Đã hiệu đính

CHƯƠNG III. LỄ HỘI RAM LILA HAY VỞ KỊCH VỀ RAMA

Giờ đây, chúng ta hãy cùng theo dõi xem những biến cố bi tráng của bản sử thi Ấn Độ này đã được tái hiện đầy kịch tính ra sao trước mắt khán giả thế kỷ mười chín.

Nhiều ngày trước khi lễ hội Dasahra chính thức cử hành, giữa các khu chợ sầm uất, người ta đã bắt gặp những gã đàn ông cải trang thành khỉ. Họ rảo bước cùng phường trống nhằm quyên góp tiền cho hội chợ - nơi những trường đoạn đặc sắc nhất của pho sử thi được trình diễn thường niên, chia thành từng hồi qua lối kịch câm chất phác, sơ sài. Có những lúc, cảnh mở màn bắt đầu bằng một đám rước dâu vĩ đại. Đơn cử như một đám rước với quy mô đồ sộ chưa từng thấy đã diễn ra tại Lahore vào năm 1884, nhờ vào nguồn tài trợ hào phóng từ các chủ ngân hàng cự phú. Đám rước khổng lồ, rực rỡ sắc màu ấy được tạo nên từ vô vàn những yếu tố hỗn tạp. Dẫn đầu là bầy lạc đà lững thững, theo sau là vài thớt voi to lớn vạm vỡ. Vô số kỵ nhân trên những con ngựa tuyệt đẹp đã điểm tô thêm vẻ trang nghiêm cho cả đoàn rước. Ba bốn cỗ xe ngựa chật ních người, được trang hoàng lộng lẫy với kim sa lấp lánh, muôn hoa khoe sắc cùng những dải lụa sặc sỡ, nhận lãnh vinh dự chuyên chở những bằng hữu của Rama. Nổi bật giữa biển người là những chiếc kiệu khổng lồ, mỗi chiếc phải cần tới mười sáu, có khi hai mươi tráng phu kề vai gánh vác. Trên vài cỗ kiệu, những nam nhân sắm vai chư thần và tiên nữ Ấn Độ hiện lên trong đủ mọi dáng vẻ kỳ dị. Ở những cỗ kiệu khác, các nữ ca nhi được mến mộ ngồi xổm cùng dàn nhạc công tùy tùng, phô diễn tài nghệ ca xướng và vẻ duyên dáng làm nức lòng người hâm mộ. Tiếng đại bác giả nổ rền vang, hòa cùng vũ công nhảy múa, phường hề diễn trò, nhạc công tấu nhạc và cơ man nào là dân chúng dạo bước. Tất thảy tạo nên một khung cảnh vô cùng huyên náo, bụi mù mịt, đủ sức thỏa mãn những đám đông Ấn Độ vốn đam mê hội hè nhất. Người anh hùng Rama và người anh em luôn kề vai sát cánh của chàng được kéo đi trên những chiến mã bằng gỗ, ngự trên một bệ bánh xe. Họ ngồi kề bên nhau, tay lăm lăm những cây cung cùng mũi tên nhỏ xíu trông có phần tức cười. Trong khi đó, các nhân vật thần thoại kém phần quan trọng hơn, bất luận là thần thánh hay người phàm, đều lũ lượt nối gót trên kiệu hoặc xe ngựa. Đoàn rước gợi lên một cảm giác lộn xộn đến đáng buồn, phơi bày sự pha trộn quen thuộc giữa xa hoa và diêm dúa, giữa phú quý và bần hàn - một bức tranh vốn đã quá đỗi thân thuộc trên mảnh đất Ấn Độ.

Một điểm nhấn lạ kỳ của lễ hội Dasahra là có vô số người đàn ông mang khuôn mặt bôi vằn vện sơn và tro thiêng. Họ đi lại với những thanh xiên sắt hay đoạn mây rừng đâm xuyên qua cánh tay, đôi chân, mạn sườn, cuống họng, và thậm chí xuyên qua cả lưỡi. Có bận, tôi đã gọi một nhóm những người như thế dừng lại để tận mắt quan sát. Nhằm phản bác lại mối hoài nghi của tôi rằng những thanh xiên ấy vốn chỉ luồn qua các vết sẹo cũ, kẻ thủ lĩnh phẫn nộ kéo một gã thanh niên tới trước mặt tôi, mạnh tay véo một nếp da dày trên cẳng tay gã, rồi lập tức đâm xuyên qua đó một mũi kim sắt cùn, thô to chẳng kém một chiếc bút chì thông thường. Tuyệt nhiên không một giọt máu nào ứa ra, và gã thanh niên trải qua thủ thuật ấy vẫn điềm nhiên không mảy may nao núng. Tiếp đó, sau khi chứng minh cho tôi thấy vùng da dưới cằm mình hoàn toàn vẹn nguyên, gã thủ lĩnh liền tự tay đâm ngập một thanh xiên qua yết hầu. Trong cả hai trường hợp, dẫu phải dùng lực khá mạnh để đâm thủng da thịt, song tuyệt đối không có máu nhỏ giọt. Những người đàn ông này - những kẻ luôn được những người bình dân ngước nhìn bằng ánh mắt kính sợ khôn nguôi - đã quả quyết với tôi rằng họ được chở che khỏi đớn đau và thương tích nhờ một câu thần chú bí mật của Đạo sư Gorucknath, thứ mật ngữ mà chỉ riêng họ mới tỏ tường.

Rất có thể, nhờ kinh nghiệm đúc kết qua nhiều thế hệ, họ đã thuộc nằm lòng những vị trí an toàn trên cơ thể để đâm xiên; thế nhưng, một thầy lang bản xứ từng tiết lộ với tôi rằng những hậu quả khôn lường đôi khi vẫn ập đến từ chính hành vi tự hành xác vô bổ ấy. Sau rốt, chỉ với một đồng rupee được cho, những gã kỳ quặc này đã rời đi trong sự hài lòng thấy rõ.

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG VỚI DAO VÀ XIÊN ĐÂM XUYÊN DA THỊT.

image

(Từ một bức ảnh của W. C. Oman.)

Gần đền thờ thần Vishnu, kề bên khu trạm nghỉ Serai của Rattan Singh, mọi khâu chuẩn bị cho một buổi diễn kịch tái hiện trang sử thi lẫy lừng của Rama đã được tiến hành. Khi tôi vừa đặt chân đến, đã có chừng năm hay sáu trăm người tụ họp. Phụ nữ và trẻ em, khoác lên mình những bộ y phục lễ hội đẹp nhất, chen chúc trên mái của các tòa nhà quanh đó để thưởng lãm màn trình diễn. Sắc đỏ vàng rực rỡ từ y phục của họ, hòa cùng tiếng leng keng của những chiếc vòng chân, đã thổi bừng sức sống và điểm tô sắc màu cho toàn bộ khung cảnh. Đàn ông và các cậu thiếu niên đứng ở phía dưới. Ba vòng quay ngựa gỗ-loại hình giải trí thường được dân chúng ưa chuộng-đang hoạt động hết công suất, ngân lên những tiếng cót két kẽo kẹt đến rợn người.

Về phần chính của lễ hội Ram Lila, dấu hiệu duy nhất thuở ban đầu chỉ là hai con ngựa gỗ. Chúng mang dáng dấp tựa như những con ngựa đồ chơi thường thấy trong các nhà trẻ ở châu Âu, chỉ khác là lớn gần bằng kích thước thật, đứng sóng đôi trên một bệ gỗ gắn bánh xe. Chúng được sơn trắng toát, điểm xuyết những mảng màu đỏ sặc sỡ khắp thân mình. Vài cậu bé mang mặt nạ khỉ, tay cầm những cành cây nhỏ nhảy nhót loanh quanh. Đám đông ngày một đông hơn, ai nấy đều háo hức ngóng trông sự xuất hiện của các diễn viên. Nhưng ngay cả vào lúc này, một số thương nhân tháo vát, vây quanh bởi cơ man nồi niêu, chum vại cùng đủ loại vật dụng, vẫn mải mê buôn bán dầu mỡ ngay giữa biển người tụ tập; trong khi ở một góc khác, vài người phụ nữ vẫn đang cần mẫn sàng sảy trấu ra khỏi lúa mì, tung những đám mây bụi mù mịt vào người xem. Cuối cùng, một tiếng reo hò vang dậy báo hiệu sự hiện diện của Rama và Lakshmana. Cả hai được rước trên một chiếc kiệu lộng lẫy bởi một nhóm người. Đây chính là tín hiệu khai màn. Đám đông bắt đầu ổn định chỗ ngồi. Không gian ở giữa được dọn dẹp trống trải. Rama và Lakshmana đi chân trần dạo quanh đấu trường để ra mắt khán giả. Họ vận những bộ y phục màu vàng điểm xuyết kim tuyến, đầu đội những chiếc mũ cao được trang trí cầu kỳ-mà sau này tôi tình cờ biết được, có giá chính xác là ba rupee mỗi chiếc. Những vòng hoa quấn trĩu nặng quanh cổ họ, dường như phủ kín cả những chiếc mũ ngự trị trên đầu. Khuôn mặt họ được trát một lớp phấn dày có màu vàng rực như củ nghệ, điểm thêm chút bột đỏ. Rõ ràng là, những sắc tố này được xem là phù hợp nhất để suy tôn vẻ đẹp của một làn da Ấn Độ. Hai anh em cầm theo những cây cung nhỏ, tựa như cung tên thường thấy trong tay thần Cupid, và được tháp tùng bởi một người đàn ông không ngừng phất nhịp cây chổi đuôi bò (chowree) trên đầu họ. Sau màn chào sân sơ bộ này, trong lúc vài nhân vật mang mặt nạ bước ra sân khấu, một vị đạo sĩ Bà La Môn tóc trắng phơ, tay nâng cuốn sách (đó là bản tiếng Hindi của Tulsi Das12), bắt đầu truyền đạt cho các diễn viên về từng vai diễn của họ. Ngồi quây quần bên nhau-từ các á thần, những bầy khỉ, đến vị đạo sĩ Bà La Môn-giữa không gian rộng mở, ngay trước mắt toàn thể khán giả, họ học hỏi màn diễn đầu tiên trong ngày. Để thể hiện sự tôn kính đối với vị thế của hai anh em, và có lẽ cũng vì muốn gìn giữ những bộ y phục lộng lẫy, Rama cùng anh trai được bố trí an tọa trên một tấm thảm trắng, trong khi những người khác ngồi xổm thoải mái trên nền đất vương đầy bụi bặm. Khi đã nhận được chỉ thị, các diễn viên bắt đầu thực hiện vai diễn theo một phong cách khiến người ngoài rất khó thấu hiểu ý đồ thực sự của họ; nhưng các khán giả đạo Hindu, những người vốn đã nằm lòng câu chuyện thần thoại và lối diễn kịch truyền thống này, dường như vẫn nhận ra trọn vẹn những sự kiện cốt lõi mà vở kịch muốn lưu truyền. Khép lại một màn hay một cảnh, Rama cùng anh trai và những người còn lại lại tụ họp để lắng nghe chỉ dẫn từ vị đạo diễn sân khấu Bà La Môn luống tuổi, rồi sau đó, họ lại tản ra để tiếp tục nhập vai theo một phong cách ít nhiều vẫn còn dang dở. Một phần của màn trình diễn bao gồm việc kéo hai anh em đi vòng quanh đấu trường trên những con ngựa gỗ. Lối diễn kịch hay kịch câm này vô cùng thô sơ, và toàn bộ cảnh tượng trông có vẻ cực kỳ trẻ con. Thế nhưng, câu chuyện cổ kính ấy, dẫu được phô diễn trước mắt họ theo cách như vậy, hiển nhiên vẫn được khán giả trân trọng không kém gì những bậc tổ tiên của họ trong suốt năm mươi thế hệ qua. Và dù cho màn trình diễn có thô sơ và ngây ngô đến đâu, nó có lẽ cũng không mảy may kém cạnh những Vở kịch Phép màu3 từng làm say lòng cha ông chúng ta thuở Trung Cổ.

Chuỗi diễn xướng ấy kéo dài suốt mấy ngày liền. Trong đó, những màn trình diễn được công chúng yêu thích nhất chính là phân cảnh xẻo mũi nữ quỷ Surpanakha và biến cố nàng Sita bị đoạt đi. Phân cảnh đầu tiên vốn dĩ chỉ là một màn tái hiện đầy bạo lực và hỗn loạn, chẳng hề có chút điểm nhấn nghệ thuật nào, song lại được khán giả hò reo đón nhận rầm rộ. Và rất có thể, sự cổ xúy ấy chính là ngọn nguồn gợi ý, đồng thời dung túng cho vô số vụ án xẻo mũi phụ nữ vẫn thường do những gã chồng hay ghen gây ra trên mảnh đất Ấn Độ. Đến phân cảnh thứ hai, vua Ravana lại lộ diện dưới vỏ bọc của một vị ẩn sĩ. Mô hình con nai thần được người ta kéo lê vòng quanh đấu trường. Đương nhiên, cả hoàng tử Rama cùng người anh em của chàng đều bị lừa rời đi, mải miết đuổi theo con thú giả. Còn lại một thân một mình, nàng Sita đã bị Ravana cướp đi. Vua kền kền Jatayus - được tái hiện qua hình ảnh một con chim giấy khổng lồ do một người đàn ông vác chạy ngược xuôi khắp chốn - đã quả cảm lao ra hòng giải cứu người phụ nữ. Thế nhưng, sau một cuộc đụng độ tuy ngắn ngủi mà dữ dội, vị điểu vương ấy đã bị con ác quỷ chém vỡ thành nhiều mảnh. Khép lại cuộc chiến đó, giữa sự xót xa của những người chứng kiến, nàng Sita đã bị cưỡng ép đưa về Lanka.

Sự lụi tàn của vương quốc Lanka cùng chiến thắng cuối cùng của Rama mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì thế, những phân đoạn này tuyệt đối không thể được dàn dựng qua quýt như bao màn diễn khác. Đối với những phân cảnh này, người ta phải cất công chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng, đồng thời cần dựng lên một sân khấu rộng lớn hết mức có thể - chẳng hạn như một bãi đất trống thênh thang - bởi hàng ngàn người dân sẽ kéo đến tụ hội về đây, chỉ để chứng kiến cảnh Lanka cùng bầy lũ ác quỷ bị ngọn lửa thiêu rụi.

Để phác họa một ví dụ tiêu biểu về cuộc công hãm và thiêu rụi thành Lanka, tôi xin mạn phép thuật lại câu chuyện mắt thấy tai nghe tại doanh trại Meean Meer vài năm về trước. Lễ hội khi ấy do chính các binh sĩ sepoy4 thuộc một vài trung đoàn bản xứ đồn trú tại đó đứng ra tổ chức.

Trên một bãi đất trống, dòng người náo nức chen chân nhau tụ hội. Các lính sepoy đã giữ cho một khoảng không gian thênh thang được trống trải dành riêng cho màn trình diễn Ram Lila, đồng thời cắt cử lính canh đứng thành hàng rào cự ly ngắn. Ngự trị gần vị trí trung tâm bãi đất là hai bức tượng nộm khổng lồ, không có chân, sừng sững cao chừng bốn mươi feet, hiện thân cho quỷ vương Ravana và Kumbhakarna. Mỗi pho tượng dang rộng đôi tay sang hai bên ngang tầm vai, tạo thành một tư thế vô cùng ngô nghê, hệt như nét vẽ nguệch ngoạc về con người mà bọn trẻ con vẫn thường thích thú khắc họa. Ravana mang mười khuôn mặt,5 cùng hai cánh tay mọc ra hai mươi bàn tay,6 trong khi Kumbhakarna chỉ có vỏn vẹn hai tay. Chúng đứng đó, vị vua quỷ đáng sợ của Lanka cùng người anh em cũng không kém phần đáng gờm, mang một vẻ quái đản dị hợm. Nằm sang một bên, đối diện và quay mặt về phía các bức tượng, là một cỗ chiến xa bằng gỗ điểm tô màu sắc-vốn là cỗ xe do vua của các chư thiên ban cho Rama mượn trong thời khắc trọng đại này-được đặt trên những chiếc bánh xe nhỏ xíu tựa đồ chơi trẻ nít, với hai chú ngựa gỗ buộc phía trước. Ngự trên chiến xa là hai thiếu niên khôi ngô, đi chân trần, khoác áo choàng lụa vàng, tay giương cung. Những chiếc mũ các cậu đội mang hình dáng từa tựa vương miện giám mục, được đính kết từ lụa đỏ và sắc ánh bạc. Hẳn độc giả cũng dễ dàng nhận ra, hai thiếu niên ấy sắm vai Rama và người anh em Lakshmana. Tháp tùng cỗ xe là độ ba mươi người đàn ông khoác y phục đỏ sẫm, gương mặt vằn vện những vệt sơn, hóa thân thành đạo quân khỉ đã phò tá các vị anh hùng. Về phía bên phải của hai bức tượng khổng lồ, một không gian được rào chắn cẩn thận tượng trưng cho kinh thành hay chiến lũy Lanka. Khắp bãi đất, người ta còn bắt gặp bóng dáng các nhân vật thần thoại khác thẩn thơ qua lại, đôi khi chẳng mang một mục đích rõ ràng nào. Hai người đàn ông cao lớn giả dạng nữ giới, vừa tung tăng nhảy múa vừa vung vẩy những thanh gươm trần. Họ chính là các nữ quỷ Rakshasa. Lại có một gã hóa trang sao cho bệ vệ mập mạp, khoác áo vàng, xõa mái tóc dài và quấn những con rắn quanh cổ, đang được kéo đi khắp bãi cỏ trên một con bò đực bằng gỗ. Nhân vật béo phệ ấy không ai khác chính là Mahadeva (Siva) đang cưỡi trên thần ngưu của ngài (Nandi). Đến đây, màn trình diễn dường như vẫn giữ trọn vẹn màu sắc thần thoại và đặc trưng Hindu giáo. Thế nhưng, bởi một sự đan xen thời đại kỳ quặc, những nét chấm phá của một hội chợ thời thượng lại ngang nhiên chen chân vào vở kịch cổ xưa. Phải chăng thị hiếu của người dân Ấn Độ trong thế kỷ mười chín này đòi hỏi một thứ gì đó tân kỳ hơn là thiên sử thi cổ đại thuần túy. Dẫu lý do là gì, tôi vẫn không khỏi kinh ngạc khi nhìn thấy, ngay bên trong khu vực rào chắn, vài người bản xứ mặt bôi sơn đang đóng giả những người châu Âu thuộc cả hai giới, mang đến sự thích thú tột độ cho đám đông người đứng xem. Một gã khoác áo lông thú xù xì, tay cầm chiếc ô rách che lơ lửng trên đầu, theo sau là một tên tùy tùng cải trang thành cảnh sát châu Âu, được hãnh diện giới thiệu với khán giả là "Nawab7 xứ Cabul." Lại còn có những con gấu giả đi cùng những người quản thú, và cả loạt trò biểu diễn kỳ quái lố lăng cốt chỉ để mua vui cho dân chúng. Mặc dù đại đa số khán giả là người bản địa, vẫn có không ít người châu Âu góp mặt, người thì ngồi trong xe ngựa, kẻ thì cưỡi voi, lác đác đôi ba người vắt vẻo trên lưng lạc đà. Khung cảnh vốn dĩ kỳ lạ và đẹp như tranh vẽ, bỗng chốc trở nên rộn ràng náo nhiệt hơn bao giờ hết khi, vào lúc các hoạt động sắp đến hồi kết, tiếng nổ chát chúa của những quả bom và ánh sáng lóe lên từ những quả pháo thăng thiên đã làm bầy ngựa voi kinh hãi. Một con voi khổng lồ, cõng trên lưng chiếc kiệu lớn chở một quý ông cùng ba quý bà châu Âu, bỗng trở thành tâm điểm chú ý và khiến tôi có chút lo âu, bởi những bước chân hoảng loạn mất kiểm soát của nó dường như đe dọa giáng họa xuống người tôi, hoặc chí ít là làm hỏng cỗ xe của tôi.

"VỊ VUA QUỶ ĐÁNG SỢ CỦA LANKA VÀ NGƯỜI ANH EM CŨNG KHÔNG KÉM PHẦN ĐÁNG GỜM CỦA HẮN."

image

(Từ một bức ảnh của W. C. Oman.)

Các hoạt động chính thức mở màn bằng cảnh cỗ chiến xa của Rama, với bầy ngựa gỗ cùng mọi thứ trên xe, được nhóm người kéo đi một vòng quanh khu rào chắn, trong sự hộ tống của đạo quân khỉ. Động thái này tựa hồ một lời thách thức gửi gắm đến kẻ thù; bởi lẽ sang vòng thứ hai, một toán người khoác hắc y hoặc lam phục thẫm, những kẻ nãy giờ vẫn lẩn khuất khỏi tầm mắt, đã bất thần lao ra cản bước tiến của Rama. Những chiến binh đen đúa ấy chính là loài quỷ Rakshasa hung tợn. Trước mặt chúng, Rama cùng các đồng minh buộc phải tháo lui, chịu cảnh bị những kẻ chiến thắng truy đuổi gắt gao. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, thế trận dường như xoay chiều. Cán cân thắng lợi đã đổi phe! Lũ quỷ Rakshasa tháo chạy, bị Rama và đoàn quân của chàng đuổi đánh sát nút. Cảnh thành bại luân phiên của hai phe lặp đi lặp lại vài bận, rõ ràng cốt chỉ để kéo dài thời gian, tạo nên một màn trình diễn tẻ nhạt và đậm chất trẻ con. Mỗi bận xông lên, Rama lại được kiệu đi và bắn ra những mũi tên yếu ớt, hiếm khi vượt qua khỏi hàng người đang kéo xe cho chàng. Trái lại, khi phải thoái lui trước kẻ địch, người anh hùng thường chọn cách đi bộ, có lẽ để tránh việc phải quay lưng tháo chạy trước mặt đối thủ. Cuối cùng, các vị á thần đã phát động một cuộc tổng tấn công vũ bão và giành thắng lợi vang dội. Đạo quân hắc y bị cho là đã tận diệt hoàn toàn. Chúng nằm sóng soài trên bãi cỏ, diễn cảnh hấp hối và tử vong trong một hay hai phút, rồi sau đó, bằng một sự mâu thuẫn đến nực cười, lại lồm cồm bò dậy và ngồi xổm xuống cỏ để thản nhiên theo dõi những diễn biến tiếp theo. Khi thế lực của quỷ vương Ravana bị đánh bại như thế, vô số pháo hoa được thắp sáng rực rỡ khắp cả cánh đồng. Tiếp đó, pháo đài Lanka bị châm lửa đốt, và bởi bên trong chứa đầy pháo hoa, nó đã cống hiến một màn trình diễn chói lòa rực rỡ. Đến lượt Kumbhakarna bỏ mạng, cũng trong một biển lửa bừng sáng của pháo thăng thiên và giữa tiếng sấm rền của những quả bom nổ tung. Và cuối cùng, bức tượng khổng lồ Ravana biến mất, theo một cách mà bất kỳ người ngoài cuộc nào cũng sẽ thấy giống hệt như nó tự bốc cháy. Xuyên suốt thời gian vở kịch diễn ra, một ban nhạc kèn đồng của trung đoàn không ngừng tấu lên các bản nhạc châu Âu; thế nên có thể nói rằng, đạo quân của Rama đã được tiếp thêm nhuệ khí để công hãm thành Lanka bằng chính thứ âm nhạc rung động tâm can của các nhà soạn nhạc phương Tây.

Đó là tất cả! Sita, người thê tử tận tụy, chân thành và chan chứa tình yêu thương, lại không hề được đưa ra sân khấu trình diễn. Vai trò của người phụ nữ trong bối cảnh này bị hạ thấp thành một vị trí thứ yếu, đành phó mặc cho trí tưởng tượng của khán giả. Rama chiến thắng là tất cả; nàng Sita chịu nhiều đau khổ lại bị lãng quên trong buổi lễ này. Tuy vậy, người vợ hiền thục của Rama vẫn ngự trị vững chắc trong niềm ái mộ của dân chúng quê hương nàng, và thiên sử về nàng vẫn được khắc ghi rành rọt. Tôi từng thấy bức hình cỗ xe chở Sita lúc bị bắt cóc được xăm trên cánh tay của một người phụ nữ vô học thuộc tầng lớp thấp, và khi dò hỏi mới hay rằng cô ấy thuộc nằm lòng câu chuyện vô cùng xa xưa này.

Lễ hội Ram Lila mà tôi vừa phác họa là một ví dụ vô cùng sinh động về dịp kỷ niệm diễn ra hàng năm. Thông thường, người ta dùng những bức tượng nộm khổng lồ nhồi bằng rơm rạ để tượng trưng cho lũ quỷ. Rama và Lakshmana ngự trên một bục biểu diễn, được những người đàn ông kiệu trên vai. Sau khi rảo bước ngang dọc qua lại bãi đất hết bận này đến bận khác mà chẳng có mục đích nào rõ rệt, cuối cùng họ sẽ châm lửa thiêu rụi các bức tượng nộm. Ngọn lửa bốc lên cũng là lúc đặt dấu chấm hết cho vở kịch, nếu ta có thể gọi nó là một vở kịch; sau đó, đám đông hiếu kỳ tụ tập xem trò vui sẽ tản mát trong những đám mây bụi và khói. Người ta vẫn thường bắt gặp vài nhóm quỷ và Rama cùng trình diễn trên một bãi đất, do các phe phái đối nghịch, các khu phố khác nhau trong một thành phố, hoặc do các ngôi làng riêng biệt tự đứng ra thiết lập.

Có vẻ như việc tìm kiếm những thiếu niên đảm nhận vai diễn Rama cùng người anh em của chàng trong kỳ lễ hội Ram Lila luôn vấp phải những trở ngại nhất định. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ một niềm tin ăn sâu vào tiềm thức dân gian, cho rằng những thiếu niên này sẽ chẳng bao giờ sống đến tuổi trưởng thành.8 Bên cạnh đó, nếu gạt đi lăng kính mê tín, vẫn còn một lý do thực tế khác giải thích cho sự khó khăn này: Vào thời điểm bế mạc lễ hội, Rama và Lakshmana có nghĩa vụ phải dâng cúng tiền bạc và thết đãi giới tu sĩ Bà La Môn, một nghi thức đòi hỏi khoản chi phí vô cùng đắt đỏ. Bởi lẽ đó, tại những vùng biên ải hoang sơ dọc theo đôi bờ sông Indus, chuyện những thiếu niên xuất thân từ các gia đình khá giả bị bắt cóc để ép hóa thân thành Rama và Lakshmana trong kỳ hội thường niên từ lâu đã trở thành một việc thường thấy.

Xuyên suốt mười ngày diễn ra lễ hội, dân chúng thành kính tin rằng những thiếu niên ấy đã thực sự được thần linh nhập vào, khiến họ được suy tôn như chính hiện thân của đức thần Vishnu. Tuy nhiên, theo như những gì tôi được biết, chính sự sùng bái tuyệt đối này lại dẫn đến một nghịch lý đầy thú vị và oái oăm trong khâu tuyển chọn người vào vai Rama cùng Lakshmana. Vốn dĩ, hai vị anh hùng huyền sử đều xuất thân từ giai cấp chiến binh, và theo lẽ thường, những người tái hiện lại hình ảnh của họ ở thời đại ngày nay cũng phải mang thân thế tương đương. Thế nhưng, bởi họ được tôn kính như những bậc thần minh trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, sẽ là không phù hợp nếu các tu sĩ Bà La Môn phải cúi đầu và chạm vào chân những thanh niên thuộc đẳng cấp thấp kém hơn, dẫu cho họ đang khoác lên mình ánh hào quang của các á thần. Chính vì thế, vượt lên trên cả những khuôn mẫu lịch sử, các nam thanh niên thuộc đẳng cấp Bà La Môn thường được ưu ái lựa chọn để tái hiện lại chân dung của những vị anh hùng Kshatriya trong lễ hội Ram Lila.

Quan niệm của nghệ nhân Ấn Độ về hình hài và diện mạo của Rama, phần nào có thể được thấu hiểu qua những pho tượng đá cỡ nhỏ đương thời mà ta thường xuyên bắt gặp, ít nhất là tại vùng Bắc Ấn. Chúng thường được tạc từ đá cẩm thạch trắng, nhưng lại được phủ (hay nói đúng hơn là tráng men) một lớp màu đen tuyền, điểm duy nhất không bị nhuốm đen chính là tròng trắng của đôi mắt. Hàng chân mày được mạ vàng son, và chiếc khố hay dhoty-mảnh y phục duy nhất khoác trên thân thể vị nhân thần-cũng rực rỡ như thế. Hai món trang sức lớn, mang hình dáng tựa những cuộn chỉ ngắn, to bản, lấp kín các lỗ bấm rộng nơi dái tai và khiến chúng bành ra hai bên. Nổi bật trên vầng trán là dấu ấn giáo phái của thần Vishnu, với vạch đỏ làm tâm điểm, tỏa ra hai đường song song bằng vàng phân kỳ từ đỉnh mũi. Có thể nói, những pho tượng do bàn tay điêu khắc gia Ấn Độ tạo tác này luôn mang một vẻ cứng nhắc và phảng phất đôi nét rập khuôn.

Tại Bengal, Lễ hội Dasahra của vùng Bắc Ấn được thay thế bởi dịp lễ Durga Puja9; do đó, người dân nơi đây không trình diễn kịch Ram Lila. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ mình từng chiêm ngưỡng vào nhiều năm trước, ngay tại Bengal, một bộ sưu tập đồ sộ quy tụ các quần thể tượng khổng lồ khắc họa những điển tích kinh điển trong "Mahabharata" và "Ramayana". Công trình này được thực hiện dưới sự bảo trợ tài chính của Maharajah (vương công) xứ Burdwan, và công chúng hoàn toàn được tự do thưởng lãm trong buổi hội diễn thường niên đó. Hình thù kỳ dị của bầy quái vật trong sử thi Ấn Độ được thể hiện rõ nét qua những bức tượng đất sét lớn, khoác lên mình đủ loại màu sắc và trang phục lạ mắt. Một số pho tượng, tay lăm lăm những món binh khí quái lạ bước ra từ trí tưởng tượng của các thi nhân, đang đắm chìm vào một trận tử chiến bi tráng. Những mũi tên khổng lồ hiện lên đầy phô trương, trong đó vài mũi tiễn, nhờ hệ thống dây chống đỡ tinh vi, được mô phỏng như đang bay lơ lửng trên không trung để nhắm thẳng vào một chiến binh xấu số nào đó. Song song với đó, những bối cảnh thanh bình hơn cũng được dàn dựng tinh tế, điển hình như lúc ác vương Ravana, ngụy trang dưới nhân dạng một tu sĩ Bà La Môn, đến viếng thăm nàng Sita chốn rừng sâu. Nhiều vị đạo sĩ ẩn tu thánh thiện khác cũng góp mặt, mang theo tất thảy sự gớm ghiếc của vẻ lấm lem và gầy gò tiều tụy. Tùy thuộc vào thi liệu cốt lõi, vào quan niệm dân gian, hay vào nhãn quan thẩm mỹ và trí tưởng tượng phong phú của người nghệ nhân, các bức tượng được phết lên những sắc vàng, xanh dương, xanh lục, nâu hoặc đen tuyền. Chắc chắn rằng, một số pho tượng đất sét này đã được nhào nặn vô cùng xuất sắc. Chúng sở hữu cả tóc thật trên đỉnh đầu, trên khuôn mặt và trước ngực; được khoác lên những thước vải bông theo lối phục sức dân dã của xứ sở này, và, trong nhiều trường hợp, thể hiện một bút pháp khắc họa đậm chất nghệ thuật về hình bóng của phàm nhân, ác quỷ và á thần bước ra từ những thiên sử thi linh thiêng bậc nhất Ấn Độ.



  1. Bản "Ramayana" của Tulsi Das, vốn có đôi chỗ dị biệt so với nguyên tác thi ca của Valmiki, đã được ông F. J. Growse thuộc Cục Công vụ Bengal dịch sang Anh ngữ. ↩

  2. (ND) Tulsi Das (1532-1623) là một nhà thơ, triết gia và bậc thánh của Ấn Độ giáo. Ông nổi tiếng với việc chuyển soạn sử thi Ramayana sang phương ngữ Awadhi (Hindi) với tên gọi Ramcharitmanas, giúp tác phẩm vượt ra khỏi giới hạn của tiếng Phạn để phổ biến sâu rộng trong dân chúng. ↩

  3. (ND) Vở kịch Phép màu (Miracle play) là một loại hình kịch nghệ tôn giáo phổ biến ở châu Âu thời Trung Cổ, chuyên diễn lại các tích truyện trong Kinh Thánh hoặc các phép lạ của các vị thánh nhằm mục đích truyền bá giáo lý cho những người dân đen không biết chữ. ↩

  4. (ND) Sepoy là thuật ngữ lịch sử dùng để gọi các binh sĩ người bản xứ Ấn Độ phục vụ dưới trướng quân đội của các đế quốc thực dân châu Âu, đặc biệt là quân đội Anh trong thời kỳ cai trị Ấn Độ. ↩

  5. Ravana thường được khắc họa với mười đầu; song hình nộm mà tôi tận mắt chứng kiến chỉ có vài khuôn mặt (tôi đồ rằng không đến mười), với phần đầu của một con lừa vươn lên bao trùm tất cả. ↩

  6. Nếu bám sát nguyên tác, pho tượng này phải sở hữu tới hai mươi cánh tay. ↩

  7. (ND) Nawab là một tước hiệu quý tộc cao quý thường được các hoàng đế triều đại Mogul phong tặng cho những lãnh chúa cai trị các tỉnh hoặc các phiên vương theo Hồi giáo tại tiểu lục địa Ấn Độ. ↩

  8. Giám mục Heber từng được nghe kể lại rằng, vào những ngày xưa tốt đẹp, các mảnh đời trẻ thơ đáng thương luôn "bị tẩm độc bằng những viên kẹo phân phát vào ngày bế mạc hội diễn, cốt để người đời tụng xưng rằng linh hồn chúng đã được thâu nhiếp vào chính vị thần mà chúng đại diện."-Trích "Trần thuật về Hành trình qua các Tỉnh Thượng của Ấn Độ" (1824-25) của Heber, tr. 191. ↩

  9. (ND) Durga Puja là lễ hội thường niên quan trọng bậc nhất tại vùng Bengal, tôn vinh nữ thần chiến binh Durga trong thần thoại Ấn Độ. Lễ hội kỷ niệm chiến thắng của bà trước quỷ trâu Mahishasura, biểu trưng cho sức mạnh phái nữ (Shakti) và sự chiến thắng của ánh sáng trước bóng tối. ↩