Chương XVI. TRỞ VỀ NHÀ

Khoảng ba tiếng chuông1 vào buổi sáng hôm ấy, bầu không khí trên tàu hối hả đến lạ thường. Biển đang gầm gào tung những con sóng lớn. Giữa đám trẻ, quản phó Tootles nghênh ngang đi lại, tay lăm lăm một đầu dây thừng, miệng chóp chép nhai thuốc lá. Cả bọn đều diện những bộ cánh hải tặc được cắt ngắn ngang gối, râu ria nhẵn nhụi, và nghênh ngang dạo bước trên boong tàu với điệu bộ nhún nhảy cùng thói quen xốc quần đặc trưng của dân đi biển.

Khỏi cần phải nói cũng biết ai đang nắm giữ vị trí thuyền trưởng. Nibs và John lần lượt làm thuyền phó thứ nhất và thứ hai. Trên tàu chỉ có duy nhất một bóng hồng. Những người còn lại đều là đám thủy thủ quèn, đứng chầu chực trước cột buồm và chen chúc trong khu sinh hoạt chung. Peter tự buộc chặt mình vào vô lăng. Cậu cất tiếng còi sắc lẹm gọi tất cả tập hợp lại và dõng dạc đọc một bài diễn văn ngắn gọn. Cậu nói rằng cậu đặt kỳ vọng chúng sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như những gã thủy thủ gan dạ nhất, dù thừa biết chúng chỉ là đám cặn bã trôi dạt từ Rio và Bờ Biển Ngà2. Thế nhưng, nếu kẻ nào dám chống đối, cậu thề sẽ xé xác chúng ra làm trăm mảnh. Chính những lời lẽ thô lỗ, đanh thép ấy lại đánh trúng vào cái tâm lý mà giới thủy thủ luôn nằm lòng, khiến cả bọn đồng loạt cất tiếng hò reo vang dội. Ngay sau đó, vài mệnh lệnh dứt khoát được ban ra. Mũi con tàu lập tức xoay vòng, rẽ sóng hướng thẳng về phía đất liền.

Thuyền trưởng Pan cẩn thận soi xét tấm bản đồ hàng hải và nhẩm tính. Nếu thời tiết cứ tiếp tục ủng hộ thế này, chúng sẽ cập bến quần đảo Azores vào khoảng ngày 21 tháng Sáu, và sau đó, việc cất cánh bay lên không trung sẽ giúp tiết kiệm kha khá thời gian.

Vài đứa trong bọn ao ước biến nơi này thành một con tàu lương thiện, trong khi những đứa khác lại thích giữ nguyên cái chất hải tặc khét tiếng. Nhưng vị thuyền trưởng uy quyền đối xử với chúng chẳng khác nào bầy chó ngoan, khiến chẳng đứa nào dám ho he bày tỏ mong muốn, dù chỉ là qua một lá thư thỉnh nguyện ký tên theo vòng tròn3. Răm rắp tuân lệnh ngay tắp lự là con đường duy nhất để được an toàn. Slightly thậm chí đã phải lĩnh trọn mười hai roi chỉ vì lỡ để lộ vẻ bối rối khi bị sai đi đo độ sâu của nước. Cảm giác chung của bọn trẻ là Peter hiện đang vờ vịt tỏ ra lương thiện nhằm xoa dịu những nghi ngờ của Wendy. Thế nhưng, mọi chuyện rất có thể sẽ xoay chiều một khi bộ đồ mới được hoàn thiện - bộ cánh mà cô bé đang miễn cưỡng may vá cho cậu từ những mảnh quần áo tàn ác nhất của gã Hook. Về sau, bọn trẻ còn rỉ tai nhau rằng, vào cái đêm đầu tiên khoác lên mình bộ đồ ấy, cậu đã ngồi lỳ rất lâu trong khoang thuyền trưởng. Miệng cậu ngậm chặt chiếc tẩu thuốc quen thuộc của Hook, còn một bàn tay thì nắm rịt lại, chỉ chừa mỗi ngón trỏ cong lên đầy đe dọa, hệt như một chiếc móc câu hiểm ác.

Tạm gác lại chuyện quan sát con tàu, giờ đây chúng ta phải quay về với ngôi nhà hoang vắng, nơi ba nhân vật bé nhỏ của chúng ta đã nhẫn tâm rời bỏ từ bao ngày trước. Thật đáng hổ thẹn khi chúng ta bỏ bẵng ngôi nhà số 14 suốt ngần ấy thời gian; dẫu vậy, có một điều chắc chắn là bà Darling chẳng hề oán trách chúng ta đâu. Giá như chúng ta quay lại sớm hơn để dành cho bà ánh nhìn xót xa thương cảm, hẳn bà sẽ nức nở bảo: "Đừng ngớ ngẩn thế; tôi thì có sá gì? Hãy quay lại và để mắt đến lũ trẻ đi." Chừng nào những người mẹ trên đời còn mang tấm lòng bạt mạng nhường ấy, thì những đứa con của họ sẽ vẫn tiếp tục lợi dụng họ; và chúng ta hoàn toàn có thể dám chắc về điều đó.

Ngay cả vào phút giây này, chúng ta cũng chỉ dám rón rén bước vào căn phòng trẻ em thân thuộc ấy bởi lẽ những chủ nhân đích thực của nó đang trên đường về nhà. Chúng ta chỉ đơn thuần là hối hả chạy trước một bước, cốt để xem giường nệm của lũ trẻ đã được phơi phóng tươm tất chưa và liệu ông bà Darling có vắng nhà tối nay không. Trông chúng ta chẳng khác nào những kẻ hầu người hạ. Cớ sao giường của chúng lại phải được sửa soạn kỹ lưỡng đến thế cơ chứ, nhất là khi chúng đã vô ơn rũ bỏ tổ ấm của mình để vội vã cất cánh bay đi? Chẳng phải lũ trẻ đáng bị trừng phạt sao, giá như chúng hớn hở quay về rồi bàng hoàng nhận ra ba mẹ mình đang đi nghỉ cuối tuần ở một vùng quê xa xôi nào đó? Kể từ lúc gặp gỡ đến nay, đó hẳn sẽ là một bài học đạo đức đích đáng nhất dành cho lũ trẻ; nhưng ngặt nỗi, nếu chúng ta nhẫn tâm sắp xếp mọi chuyện như vậy, bà Darling vĩnh viễn sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng ta.

Có một điều mà tôi cực kỳ muốn làm, hệt như cái cách mà các nhà văn vẫn thường hay giở trò, đó là tiết lộ ngay cho bà biết lũ trẻ đang quay về, rằng thực ra chúng sẽ có mặt ở nhà vào thứ Năm tuần sau. Điều này chắc chắn sẽ phá hỏng triệt để sự bất ngờ mà Wendy, John và Michael đang khấp khởi mong chờ. Bọn trẻ đã tính toán đâu ra đấy ngay từ lúc còn trên tàu: sự ngất ngây tột độ của mẹ, tiếng hét vỡ òa sung sướng của ba, và cú nhảy bổ vào không trung của Nana để giành vồ lấy chúng đầu tiên; trong khi cái thứ mà lẽ ra chúng phải chuẩn bị tinh thần để hứng chịu lại là một trận đòn nhừ tử. Sẽ khoái trá biết bao nếu ta chọc gậy bánh xe, báo trước mọi tin tức để phá tan cái kế hoạch hoàn hảo ấy; để rồi khi bọn trẻ làm bộ bước vào nhà một cách đầy kịch tính, bà Darling thậm chí sẽ chẳng thèm đưa má cho Wendy hôn, còn ông Darling thì càu nhàu gắt gỏng: "Khỉ thật, mấy đứa ranh con này lại về rồi đây." Thế nhưng, dẫu có làm vậy, chúng ta cũng chẳng nhận được lấy nửa lời cảm ơn. Đến giờ phút này, chúng ta đã phần nào thấu hiểu bà Darling, và dám cá rằng bà sẽ xé xác chúng ta ra vì tội dám tước đoạt đi niềm vui cỏn con của bầy con bà.

"Nhưng, thưa phu nhân, còn tận mười ngày nữa mới đến thứ Năm tuần sau cơ mà; vì vậy, nếu nói trước mọi chuyện, chúng tôi có thể cứu bà thoát khỏi mười ngày dài sầu khổ."

"Vâng, nhưng đổi lại bằng cái giá nào chứ! Bằng cách tước đoạt đi mười phút sung sướng tột đỉnh của các con tôi sao."

"Ồ, nếu bà đã nhìn nhận vấn đề theo cách đó!"

"Thế ngoài ra còn cách nào khác để nhìn nhận nó nữa chứ?"

Bạn thấy đấy, người phụ nữ này thật chẳng có chút tinh thần đúng mực nào. Đáng lý ra tôi đã định nói những điều vô cùng tốt đẹp về bà; nhưng giờ thì tôi thấy coi thường bà rồi, và tôi sẽ chẳng thèm hé răng khen ngợi lấy nửa lời. Thực ra, bà cũng chẳng cần ai nhắc nhở chuẩn bị cái này cái nọ, bởi lẽ mọi thứ vốn dĩ đã được thu xếp đâu vào đấy. Toàn bộ giường nệm đều được phơi phóng tươm tất, bản thân bà thì chẳng bao giờ rời khỏi nhà nửa bước, và bạn hãy nhìn xem, khung cửa sổ kia vẫn luôn rộng mở. Với tất cả sự giúp đỡ thừa thãi mà chúng ta dành cho bà, có lẽ chúng ta nên quay trở lại con tàu thì hơn. Tuy nhiên, đằng nào thì chúng ta cũng cất công đến đây rồi, nên cứ nán lại xem sao. Rốt cuộc thì đó cũng là tất cả những gì chúng ta có thể làm, những kẻ đứng ngoài quan sát. Chẳng ai thực sự cần đến chúng ta cả. Vậy nên, chúng ta hãy cứ đứng đây chống mắt lên xem và buông vài lời móc mỉa cay độc, với hy vọng mong manh rằng dăm ba câu trong số đó sẽ khiến người ta phải chạnh lòng.

Sự thay đổi duy nhất mà người ta có thể nhận thấy trong căn phòng trẻ em vào ban đêm là từ chín giờ tối đến sáu giờ sáng hôm sau, chiếc chuồng chó không còn nằm ở vị trí cũ nữa. Kể từ lúc bầy con cất cánh bay đi, ông Darling đã cảm nhận đến tận tâm can rằng mọi lỗi lầm đều bắt nguồn từ việc mình nhẫn tâm xích Nana lại, và rằng hóa ra từ đầu chí cuối, cô nàng chó bảo mẫu ấy lại khôn ngoan hơn ông gấp bội phần. Tất nhiên, như chúng ta đã thấy, ông vốn dĩ là một người đàn ông khá đơn giản; quả thực, giá mà có thể gỡ bỏ cái đầu hói kia đi thì có lẽ ông đã biến lại thành một cậu bé rồi. Thế nhưng, ẩn sâu trong con người ông lại là một ý thức cao đẹp về công lý và lòng can đảm của một con sư tử, sẵn sàng làm bất cứ điều gì mà ông cho là đúng đắn. Vậy nên, sau khi vắt óc suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện với sự cẩn trọng đầy dằn vặt kể từ ngày lũ trẻ biến mất, ông đã lồm cồm chống cả hai tay và hai đầu gối bò vào trong chuồng chó. Bất chấp mọi lời nài nỉ âu yếm của bà Darling nhằm khuyên ông bước ra ngoài, ông chỉ buồn bã nhưng kiên quyết đáp lời:

"Không, em yêu của anh, đây mới là chỗ dành cho anh."

Ngập ngụa trong sự cay đắng của nỗi ân hận muộn màng, ông thề độc rằng mình sẽ vĩnh viễn không bước chân ra khỏi cái chuồng chó cho đến khi nào các con ông quay về. Tất nhiên điều này nghe thật thảm hại; nhưng khổ nỗi, bất cứ việc gì ông Darling nhúng tay vào, ông đều phải làm cho mọi thứ trở nên thái quá lên, bằng không ông sẽ sớm chán nản mà bỏ cuộc. Và có lẽ trên đời này, chưa từng có một người đàn ông nào lại tỏ ra khiêm nhường đến nhún nhường như cái con người từng một thời kiêu hãnh mang tên George Darling, nhất là khi ông ngồi thu lu trong chuồng chó vào một buổi tối nọ, thủ thỉ với vợ về những đứa con thơ dại và ôn lại tất cả những nét đáng yêu vô ngần của chúng.

Một điều vô cùng cảm động là thái độ tôn trọng tuyệt đối mà ông dành cho Nana. Ông dứt khoát không cho cô chó vào chung chuồng với mình, nhưng trong mọi vấn đề khác, ông nhất mực tuân theo mong muốn của cô một cách vâng lời đến vô điều kiện.

Mỗi buổi sáng, chiếc chuồng chó cùng với ông Darling ngồi chễm chệ bên trong được khiêng lên một cỗ xe ngựa kéo để chở thẳng đến văn phòng, rồi đến đúng sáu giờ chiều, ông lại trở về nhà theo cái cách y hệt như thế. Sức mạnh ý chí của người đàn ông này chỉ phần nào được bộc lộ rõ nét nếu chúng ta nhớ lại xem ông từng nhạy cảm đến mức nào trước những lời xì xầm to nhỏ của những người hàng xóm. Ấy thế mà giờ đây, mọi cử động của người đàn ông ấy đều trở thành tâm điểm của những ánh nhìn ngạc nhiên tò mò. Hẳn trong thâm tâm, ông đã phải trải qua những giây phút bị đọa đày tột độ; thế nhưng bên ngoài, ông vẫn duy trì một phong thái điềm nhiên đến lạ thường ngay cả khi đám thanh niên choai choai chỉ trỏ chế giễu "ngôi nhà" chật hẹp của ông, và lúc nào ông cũng lịch sự nhấc mũ cúi chào bất cứ quý phu nhân nào tò mò ghé mắt nhìn vào trong.

Trông thì có vẻ lố bịch và viển vông thật đấy, nhưng hành động ấy lại mang một sức hút tuyệt vời. Chẳng bao lâu sau, ý nghĩa sâu xa đằng sau màn chuộc lỗi của ông đã được phơi bày, và trái tim bao la của công chúng đã hoàn toàn bị lay động. Đám đông bắt đầu tò mò chạy theo chiếc xe ngựa, nhiệt thành hò reo cổ vũ; những cô đào quyến rũ thì tranh nhau leo lên xe để xin bằng được chữ ký của ông; các bài phỏng vấn độc quyền thi nhau xuất hiện trên những trang báo danh tiếng nhất, và giới thượng lưu danh giá thậm chí còn gửi thiệp mời ông đi ăn tối kèm theo dòng tái bút nài nỉ: "Xin ông cứ tự nhiên đến trong chiếc chuồng chó nhé."

Vào buổi tối thứ Năm của tuần kế tiếp, một đêm chất chứa bao ngổn ngang, bà Darling đang tĩnh lặng chờ đợi George trở về trong căn phòng ngủ dành cho lũ trẻ; giờ đây, bà chỉ còn là một người phụ nữ với ánh mắt trĩu nặng ưu tư. Lúc này, khi ngắm nhìn bà thật kỹ và hồi tưởng lại vẻ rạng rỡ của bà trong những tháng ngày xưa cũ, thứ ánh sáng đã vĩnh viễn lụi tàn từ lúc bà đánh mất những đứa con thân yêu, tôi chợt nhận ra mình chẳng thể nào buông lời cay nghiệt về người mẹ ấy. Dẫu cho bà có lỡ yêu thương quá đỗi những đứa trẻ nghịch ngợm của mình đi chăng nữa, thì bà cũng đâu thể làm khác được. Hãy nhìn bà đang tựa đầu trên chiếc ghế, chìm vào một giấc ngủ nhọc nhằn. Khóe miệng duyên dáng của bà, nơi ánh nhìn của người đối diện luôn tự động tìm đến đầu tiên, nay đã héo hon nhợt nhạt. Đôi bàn tay bà không ngừng miết chặt lên ngực, cứ như thể sâu thẳm nơi đó đang cuộn lên những cơn đau quặn thắt. Có những người dành tình cảm nhiều nhất cho Peter, và cũng có những người yêu mến Wendy hơn cả, nhưng với riêng tôi, tôi lại thương bà nhất. Giả sử nhé, chỉ để thắp lên một tia vui vẻ cho bà, chúng ta hãy nhẹ nhàng kề sát và thì thầm vào tai bà trong lúc ngủ rằng những đứa trẻ đang quay về. Lúc này, bọn trẻ thực sự chỉ còn cách cánh cửa sổ chừng hai dặm, đôi cánh vô hình vẫn đang rẽ gió bay đi rất khỏe, nhưng tất cả những gì chúng ta cần làm chỉ là thì thầm rằng chúng đang trên đường về. Chúng ta hãy làm thế nhé!

Thật đáng tiếc khi chúng ta lại làm thế, bởi bà giật mình tỉnh giấc, hoảng hốt gọi tên lũ trẻ; và rồi nhận ra chẳng có ai trong phòng ngoại trừ Nana.

"Ôi Nana, ta vừa mơ thấy những đứa con thân yêu của ta đã quay về."

Đôi mắt của Nana nhòa đi vì xúc động, nhưng tất cả những gì cô chó dẫu tinh khôn có thể làm, chỉ là nhẹ nhàng đặt bàn chân nũng nịu lên đùi cô chủ; và họ cứ ngồi lặng lẽ bên nhau như thế cho đến khi chuồng chó được khiêng vào. Ngay khi ông Darling ló đầu ra để âu yếm hôn lên má vợ, chúng ta chợt nhận ra rằng khuôn mặt của ông tuy tiều tụy hơn xưa, nhưng lại ánh lên một vẻ dịu dàng đến lạ.

Ông đưa chiếc mũ cho Liza, cô hầu gái chộp lấy với thái độ khinh khỉnh; âu cũng vì cô vốn chẳng có lấy một chút trí tưởng tượng nào, và hoàn toàn không đủ khả năng thấu hiểu được những uẩn khúc sâu xa bên trong một người đàn ông như ông. Ở bên ngoài, đám đông tháp tùng chiếc xe ngựa về tận nhà vẫn đang hò reo vang dội, và dĩ nhiên, ông Darling không khỏi dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào.

"Em nghe họ kìa," ông cất giọng, "thật vô cùng mãn nguyện."

"Toàn một lũ nhãi ranh," Liza buông lời mỉa mai.

"Hôm nay cũng có vài người lớn chứ bộ," ông vội vàng phân trần với cô, gò má thoáng ửng lên một vệt hồng nhạt; nhưng khi Liza chỉ hất hàm khinh khỉnh, ông lại chẳng nỡ buông một lời quở trách. Ánh hào quang của sự nổi tiếng trong xã hội chẳng hề làm ông hư hỏng; trái lại, nó gọt giũa ông trở nên đằm thắm và ngọt ngào hơn. Một lúc lâu sau, ông vẫn ngồi đó, rụt rè thò đầu ra khỏi chuồng chó, thao thao bất tuyệt cùng bà Darling về cái thành công vang dội này, rồi ân cần nắm chặt lấy tay bà để trấn an khi bà khẽ ngỏ lời hy vọng ông sẽ không vì nó mà bị mờ mắt.

"Nhưng ngộ nhỡ anh là một kẻ yếu đuối," ông thốt lên. "Lạy Chúa, ngộ nhỡ anh chỉ là một kẻ yếu đuối!"

"Và, George à," bà rụt rè cất tiếng, "anh vẫn chất chứa muôn vàn sự ân hận như trước, phải không anh?"

"Luôn tràn ngập sự ân hận như trước, em yêu ạ! Hãy nhìn hình phạt của anh mà xem: phải chui rúc trong chuồng chó."

"Nhưng đó quả thực là một hình phạt, phải không George? Anh chắc chắn là anh không hề thích nó chứ?"

"Ôi, tình yêu của anh!"

Sau câu nói ấy, bạn có thể tin chắc rằng bà đã lập tức rối rít xin lỗi ông; và rồi, bị cơn buồn ngủ kéo đến bủa vây, ông ngoan ngoãn cuộn tròn người trong chuồng chó.

"Em sẽ không đàn một khúc nhạc đưa anh vào giấc ngủ sao," ông thẽ thọt hỏi, "trên cây đàn dương cầm nằm trong căn phòng ban ngày của lũ trẻ chứ?" và ngay khi bà vừa cất bước định sang phòng, ông vô tình buông thêm một câu, "Và hãy đóng cánh cửa sổ đó lại nhé. Anh thấy có gió lùa."

"Ôi George, xin anh đừng bao giờ yêu cầu em làm điều đó. Cánh cửa sổ kia phải luôn luôn được rộng mở chờ chúng quay về, luôn luôn, và luôn luôn là như thế."

Thế là giờ đây lại đến lượt ông phải ấp úng ngỏ lời xin lỗi bà; và rồi bà chậm rãi bước vào căn phòng ban ngày, lướt những ngón tay trên phím đàn, và chẳng mấy chốc tiếng nhạc du dương đã ru ông chìm sâu vào giấc ngủ; và ngay trong lúc ông say giấc, Wendy, John cùng Michael đã vỗ cánh bay ùa vào phòng.

Ồ không. Chúng ta vừa viết như vậy, chỉ bởi vì đó từng là một viễn cảnh đầy hứa hẹn được bọn trẻ vạch ra trước khi chúng ta rời khỏi con tàu cướp biển; nhưng chắc hẳn một biến cố nào đó đã xảy ra trên chặng đường, bởi những nhân ảnh vút bay qua khung cửa không phải là chúng, mà lại là Peter và Tinker Bell.

Những lời đầu tiên thốt ra từ miệng Peter đã vạch trần tất cả.

"Nhanh lên Tink," cậu rít lên thì thầm, "đóng chặt cánh cửa sổ lại; cài then luôn! Đúng rồi. Bây giờ cậu và tớ phải lặng lẽ chuồn ra ngoài bằng cửa chính; và thế là khi Wendy bay đến, cậu ấy sẽ đinh ninh rằng mẹ mình đã nhẫn tâm nhốt cậu ấy ở bên ngoài; và cậu ấy sẽ chẳng còn cách nào khác ngoài việc quay về với tớ."

Đến tận bây giờ, tôi mới vỡ lẽ ra cái điều luôn khiến tâm trí mình băn khoăn suốt thời gian qua, rằng tại sao sau khi đã quét sạch lũ hải tặc, Peter lại không chọn cách quay về hòn đảo để mặc cho Tink tự mình hộ tống bọn trẻ trở về đất liền. Hóa ra, cái mưu kế ranh mãnh này đã nung nấu trong đầu cậu từ tận lúc đó.

Thay vì trỗi lên một cảm giác tội lỗi khi nhận ra bản thân đang hành xử vô cùng tồi tệ, cậu lại hớn hở nhảy múa quay cuồng trong niềm vui sướng; sau đó, cậu nhón chân, lén lút nhìn trộm vào căn phòng ban ngày để xem ai là người đang dạo lên những nốt nhạc kia. Cậu thì thầm vào tai Tink: "Đó là mẹ của Wendy đấy! Bà ấy đúng là một người phụ nữ xinh đẹp, nhưng chẳng thể nào sánh bằng mẹ tớ đâu. Khóe miệng của bà ấy đầy những chiếc đê khâu, nhưng cũng chẳng nhiều bằng mẹ tớ."

Lẽ hiển nhiên, cậu bé làm gì có chút ký ức nào về mẹ của mình; nhưng đôi khi, cậu lại khoái chí thêu dệt nên những lời ba hoa về bà như vậy đấy.

Cậu hoàn toàn xa lạ với giai điệu đang vang lên, bởi đó là bản nhạc "Mái ấm, Mái ấm ngọt ngào4," nhưng cậu dư sức đoán được tiếng đàn ấy đang cất lời vẫy gọi: "Quay về đi, Wendy, Wendy, Wendy ơi"; và cậu đắc chí hét toáng lên: "Bà sẽ chẳng bao giờ được nhìn thấy Wendy nữa đâu, phu nhân ạ, bởi vì cánh cửa sổ kia đã bị cài then chặt cứng rồi!"

Cậu lại ngó nghiêng vào trong để tìm hiểu xem cớ sao tiếng nhạc lại bỗng dưng nín bặt, và giờ đây, cậu nhìn thấy bà Darling đang gục đầu xuống hộp đàn, hai giọt nước mắt tủi hờn đọng sầu trên đôi mắt bà.

"Bà ấy muốn mình mở then cửa sổ đây mà," Peter thầm nghĩ, "nhưng mình sẽ không làm thế đâu, nhất quyết là không!"

Cậu lại lén nhìn thêm một lần nữa, và kìa, hai giọt nước mắt ấy vẫn vương đọng ở đó, hay có lẽ, hai giọt khác đã âm thầm tuôn rơi để thế chỗ cho chúng tự lúc nào.

"Bà ấy vô cùng yêu thương Wendy," cậu lẩm bẩm tự nhủ. Chợt cậu cảm thấy tức giận với bà, một sự giận dỗi trẻ con vì chẳng thể hiểu nổi tại sao bà lại không có được Wendy.

Lý do vốn dĩ vô cùng đơn giản: "Mình cũng rất đỗi yêu quý cậu ấy. Cả hai chúng ta chẳng thể cùng giành lấy cậu ấy được đâu, phu nhân ạ."

Thế nhưng, người phụ nữ yếu đuối ấy vẫn bướng bỉnh không chịu chấp nhận sự thật ngang trái đó, và điều này khiến cậu cảm thấy mếch lòng. Cậu quay ngoắt đi, chẳng thèm nhìn bà nữa, nhưng ngay cả lúc ấy, hình bóng bà vẫn dai dẳng không chịu buông tha cho tâm trí cậu. Cậu nhảy múa loanh quanh, cố tình bày ra những khuôn mặt hề hước để tự mua vui, nhưng mỗi khi cậu khựng lại, dường như bà lại đang ngự trị sâu thẳm bên trong cậu, âm thầm gõ cửa trái tim nhỏ bé ấy.

"Ồ, được rồi," cậu cất lời sau một hồi lâu, khẽ nuốt khan. Sau đó, cậu đưa tay tháo tung then cài cửa sổ. "Đi thôi, Tink," cậu gào lên, môi nở một nụ cười nhạo báng đáng sợ, như muốn thách thức lại mọi quy luật bất biến của tự nhiên; "chúng ta chẳng thèm cần đến bất kỳ một bà mẹ ngớ ngẩn nào cả!" và rồi, cậu tung mình vút bay đi.

Vậy là rốt cuộc, Wendy, John và Michael đã tìm thấy cánh cửa sổ vẫn luôn mở rộng chờ đón chúng, một đặc ân mà có lẽ chúng chẳng hề xứng đáng. Ba đứa trẻ đáp nhẹ xuống sàn nhà, hoàn toàn không mang một mảy may áy náy nào. Thậm chí, đứa nhỏ nhất trong bọn còn chẳng màng nhớ nổi đây là nhà của mình.

"Anh John," Michael ngập ngừng, đưa mắt nhìn quanh đầy hồ nghi, "em có cảm giác như mình đã từng đến nơi này rồi thì phải."

"Tất nhiên là rồi, đồ ngốc. Đó là cái giường cũ của em kìa," John đáp lời.

"Đúng là vậy," Michael lẩm bẩm, giọng vẫn còn thiếu sự xác quyết.

"Này," John bất chợt kêu lên, "chuồng chó kìa!" Cậu bé liền lao vội qua phòng để nhìn vào bên trong.

"Có lẽ Nana ở trong đó," Wendy đoán chừng.

Nhưng John chỉ huýt sáo một tiếng rõ kêu. "Xin chào," cậu nói, "có một người đàn ông ở trong này."

"Là ba đó!" Wendy thốt lên kinh ngạc.

"Để em xem ba nào," Michael háo hức nài nỉ, rồi chằm chằm nhìn vào trong. "Ba đâu có to lớn bằng tên hải tặc mà em đã tự tay tiêu diệt," cậu bé buông một lời thất vọng đầy chân thật. May thay là ông Darling vẫn đang say ngủ, bởi sẽ thật xót xa nếu những lời đầu tiên ông nghe được từ cậu út Michael lại là một câu so sánh cay đắng nhường ấy.

Wendy và John cũng không khỏi bàng hoàng khi thấy ba mình thu lu trong chuồng chó.

"Chắc chắn rồi," John lầm bầm, hệt như một kẻ vừa đánh mất niềm tin vào chính trí nhớ của mình, "ba đâu có thói quen ngủ trong chuồng chó nhỉ?"

"John," Wendy ngập ngừng, "có lẽ chúng ta đã không còn nhớ rõ về cuộc sống ngày trước như chúng ta vẫn tưởng."

Một luồng khí lạnh buốt bất chợt trườn qua người bọn trẻ; và có lẽ, đó là sự trừng phạt đích đáng cho sự vô tâm của chúng.

"Mẹ thật là bất cẩn," tên vô lại nhỏ tuổi John phụng phịu, "khi không có mặt ở đây vào đúng lúc chúng ta quay về."

Chính ngay khoảnh khắc ấy, tiếng đàn piano của bà Darling lại cất lên êm ái.

"Là mẹ đó!" Wendy khẽ reo lên, kiễng chân nhìn trộm.

"Đúng là mẹ rồi!" John khẳng định.

"Vậy chị không thực sự là mẹ của bọn em sao, chị Wendy?" Michael thắc mắc, đôi mắt cậu bé chắc hẳn đang díu lại vì cơn buồn ngủ.

"Ôi trời ơi!" Wendy thốt lên, trái tim chợt nhói lên một nỗi ân hận đầu đời thật sự sâu sắc, "đã đến lúc chúng ta phải trở về rồi."

"Chúng ta hãy lẻn vào," John lém lỉnh hiến kế, "rồi vòng tay che mắt mẹ lại."

Thế nhưng Wendy, một cô bé hiểu chuyện, nhận ra rằng tin vui này cần được báo trước một cách dịu dàng hơn, nên đã nghĩ ra một kế hoạch hoàn hảo.

"Tất cả chúng ta hãy trèo vào giường của mình, và cứ nằm yên ở đó khi mẹ bước vào, coi như chúng ta chưa từng rời đi."

Và thế là, khi bà Darling rón rén quay trở lại phòng ngủ của bọn trẻ để xem chồng mình đã say giấc chưa, bà ngỡ ngàng thấy mọi chiếc giường đều đã có người nằm. Lũ trẻ nín thở chờ đợi tiếng reo mừng hạnh phúc vỡ òa từ mẹ, nhưng điều đó lại chẳng hề xảy ra. Bà đưa mắt nhìn chúng, nhưng lại không thể tin rằng những thiên thần nhỏ thực sự đang hiện diện ở đó. Bạn thấy đấy, đã không biết bao nhiêu lần bà chìm trong mộng mị và trông thấy chúng cuộn mình trên những chiếc giường quen thuộc, nên lúc này bà lại đinh ninh đây chỉ là một ảo ảnh chập chờn chưa chịu tan biến.

Bà thẫn thờ ngồi xuống chiếc ghế cạnh lò sưởi, nơi ngày xưa bà vẫn thường ân cần chăm sóc các con.

Lũ trẻ ngơ ngác không thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra, và một nỗi sợ hãi lạnh lẽo bắt đầu len lỏi, bủa vây lấy cả ba.

"Mẹ ơi!" Wendy nghẹn ngào cất tiếng gọi.

"Đó là Wendy," bà Darling thì thầm, nhưng sâu thẳm bên trong vẫn đinh ninh đây chỉ là một giấc mơ.

"Mẹ ơi!"

"Đó là John," bà lại cất giọng đều đều.

"Mẹ ơi!" Michael nức nở thốt lên. Cậu bé đã nhận ra mẹ của mình.

"Đó là Michael," bà nói, đôi tay vô thức dang rộng ra để ôm trọn ba đứa trẻ vô tâm mà bà ngỡ sẽ chẳng bao giờ có cơ hội vòng tay chở che thêm một lần nào nữa. Nhưng không, phép màu đã xảy ra. Bọn trẻ nhào đến, sà vào vòng tay bà; Wendy, John và Michael, những đứa con bé bỏng đã rón rén chuồn khỏi giường và chạy ùa vào lòng mẹ.

"George, George!" bà nức nở gọi tên chồng ngay khi giọng nói có thể bật ra thành lời. Ông Darling bừng tỉnh để rồi vỡ òa trong niềm hạnh phúc tột cùng cùng vợ, và Nana cũng lao vào hân hoan vẫy đuôi. Khó có thể tìm thấy một cảnh tượng nào ấm áp và đáng yêu hơn thế; nhưng tiếc thay, chẳng có ai ngoài kia để chiêm ngưỡng khung cảnh ấy, ngoại trừ một cậu bé đang dán mắt vào ô cửa sổ. Cậu bé ấy đã từng tận hưởng biết bao niềm vui ngây ngất mà những đứa trẻ bình thường khác chẳng bao giờ có thể chạm đến; thế nhưng lúc này đây, qua ô cửa sổ mỏng manh, cậu chỉ có thể lặng lẽ ngắm nhìn niềm hạnh phúc giản đơn, một niềm vui duy nhất mà cậu vĩnh viễn bị gạt ra ngoài.



  1. Hệ thống báo giờ (bell) truyền thống trên tàu biển. 'Ba tiếng chuông' vào ca sáng chỉ 5 giờ 30 phút hoặc 9 giờ 30 phút sáng, dùng để điều phối hoạt động của thủy thủ. 

  2. Nguyên tác là 'Rio and the Gold Coast'. Rio (Brazil) và Gold Coast (Bờ Biển Vàng - tên cũ của Ghana thuộc Anh, nay thường bị nhầm với Bờ Biển Ngà) từng là những hải cảng lịch sử tấp nập hoạt động buôn bán nô lệ, nổi tiếng là nơi quy tụ nhiều thành phần bất hảo và thủy thủ hung tợn. 

  3. Dịch từ thuật ngữ hàng hải 'round robin'. Đây là một tờ đơn kiến nghị mà các thủy thủ ký tên theo hình tròn (giống nan hoa xe) để thuyền trưởng không thể phát hiện ra ai là người ký đầu tiên, tránh bị trừng phạt vì tội xúi giục nổi loạn. 

  4. Bản gốc là 'Home, Sweet Home' (1823), một ca khúc kinh điển cực kỳ phổ biến tại Anh và Mỹ thế kỷ 19, được xem là biểu tượng âm nhạc về tình cảm gia đình và nỗi nhớ quê nhà.