Đã hiệu đính

GHI CHÚ

I. Niên đại biên soạn của “Mahabharata.”-Tương tự như “Ramayana,” “Mahabharata” bắt nguồn từ những pho thần thoại và truyền thuyết dân gian có từ một thời kỳ cổ đại xa xăm. Theo các học giả phương Tây, dường như những tích truyện rời rạc ấy mới chỉ được tập hợp lại thành một chỉnh thể có hệ thống vào một giai đoạn lịch sử tương đối gần đây.

“Bằng chứng văn tự sớm nhất xác nhận sự tồn tại của một bộ sử thi mang nội dung tương đồng với ‘Mahabharata’ đến từ triết gia hùng biện Dion Chrysostom, người sống vào nửa sau thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Nhiều khả năng, nguồn thông tin mà ông ghi nhận lúc bấy giờ còn rất mới mẻ, được thu nhặt từ lời kể của những thủy thủ từng tiến sâu đến tận mỏm cực nam của xứ sở Ấn Độ.... Do Megasthenes, một nhà ngoại giao Hy Lạp trước đó, hoàn toàn không đả động gì tới áng sử thi này, nên ta có cơ sở để giả định rằng pho tác phẩm đã hình thành trong khoảng thời gian giữa thời đại của Megasthenes và Chrysostom. Bởi lẽ, một khi ngay cả những thủy thủ ít học còn truyền tai nhau, thì một học giả như Megasthenes khó lòng bỏ sót, nhất là khi những ghi chép của ông về vị thần Herakles cùng người con gái Pandai có thể thực sự mang mối liên hệ với Thần Krishna và người em gái-tức thê tử của dũng tướng Arjuna. Nói cách khác, giả như truyền thuyết về Pandu thực sự phổ biến ở thời đại của ông, hẳn ông đã ghi nhận lại.... Về khoảng thời gian tác phẩm được biên soạn lại để mang hình hài hoàn chỉnh như hiện nay, hiện chưa thể đưa ra bất kỳ phỏng đoán cụ thể nào, song dù sao đi nữa, thời điểm ấy hẳn phải là vài thế kỷ sau Công Nguyên.”1

II. Bản dịch “Mahabharata” sang tiếng Ba Tư.-Lời tường thuật sau đây về quá trình dịch bộ “Mahabharata” sang tiếng Ba Tư dưới triều đại Hoàng đế Mogul Akbar2 rất đáng đọc, bởi nó khắc họa cách nhìn nhận về bộ sử thi vĩ đại này từ góc nhìn của một tín đồ Hồi giáo cuồng tín:

“Vào năm 990,” Bệ hạ triệu tập một số học giả Hindu và truyền chỉ yêu cầu họ viết bản diễn nghĩa cho bộ ‘Mahabharata.’ Suốt nhiều đêm liền, đích thân ngài đã chú tâm giải thích ý nghĩa của tác phẩm cho Nakib Khan, nhằm giúp vị Khan này nắm bắt đại ý và phác thảo bằng tiếng Ba Tư. Đến đêm thứ ba, nhà vua truyền gọi thần và chỉ thị thần chuyển ngữ bộ “Mahabharata,” phối hợp cùng Nakib Khan hoàn thành. Kết quả là, chỉ trong vòng ba đến bốn tháng, thần đã phiên dịch trọn vẹn hai trong số mười tám phần. Đứng trước những tình tiết huyễn hoặc và hoang đường đến lố bịch trong đó, hẳn mười tám ngàn tạo vật của đấng tối cao3 cũng phải kinh ngạc. Những luật lệ cấm kỵ chưa từng nghe thấy-nào là những thứ không được ăn, cho đến cả lệnh cấm ăn củ cải4! Nhưng định mệnh của thần đã an bài như vậy, buộc thần phải đảm nhận những công việc nhường này. Dẫu sao, thần cũng tự an ủi mình bằng ý niệm rằng, hễ điều gì số mệnh đã phán quyết, thì ắt hẳn sẽ phải hiển lộ.

“Về sau, Mulla Shi và Nakib Khan cùng chung tay hoàn tất thêm một phần,” và một phần khác lại do đích thân Sultan Haji Thanesari chấp bút. Kế đến, Shaikh Faizi phụng chỉ chuyển hóa bản dịch thô ráp thành những áng văn xuôi và vần điệu thơ ca tao nhã, song ông ta cũng chẳng thể hoàn thành quá hai phần. Vị Haji vừa nêu trên đã chép lại toàn bộ tác phẩm, dụng công sửa đổi những lỗi lầm xuất hiện trong bản dịch sơ khởi và định hình lại những kiến giải mà ông ta từng mạo hiểm đưa ra. Ông ta đã rà soát lại một trăm trang bản thảo, và khi không còn bỏ sót điều gì, ông chuẩn bị hoàn thiện những khâu cuối cùng thì bỗng nhận được chiếu chỉ bãi nhiệm, rồi bị đày ải đến tận Bakar. Hiện tại, ông ta đang sống tại chính quê hương mình (Thanesar). Hầu hết các học giả từng tham gia thực hiện bản dịch này giờ đây cũng đã ở cùng gia tộc Kaurava và Pandava. Nguyện cầu cho những ai còn sót lại trên cõi đời này sẽ được cứu rỗi bởi lòng thương xót của Đấng Tối Cao, và nguyện cầu cho sự sám hối của họ sẽ được chứng giám.

“Bản dịch ấy mang tên ‘Razm-nama5.’ Khi bản thảo được chép tay sạch sẽ và điểm xuyết thêm những bức họa tinh xảo, giới quý tộc đã nhận được lệnh sao chép lại, kèm theo phước lành và ân sủng của Đấng Bề Trên. Shaikh Abul Faizi, kẻ từng viết bài chống lại đức tin thánh thiện của chúng ta, đã chắp bút viết lời tựa dài đến tận hai trang giấy. Xin Đấng Tối Cao rủ lòng che chở chúng ta khỏi những lời lẽ ngông cuồng và rồ dại của hắn.”6

III. Các bản dịch tiếng Anh của “Mahabharata.”-Để biết thông tin chi tiết về bộ sử thi này, độc giả có thể tham khảo “The ‘Mahabharata’ of Krishna Dwaipayana Vyasa,” được Pratab Chandra Roy chuyển ngữ sang văn xuôi tiếng Anh, trong đó nhiều tập đã được ấn hành rộng rãi.

Một bản tường thuật tương đối chi tiết về tác phẩm, kèm theo các lời bình luận xuyên suốt, chiếm khoảng 500 trang trong tập một của bộ “History of India,” tác giả J. Talboys Wheeler.

Ngoài ra, quý độc giả cũng có thể tìm thấy bản tóm lược toàn bộ mười tám phần của pho sử thi trong cuốn “Indian Epic Poetry” của Ngài Monier Williams (Williams and Norgate, xuất bản năm 1863).



  1. “The History of Indian Literature,” tác giả Tiến sĩ Albrecht Weber, trang 185-188. ↩

  2. (ND) Akbar Đại đế (1542-1605), vị hoàng đế thứ ba của Đế quốc Mughal, cai trị phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ. Ông nổi tiếng với sự khoan dung tôn giáo và nỗ lực dung hòa Hồi giáo - Ấn Độ giáo thông qua việc bảo trợ dịch thuật các tác phẩm kinh điển. ↩

  3. (ND) Khái niệm trong vũ trụ quan Hồi giáo truyền thống, ám chỉ toàn bộ vạn vật và các thế giới do Allah sáng tạo ra (thường được ước lượng mang tính biểu tượng là 18.000 thế giới hoặc tạo vật). ↩

  4. (ND) Theo luật lệ ăn uống nghiêm ngặt của Ấn Độ giáo (đặc biệt đối với giới tu sĩ Brahmin), các loại củ mọc dưới lòng đất như hành, tỏi, củ cải thường bị cấm vì chúng bị coi là mang đặc tính 'Tamasic' (tối tăm, kích động nhục dục) hoặc vì việc nhổ chúng lên có thể giết chết các sinh vật nhỏ bé trong đất. ↩

  5. (ND) Trong tiếng Ba Tư, 'Razm-nama' có nghĩa là 'Cuốn sách của các cuộc chiến' (Book of War), là nhan đề chính thức của bản dịch Mahabharata do hoàng gia Mughal thực hiện. ↩

  6. “Tarikh-i-Badauni” của Abdul Kadir Badauni, cuốn “Muhammadan Historians of India” của Elliot, tập V., trang 537-538. ↩