly. Nhưng những lời Hook buông ra không chừa lại nửa điểm nghi ngờ. Chiếc cốc đã bị hạ độc.

"Vả lại," Peter dõng dạc, tràn trề tự tin, "Tớ chưa hề ngủ gật."

Cậu nâng chiếc cốc lên. Giờ không phải lúc nhiều lời; đây là lúc hành động. Bằng một thân thủ nhanh như chớp, Tink lao vào giữa đôi môi cậu và liều thuốc, ngửa cổ nốc cạn không còn lấy một giọt.

"Kìa Tink, sao cậu dám uống thuốc của tớ?"

Nhưng nàng tiên chẳng thể đáp lời. Cô đang lảo đảo chới với giữa không trung.

"Cậu làm sao vậy?" Peter thốt lên, chợt cảm thấy một nỗi sợ hãi choáng ngợp.

"Thuốc có độc đấy, Peter," cô thì thầm dịu dàng; "và giờ tớ sắp chết rồi."

"Ôi Tink, có phải cậu uống nó để cứu tớ không?"

"Đúng vậy."

"Nhưng tại sao chứ, Tink?"

Đôi cánh nhỏ nhoi giờ đây tưởng như không gượng nổi thân hình bé bỏng ấy nữa. Thay cho câu trả lời, cô nhẹ nhàng đậu xuống vai cậu, cắn yêu một cái lên chóp mũi cậu. Cô thều thào bên tai cậu hai tiếng "Đồ ngốc", rồi lảo đảo lết về căn phòng nhỏ của mình, buông mình xuống giường.

Peter quỳ rạp xuống bên cô, đau đớn tột cùng, đầu cậu gần như lấp kín toàn bộ bức tường thứ tư3 trong căn phòng bé tí hon. Ánh sáng của Tink cứ mờ dần, mờ dần; và cậu biết rằng một khi thứ ánh sáng ấy tắt lịm, cô sẽ mãi mãi lìa xa cõi đời này. Cô mến yêu những giọt nước mắt của cậu đến mức gắng gượng chìa ngón tay nhỏ xíu ra để hứng lấy những giọt lệ tuôn trào.

Giọng cô yếu ớt đến nỗi thoạt đầu cậu chẳng thể nghe rõ. Nhưng rồi cậu cũng nghe được. Cô thầm thĩ rằng mình có lẽ sẽ khỏe lại, nếu như những đứa trẻ tin vào tiên.

Peter dang rộng hai cánh tay. Chẳng có đứa trẻ nào quanh đây cả, và ngoài trời thì đã khuya; nhưng cậu cất tiếng gọi thiết tha vào hư không, hướng đến bất cứ ai có lẽ đang mơ về Neverland, và nhờ đó đang ở gần cậu hơn các bạn tưởng: những bé trai và bé gái đang mặc váy ngủ, và cả những sinh linh bé bỏng trần truồng ngái ngủ trong những chiếc giỏ treo lủng lẳng trên cành cây.

"Các bạn có tin không?" cậu gọi lớn.

Tink bật ngay dậy trên giường, lanh lẹ dỏng tai nghe ngóng số phận của chính mình.

Cô mường tượng như mình đã nghe thấy tiếng đáp lại râm ran, nhưng rồi lại đâm ra ngờ vực.

"Cậu nghĩ sao?" cô quay sang hỏi Peter.

"Nếu các bạn tin," cậu thét lên về phía hư vô, "hãy vỗ tay đi; đừng để Tink phải chết!"

Nhiều tiếng vỗ tay vang lên.

Một vài người lại chẳng hề vỗ tay.

Vài con thú rít lên phản đối cộc cằn.

Tiếng vỗ tay bỗng nhiên im bặt; cứ như thể vô số bà mẹ đã lao bổ vào phòng ngủ để xem bọn trẻ đang làm trò gì; nhưng chừng đó cũng đủ để Tink được cứu sống. Tiếng của cô bắt đầu lanh lảnh trở lại, rồi cô nhảy tót ra khỏi giường, vút bay lượn vòng quanh phòng, tươi tắn và xấc xược hơn bao giờ hết. Cô chẳng thèm mảy may nghĩ đến chuyện cảm ơn những người đã tin tưởng mình, mà chỉ hậm hực muốn tẩn cho một trận những kẻ vừa rít lên phản đối.

"Và bây giờ thì đi cứu Wendy thôi!"

Mặt trăng lạnh lẽo treo lơ lửng giữa tầng không mây phủ, tỏa thứ ánh sáng bợt bạt xuống hòn đảo khi Peter nhô lên khỏi hốc cây. Cậu nai nịt vũ khí tận răng, trên người gần như chẳng vướng bận xiêm y, sẵn sàng dấn thân vào hành trình định mệnh đầy hiểm nguy. Đây vốn chẳng phải đêm trăng lý tưởng như cậu hằng mong. Cậu từng hy vọng mình có thể tung cánh bay lượn trên cao, vừa đủ gần mặt đất để không bỏ sót bất cứ động tĩnh lạ thường nào. Thế nhưng, dưới luồng sáng chập chờn ma mị ấy, bay thấp chẳng khác nào phô bày cái bóng đen ngòm lướt trên những tán cây. Đám chim chóc sẽ giật mình xào xạc, vô tình đánh động đến sự cảnh giác của bầy thú dữ và những kẻ thù đang rình rập.

Mãi đến tận bây giờ, Peter mới thấy hối hận vì thói tinh nghịch của mình, khi trót đặt cho chim chóc trên đảo những cái tên quái gở, khiến chúng trở nên hoang dã và khó gần đến vậy.

Chẳng còn cách nào khác, cậu đành phải luồn lách qua những rặng cây theo lối di chuyển thoăn thoắt của người da đỏ - thứ kỹ năng sinh tồn mà may mắn thay, cậu vốn là một tay lão luyện. Nhưng nên đi theo hướng nào đây? Cậu hoàn toàn mù mịt, chẳng biết liệu bọn trẻ đã bị áp giải lên tàu hải tặc hay chưa. Lớp tuyết mỏng tang vừa buông xuống đã lạnh lùng xóa sạch mọi dấu chân. Một sự tĩnh lặng chết chóc bóp nghẹt hòn đảo, hệt như khoảnh khắc Mẹ Thiên nhiên phải sững người kinh hãi trước cuộc tàn sát đẫm máu vừa quét qua. Peter từng truyền lại cho lũ trẻ vài ngón nghề rừng xanh mà bản thân học mót được từ Tiger Lily và Tinker Bell. Cậu đinh ninh rằng, trong giờ khắc sinh tử này, bọn trẻ hẳn sẽ không quên những lời dặn dò ấy. Nếu có cơ hội, Slightly chắc chắn sẽ vạch những dấu vết lên thân cây. Curly sẽ lén rải hạt giống dọc đường, còn Wendy hẳn sẽ khéo léo để lại chiếc khăn tay tại một chốt chặn quan trọng nào đó. Có điều, phải đợi đến khi ánh bình minh ló rạng thì cậu mới mong lần ra những ám hiệu chỉ đường nhỏ bé ấy, mà Peter thì chẳng thể chần chừ thêm được nữa. Thế giới trên mặt đất đang vẫy gọi, tha thiết giục giã, nhưng lại đành bất lực chẳng thể giúp gì cho cậu.

Con cá sấu khổng lồ lững thững trườn qua mặt Peter. Ngoại trừ nó, tứ bề chẳng còn lấy một sinh vật sống, tuyệt nhiên vắng bặt mọi âm thanh hay tiếng động nhỏ nhất. Bầu không khí quạnh quẽ đến rợn ngợp, song cậu dư sức cảm nhận được cái chết bất đắc kỳ tử có thể đang nấp ngay sau bóng cây phía trước, hay thầm lặng bám gót cậu ở ngay phía sau.

Cậu siết chặt tay, cất lên một lời thề rùng rợn: "Lần này, chỉ có Hook hoặc tôi được sống!"

Rồi Peter trườn mình lên phía trước, uyển chuyển và lặng lẽ y hệt một con rắn. Thoắt cái, cậu đã đứng thẳng người, lao vun vút qua khoảng đất trống đang đắm mình trong ánh trăng mơn man. Một ngón tay đặt hờ lên môi ra hiệu giữ im lặng, tay kia siết chặt thanh dao găm sáng loáng. Cậu thấy lồng ngực mình trào dâng một niềm hạnh phúc lạ kỳ, mãnh liệt đến đáng sợ.



  1. Đàn harpsichord (cla-vơ-xanh) là một loại nhạc cụ phím cổ phổ biến ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, được xem là tiền thân của đàn piano hiện đại. Điểm khác biệt là âm thanh của nó được tạo ra bằng cách gảy dây thay vì gõ vào dây như piano. 

  2. Chi tiết này lấy cảm hứng từ "nhẫn độc" (poison ring), một loại nhẫn có thiết kế nắp gập chứa ngăn bí mật để giấu thuốc độc, từng được giới quý tộc châu Âu thời Phục hưng sử dụng để lén rắc độc vào thức uống của kẻ thù. 

  3. "Bức tường thứ tư" (the fourth wall) là một thuật ngữ trong nghệ thuật sân khấu, chỉ bức tường vô hình ngăn cách giữa không gian của diễn viên và khán giả. Tác giả sử dụng chi tiết này nhằm nhắc nhở độc giả rằng tác phẩm Peter Pan vốn xuất phát điểm là một vở kịch trên sân khấu.