Chương XIV. CHIẾC TÀU HẢI TẶC

Một đốm lửa xanh lục ti hí hé mắt dòm qua lạch Kidd1, gần cửa sông hải tặc, rọi bóng chiếc tàu buồm Jolly Roger2 đang neo mình tĩnh lặng, dập dềnh sát mặt nước. Đó là một con tàu mang vẻ ngoài ngạo ngược, thân tàu mục nát gớm ghiếc, từng chiếc xà cọc đâm tua tủa đầy quái gở như mặt đất ngổn ngang những sợi lông vũ nhàu tơi tả. Trên đại dương, nó giống một kẻ ăn thịt đồng loại thực thụ, hiếm khi cần đến con mắt cảnh giác kia, bởi nó cứ thế bình thản rẽ sóng giữa nỗi kinh hoàng mang chính tên mình.

Con tàu cuộn mình trong bức màn đêm đen đặc, giấu nhẹm mọi âm thanh không cho lọt vào bờ. Bầu không gian lặng ngắt chỉ sót lại vài tiếng động loáng thoáng, song chẳng âm thanh nào êm ái cho bằng tiếng máy may ro ro nơi Smee đang ngồi. Ông ta luôn cần mẫn, luôn chiều chuộng, là hiện thân trọn vẹn của một Smee đời thường và thảm hại. Tôi chẳng rõ cớ sao sự thảm hại ở ông ta lại lên tới đỉnh điểm như thế, trừ phi nguyên do xuất phát từ việc ông ta hoàn toàn mù tịt về sự thảm hại của chính mình. Nhưng ngay cả những gã đàn ông gai góc nhất cũng phải vội quay mặt đi để khỏi phải nhìn ông ta. Đã không ít lần trong những đêm hè tĩnh lặng, sự thảm hại ấy đã chạm đến tận cùng cội nguồn nước mắt của Hook, khiến hắn phải rơm rớm lệ. Về điều này, cũng như muôn vàn chuyện khác trên đời, Smee vẫn hoàn toàn ngây ngô chẳng hay biết gì.

Vài tên hải tặc tì mình vào mạn tàu, say sưa hít hà thứ không khí đặc quánh của màn đêm. Số khác nằm ườn cạnh mấy chiếc thùng rỗng, cắm mặt vào những ván bài và xúc xắc. Bốn gã khiêng ngôi nhà nhỏ hồi nãy giờ đã kiệt sức, nằm sóng soài trên boong. Thế nhưng, ngay cả trong cơn say ngủ, chúng vẫn rèn được phản xạ ngoạn mục, khéo léo lăn sang bên này hay tạt qua bên nọ để né tầm tay của Hook, đề phòng nhỡ gã thuyền trưởng có rảo bước ngang qua và vô thức vung móc cào phải.

Hook chầm chậm rảo bước dọc boong tàu, chìm trong vùng suy tưởng. Ôi, một gã đàn ông thâm sâu khôn lường! Đây lẽ ra phải là giờ phút huy hoàng nhất của hắn. Peter đã vĩnh viễn bị đá văng khỏi con đường của hắn, còn tất cả đám con trai khác đều đã nằm gọn trên khoang tàu buồm, chờ tới lượt bị ép bước ván3. Đó là tội ác tàn nhẫn nhất hắn từng gây ra kể từ cái thời khuất phục được Barbecue. Và khi thấu hiểu kiếp người rốt cuộc chỉ như chốn tá túc phù phiếm đến nhường nào, liệu chúng ta có ngạc nhiên chăng nếu thấy hắn bước đi lảo đảo trên boong, lồng ngực ưỡn căng lên vì hứng trọn ngọn gió của sự đắc thắng?

Thế nhưng, tuyệt nhiên chẳng có lấy một tia hân hoan nào trong dáng điệu ấy. Bước chân hắn chậm rãi, hệt như chuyển động của một tâm trí u ám. Hook đang chìm nghỉm trong nỗi chán chường đến tột độ.

Hắn thường rơi vào trạng thái này mỗi khi lầm bầm độc thoại trên tàu, giữa cái tĩnh mịch như tờ của màn đêm. Cội rễ là bởi hắn quá đỗi cô đơn. Con người đầy bí hiểm ấy chưa bao giờ nếm trải sự trơ trọi thấm thía đến thế khi bị vây quanh bởi bầy chó săn của chính mình. Xét cho cùng, đám người thấp kém như chúng làm sao thấu hiểu được con người của hắn.

Hook vốn dĩ đâu phải tên thật của hắn. Nếu thân phận thực sự của hắn bị phơi bày, dẫu là ngay lúc này, thì chắc chắn cả vương quốc sẽ được phen chấn động. Nhưng hẳn những độc giả tinh tường đọc được ẩn ý từ lâu đã lờ mờ đoán ra: hắn từng theo học tại một ngôi trường công lập vô cùng danh giá4. Những truyền thống cao quý của nơi ấy vẫn vận chặt vào hắn như những bộ y phục, mà quả tình, lề thói ấy xoay quanh chuyện ăn mặc chẳng ít. Bởi thế, với hắn, ngay cả tận bây giờ, việc đường hoàng bước lên tàu với độc một bộ đồ hệt như lúc hắn mới cướp được nó cũng là một nỗi sỉ nhục trí mạng. Trong cả dáng đi, hắn vẫn cố giữ cái điệu bộ uể oải có chủ đích, đặc trưng phong cách của ngôi trường năm xưa. Nhưng trên hết thảy, hắn vẫn nung nấu niềm đam mê cháy bỏng dành cho "good form" (phong thái chuẩn mực)5.

Phong thái chuẩn mực! Cho dù bản ngã có băng hoại đến tột cùng, sâu thẳm trong tâm trí, hắn vẫn ý thức được rằng đó là thứ cốt lõi duy nhất có giá trị trên đời.

Từ cõi sâu thẳm trong lồng ngực, hắn vẳng nghe tiếng cọt kẹt của những cánh cổng sắt rỉ sét, và rồi xuyên qua khe hở tăm tối đó, dội lại một nhịp gõ đều đặn, nghiêm nghị như tiếng búa nện thình thịch trong đêm dài thao thức. "Hôm nay ngươi đã giữ phong thái chuẩn mực chưa?" - ấy là lời chất vấn vĩnh cửu chẳng bao giờ nguôi ngoai.

"Danh vọng, danh vọng, món đồ chơi lấp lánh đó, nó là của ta!" hắn lớn tiếng thốt lên.

"Vậy liệu có mảy may gọi là phong thái chuẩn mực chăng, khi cứ cố phô trương ở bất cứ thứ gì?" tiếng búa vô hình từ ngôi trường cũ cất giọng đáp trả.

"Ta là kẻ độc nhất khiến Barbecue phải khiếp vía," hắn gằn giọng, "và đến Flint cũng phải nể sợ Barbecue."

"Barbecue, Flint-dòng dõi gia tộc nhà nào vậy?" lời vặn vẹo sắc lẹm cắt ngang.

Và rồi, ý nghĩ đánh gục hắn hơn cả: trớ trêu thay, chẳng phải ngay từ lúc lăn tăn về phong thái chuẩn mực thì tự thân việc đó đã là một phong thái tồi tệ rồi hay sao?

Nghịch lý ấy giằng xé tâm can hắn tơi bời. Nó như một móng vuốt cào xé tâm trí hắn, sắc bén hơn cả chiếc móc sắt đeo tay kia. Mỗi khi nhức nhối, mồ hôi lại vã ra trên khuôn mặt nhợt nhạt, làm ướt sũng cả chiếc áo chẽn sang trọng. Nhiều lần hắn quệt ống tay áo ngang mặt, nhưng chẳng có cách nào ngăn nổi dòng mồ hôi ấy rịn ra.

Ôi, xin đừng ai ghen tị với Hook.

Bất chợt, một linh cảm chẳng lành về cái chết cận kề bủa vây lấy hắn. Cứ y như thể lời thề báo thù rợn tóc gáy của Peter đã hiện hình bước lên khoang tàu. Hook trào dâng một khát khao u ám: được nói những lời trăn trối cuối cùng của mình, vì hắn e sợ rằng chốc nữa đây thôi, thời gian sẽ không còn cho phép.

"Sẽ êm ái hơn cho Hook," hắn rền rĩ, "giá mà hắn đừng ôm mộng tham vọng nhường này!" Chỉ trong những giờ khắc tăm tối tận cùng, hắn mới xưng hô với chính mình bằng ngôi thứ ba như thế.

"Chẳng có lấy một đứa trẻ nhỏ nào yêu thương ta!"

Lạ kỳ thay khi hắn bận lòng về điều đó, một thứ vốn dĩ xưa nay chẳng thể lọt vào mắt hắn. Có lẽ tiếng lách cách của chiếc máy may đã đánh thức khao khát ấy. Rất lâu, hắn lẩm bẩm một mình, ánh mắt dán chặt vào Smee - kẻ đang bình thản khâu viền gấu áo, mang theo một niềm tin sắt đá rằng mọi đứa trẻ trên cõi đời này đều đang khiếp đảm trước quyền uy của lão.

Sợ hãi hắn ư! Sợ hãi lão Smee ư! Đêm hôm ấy, đố có đứa trẻ nào trên con tàu buồm lại không trót mến mộ lão. Lão đã buông lời dọa nạt kinh khủng và đánh chúng bằng lòng bàn tay trần - bởi lẽ lão chẳng nỡ vung nắm đấm - thế mà chúng chỉ càng quấn quýt lấy lão tợn. Cậu bé Michael thậm chí còn hí hửng đòi thử đeo luôn cặp kính của lão.

Có nên nói toạc cho Smee tội nghiệp biết rằng lũ trẻ thấy lão thật đáng yêu ư! Hook ngứa ngáy chỉ chực thốt ra, nhưng làm vậy e quá đỗi tàn nhẫn. Thay vì thế, hắn quay mòng mòng cái bí ẩn ấy trong đầu: vì cớ gì lũ trẻ lại thấy Smee đáng yêu? Hắn truy xét vấn đề này cặn kẽ như một con chó săn mồi thực thụ. Nếu Smee đáng yêu, thì phép màu nào đã nặn ra lão như thế? Một câu trả lời kinh hoàng chợt lóe lên-"Phong thái chuẩn mực ư?"

Liệu có phải lão phó của hắn đang sở hữu phong thái chuẩn mực một cách vô thức, thứ cảnh giới tuyệt diệu nhất của phong thái không?

Hắn sực nhớ lại lề thói cũ, rằng ngươi phải chứng minh được bản thân vô ý thức về sự thanh lịch của mình trước khi muốn bước chân vào hội Pop danh giá6.

Bật ra một tiếng rống cuồng nộ, hắn vung chiếc móc sắt lên sát đỉnh đầu Smee. Nhưng cú cào không bao giờ giáng xuống. Điều đã ngăn tay hắn lại chính là luồng suy nghĩ:

"Cào xé chết một người chỉ vì ông ta có phong thái chuẩn mực, thế thì gọi là gì?"

"Chính là phong thái tồi tệ!"

Hook bất hạnh bỗng chìm trong bất lực, mồ hôi ướt sũng cơ thể, rồi hắn nặng nề gục xuống hệt như một bông hoa vừa bị người ta ngắt lìa cành.

Bầy chó săn của hắn đinh ninh thủ lĩnh tạm thời đã bị loại khỏi vòng chiến, nên kỷ luật lập tức tan tành. Lũ hải tặc lao vào một điệu nhảy cuồng loạn, và chính mớ âm thanh hỗn tạp ấy đã kéo hắn bật dậy tức thì. Mọi dấu vết yếu đuối của con người đều bay biến sạch bách, hệt như hắn vừa được gột rửa bằng dòng nước lạnh.

"Im lặng ngay, lũ bay kia!" hắn quát lớn, "nếu không ta sẽ thả neo giáng xuống đầu các ngươi bây giờ!" Ngay tắp lự, mọi tiếng ồn ào câm bặt. "Tất cả bọn ranh con đã bị xích chặt để không thể bay mất chưa?"

"Rõ, thưa ngài."

"Vậy thì kéo cổ chúng lên đây."

Những tù nhân khốn khổ bị lôi từ dưới khoang lên và xếp thành một hàng dài trước mặt gã, dĩ nhiên là trừ Wendy ra. Trong chốc lát, gã dường như chẳng mảy may bận tâm đến sự hiện diện của lũ trẻ. Hook thong thả ngả người ra sau, miệng ậm ừ ngâm nga vài đoạn ngắn của một bài hát thô lỗ-nghe cũng chẳng đến nỗi tệ-trong khi mấy ngón tay cứ nhịp nhịp lên một bộ bài. Thi thoảng, ánh hồng rực lên từ điếu xì gà lại rọi chút sắc màu lên khuôn mặt gã.

"Nào, mấy nhóc tì," gã nói một cách dõng dạc, "tối nay sáu đứa trong bọn các ngươi sẽ phải bước ván, nhưng ta vẫn còn dư hai chỗ cho hai hầu phòng nhỏ. Đứa nào muốn nhận nào?"

"Đừng chọc giận ông ta nếu không cần thiết," đó là lời dặn dò thiết tha của Wendy khi họ còn bị giam dưới khoang. Vì thế, Tootles khép nép bước lên một bước thật lịch sự. Thằng bé vốn ghét cay ghét đắng cái ý nghĩ phải quỵ lụy dưới trướng một ác nhân như vậy, nhưng bằng một thứ bản năng mách bảo, nó hiểu rằng khôn ngoan nhất lúc này là đùn đẩy trách nhiệm cho một người không có mặt ở đây. Dù có hơi ngốc nghếch đi chăng nữa, Tootles vẫn thừa biết rằng trên đời này, chỉ có các bà mẹ mới luôn sẵn lòng trở thành bức bình phong che chở. Mọi đứa trẻ đều tường tận sự thật đó về những người mẹ, chúng có thể thầm khinh thường họ vì điều ấy, nhưng lại chẳng ngần ngại lợi dụng nó hết lần này đến lần khác.

Bởi lẽ đó, Tootles dùng vẻ ngoan ngoãn giả lả để giải thích: "Ngài thấy đấy, thưa ngài, cháu nghĩ mẹ cháu sẽ chẳng vui vẻ gì nếu cháu trở thành hải tặc đâu. Này Slightly, mẹ cậu có thích cậu đi làm hải tặc không?"

Thằng bé lén nháy mắt một cái với Slightly. Đáp lại, Slightly trưng ra vẻ mặt rầu rĩ, thở dài: "Tớ cũng không nghĩ vậy đâu," cứ như thể nó thật lòng khao khát mọi chuyện được khác đi. "Thế còn cậu, Twin, mẹ cậu có ưng cho cậu làm hải tặc không?"

"Chắc chắn là không rồi," cậu anh trong cặp sinh đôi cũng láu lỉnh chẳng kém hùa theo. "Thế còn Nibs, liệu-"

"Khép ngay cái miệng lải nhải của bọn bay lại!" Hook gầm lên, và những kẻ vừa mở lời lập tức bị giật lùi về phía sau. "Nhóc con," gã quay ngoắt sang John, nhếch mép, "trông ngươi có vẻ là đứa có chút gan dạ đấy. Chưa bao giờ mơ làm hải tặc sao, tiểu hảo hán của ta?"

Kỳ thực, thỉnh thoảng John cũng từng nung nấu khao khát mãnh liệt này trong những giờ nhồi nhét bài vở môn toán chán ngắt; và giờ đây, cậu nhóc không khỏi cảm thấy tự hào khi được chính Hook để mắt tới.

"Cháu từng nghĩ sẽ tự gọi mình là Jack Tay Đỏ," cậu ngập ngừng thổ lộ.

"Chà, đó cũng là một cái danh oai phong đấy. Ở đây bọn ta sẽ gọi ngươi như thế, nhóc tì à, nếu ngươi chịu gia nhập."

"Em thấy sao hả, Michael?" John dò hỏi em trai.

"Thế họ sẽ gọi em là gì nếu em gia nhập?" Michael hỏi vặn lại.

"Joe Râu Đen7."

Dĩ nhiên, cái tên ấy lập tức khiến Michael mê mẩn. "Anh tính sao đây, John?" Cậu nhóc muốn anh mình là người quyết định, và bản thân John cũng đang chờ cậu em chốt hạ.

"Vậy chúng ta vẫn sẽ là những thần dân trung thành của Đức Vua chứ?" John cẩn trọng hỏi dò.

Qua kẽ răng của Hook bật ra câu trả lời: “Ngươi sẽ phải thề, 'Đả đảo Đức Vua'."

Có lẽ biểu hiện của John từ đầu chí cuối chưa hẳn là hoàn hảo, nhưng ngay tại giây phút này, cậu bé như bừng sáng rực rỡ.

"Vậy thì tôi từ chối!" cậu thét lớn, giáng một cú đập phẫn nộ xuống chiếc thùng ngay trước mặt Hook.

"Và tôi cũng từ chối!" Michael hét lên hưởng ứng.

"Nước Anh vĩ đại!8" Curly the thé rít lên.

Bọn hải tặc điên tiết lao đến, vung tay vả thẳng vào miệng lũ trẻ; cùng lúc Hook gầm lên thịnh nộ: "Thế là án tử của các ngươi đã được định đoạt! Lôi mẹ của chúng lên đây. Chuẩn bị ván cho sẵn sàng."

Chúng dẫu sao cũng chỉ là những cậu bé, nên nét mặt thoắt cái đã tái mét khi thấy Jukes và Cecco rục rịch chuẩn bị tấm ván tử thần. Dẫu vậy, lũ trẻ vẫn cố gắng ưỡn ngực, tỏ ra can đảm khi thấy Wendy bị giải lên boong.

Chẳng ngôn từ nào đủ sức diễn tả hết sự khinh bỉ tột độ mà Wendy dành cho đám hải tặc kia. Với bọn trẻ, cái mác hải tặc dẫu sao vẫn còn sót lại chút gì đó oai phong lẫm liệt; thế nhưng trong mắt cô bé, đập vào mắt chỉ là một con tàu bẩn thỉu rệu rã, dường như mười mấy năm trời chưa từng được cọ rửa. Trên những ô cửa kính bám đầy cáu bẩn, bất kỳ ai cũng có thể dùng ngón tay quẹt ngay dòng chữ "Đồ con lợn gớm ghiếc"; và chính cô bé cũng đã kịp viết dòng chữ ấy lên vài ô kính rồi. Nhưng giờ phút này, khi lũ trẻ ùa đến vây quanh, cô bé chẳng còn tâm trí đâu mà bận lòng tới đám bụi bặm kia nữa, mọi sự chú ý của cô đều đổ dồn vào chúng.

"Thế nào, người đẹp của ta," Hook cất lời, chất giọng ngọt ngào tựa như mật ong, "cô bé sắp được nhìn thấy những đứa con của mình bước trên tấm ván rồi đấy."

Dẫu là một quý ông lịch lãm, nhưng cường độ dằn vặt nội tâm ban nãy đã khiến chiếc cổ áo xếp nếp của hắn bị vấy bẩn. Bất chợt, hắn nhận ra ánh mắt cô bé đang đăm đăm nhìn chằm chằm vào vết nhơ đó. Hắn vội vã đưa tay che đi, nhưng mọi chuyện đã quá muộn.

"Chúng sẽ phải chết sao?" Wendy cất tiếng hỏi, quẳng về phía hắn một cái nhìn khinh bỉ tột độ đến mức gã thuyền trưởng khét tiếng suýt chút nữa thì ngất xỉu.

"Đúng vậy," hắn gầm gừ. "Tất cả im lặng," hắn hả hê rống lên, "để cùng nghe những lời trăn trối cuối cùng của một người mẹ hiền từ dành cho bầy con nhỏ nào."

Ngay khoảnh khắc ấy, hình ảnh Wendy hiện lên mới thật cao cả làm sao. "Đây là những lời cuối cùng của chị, các em thân yêu," cô bé cất giọng kiên định. "Chị cảm nhận được một lời nhắn gửi sâu sắc từ những người mẹ ruột thịt của các em, và đó là: 'Chúng ta hy vọng những đứa con trai bé bỏng của chúng ta sẽ dũng cảm đối mặt với cái chết như những quý ông người Anh thực thụ.'"

Ngay cả lũ hải tặc cộc cằn cũng phải sững sờ. Tootles bất ngờ hét lên một cách cuồng loạn: "Tớ sẽ làm đúng những gì mẹ tớ hy vọng! Còn cậu thì sao, Nibs?"

"Những gì mẹ tớ hy vọng! Cậu sẽ làm gì đây, Twin?"

"Những gì mẹ tớ hy vọng! John, cậu sẽ-"

Đúng lúc đó, Hook đã lấy lại được sự tàn nhẫn của mình.

"Trói nó lại!" hắn rống lên.

Smee lãnh nhận nhiệm vụ trói cô bé vào cột buồm. "Nghe này, cô bé ngọt ngào," lão thì thào dụ dỗ, "chú sẽ cứu cháu thoát chết nếu cháu chịu hứa làm mẹ của chú."

Nhưng dẫu có đứng trước lằn ranh sinh tử, cô bé cũng nhất quyết cự tuyệt lời nài nỉ của Smee. "Tôi thà không có đứa con nào còn hơn," cô bé ném cho lão cái nhìn khinh bỉ.

Thật xót xa biết mấy khi chẳng một cậu bé nào dám ngoái nhìn lúc Smee trói chặt Wendy vào cột buồm. Ánh mắt của tất cả lũ trẻ lúc bấy giờ đã dán chặt vào tấm ván: chuyến đi bộ ngắn ngủi cuối cùng mà chúng sắp sửa thực hiện. Chúng chẳng còn bận tâm đến việc bước đi sao cho can đảm nữa, bởi trí óc dường như đã trống rỗng tự lúc nào. Giờ đây, chúng chỉ còn biết trân trân nhìn và run rẩy sợ hãi.

Hook mỉm cười qua kẽ răng khép chặt, rồi tiến một bước về phía Wendy. Hắn định quay mặt cô bé lại, ép cô phải chứng kiến cảnh từng đứa trẻ bước đi trên tấm ván. Nhưng hắn không thể chạm đến cô, cũng như không được nghe tiếng thét mà hắn mong mỏi có thể moi ra từ cô bé. Thay vào đó, một âm thanh hoàn toàn khác đã dội vào tai hắn.

Đó chính là tiếng tích tắc kinh hoàng của con cá sấu.

Tất cả bọn họ đều nghe thấy âm thanh ấy-lũ hải tặc, bọn trẻ, và cả Wendy. Ngay lập tức, mọi ánh mắt đều đổ dồn về một phía. Không phải nhìn xuống mặt nước, nơi phát ra tiếng động, mà là chằm chằm nhìn vào Hook. Ai nấy đều hiểu rõ rằng cơn tai ương sắp ập đến chỉ nhắm vào mỗi mình hắn. Phút chốc, từ những người đang trực tiếp tham gia vào tấn bi kịch, họ bỗng chốc lùi lại, hóa thành những khán giả bàng quan.

Sự biến đổi diễn ra trên cơ thể hắn thật đáng sợ. Giống như thể từng khớp xương của hắn vừa bị tháo rời. Hắn đổ gục xuống boong tàu, thu lu thành một đống thảm hại.

Âm thanh đều đặn kia mỗi lúc một gần hơn, kéo theo một nỗi ám ảnh rùng rợn lướt đi phía trước, "Con cá sấu đang chuẩn bị trèo lên tàu!"

Ngay cả chiếc móc sắt giờ đây cũng rũ xuống bất động, như thể nó thừa biết mình chẳng phải là miếng mồi ngon mà thế lực tấn công kia đang săn lùng. Bị bỏ mặc trong nỗi kinh hoàng tột độ, bất cứ gã đàn ông nào khác hẳn đã nằm bẹp xuống, nhắm nghiền đôi mắt lại ngay tại chỗ mình vừa gục ngã. Thế nhưng, bộ óc phi phàm của Hook vẫn tiếp tục tính toán, và dưới sự dẫn dắt của nó, hắn lê lết trên hai đầu gối, trườn dọc theo boong tàu, cố gắng lùi càng xa âm thanh khủng khiếp kia càng tốt. Lũ hải tặc vội vàng dạt ra hai bên, kính cẩn nhường đường cho thủ lĩnh. Chỉ đến khi lùi lại sát mép mạn tàu, hắn mới cất tiếng.

"Giấu ta đi!" Hắn gào lên bằng chất giọng khản đặc.

Bọn đàn em vội vã xúm lại vây kín lấy hắn. Tất cả đều quay mặt đi, chẳng ai dám nhìn thẳng vào thứ sinh vật đang trườn lên tàu. Trong đầu chúng tuyệt nhiên không có lấy một ý nghĩ phản kháng. Đó dường như đã là Định mệnh.

Chỉ khi thân hình Hook đã được che khuất hoàn toàn, bọn trẻ mới tò mò nới lỏng những đôi chân cứng đờ. Chúng ùa ra mạn tàu, háo hức xem con cá sấu đang ngoi lên như thế nào. Và rồi, một điều kinh ngạc đến khó tin nhất trong cái Đêm của những Đêm này đã mở ra trước mắt chúng. Chẳng có con cá sấu nào đến giải cứu chúng cả. Đó là Peter.

Cậu khẽ ra hiệu để lũ trẻ không bật ra những tiếng reo hò ngưỡng mộ có thể đánh thức sự hoài nghi của lũ cướp biển. Sau đó, cậu lại tiếp tục phát ra tiếng tích tắc đều đặn.



  1. Kidd là tên của William Kidd (1645-1701), một thuyền trưởng hải tặc có thật và nổi tiếng trong lịch sử hàng hải. Việc dùng tên ông đặt cho lạch nước nhằm nhấn mạnh bối cảnh hiểm ác, đầy rẫy cướp biển của Hòn đảo Không bao giờ. ↩

  2. Trong lịch sử, 'Jolly Roger' là tên gọi chung cho lá cờ truyền thống của hải tặc phương Tây, thường có hình đầu lâu trắng và hai khúc xương chéo trên nền đen. Trong tác phẩm này, J.M. Barrie đã dùng nó làm tên gọi cho con tàu của thuyền trưởng Hook. ↩

  3. Bắt nguồn từ hình phạt 'walk the plank' (bước trên ván). Đây là phương thức hành quyết mang tính biểu tượng của hải tặc phương Tây: nạn nhân bị bịt mắt, trói tay và ép phải bước dọc theo một tấm ván gỗ nhô ra khỏi mạn tàu cho đến khi rơi thẳng xuống biển. ↩

  4. Nguyên gốc tiếng Anh là 'public school' (trường công lập). Tuy nhiên ở Anh quốc, đặc biệt vào thế kỷ 19-20, thuật ngữ này lại dùng để chỉ những trường tư thục nội trú đắt đỏ, lâu đời và danh giá bậc nhất (như trường Eton), chỉ dành riêng cho con cái của tầng lớp quý tộc và thượng lưu. ↩

  5. Trong văn hóa của tầng lớp thượng lưu Anh Quốc xưa, 'good form' là tiêu chuẩn tối cao về cách hành xử: con người phải luôn giữ vẻ lịch thiệp, điềm tĩnh, tự nhiên và không bao giờ bộc lộ sự cố gắng hay phô trương trong bất cứ hoàn cảnh nào. ↩

  6. 'Pop' (hay Eton Society) là một câu lạc bộ nam sinh quyền lực và tinh hoa bậc nhất tại trường nội trú Eton ở Anh. Chỉ những học sinh năm cuối xuất sắc, có xuất thân cao quý và có 'phong thái chuẩn mực' nhất mới được các thành viên cũ bầu chọn vào hội này. ↩

  7. Cái tên này lấy cảm hứng từ 'Blackbeard' (Râu Đen) - biệt danh của Edward Teach, một trong những tên cướp biển có thật và khét tiếng nhất lịch sử Anh thời đại hoàng kim của hải tặc đầu thế kỷ 18. ↩

  8. Lời hô vang này (nguyên gốc: 'Rule Britannia!') gợi nhắc đến một bài hát ái quốc nổi tiếng của Hải quân Hoàng gia Anh, thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sức mạnh làm chủ đại dương của Đế quốc Anh. ↩