Đã hiệu đính

LỜI KẾT

Sau khi phác họa nên bức tranh toàn cảnh về những bộ sử thi vĩ đại của đạo Hindu, giờ đây, tôi xin khép lại bằng vài suy ngẫm ngắn gọn về những giá trị trường tồn trong đời sống quốc gia, cũng như những tín niệm đạo đức và tôn giáo cốt lõi của người Hindu được khắc ghi qua những pho tượng đài thi ca đồ sộ này. Tựa như một tấm gương chân thực, những áng thơ khổng lồ ấy phản chiếu một cách vô thức dòng chảy tư tưởng và những khuynh hướng sâu xa; ở đó, ta bắt gặp cả những khát khao trí tuệ mãnh liệt và bản năng đạo đức căn bản của chính thời đại mà chúng thuộc về.

Hẳn sẽ là thừa thãi khi nhắc lại rằng "Ramayana" kể lại những chuyến phiêu lưu khác thường của Rama, điểm nhấn là cuộc chiến tàn khốc mà chàng khởi xướng nhằm rửa sạch mối nhục và đoạt lại người vợ của mình từ tay kẻ thù xảo trá. Cuộc chinh phạt Ravana không hề nhằm mục đích bành trướng lãnh thổ; động lực chính yếu của nó chỉ đơn thuần là trừng trị kẻ thủ ác và đòi lại công lý cho một nỗi hàm oan cá nhân. Ngược lại, cuộc giao tranh trường kỳ làm nên nền tảng của "Mahabharata" lại mang một sắc thái hoàn toàn khác. Đó thuần túy là cuộc đối đầu tranh đoạt quyền tối thượng giữa những gia tộc chung một dòng máu. Đằng sau mỗi phe phái là sự hậu thuẫn đắc lực từ bằng hữu, đồng minh thân tộc, và cả những bộ lạc ngoại bang (người Mleccha). Đáng chú ý thay, xuyên suốt cả hai áng hùng ca, ta không hề thấy bóng dáng của khái niệm lòng yêu nước; bởi lẽ, những cuộc chiến bi tráng mà các bậc anh hùng dấn thân không nhằm mục đích chống lại quân xâm lược ngoại bang hay đánh đuổi kẻ thù chung của quốc gia.

Ấn Độ cổ xưa hiện lên qua nhãn quan của những nhà biên khảo "Ramayana" và "Mahabharata" - sân khấu vĩ đại nơi các bậc anh hùng phô diễn những chiến công hào hùng của đời mình - hẳn nhiên là một cõi đất đai chìm khuất dưới những vạt rừng già vô tận. Nét u linh huyền bí của những cánh rừng ấy, quấn quýt trong khói trầm hương và lễ vật tế thần, đã phủ một chiếc bóng mờ ảo mà kỳ vĩ lên tâm hồn các thi sĩ Hindu, cũng chân thực như cái cách mà ngọn gió khoáng đạt và những con sóng vỗ không ngơi nghỉ của biển Ægean từng thổi bùng sinh khí cho các thi nhân hát rong của Homer.

Những chốn cô liêu mộng mị mà Valmiki và Vyasa thường quyến luyến nán lại ẩn chứa một vẻ thư thái mà người châu Âu, vốn xa lạ với những xứ sở phương Đông, khó lòng thấu tỏ. Nơi ấy còn ấp ủ một sức cuốn hút nhiệm màu chỉ có thể tìm thấy trong những cánh rừng nguyên sinh. Đồng thời, chúng cũng dựng lên một phông nền kinh hoàng tăm tối: tiếng gầm thét của loài mãnh hổ hung tàn, tiếng rít lạnh người của bầy độc xà nanh nọc, và cái siết chặt vô hình của cơn ác mộng sốt rét, đủ sức khơi dậy những huyễn tưởng u ám và dị thường nhất.

Chỉ những ai từng sống, như chính tôi đã từng, qua nhịp luân chuyển của các mùa trong những khu rừng Đông Ấn, mới có thể để linh hồn mình thả bước phiêu diêu cùng Valmiki và Vyasa qua những cánh rừng rậm rạp của thuở hồng hoang.

Mở đầu là mùa hạ, khi những tia nắng chói chang gay gắt xuyên qua những tán lá dày. Dưới bóng râm tàng cây, con người và thú hoang uể oải buông mình nghỉ ngơi qua những giờ khắc tĩnh lặng. Chỉ có con dế cất lên khúc ca the thé đơn điệu, cùng tiếng hót ngọt ngào của loài chim cokil rót đầy vào bầu không khí đang rực lên và run rẩy vì nóng. Rồi những đám mây đen dần dần kéo đến tụ lại đỉnh đầu. Thần Indra vung tay xẻ dọc chúng bằng những tia chớp sáng lòa. Sấm rền vang trên vòm trời, cơn bão cuồng nộ gào thét bước vào cuộc giằng co dữ dội cùng những thân cây đang căng sức chống chọi. Và mưa trút xuống, không phải là những hạt bụi nước lất phất, mà là những dòng thác cuồn cuộn; tiếng gầm thét của mưa, khi tự vùi mình vào muôn trùng dặm vuông rừng thẳm, nghe như âm thanh của hàng ngàn con nước. Những thác nước bừng tỉnh, reo hò lao xuống từ sườn đồi. Những dòng suối dâng tràn đục ngầu, hung hãn cuộn xiết và lao đi, mang theo vô số thân cây đại ngàn gãy đổ. Một tấm choàng xanh rực rỡ, tựa như có phép màu, phủ trùm lên vạn vật trên mặt đất, vươn mình leo lên cho tới khi gần như nuốt chửng cả túp lều tranh nhỏ bé nơi người chủ đang co ro trú ngụ, né tránh những giọt nước không ngớt rỏ xuống từ mái lá bện trên đầu.

Tiếp nối chuỗi ngày đó là khoảng thời gian chướng khí bốc lên mờ mịt trong thứ ánh sáng xanh lục từ mặt đất mục rữa. Cả con người lẫn thú vật đều héo mòn ốm yếu trong bầu không khí nhuốm độc, nơi mùi thối rữa của thảm thực vật phân hủy quyện lẫn vào hương thơm tinh tế của hoa lan và những kỳ hoa dị thảo nơi hoang dã. Trên vòm trời rực rỡ-trong cõi mây mù huyền bí ấy-lại hiện ra những sự phô diễn của ánh sáng và sắc màu, của những tông màu tinh tế cùng những sắc thái tuyệt mỹ, nằm ngoài mọi lời miêu tả hay kỹ xảo điêu luyện nhất của những người họa sĩ. Từ ven rìa những cánh rừng tăm tối này, hãy đắm say chiêm ngưỡng những bóng ma mây thoắt ẩn thoắt hiện, khoác lên mình sắc đỏ và vàng rực rỡ của ráng chiều, để rồi thôi kinh ngạc trước trí tưởng tượng phong phú và vô bờ bến của các thi sĩ Ấn Độ! Khi màn đêm buông xuống, hãy dồn ánh nhìn vào những hình thù quái dị đang rình rập, ẩn hiện mờ ảo nơi phông nền dưới ánh lửa bập bùng. Hãy vểnh tai lắng nghe những tiếng than khóc ma quái cùng những tiếng thét nghẹn ngào len lỏi qua màn đêm gớm ghiếc, và đừng mảy may nghi ngờ về sự tồn tại cùng hành tung của những con quỷ Dạ xoa Rakshasa ghê rợn, mang quyền năng thiên biến vạn hóa! Khi ấy, bạn mới thấu hiểu ngọn lửa thiêng của thần Agni là đấng bảo hộ không thể thiếu đến nhường nào, đấng đã chở che bạn vượt qua mọi nỗi kinh hoàng của đêm dài tăm tối nhất giữa rừng sâu.

Cuối năm, mùa đông mỉm cười dịu dàng giáng xuống vùng đất đang hao mòn sinh khí, làm buốt lạnh đi bầu không khí vốn từng ấm áp. Trong nhiều giờ sau khi mặt trời ló dạng, một màn sương mù đặc quánh nhẹ nhàng dang tay ôm trọn lấy cánh rừng nguyên sinh. Thế nhưng khi sương mù, tựa một bóng ma mờ ảo, âm thầm trôi đi, nó lại để lộ ra những dải khói trắng mỏng manh từ các túp lều vươn lên cuộn vòng trên bầu trời xanh trong vắt. Ánh dương hiếm hoi lắm mới ban phát chút hơi ấm cho những người nông dân lao động trên mảnh đất cằn cỗi quanh lều, và vầng trăng trông mới lạnh lẽo, nhợt nhạt làm sao: những dòng suối bắt đầu cạn kiệt; những ngọn thác ầm ào nay cũng đã chìm vào tĩnh lặng.

Đó là nhịp luân hồi của các mùa trên vùng đất rừng nhiệt đới tựa như Ấn Độ thời Sử thi. Và trong suốt chiều dài thời gian, cánh rừng luôn khoác lên mình một bầu không khí u buồn cùng sự u sầu mộng mị. Chính không gian ấy đã trở thành nơi cư ngụ của những quỷ dữ Rakshasa gớm ghiếc giữa chốn cô liêu, mà chẳng hề nhượng lại lấy một khoảng trống cho những nàng tiên nữ Apsara đùa vui hay nhảy múa. Cuộc sống trong những khu rừng như thế mới là đời sống hoang dã đích thực, chẳng mảy may giống với trò ẩn cư nhàn nhã đầy thi vị của Thoreau bên bờ hồ Walden, nơi chỉ cách Concord vài dặm đường và dư sức phóng tầm mắt ra tận một tuyến đường sắt xa xa.

Từ trước đến nay ta chỉ mới bàn về những khu rừng; song dãy Alps kỳ vĩ của thế giới Ấn Độ, đỉnh núi vươn mình cao nhất và oai phong bậc nhất, đâu phải không lưu dấu ấn lên những dòng cảm xúc của các nhà thơ Ấn, nâng đỡ tâm hồn họ tới những đỉnh cao của miền chiêm nghiệm. Và khi ta đọc những gì mà dăm ba lữ khách từng may mắn đặt chân tới các vùng đất ấy kể lại, về sự hùng tráng và vĩ đại không lời nào tả xiết của những ngọn núi đá trơ trọi, những cánh đồng băng lấp lánh tuyết phủ, cùng những cõi băng giá thâm u chưa từng in dấu chân người; khi ta thấu cảm được sự tĩnh lặng trang nghiêm của chốn hoang vu vắng bóng phàm nhân ấy, ta chẳng còn thấy lạ lẫm trước việc các thi nhân Ấn Độ, những người từng nghe danh và biết đâu đã từng diện kiến các pháo đài đá khổng lồ kia, lại hô biến chúng thành cõi đất nhiệm màu, thành chốn rong chơi của các vị thần và hằng hà sa số tiên nữ Apsara.

Nguồn cảm hứng của những nhà biên khảo sử thi Ấn Độ không chỉ được khơi nguồn từ những cánh rừng Dandhaka thâm u hay các thung lũng và đỉnh núi hùng vĩ Himavat; mà còn trào dâng từ những dòng sông tráng lệ và kiều diễm của quê hương trù phú. Những dòng nước ấy hiền hòa uốn lượn suốt hàng trăm dặm dài qua những cánh đồng màu mỡ, từ nơi khởi thủy phía trên những tầng mây trôi miết về vòng tay của đại dương bao la, đồng thời định đoạt cả bước tiến của những cuộc di cư và chinh phạt trên đường đi của chúng.

Những ngọn núi, những khu rừng cùng những dòng sông, tất cả đều mang trong mình tầm vóc khổng lồ, đã góp phần kiến tạo nên một đặc trưng hùng vĩ, và cả một nét choáng ngợp thiêng liêng cho những bản Sử thi vĩ đại của Ấn Độ, điều mà độc giả, dẫu chỉ lướt qua những trang sách này, cũng khó lòng mà không cảm nhận được.

Tôn giáo, âm hưởng chủ đạo của những thiên sử thi đồ sộ này, xứng đáng để chúng ta xem xét đầu tiên. Đáng chú ý là Ấn Độ vẫn còn cách rất xa giai đoạn phát triển trí thức mà ở đó văn học, khoa học, nghệ thuật và chính trị được thế tục hóa. Tại châu Âu, quá trình thế tục hóa đã diễn ra dần dần dưới sự dẫn dắt của tinh thần duy lý, như ngài Lecky từng diễn giải vô cùng xuất sắc. Còn ở Ấn Độ, tuy việc thế tục hóa tri thức đã chớm nở, đó vẫn chỉ là một sự khởi đầu đơn thuần bắt nguồn từ nền giáo dục Anh quốc. Tuy nhiên, do tầm ảnh hưởng còn bó hẹp trong một tầng lớp cực kỳ nhỏ bé, ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng mọi lĩnh vực tri thức cấu thành nên di sản tinh thần của người Ấn Độ - ngay cả luật pháp, thi ca và kịch nghệ - đều nằm trọn trong vòng tay của thần học. Quả thực, chẳng có một môn khoa học bản địa nào của người Hindu thoát khỏi tầm ảnh hưởng cũng như sự luận giải của giới tu sĩ.

Xuyên suốt các thiên sử thi, chúng ta bắt gặp những sinh thể siêu phàm nắm giữ vận mệnh nhân loại đang dàn trận thành hai phe thù địch rõ rệt. Một bên là các vị thần sát cánh cùng tộc Gandharva và các nàng Apsara. Phe còn lại là giống loài Asura, bao gồm cả Daitya và Danava, Rakshasa và Picácha. Cần lưu ý rằng, cuộc giao tranh này diễn ra giữa các vị thần ở bậc thấp và phe Asura cùng đồng minh. Đôi khi, các vị thần tối cao cũng can dự vì lợi ích của thiên giới. Thế nhưng, đằng sau và che trùm lên mọi sự hỗn mang của cõi nhân sinh, cái bóng mờ ảo của định mệnh khắc nghiệt vẫn sừng sững hiện ra với một sức mạnh áp đảo.

Trong cuộc xung đột triền miên giữa hai trật tự siêu phàm ấy, con người không hề đóng một vai trò hèn mọn hay thụ động. Khác với hầu hết các tôn giáo khác, con người không phải là những kẻ thấp hèn chỉ biết quỵ lụy đón nhận ân huệ từ thần linh, cũng chẳng phải là những nạn nhân bất hạnh cam chịu dã tâm của ác quỷ và yêu quái. Dưới nhãn quan của các tác giả sử thi Ấn Độ - vốn phản ánh sâu sắc tư tưởng thịnh hành đương thời - vị thế của nhân loại trong vũ trụ cao cả hơn nhiều. Con người không phải là kẻ vô danh tiểu tốt giữa cuộc chiến của các thế lực thiện ác trong tự nhiên, mà thực sự là một nhân tố trọng yếu. Nghĩa vụ thiêng liêng của họ là thành kính hỗ trợ và nuôi dưỡng thiên giới bằng những buổi tế lễ không ngừng nghỉ. Nhờ thế, các vị thần mới có đủ sức mạnh để thực thi sứ mệnh cai quản vũ trụ và kiềm tỏa các thế lực hắc ám. Con người cũng chẳng phải là một lực lượng phụ tá hữu dụng nhưng cam phận nô lệ của cõi trời. Thông qua sự khổ hạnh, các nghi lễ và hiến tế, họ hoàn toàn có thể tự mình đoạt lấy quyền năng, sở hữu sức mạnh và tự do vận dụng kho tàng năng lượng tích lũy được theo ý chí riêng để phục vụ cho mục đích của chính mình.

Tuy nhiên, có một thực tế đáng lưu tâm là chính lý tưởng cao đẹp về phẩm giá con người trong nấc thang vạn vật lại dẫn tới sự hạ thấp các vị thần tại Ấn Độ. Dường như ta không thể suy tôn con người mà không kéo tụt thần linh; không thể xưng tụng nhân loại mà không báng bổ cõi trời. Chính vì thế, ta dễ dàng bắt gặp một sự gần gũi đến mức thiếu tôn kính khi các vị thần tối cao, thậm chí cả Mahadeva, bị người Hindu mạo xưng trong các cuộc rước lễ tôn giáo. Hay như trong lễ hội Holi hoang dã, một người đàn ông được bôi sơn trắng, đội bộ tóc giả màu vàng thõng dài, cổ quấn chuỗi hạt lớn và tay cầm cây đinh ba - hiện thân của Đấng Tối Cao được nhân cách hóa - lại được công kênh giữa một đám đông kích động, những kẻ đang say sưa buông tuồng trong tận cùng của những lời lẽ và cử chỉ dung tục.

Về đời sống sau cái chết, các tác giả sử thi luôn giữ vững những quan niệm vô cùng dứt khoát. Đây là một thực tế hết sức thú vị nếu ta nhớ rằng người Do Thái lần đầu tiếp thu tư tưởng về sự tồn tại sau nấm mồ cùng cõi tâm linh thiện ác trong thời kỳ bị lưu đày ở Babylon, để rồi trao truyền lại như một di sản cho Cơ đốc giáo. Ngay cả những ý niệm của thi hào Cơ đốc vĩ đại Milton cũng nhuốm màu sắc của các tư tưởng chắc chắn bắt nguồn từ Mazda giáo của Ba Tư.

Thiên đường của các vị thần Hindu mang đậm bản chất vật chất và sắc dục, ngập tràn trong cung điện và khu vườn, trong âm nhạc và vũ điệu, cùng những chàng Gandharva sôi nổi và các nàng Apsara kiều diễm. Tuy nhiên, trong thời đại anh hùng của Ấn Độ, các nữ thần thực chất chỉ đóng một vai trò rất phụ trợ. Trong sử thi, ta chẳng thể tìm thấy một Hera quyền uy, một Pallas Athene thông thái, một Venus tuyệt sắc hay một Thetis gót bạc nào - những kiệt tác tươi sáng từng mang lại sức quyến rũ khôn tả cho thần thoại Hy Lạp. Ganga, trên thực tế, chỉ đảm nhận một vai diễn phụ họa và được sắp đặt sẵn trong vở kịch vĩ đại này. Parbati có được nhắc đến, trong khi Durga và Kali chỉ lướt thoáng qua sân khấu. Hoàn toàn rõ ràng rằng tại đỉnh Olympus của người Ấn Aryan cổ, các nữ thần chưa hề đạt tới quyền lực và phẩm giá mà họ đang thụ hưởng ngày nay. Những lời ngạo mạn thường xuyên xuất hiện trong sử thi nhằm chống lại thiên giới do Indra đứng đầu, cũng như việc mọi thủ lĩnh hay tộc trưởng - ngay cả của tộc Venar - đều tự coi mình là đối thủ xứng tầm với chính Indra, dường như đã vạch trần một sự thù địch ngấm ngầm nhưng không thể nhầm lẫn đối với các vị thần cổ xưa của những kẻ xâm lăng Aryan. Chi tiết này vô cùng đáng giá, bởi nó hé lộ một giai đoạn chuyển giao trong quá trình phát triển tôn giáo của người Hindu: một thời kỳ ngập chìm trong hoài nghi và bối rối. Điều đó được tô đậm bởi thói xiểm nịnh thái quá dành cho bất kỳ ai có khả năng ban phát ân huệ, bất kể là người trần hay thần thánh. Kẻ đó lập tức được xưng tụng là bậc xuất chúng nhất cõi nhân gian, là vị minh quân vĩ đại nhất; ngang hàng thần thánh, là một vị thần đích thực; ngài là Indra; ngài là Yama; ngài là Prajapati; ngài vượt xa mọi vị thần; ngài là đấng cai trị cả tam giới. Trên thực tế, ngài có thể là bất cứ thứ gì và là tất cả mọi thứ đối với một kẻ cầu xin đang ngập ngừng mong chờ sự trợ giúp. Và dường như chúng ta cũng dự phần vào trong vòng xoáy rắc rối ấy. Bởi lẽ, dưới tác động từ quan niệm phiếm thần của các tác giả, kết hợp với nhận thức về những vòng luân hồi vô tận và sự thờ ơ tột độ trước mọi hình thái cố định, tính cá nhân dường như đã hoàn toàn tan biến (như khi ta thấy Krishna được xưng hô là em trai của Indra1). Một thế giới của những ảo ảnh mờ sương cứ thế nhảy múa trước mắt, cho đến khi ta cảm thấy hoa mắt chóng mặt lúc chiêm ngưỡng cái vũ trụ vô thường và đầy nhiễu nhương này.

Nhưng giữa màn trình diễn không ngừng biến ảo của cõi sinh diệt, người Hindu dường như đã thấu triệt và nắm vững ý niệm về một quy luật chu kỳ. Chính tư tưởng này đã khoác lên những suy nghiệm của họ về cả quá khứ lẫn tương lai một tầm vóc vĩ đại mang đậm tính triết học.

Từ trình tự vận hành đầy quy củ của cõi tự nhiên - như sự luân phiên bất tận của ngày và đêm; nhịp điệu uyển chuyển của các mùa trong vòng quay tuế nguyệt; hay những chuyển động chu kỳ của các tinh tú trên vòm trời - người Hindu đã nhận ra một vòng luân hồi của sự biến thiên: được định sẵn, bất dịch và vô thủy vô chung. Khái quát hóa từ những chân lý ấy, họ đi đến kết luận rằng quy luật này ắt hẳn cũng chi phối toàn bộ Vũ trụ. Vạn vật rồi sẽ trải qua chu kỳ hoại diệt và tái sinh vĩ đại đã được định đoạt, lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ, vắt ngang qua những kỷ nguyên của cõi vĩnh hằng. Họ chia sẻ quan niệm này với người Hy Lạp thời cổ đại; và cũng giống như người Hy Lạp, họ chưa từng vươn tới ý niệm về sự tiến bộ, phát triển hay tiến hóa.2

Thông qua học thuyết Nghiệp (Karma), các triết gia Hindu đã lý giải như thế nào về những bất bình đẳng sâu sắc và những bất công hiển nhiên luôn bám rễ vào kiếp nhân sinh - điều đó hẳn độc giả đã được tường tận qua các phần trước. Còn về trách nhiệm đạo đức của con người đối với từng hành vi của chính mình, những thi sĩ sáng tác Sử thi đã trăn trở suy ngẫm qua muôn vàn lăng kính, để rồi đành tuyệt vọng bỏ ngỏ mà không tìm ra lời giải đáp. Bởi lẽ, đúng như những lời Sanjaya - vị sứ giả được anh em nhà Pandava phái đến chỗ các anh em họ - đã cất lên đầy ưu tư, mang đậm tinh thần của chủ nghĩa bất khả tri: “Về phương diện này, có ba luồng tư tưởng được đưa ra; một số người cho rằng vạn sự đều do bàn tay Thượng đế an bài;3 một số khác lại quả quyết rằng mọi hành động của chúng ta nảy sinh từ ý chí tự do; và những người còn lại thì tin rằng từng việc ta làm đều là kết quả cho những gì ta đã gieo nhân từ muôn vàn kiếp trước.”4

Việc gán đức tính công bình cho các vị thần dường như không phải là một yếu tố được nhấn mạnh; bởi lẽ Krishna, như chúng ta đã chứng kiến, thường đặc biệt có xu hướng sử dụng những mưu kế xảo trá để đạt được các mục đích của ngài. Sự tương đồng này gợi nhắc đến nữ thần Pallas Athene của Homer, người đã xui khiến Pandaros phản trắc và buông một mũi tên vô cớ làm Menelaus trọng thương.

Về bối cảnh chính trị của cõi Ấn Độ trong những thời kỳ sơ khai ấy, tôi thiển nghĩ rằng chúng ta có thể mường tượng qua các bản Sử thi hình ảnh về một vùng đất bị chia cắt bởi hàng ngàn vị tiểu vương,5 nếu như ta có thể đặt niềm tin vào những lời tụng ca của các thi sĩ. Và hẳn nhiên, không cần phải ngờ vực rằng khát vọng không nguôi của những bậc quân vương tài ba và tham vọng nhất trong số đó, chính là nỗ lực thu phục càng nhiều vị thủ lĩnh đồng cấp quy thuận dưới ngọn cờ tối cao của mình càng tốt.

Bất cứ ai cất công nghiên cứu những truyền thuyết được ghi danh dưới tên tuổi của Valmiki và Vyasa đều sẽ không khó khăn gì để nhận ra bóng dáng của những giai thoại dân gian dung dị, vốn là viên gạch nền móng cho những công trình văn chương kỳ vĩ mà các thi hào Ấn Độ đã dày công kiến tạo. Thế nhưng, như tôi từng nhận định ở Chương Mở Đầu, giá trị và quy mô của những yếu tố thường được suy tôn là "tư liệu lịch sử" ẩn tàng trong "Ramayana" và "Mahabharata" lại ít ỏi và mơ hồ đến độ chẳng thể khơi gợi nơi tôi chút niềm tin hay sự lưu tâm nào. Có lẽ đó là do bản tính cố chấp, hoặc bởi sự khuyết thiếu nhạy cảm lịch sử ở nơi tôi. Song, khi được yêu cầu phải tin rằng những bước tiến viễn chinh về phương Đông của tộc người Bhoja cùng các đồng minh lại được khắc họa qua truyền thuyết về Karna trong "Mahabharata"-một nhân vật hẳn đã quá đỗi quen thuộc với độc giả qua những trang trước-tôi quả thực không sao mảy may chấp nhận. Hơn thế nữa, khi có người nghiêm túc cam đoan với tôi rằng mối tình lãng mạn của nàng Satyavati, con gái một lão ngư phụ, cuộc hôn phối của nàng với quân vương Santanu cùng tư tình thuở trước với cha của Vyasa, bất chấp sự phi lý ngay trong chính lời thơ của Vyasa, sẽ trở nên hợp lý nhường nào-chỉ cần ta gạt bỏ hoàn toàn hình ảnh lão ngư phụ ấy, lãng quên đi những gì thi sĩ đã khắc họa về nàng Satyavati, và mường tượng rằng thiếu nữ được nhắc đến thực chất là một nhân vật đầy quyền uy trong dòng dõi của bậc thủ lĩnh ngư dân,-thì tôi đành thú nhận rằng, những nỗ lực thêu dệt nên một nền lịch sử kiến tạo dường ấy đã vượt quá xa tầm lĩnh hội của mình.6

Trong khi các học giả thuộc một trường phái cứ mải miết truy tầm những trầm tích lịch sử ẩn khuất trong "Ramayana" và "Mahabharata", thì những trí thức thuộc một trường phái khác (quy tụ cả các học giả châu Âu lẫn Ấn Độ) lại tài tình diễn giải những câu chuyện này thành các thần thoại về thái dương hoặc những ngụ ngôn luân lý thuần túy. Việc lún sâu vào cuộc tranh luận ấy tại đây thiết nghĩ là điều không cần thiết, và tôi cũng đã trình bày những ví dụ tiêu biểu cho các cách lý giải đó ở phần Chú thích đính kèm trong "Ramayana" (trang 91) cũng như trong bản tóm lược của "Bhagavatgita" (trang 217). Tôi chỉ muốn lạm bàn thêm rằng: Nếu thiên chức đích thực của lịch sử là vén bức màn thời gian, hiển lộ trước mắt chúng ta những lăng kính sống động về thời thiên cổ, phơi bày trọn vẹn bức tranh xã hội của những ngày đã vợi xa, và dẫn dắt ta chạm đến những suy tư, lý tưởng cùng khát vọng của muôn vàn thế hệ đi trước, thì những bộ Sử thi Ấn Độ quả là một chứng nhân vững chãi cho nền văn học lịch sử, dù chúng chẳng mảy may vô tình ghi lại những sự kiện thực tế nào.

Những người anh hùng của các bản Sử thi, phần lớn mang thân phận của những vị á thần với một bề dày quá khứ kéo dài từ xa xưa, gánh trên vai một tiền định khắt khe, và cũng như bao người trần mắt thịt, họ phải luân chuyển qua vô vàn kiếp sống trong những nhân dạng khác biệt. Tôi đành thú nhận rằng, họ không gieo vào lòng tôi quá nhiều xúc cảm. Ngay cả những con người hiện diện trên sân khấu sử thi bi tráng này cũng sẽ dần đánh mất đi tính cách độc bản của mình và chẳng còn khơi gợi được sự đoái hoài nơi chúng ta, một khi ta chỉ xem họ như những linh hồn tạm thời mượn lấy một xác phàm trong một khoảnh khắc nhất định của dòng thời gian. Lớp vỏ bọc ấy vốn dĩ xa lạ với vô lượng nhân dạng mà họ từng khoác lên mình trong những tiền kiếp, và cũng chẳng mảy may tương đồng với những dung mạo họ sẽ mang trong những kiếp lai sinh. Quả thực, giáo lý luân hồi, với sự chuyển sinh vô thủy vô chung của vạn vật-từ con người nhỏ bé đến thần linh tại thượng-đã làm phai nhạt đi những ý niệm về một cá thể độc lập và trường cửu. Chẳng trách sao nền lịch sử nghiêm cẩn của nhân loại, với bối cảnh chật hẹp và dòng thời gian hữu hạn của nó, lại có quá ít sức hút đối với tâm hồn người Hindu.

Dẫu vậy, đáng chú ý hơn cả những chiến binh hào kiệt trên bình nguyên Kurukshetra lại chính là các Rishi và những bậc Ẩn sĩ, những người hiện lên giữa bức tranh toàn cảnh của các thi nhân Sử thi với một đường nét sắc sảo đến sững sờ. Những nhà hiền triết ấy, mang trong mình lối sống khổ hạnh khắc nghiệt, quyền năng siêu việt, tính khí bừng bừng như lửa và những lời nguyền rủa giáng xuống tựa sấm sét, chính là hiện thân cho các pháp sư hay những bậc phù thủy ở các xứ sở khác trên cõi Ấn Độ, đồng thời tạo nên một dấu ấn đậm nét trong cả đời sống của Ấn Độ đương đại. Theo lẽ thường, các bậc thánh nhân của Thế giới Cơ đốc giáo thuộc về một hình mẫu hoàn toàn khác biệt; thế nhưng, kỳ lạ thay, một vài người trong số họ, chẳng hạn như Thánh Renan, lại được cho là mang những nét tính cách chẳng mấy khác biệt so với các Rishi Ấn Độ.7 Ở những nền văn hóa khác, phần lớn-hay có lẽ là phần lớn nhất-những quyền năng ma thuật huyền bí thường được gán cho phái đẹp. Song người Hindu, với một đặc tính rất riêng, đã không hề nhượng bộ cho nữ giới một quyền năng nào như vậy. Tại Ấn Độ, chưa từng có một thời khắc nào phái nữ được ban cho một vị thế tự do và sự tôn kính thiêng liêng như những người phụ nữ Đức trong sử liệu của Tacitus, hay những nữ thần Na Uy trong các khúc ca Edda. Họ thậm chí chưa từng được hưởng một chút tự do nhỏ nhoi nào kể cả việc bị giới hạn khắt khe như những người phụ nữ Hy Lạp từng được đặc ân thực thi. Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận rằng, một nền tảng của tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa hướng về phái yếu vẫn luôn bàng bạc chảy xuyên suốt các cuốn Sử thi, thường hiển lộ một cách rực rỡ và đong đầy xúc cảm.

Bàn về đời sống xã hội của thời kỳ anh hùng sơ khai - giai đoạn mà Sử thi đã mang đến bao góc nhìn thú vị - ta có thể chắc chắn rằng nếp sống thuở ấy vốn cực kỳ giản dị và thô sơ. Lấy một ví dụ đơn cử, hãy nhìn vào cuộc sống của anh em nhà Pandava trong "ngôi nhà sơn mài" nguyên sơ. Nơi ấy, chính người mẹ đã tự tay phục vụ các con mà không màng đến bất kỳ sự phụ giúp nào từ người hầu kẻ hạ, dù cần nhớ rằng, các vị hoàng tử trẻ tuổi khi ấy đang trong một chuyến đi nghỉ xa nhà. Dẫu vậy, cũng có không ít bằng chứng chỉ ra rằng, vào thời điểm những vần thơ này thực sự được biên soạn, hay ít nhất là khi chúng được đúc kết lại dưới hình hài hiện tại, một xã hội phức tạp đã manh nha hình thành, và lối sống thư thái, tinh tế ngập tràn nhung lụa đã chẳng còn là điều xa lạ. Trong suốt chiều dài lịch sử được Sử thi bao trùm, hệ thống đẳng cấp đã cắm rễ sâu bền; việc tiêu thụ thịt động vật là điều phổ biến,8 và đồ uống có cồn chưa từng bị cấm đoán. Chế độ đa thê là lẽ thường tình, đa phu cũng được công nhận như một định chế, trong khi tục lệ Niyoga - tục lệ sinh con nối dõi thay cho người họ hàng đã khuất hoặc những người đàn ông tuyệt tự - không còn nghi ngờ gì nữa, đã được định hình một cách kiên cố.

Cho đến tận ngày nay, đẳng cấp, cùng với những hệ lụy tai hại của nó, vẫn tiếp tục thống trị đời sống của người Hindu. Chế độ đa thê vẫn hiện diện phổ biến ở một số vùng đất trên tiểu lục địa Ấn Độ; tục đa phu thỉnh thoảng vẫn được thực hành nơi những góc khuất lạc hậu; và Niyoga - thứ vốn chưa bao giờ mất đi vị thế của một giáo lý chính thống - dạo gần đây lại càng được xưng tụng đặc biệt bởi Swami Dayanand cùng giáo phái mới do ông sáng lập. Tập tục mà ta đang bàn tới - vốn hiện diện dưới một hình thái biến thể mang tên tục nối dây (levirate)9 trong cộng đồng người Do Thái - đã cắm rễ ở Ấn Độ từ thuở hồng hoang, và chúng ta cũng từng bắt gặp những minh chứng quan trọng của nó trong các trang sách trước.

Bàn về chủ đề Niyoga, Manu - nhà lập pháp vĩ đại của cõi Ấn Độ - đã truyền dạy như sau: "Nếu một người chồng thuộc tầng lớp nô bộc không có con nối dõi, thì những đứa trẻ hằng mong đợi có thể được sinh ra bởi chính anh trai của người đó hoặc một người sapinda nào khác, thông qua người vợ đã được ủy quyền hợp lệ. Trong đêm tối tĩnh mịch, sau khi được thoa đẫm bơ tinh khiết, người họ hàng ruột thịt được chỉ định ấy sẽ gieo mầm để hạ sinh một người con trai duy nhất - tuyệt đối không có đứa con thứ hai - cho người góa phụ hoặc người vợ không có con. Tuy nhiên, đối với những người đàn ông thuộc các giai cấp tái sinh10, không một góa phụ hay người vợ vô tự nào được phép mang thai với bất kỳ người đàn ông nào khác ngoại trừ phu quân của chính mình."11

Tuy vậy, Swami Dayanand lại không hề giới hạn việc thực hành Niyoga trong khuôn khổ các đẳng cấp thấp kém, hay gói gọn trong những trường hợp mà Manu từng răn dạy. Nhà cải cách hiện đại này đã tiến xa hơn thế rất nhiều, khi truyền bá một giáo lý - vốn được cho là khởi nguồn từ kinh Veda - cho phép nới lỏng những chuẩn mực trong mối quan hệ giữa hai giới, một tư tưởng mà nói không ngoa thì thực sự đã gây ra cú sốc tột độ giữa thế kỷ mười chín này.12 Tôi cũng xin được giãi bày thêm rằng, bản thân tôi đã được khẳng định vô cùng chắc chắn rằng những giáo huấn của Swami Dayanand về Niyoga trên thực tế không hề được các tín đồ của ông áp dụng; thế nhưng, xu hướng nguy hiểm tiềm tàng ẩn sau những lời dạy ấy, theo tôi, là điều không thể chối cãi.

Kể từ những thời kỳ xa xăm nhất mà các thi hào của "Ramayana" và "Mahabharata" có thể chạm tới, hỏa táng người khuất núi đã là một nếp phong tục in sâu vào cõi Ấn. Chính vì lẽ đó, trong hành trình khám phá nền khảo cổ học Ấn Độ, chúng ta đã vĩnh viễn đánh mất những nguồn sử liệu quý giá ấy - những lăng tẩm, nấm mồ, mộ đá và bia mộ - những chứng tích mà ở các vùng đất khác như Ai Cập, vốn luôn là một kho tàng khổng lồ chất chứa bao sự thật về các chủng tộc người thuở sơ khai.

Cốt cách linh thiêng của các tu sĩ Bà La Môn luôn nhận được sự tôn vinh trọn vẹn trong các cuốn Sử thi. Hơn thế nữa, có một thực tế đáng kinh ngạc là, ngoại trừ việc một bộ phận lớn người Hindu đã đoạn tuyệt với thịt động vật và đồ uống có cồn, gần như chẳng có biến đổi nào đáng kể trong những lề thói xã hội của người dân kể từ thời đại anh hùng được khắc họa qua những vần thơ. Dù sao đi chăng nữa, ta chẳng cần mảy may nghi ngờ rằng việc kiêng khem thịt thà cùng đủ loại rượu bia qua bao thăng trầm thế hệ đã chuyển hóa sâu sắc bản ngã của cả một quốc gia; và có lẽ, hơn bất cứ sức mạnh nào khác, chính điều đó đã âm thầm gột rửa một người Aryan ngạo mạn, hiếu chiến, để nhào nặn nên một người Hindu tĩnh tại, hiền hòa và ngập tràn suy tưởng.13

Chẳng có gì phải bàn cãi khi khẳng định rằng người Ấn Độ đã vươn tới một tầm cao văn hóa rực rỡ từ rất lâu trước khi các cuốn Sử thi được đúc kết lại trong hình hài hiện tại. Hàng loạt các ngành nghệ thuật thủ công dường như đã nở rộ huy hoàng, và chúng ta từng được chứng kiến cách các thi hào nâng niu, tận hưởng vẻ đẹp huyền bí của những cánh rừng sâu, cũng như sự rung cảm mãnh liệt của họ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của những rặng núi thiêng. Bản thân điều này vốn dĩ đã là một sự thật đáng kinh ngạc, bởi lẽ, vẻ đẹp diệu kỳ của cảnh sắc thiên nhiên dường như vẫn còn là điều ẩn khuất đối với nhận thức của phương Tây cho mãi tới những kỷ nguyên muộn màng sau này.

Lý tưởng về vẻ đẹp con người (đặc biệt là sắc vóc phái nữ) từng ngự trị trong tâm thức của các thi sĩ Hindu đã được phác họa rõ nét qua muôn vàn lời ẩn dụ và trích dẫn trong những chương trước. Đó tuyệt nhiên không phải là chuẩn mực dung nhan hiện thân nơi nữ thần Venus của Melos hay thần Apollo Belvedere; thế nhưng, mỗi một thời đại và mỗi một quốc gia đều mang trong mình những chân lý thẩm mỹ thiêng liêng của riêng họ.

Trải dọc theo thiên truyện ngắn gọn kể trên, ta bắt gặp muôn vàn minh chứng sống động về đỉnh cao tư duy mà trí tưởng tượng suy lý của người Hindu đã chạm đến trong công cuộc giải mã những ẩn ngữ về số phận con người. Điều này đặc biệt tỏa sáng qua lăng kính phiếm thần đầy vi diệu của "Bhagavatgita". Dẫu cho có chấp nhận niên đại mà các học giả châu Âu áp đặt lên nó, và dẫu cho có thừa nhận sự vay mượn giả định của các tác giả từ những tư tưởng Cơ đốc giáo, thì tác phẩm ấy vẫn dư sức khơi dậy niềm ngưỡng mộ tột bậc trong ta bởi tầm vóc vĩ đại trong nhận thức và sự khoáng đạt vô ngần trong từng dòng xúc cảm - những triết lý đã được xướng lên hàng thế kỷ trước khi Luther kịp đóng đinh 95 luận đề lừng danh của mình lên cánh cửa nhà thờ ở Wittenberg.

Năng lực tưởng tượng diệu kỳ dường như chưa một lần chối bỏ các thi nhân của Sử thi Ấn Độ, những người vẫn thường trượt dài trong sự cuồng si tột độ của thói cường điệu. Thế mà, mặc cho thái độ rẻ rúng tột cùng của họ trước những xác suất logic hay tính nhất quán, và mặc cho sự khinh mạn cao ngạo đối với những giới hạn của con số, ta vẫn không tài nào phủ nhận được một sự thật rằng: những thi sĩ Hindu ấy, bằng đôi cánh tưởng tượng tự do, đã hoàn toàn thu phục trái tim ta. Họ mê hoặc và cuốn ta trôi theo những miền ngạc nhiên, thích thú, băng qua muôn vàn viễn cảnh tráng lệ do chính tay họ kiến tạo. Hơn thế nữa, khi cất bước đồng hành cùng họ, người ta khó lòng rũ bỏ được cảm giác rằng bầu khí quyển tri thức đang bao bọc lấy họ vốn mạnh mẽ và đẫm chất tâm linh hơn vạn phần so với bầu không khí mà những người Hy Lạp của Homer hay những người Teuton của các vần thơ Edda từng hít thở.

Nhìn chung, có thể nhận định rằng, khi những bộ Sử thi Ấn Độ truyền đến tay chúng ta, chúng đã hé mở cho những học giả cẩn trọng một bức tranh về đời sống xã hội sơ khai tự do và mạnh mẽ thời cổ đại. Ẩn dưới những biến động của thời cuộc, lớp vỏ bọc của một nền văn minh đến sau - tuy tinh xảo hơn nhưng lại kém phần lành mạnh và thấm đẫm ảnh hưởng giáo quyền - dần bao trùm lấy chúng. Hơn thế nữa, những tác phẩm này còn phơi bày một sự pha trộn kỳ lạ giữa "đạo lý của sự thù địch" và "đạo lý của sự hữu hảo", mượn lời của Herbert Spencer. Chặng đường sau này trong lịch sử Ấn Độ - thời đại Bà La Môn giáo kế thừa thời kỳ anh hùng và nối dài cho đến tận ngày nay - theo thiển ý của tôi, hoàn toàn có thể đem ra sánh ngang với thời Trung cổ ở châu Âu. Đó là lúc uy quyền của giới tăng lữ chiếm thế thượng phong, trong khi sức sống của cả một quốc gia lại mờ nhạt, yếu ớt. Châu Âu, nhờ luồng gió của tinh thần công nghiệp và khoa học hiện đại, đã tự mình vùng thoát khỏi những xiềng xích vô hình của Thời kỳ Tăm tối. Vậy đến bao giờ Ấn Độ mới làm được điều tương tự? Nơi ấy sẽ còn đắm chìm trong những cuộc tranh luận thần học vô bổ thêm bao nhiêu thế kỷ nữa? Chẳng khác nào những người Hy Lạp ở đế quốc Byzantine thuở trước, mải mê tranh cãi trong khi gót giày của kẻ chinh phục đã nện thình thịch ngoài cổng thành?

Nhiệm vụ đầy lý thú này đã ngốn của tôi nhiều thời gian hơn so với những gì tôi mường tượng thuở ban đầu. Thế nhưng, giờ phút này đây, khi khép lại công trình, tôi giữ trong mình niềm trân trọng sâu sắc dành cho tài năng của một dân tộc đã kiến tạo nên những tuyệt tác như "Ramayana" và "Mahabharata".

Dù ở bất kỳ thời đại nào - ngay cả giữa kỷ nguyên công nghiệp với nhịp độ hối hả của tiến bộ khoa học và thành tựu cơ khí như thời đại chúng ta - tâm khảm con người vẫn luôn hướng về quá khứ bằng một niềm khao khát trìu mến. Chúng ta vẫn mong mỏi được chiêm ngưỡng những bức tranh tái hiện lối sống và nếp nghĩ của nhân loại thuở tiền sử, vẫn háo hức lắng nghe những khúc ca vọng về từ ngàn xưa, mang theo khát vọng mãnh liệt và ước mơ cao cả của những thế hệ đã yên giấc ngàn thu. Bởi thế, tôi hy vọng công trình nhỏ bé của mình, dù chỉ là nét phác thảo của một bức tranh vĩ mô hay tiếng vọng của một khúc ca huyền thoại, vẫn sẽ đón nhận được sự ưu ái từ công chúng. Mong sao tác phẩm này sẽ mở ra trước mắt những độc giả dùng tiếng Anh một thế giới phương Đông tuy xa lạ nhưng lại chan chứa những tư tưởng và tri nhận đầy cuốn hút. Và trên hết thảy, tôi hy vọng những trang sách của mình đã lột tả - như tôi hằng tin tưởng - một cách công tâm và vẹn toàn nhất về những bộ Sử thi vĩ đại của Ấn Độ.


CHISWICK PRESS:-CHARLES WHITTINGHAM VÀ CO.
TOOKS COURT CHANCERY LANE, LONDON.



  1. “Mahabharata, Bhisma Parva,” phần lix., trang 224. ↩

  2. “Tư tưởng chủ đạo của thời cổ đại không nằm ở sự tiến bộ, mà xoay quanh một chu kỳ của những biến dịch, nơi vạn vật rời khỏi tính nguyên bản nhất thể rồi lại quy về cội nguồn ấy. Hay nói theo cách thông thường của chúng ta, sự phân hóa và sự hội nhập không diễn ra song song mà luân phiên tiếp nối nhau. Ý niệm này dường như cũng được Aristotle đồng tình.”-Caird, “Evolution of Religion,” tập i., trang 21. ↩

  3. Sanjaya có thể đang ám chỉ vị thần nào? Chắc hẳn đó phải là định mệnh, là số kiếp nghiệt ngã mà ông vẫn hằng trăn trở. ↩

  4. “Mahabharata, Udyoga Parva,” phần clix. ↩

  5. “Mahabharata, Bhisma Parva,” phần lix., trang 217, và phần lxxxii., trang 295. ↩

  6. Dẫu vậy, nếu quý độc giả cảm thấy những suy luận lịch sử này đủ sức gợi mở và mang nhiều giá trị, xin hãy tham khảo loạt bài luận mang tựa đề “Early History of Northern India” của tác giả F. W. Hewitt, được đăng tải trên “Journal of the Royal Asiatic Society” vào các năm 1888-89-90. ↩

  7. Renan, “Recollections of my Youth,” trang 72-75. ↩

  8. “Vạn vật trên thế gian nương tựa vào nhau để duy trì sự sống.”-“Mahabharata, Bhisma Parva,” trang 16. ↩

  9. Deut. xxv. 5 10, và Gen. xxxviii. ↩

  10. (ND) Thuật ngữ gốc là 'dvija' (hai lần sinh), chỉ ba đẳng cấp cao trong xã hội Hindu (Bà La Môn, Sát-đế-lỵ và Phệ-xá). 'Lần sinh thứ hai' ám chỉ nghi lễ thụ pháp tâm linh tôn giáo thay vì sự sinh ra về mặt thể xác, khái niệm này hoàn toàn không liên quan đến việc đầu thai hay luân hồi. ↩

  11. Manu, ix. 59, 60 và 64. ↩

  12. Liên quan đến tục lệ Niyoga, quý độc giả có thể tham khảo thêm tiểu luận “Dissertation on Early Law and Custom” của Sir Henry Maine, trang 100 và 107, cùng tác phẩm “A Treatise on Hindu Law and Usage” do John D. Mayne chấp bút, chương iv. ↩

  13. Tục kiêng khem thịt động vật và các loại rượu mạnh rất có thể bắt nguồn từ ảnh hưởng của Phật giáo, dẫu cho chính Đức Phật - như ai nấy đều rõ - cũng từng dùng thịt lợn. Đích thân những học giả uyên bác người Ấn Độ đã cam đoan với tôi rằng, trong vài năm trở lại đây, nhiều tầng lớp cư dân đã bắt đầu có xu hướng rõ rệt trong việc sử dụng lại các bữa ăn có thịt cùng đồ uống chứa cồn. Về bản chất, đó chính là sự khôi phục lại nếp sống xa xưa của những người Aryan cổ đại. ↩