ĐẠI SỬ THI ẤN ĐỘ: LỜI TỰA CHUNG
Trong hằng hà sa số những di sản quý báu thuộc nền văn chương thế giới cổ đại của Ấn Độ, nổi bật nhất phải kể đến hai bộ sử thi trứ danh: “Ramayana” và “Mahabharata”. Người Hindu dành cho hai kiệt tác này một tình yêu bền bỉ không phai. Dẫu trải qua bao thế kỷ thăng trầm, những vần thơ ấy vẫn giữ cho ký ức về các vị anh hùng cổ đại sống mãi trên mảnh đất quê hương. Tên tuổi của họ đến nay vẫn được tôn vinh, từ người nông phu nhẫn nại đến vị thủ lĩnh kiêu hãnh.1 Những áng thi ca vĩ đại này cũng đặc biệt cuốn hút các học giả nước ngoài, ngay cả khi chúng chỉ được nhìn nhận như những minh chứng tiêu biểu cho trí tuệ của một dân tộc vô cùng thú vị. Tầm vóc của hai bộ sử thi càng trở nên đồ sộ khi đến tận ngày nay, khoảng hai trăm triệu cư dân Ấn Độ vẫn một lòng tin tưởng đây là sự thật lịch sử trọn vẹn và chuẩn xác. Hơn thế nữa, “Ramayana” và “Mahabharata” còn mang một sức hấp dẫn đa dạng, ngay cả khi người ta chỉ xem chúng là những tạo tác lý tưởng, siêu thực bước ra từ trí tưởng tượng của phương Đông.
Xét về dung lượng, cả “Ramayana” lẫn “Mahabharata” đều là những pho sách vô cùng đồ sộ. Nếu gộp lại, chúng sẽ tương đương không dưới hai mươi lăm tập sách in với kích cỡ thông thường. Bên trong đó ẩn chứa những biên niên sử chi tiết về các cuộc chiến tranh và những hành trình phiêu lưu, cùng muôn vàn câu chuyện mà thế giới phương Tây ngày nay hẳn sẽ chỉ coi là truyện cổ tích khiến những đứa trẻ phải chăm chú lắng nghe. Thế nhưng, đan dệt cùng những diễn biến sự kiện và các mối tình huyền thoại lại là một kho tàng khổng lồ các tư liệu triết học, thần học và luân lý, dường như bao trùm toàn bộ hệ tư tưởng Ấn Độ các thời kỳ sau. Quả thực, hai pho sử thi chính là những bản thuyết giáo vĩ đại của hệ tư tưởng Bà La Môn, chúng luận bàn về nghệ thuật chính trị và quản trị quốc gia, về vũ trụ quan và tôn giáo, về thần thoại và chủ nghĩa thần bí, cho đến những nghi lễ và lề thói trong đời sống thường nhật. Tác phẩm ngập tràn những màn đối thoại phô diễn trọn vẹn sự minh triết tinh tế của phương Đông. Đó còn là nơi chan chứa những giai thoại răn dạy đạo lý, mang lại niềm an ủi trong cơn hoạn nạn, hay khắc sâu một bài học ở đời. Thật khó lòng tóm lược trọn vẹn tất thảy những điều vĩ đại ấy. Tuy nhiên, tôi hy vọng những gì được trình bày trong tập sách nhỏ này sẽ phác họa đủ rõ bản chất và cấu trúc của các bộ sử thi, vạch ra những đặc trưng làm nên dấu ấn độc nhất của chúng như những tạo tác thuần túy Ấn Độ. Đồng thời, tôi cũng mong muốn thông qua những vần thơ ấy để làm sáng tỏ thực trạng của nước Ấn và bức tranh xã hội Hindu vào thời điểm các mảnh ghép của tác phẩm được chắp bút, hay ít nhất là khi chúng được tập hợp lại. Dẫu ngắn gọn, lối kể chuyện tại đây vẫn sẽ phản chiếu những nét vĩnh cửu của đời sống dân tộc Ấn Độ, hé mở vài ý niệm xa lạ và những phong tục kỳ bí. Dù chỉ trong khuôn khổ hẹp của một bức tranh thu nhỏ, độc giả vẫn sẽ gặt hái được nhiều hơn là một cái nhìn thoáng qua về những bậc hiền triết phương Đông nổi tiếng. Từ trước đến nay, câu chuyện chưa được thấu hiểu trọn vẹn về họ đã vô tình cung cấp cho các nhà Thông thiên học2 thời đại chúng ta một khái niệm kỳ lạ về những vị Mahatmas3 siêu phàm. Nhưng qua những trang viết này, độc giả sẽ phần nào cảm nhận được sự uyên bác cùng những uy quyền của các bậc hiền triết ấy, đồng thời chắc chắn nhận ra rằng: niềm tin vào những hóa thân của thần linh đã bám rễ sâu thẳm tại Ấn Độ từ những thời kỳ xa xưa. Người đọc cũng sẽ tình cờ lĩnh hội được toàn bộ ý niệm tôn giáo nền tảng của người Hindu cùng những bước chuyển mình tột bậc trong nền triết học của họ. Họ sẽ trở nên quen thuộc với vài phong tục nguyên thủy - những lề thói đã khắc dấu không thể phai mờ lên các thể chế xã hội hiện đại ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Và biết đâu, họ còn có thể lần theo cội nguồn của vài quan niệm kỳ lạ đang trôi nổi trong bầu không khí tri thức đương thời.
Được dệt nên từ những khúc sagas ngàn xưa của một dân tộc kiệt xuất - "người Aryan cổ đại của Ấn Độ, xét trên nhiều phương diện, là chủng tộc tuyệt vời nhất từng sống trên Trái Đất"4 - các bộ sử thi tiếng Phạn ắt hẳn luôn mang sức hút vĩnh cửu đối với giới trí thức ở mọi quốc gia. Đồng thời, mọi nghiên cứu về Ấn Độ chắc chắn sẽ khơi gợi sự say mê nơi những ai khao khát được tỏ tường các cuộc chuyển mình kỳ thú trong tôn giáo và phong tục. Đó là những biến đổi mà sự giao thoa với nền văn minh phương Tây đang tạo ra trên mảnh đất cổ kính và đông đúc của người Hindu. Những nghiên cứu này cũng vô cùng hấp dẫn đối với ai có khả năng nhận ra tác động kỳ lạ, tuy hãy còn mờ nhạt, của tư tưởng Hindu lên các ý niệm châu Âu hiện đại trên vài khía cạnh. Chẳng hạn như sự trỗi dậy của Thông thiên học; xu hướng đồng cảm đâu đó đối với chủ nghĩa khổ hạnh, Phật giáo và Thuyết phiếm thần; hay việc một bộ phận nhỏ ở châu Âu bắt đầu tán thành nghi thức hỏa táng người đã khuất, cùng sức quyến rũ ngày một gia tăng của các học thuyết về luân hồi và Karma.
Người Anh ở thế kỷ mười chín có lẽ khó lòng thấu hiểu thái độ của giới tri thức Ấn Độ hiện đại đối với những huyền thoại hoang đường thuở sơ khai. Tuy nhiên, ta có thể hình dung rõ ràng hơn qua một phép giả định: Giả sử Cơ Đốc giáo không thế chỗ các tôn giáo nguyên thủy của Bắc Âu, giả sử những tập Edda và Saga5 với bao câu chuyện kỳ bí và đáng kinh ngạc vẫn tiếp tục là kinh điển tại Anh quốc, thì đức tin của nước Anh ngày nay có lẽ cũng ngang hàng với Ấn Độ hiện tại - một mớ hỗn hợp phi thường quyện hòa giữa những truyền thuyết hoang dại nhất và nền triết học sâu xa nhất. Thật đáng kinh ngạc khi thấy các vị thần của tổ tiên người Anh đã phai mờ khỏi ký ức đại chúng nơi này ra sao. Làm sao các tập Saga và Edda lại chìm vào quên lãng vĩnh viễn, chỉ chừa lại một lớp cặn của những mê tín cũ kỹ về thuật phù thủy hay điềm báo (vốn từng là tín ngưỡng tôn giáo) trong những tầng lớp dân cư lạc hậu hơn? Có bao nhiêu người Anh từng mảy may suy nghĩ, hay thậm chí biết chút ít về Thor hay Odin, cùng những lễ hiến tế đẫm máu (thường là hiến tế con người)6 dành cho các vị thần ấy? Có bao nhiêu người nhận ra rằng sự tôn thờ những vị thần này cùng các nghi thức vừa nhắc đến vẫn còn hiện diện vững vàng tại vài nơi ở châu Âu mới chỉ tám trăm năm trước?7
Sự lụi tàn gần như triệt để của các tín ngưỡng tổ tiên nơi những quốc gia châu Âu là một hiện thực đáng chú ý, và lịch sử tôn giáo Ấn Độ chưa từng ghi nhận diễn biến nào tương tự. Tại châu Âu, bức tường thành vĩ đại của Cơ Đốc giáo Do Thái - vốn thường xuyên được bồi đắp bằng máu - đã dựng lên sừng sững giữa quá khứ và hiện tại. Nó cắt đứt mọi mối liên hệ giữa các tín ngưỡng bản địa và triết học tư biện hiện đại của phương Tây. Đồng thời, nó chuyển hướng mối quan tâm thành kính của những con chiên ngoan đạo từ các đền thờ địa phương sang những thánh địa ngoại lai.
Nhưng tại Ấn Độ, chưa từng có một rào cản nào mang quy mô tương tự được dựng lên. Đúng là Hồi giáo đã cắm những ngọn tháp giáo đường tại nhiều nơi trên đất nước này. Ở một chừng mực nhất định, họ đã chặn đứng những luồng tư tưởng cổ xưa, gây ra một sự xa cách giữa thế giới ý niệm cũ và mới. Thế nhưng, sự đứt gãy giữa quá khứ và hiện tại chưa từng diễn ra triệt để như ở châu Âu. Bởi lẽ, rất nhiều người Hồi giáo Ấn Độ, dù tuyên xưng đức tin độc thần, vẫn lưu luyến nán lại trước ngưỡng cửa của những ngôi đền Hindu cổ. Trong lúc hoạn nạn, họ vẫn âm thầm cầu khẩn sự chở che của các vị thần dân tộc. Những vị thần ấy chưa hề chết đi hay bị chôn vùi như các vị thần của người Viking. Vì thế, có thể khẳng định rằng: đối với đại đa số người dân Ấn Độ, tầm nhìn của họ vẫn vươn dài một cách đầy cung kính về quá khứ, xuyên suốt một chiều dài lịch sử liên tục, để hướng tới các vị thần và những người anh hùng của tổ tiên xa xưa.
Vậy những tổ tiên xa xưa ấy là ai, những kẻ xâm lược Aryan đặt chân đến Ấn Độ trong buổi bình minh u ám của lịch sử nhân loại? Hiện hữu hai lời giải đáp cho câu hỏi này. Vài năm trước, giới ngữ văn học từng quả quyết với chúng ta rằng người Aryan là một chủng tộc nguyên thủy đầy sức mạnh, khởi nguyên từ vùng Trung Á. Từ cái nôi ấy, họ cuộn trào thành những làn sóng di cư và chinh phạt liên tiếp về phương Tây, tràn qua lục địa châu Âu, và bước tiến vũ bão của họ chỉ chịu khuất phục trước vùng nước bao la của Đại Tây Dương. Chúng ta cũng được những nhà nghiên cứu uyên thâm về ngôn từ cam đoan rằng, một nhánh quân Aryan gốc Á, thay vì theo bước anh em mình Tây tiến, lại chuyển hướng chú ý về phương Nam ngập tràn ánh nắng. Vượt qua bức tường thành kỳ vĩ Tây Bắc Ấn Độ, họ khuất phục cư dân bản địa và cắm rễ tại đồng bằng Ấn-Hằng mênh mông dưới chân rặng Himalaya. Những kết luận này từng ngự trị trong mọi giáo trình lịch sử Ấn Độ và châu Âu. Bất kỳ cậu học trò nào từng đọc cuốn lịch sử tóm lược của Hunter8 về Ấn Độ đều nằm lòng rằng, "tổ tiên của người Hy Lạp và La Mã, của người Anh và người Hindu, từng chung sống tại Trung Á, nói chung một ngôn ngữ, tôn thờ chung những vị thần," và "lịch sử châu Âu cổ đại chính là khúc ca về những khu định cư Aryan quanh bờ Địa Trung Hải." Tuy nhiên, gần đây, những định kiến ấy đã trải qua một cuộc thanh lọc và xét lại triệt để. Trong thập kỷ qua, một học thuyết khởi nguồn từ Anh quốc do Tiến sĩ Latham đề xướng - từng bị gạt đi đầy khinh miệt thuở ban sơ - nay đã được hồi sinh bởi các học giả và nhà khoa học Đức.9 Nhờ sự hậu thuẫn từ những thành tựu mới nhất của ngành nhân chủng học và nghiên cứu sọ người, học thuyết của Latham, qua một hình hài tinh chỉnh dưới sự biện hộ uyên bác của Tiến sĩ Schrader và Karl Penka, đã giành được sự đồng thuận gần như tuyệt đối. Dựa trên những suy luận từ đặc tính chủng tộc thay vì ngôn ngữ, học thuyết đang được ưu ái này lại khác biệt với những quan điểm trước đó ở một khía cạnh vô cùng trọng yếu. Quê hương của người Aryan, thay vì nằm tại Trung Á, lại được truy nguyên về châu Âu. Theo đó, những kẻ xâm lược Aryan đặt chân tới Ấn Độ nhiều thế kỷ trước Công nguyên chính là những con người mang dòng máu châu Âu đã kiên cường tiến về phía Đông. Họ từng bước phủ bóng quyền lực lên cõi Iran, rồi vươn tới Bắc Ấn, vượt qua rặng Himalaya phủ tuyết trắng phau, theo đúng nghĩa đen là để kiếm tìm "những cánh đồng tươi mới và những bãi cỏ lạ." Khi đến Ấn Độ, sau quãng thời gian dài nấn ná tại các quốc gia phương Đông, họ đã trở thành một chủng tộc lai giữa hai dòng máu Á - Âu, với khả năng cao mang đậm huyết quản Turanian10,11 nhưng vẫn nói một ngôn ngữ bắt nguồn từ Aryan.12 Vốn dĩ là một chủng tộc cường tráng, hiếu chiến và hung hãn, những người Aryan ấy đã tự đoạt lấy vị thế độc tôn tại Ấn Độ cổ đại, và cho đến tận ngày nay, dấu ấn ngôn ngữ không thể phai mờ của họ vẫn in hằn trong vô số phương ngữ nơi vùng đất này.
Lời phán quyết về cội nguồn của người Aryan và vị trí nguyên thủy của quê hương họ không đơn thuần là một mối bận tâm về cổ học, mà còn là một vấn đề mang tầm vóc quốc gia. Bất kỳ ai đủ am tường để nhớ lại cảm giác chấn động của giới trí thức Hindu, khi nghe tuyên bố rằng chính tổ tiên họ từng là những kẻ chinh phục bất khả chiến bại của châu Âu, đều sẵn lòng thừa nhận điều này. Chuyện những kẻ chinh phục Norman của nước Anh mang dòng máu Celtic hay, như cố Giáo sư Freeman từng quả quyết, thuộc dòng dõi Teutonic, hoàn toàn không phải là chuyện vô thưởng vô phạt đối với một người Anh muốn thấu hiểu chân xác lịch sử dân tộc mình, và cũng chẳng hề vô giá trị trong đời sống chính trị thực tiễn. Thế nhưng, điều đó còn mang ý nghĩa lớn lao hơn gấp bội đối với người Hindu, liệu họ sẽ nhìn nhận những người Aryan cổ đại như một chủng tộc châu Á hay châu Âu, được nuôi dưỡng trên "Nóc nhà thế giới" hay tại những bình nguyên thoai thoải của dòng sông Don.
Dù bao tín đồ Hindu hằng suy tôn những anh hùng Aryan trong các thiên sử thi vĩ đại của Ấn Độ như tổ tiên cội nguồn và luôn mang niềm tự hào mến mộ trước những chiến công hiển hách của họ, nhưng xét trên bình diện đại đa số, niềm tin ấy lại thiếu vắng cơ sở thực tiễn; căn nguyên bởi lẽ, một bộ phận không nhỏ cư dân Ấn Độ ngày nay thực chất chẳng hề mang trong mình dòng máu Aryan nguyên thủy. Dẫu vậy, những hình tượng vĩ đại như Rama hay Arjuna vẫn luôn hiện diện như những tạo tác kết tinh từ tâm thức Ấn Độ thuần khiết, được tôn vinh trang trọng trong thánh điển của miền đất thiêng này. Và có lẽ, chính niềm tự hào cùng đức tin sâu sắc mà người Hindu hướng về những vị á thần ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần, gìn giữ bản sắc của họ đi qua muôn nỗi thăng trầm, tính từ thuở hoàng kim của kỷ nguyên anh hùng.
Những chân lý xác thực, hay những biến cố mang tầm vóc lịch sử nào, từng ẩn khuất bên dưới những lời ca đậm chất thơ của các tác giả “Ramayana” và “Mahabharata”, có lẽ sẽ mãi mãi không được biết tới. Những chi tiết thi thoảng được điểm xuyết một cách dung dị thường để lại trong ta một ấn tượng mãnh liệt rằng, dưới lớp vỏ ngôn từ ấy, hẳn phải tồn tại một tầng tri thức bám rễ sâu vào cõi thực tế, làm nên bệ đỡ vững chãi cho những áng thi ca bay bổng mà các thi nhân đã cất công nhào nặn. Đôi bận, ta như mơ hồ nhận ra, tựa như trong định mệnh nghiệt ngã vô phương vùng vẫy của họ, một âm vang vọng lại từ xa xăm của những hệ tư tưởng từng phiêu dạt cùng chủng tộc Aryan đến tận vùng Biển Bắc mờ sương. Thế nhưng, trí tưởng tượng phong phú đến tràn bờ của các thi nhân Ấn Độ, thái độ hờ hững đến cực đoan của họ trước những tiểu tiết, và sự bàng quan hoàn toàn đối với tính chính xác của địa hình học, đã vô tình dập tắt mọi tia hy vọng về khả năng chắt lọc một bản trường ca lịch sử nguyên vẹn từ những bộ sử thi tiếng Sanskrit. Thậm chí, việc thiết lập một sự đối chiếu đồng nhất về các địa danh và kiến trúc cũng trở nên nan giải, không giống như kỳ tích mà Schliemann đã đạt được trong thời đại chúng ta, khi ông cần mẫn lần theo dấu vết giữa phế tích Hissarlik bị vùi lấp bên bờ Hellespont và kinh đô Ilion đã chìm vào cõi lãng quên. Đối với những ai vẫn chia sẻ quan điểm khác biệt, phía trước họ hẳn còn trải dài một chân trời nghiên cứu mênh mông và thăm thẳm; song, bản thân tôi phải thú nhận rằng, mình ít nhiều thờ ơ trước những mảnh ghép lịch sử hãy còn đầy ngờ vực, hay những mẩu ngụ ngôn huyễn hoặc mà các sử gia cùng những nhà thần thoại học lỗi lạc có lẽ phải dành cả một đời để bóc tách từ các pho sử thi Ấn Độ. Quả thực, tôi cực lực phản đối việc gò ép những thiên sử thi đồ sộ này vào khuôn khổ của một cuốn lịch sử đơn thuần, bởi lẽ, khi ấy, chúng sẽ bị đánh giá theo những chuẩn mực khắt khe của văn bản biên khảo, và rồi đánh mất đi những phẩm tính thiêng liêng, cao quý nhất. Chúng sinh ra là những áng thi ca, tuyệt nhiên chẳng phải lịch sử; chúng là những huyền thoại lãng mạn, là những khát vọng sống động của cả một dân tộc, chứ tuyệt đối không phải là những cuốn biên niên sử khô khan, lạnh lùng ghi chép lại đời sống chính trị hay xã hội đương thời.
Tương tự như những thi phẩm vĩ đại được kết tinh từ trí tuệ cổ nhân, các bộ sử thi Ấn Độ sở hữu một giá trị trường tồn, hoàn toàn độc lập với những lớp nghĩa lịch sử hay ngụ ngôn mà chúng hàm chứa. Những thiên anh hùng ca này khơi dậy trong ta niềm say đắm trước những điều kỳ diệu và tình yêu sâu sắc dành cho cái đẹp. Đồng thời, chúng họa lên bức tranh sống động về phong thái uy nghi của một thời đại đã lùi xa vào quá khứ, một thế giới diệu kỳ mà vì vô vàn cớ sự, ta mãi mãi không muốn lãng quên.
Là những pho kinh điển mang đậm hơi thở tôn giáo, cả “Ramayana” và “Mahabharata” ít nhiều đều in dấu trong tâm thức của mỗi người Hindu. Thế nhưng, có một sự thật đáng lưu tâm là ngay cả những trí thức Ấn Độ cũng hiếm khi tường tận những chi tiết của hai kiệt tác này, dẫu chúng đã được chuyển ngữ sang tiếng Anh và vô vàn phương ngữ phổ biến trên khắp xứ sở. Tôi từng biết những thanh niên mang học vấn cao, sở hữu niềm tin vào sách cổ mãnh liệt hơn hẳn sự thấu hiểu về nội dung bên trong, đã kịch liệt phủ nhận sự tồn tại của một số câu chuyện nhất định trong các thi phẩm ấy. Bởi lẽ, đối với những luồng tư tưởng ít nhiều bị Âu hóa, những giai thoại đó dường như quá đỗi viển vông để có thể trở thành sự thật. Tuy vậy, những tình tiết bi tráng nhất lại trở nên thân thuộc với bao người dân Hindu, nhờ bước chân lãng du của các tu sĩ Bà-la-môn. Khắp nẻo đường đất nước, họ ngâm nga những áng thơ thiêng liêng cho dân chúng nghe. Họ quy tụ thính giả đủ mọi lứa tuổi và giới tính, cất lời tụng niệm từ những văn bản Sanskrit tôn kính, rồi uyển chuyển dịch những vần thơ thuộc thứ ngôn ngữ đã mai một của những kẻ chinh phục Aryan trên đất Ấn thành ngôn ngữ sống động, bám rễ vào đời sống của người nghe. Đôi khi, các tu sĩ Bà-la-môn còn đọc và diễn giải những bản dịch phương ngữ từ tuyệt tác của Valmiki và Vyasa. Những buổi ngâm tụng thường đi kèm vô vàn nghi thức và được khoác lên vẻ uy nghiêm của các lề lối tôn giáo trang trọng.13 Ngày qua ngày, dân chúng tụ hội, say sưa lắng nghe những truyền thuyết xa xưa của cội nguồn dân tộc, cùng những bài học đạo đức thâm thúy được chắt lọc qua lời dẫn dắt của các Pandits14. Cho đến tận ngày nay, một bộ phận không nhỏ người dân Ấn Độ vẫn nương theo những hình mẫu lý tưởng từ các bộ sử thi tôn kính để định hình phần lớn cuộc sống. Hơn thế nữa, những thiên sử thi này còn là mạch nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật tạo hình và hội họa của người Ấn; đối với những nghệ nhân Hindu, chúng mang vẻ đẹp hoàn mỹ không kém gì những kiệt tác từ trí tưởng tượng Hy Lạp, hay những thần thoại kỳ bí của thời Trung Cổ đối với những người anh em phương Tây.
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc thấu hiểu các bộ sử thi Ấn Độ, đặc biệt đối với những ai quan tâm-dù trực tiếp hay gián tiếp-đến đời sống và nhân sinh quan của người Hindu, một dân tộc kỳ lạ và vô cùng thông tuệ, những người đã kiên cường gìn giữ bản sắc riêng rõ rệt của mình xuyên suốt biết bao thế kỷ ngập chìm dưới ách thống trị ngoại bang; tôi đã chắp bút nên những bản tóm lược vắn tắt trong các trang viết tiếp theo. Công trình này được thực hiện vì lợi ích của tất cả những ai, dù là người châu Âu hay người Ấn Độ, có mong muốn tiếp cận tác phẩm qua lăng kính tiếng Anh. Tôi chắt lọc tư liệu của mình không phải từ các áng thi ca nguyên bản tiếng Sanskrit-thứ ngôn ngữ vốn dĩ hãy còn khép kín đối với tôi-mà từ những bản dịch trọn vẹn và bám sát nguyên tác nhất định của các tác phẩm đồ sộ này, những bản dịch vốn đã được các học giả châu Âu và Ấn Độ giới thiệu ra toàn thế giới.
Trong mọi trường hợp liên quan đến các quan điểm tôn giáo hay học thuyết thần học, tôi luôn ưu ái sử dụng bản dịch của các học giả bản xứ. Bởi tôi hiểu rằng các nhà Phạn học Ấn Độ vốn mang một thái độ khinh miệt đầy ngạo nghễ đối với những diễn giải của phương Tây về các cuốn thánh thư thiêng liêng của họ. Trong bối cảnh ấy, việc để chính người Hindu tự mình cất tiếng dường như là một lựa chọn vô cùng thiết yếu. Bên cạnh đó, tôi tin rằng các phiên bản tiếng Anh của “Ramayana” và “Mahabharata”, vốn đang được các học giả Ấn Độ truyền bá rộng rãi, sở hữu một giá trị độc tôn, điều mà những bản dịch sau này gần như sẽ không bao giờ có được. Những dịch giả hiện tại đều là những người Hindu chính thống, mang trong mình kiến thức Anh ngữ uyên thâm. Mục tiêu tối thượng của họ là kiến tạo nên những phiên bản tiếng Anh cho các áng thơ linh thiêng, đồng điệu với cách hiểu và cách tiếp nhận của chính họ cũng như của thế giới Ấn Độ chính thống đương đại; và không còn nghi ngờ gì nữa, các bản dịch của họ đã phản chiếu chân thực lối diễn giải truyền thống được kế thừa từ ngàn xưa.
Trong tương lai, chúng ta hẳn sẽ đón nhận thêm nhiều bản dịch mang tính học thuật hơn, nơi những ý niệm châu Âu sẽ thay thế dần các tư tưởng Ấn Độ, và những thi phẩm cổ xưa sẽ được luận giải theo lăng kính triết học và khoa học chuẩn mực của riêng chúng ta. Ẩn sâu trong những truyền thuyết hoang dại, ta sẽ khám phá ra những ngụ ngôn tinh vi che giấu một bề dày lịch sử chân thực; giữa sự phóng túng và thi vị, ta sẽ tìm thấy những huyền bí tôn giáo sâu thẳm; và qua lăng kính của những quan niệm cổ kính, ta sẽ hân hoan chiêm ngưỡng toàn bộ cấu trúc của nền triết học hiện đại. Một phần của viễn cảnh này đã trở thành hiện thực, và phần còn lại hẳn cũng đang đến rất gần. Bởi mới đây, ta vừa được biết rằng "trong những vần shlokas15 của 'Ramayana' và 'Mahabharata', chúng ta đang nắm giữ vô vàn chân lý lịch sử cốt lõi liên quan đến công cuộc thực dân hóa lục địa Ấn Độ thời cổ đại bởi những đạo quân chinh phạt... Tất cả đều được che đậy một cách có chủ đích dưới lớp vỏ ngôn từ tế lễ của tu sĩ Brahman. Thế nhưng, nhờ vào sự chuẩn xác về phương pháp, sự tinh tế trong biểu đạt và độ chi tiết đến từng yếu tố, toàn bộ lớp vỏ ấy có thể được lột tả thành một trang sử tường minh, dễ hiểu và khả tín về những cuộc cách mạng chính trị từng diễn ra trên khắp lãnh thổ Ấn Độ trong suốt những kỷ nguyên vắng bóng các ghi chép lịch sử chân thực, miễn là người đọc chịu cất công đọc hiểu tiếng Sanskrit một cách chuẩn xác để xuyên thủng bức màn ngụ ngôn che phủ nó."16
Dẫu hãy còn nhiều tiếc nuối về những giới hạn của bản thân đối với ngôn ngữ của những thi nhân đã sáng tác nên các bộ sử thi Sanskrit-điều đã ngăn cách tôi khỏi việc thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp nghệ thuật gieo vần cùng sự uyển chuyển của ngôn từ, thứ mà không một bản dịch nào có thể gìn giữ nguyên vẹn-tôi vẫn tìm thấy niềm an ủi trong một suy ngẫm. Đó là: với những bản dịch đủ độ chuẩn xác trong tay-tương tự như các phiên bản tiếng Anh của kinh thánh tiếng Hebrew và tiếng Hy Lạp-một vốn kiến thức về tiếng Sanskrit chắc chắn không phải là điều kiện thiết yếu đối với việc kiến tạo nên một tác phẩm với những kỳ vọng khiêm nhường như tập sách nhỏ này.
-
"Không một tác phẩm nào khác tại Ấn Độ ngày nay sở hữu được sức hấp dẫn đối với đại đa số quần chúng như những bộ sử thi này." -Life in an Indian Village (Đời sống tại một ngôi làng Ấn Độ), tác giả T. Rama Krishna, B.A. (T. Fisher Unwin, 1891). ↩
-
(ND) Một phong trào triết học, tôn giáo và thần bí ra đời vào cuối thế kỷ 19, kết hợp tư tưởng thần bí phương Tây với triết lý phương Đông, nhằm khám phá cội nguồn tâm linh của nhân loại và vũ trụ. ↩
-
(ND) Tiếng Phạn có nghĩa là "Linh hồn vĩ đại" (Maha: vĩ đại, Atma: linh hồn). Trong triết học Ấn Độ và Thông thiên học, đây là danh xưng tôn kính dành cho những bậc đạo sư, chân sư siêu phàm đã đạt tới cảnh giới giác ngộ. ↩
-
Các bài giảng Hibbert của Giáo sư Max Müller, năm 1878, trang 50. ↩
-
(ND) Các tuyển tập thi ca và sử thi cổ đại của Bắc Âu (đặc biệt là Iceland), lưu giữ lại toàn bộ hệ thống thần thoại, truyền thuyết về các vị thần (như Odin, Thor) và các vị anh hùng của dân tộc Viking. ↩
-
Tù binh chiến tranh ở mọi cấp bậc đã bị đem ra hiến tế với số lượng lớn. ↩
-
Tác phẩm "The Viking Age" (Thời đại Viking) của Du Chaillu, tập i., chương xx., và các trang tiếp theo. ↩
-
"A Brief History of the Indian People" (Lịch sử tóm lược của người dân Ấn Độ), tác giả Ngài William Wilson Hunter, K.C.S.I. (Trübner and Co.). ↩
-
Gần đây, thế giới đã được Tiến sĩ Brinton tiết lộ rằng học thuyết được gán cho Tiến sĩ Latham thực chất đã được Omalius D’Halloy khởi xướng lần đầu trong "Bulletins de l’Academie Royale de Belgique" vào tháng Năm, năm 1848 ("Nature," ngày 21 tháng Bảy, 1892). ↩
-
(ND) Thuật ngữ nhân chủng học và ngôn ngữ học thế kỷ 19, dùng để chỉ các nhóm dân tộc du mục hoặc những tộc người có nguồn gốc từ vùng Trung Á (như người Đột Quyết, Mông Cổ), phân biệt với nhóm người Aryan (Ấn-Âu). ↩
-
Như được khẳng định bởi Tiến sĩ Hermann Braunehoffer, "Journal of Royal Asiatic Society," năm 1890, trang 687-689. ↩
-
"The Origin of the Aryans" (Nguồn gốc của người Aryans), tác giả Isaac Taylor, M.A., LL.D. (Walter Scott); "Prehistoric Antiquities of the Aryan Peoples" (Những cổ vật thời tiền sử của các dân tộc Aryan), tác giả Tiến sĩ O. Schrader, bản dịch của F. B. Jevons, M.A. (Charles Griffin and Co.). ↩
-
Khâu chuẩn bị cho một buổi ngâm tụng kiểu này tại một ngôi làng thuộc tỉnh Madras được mô tả như sau: "Dân chúng lũ lượt kéo đến từ Kelambakam và các ngôi làng lân cận để tề tựu tại nhà của vị trưởng làng. Người diễn giảng an tọa trên chiếc pial (hành lang) của ngôi nhà. Trước mặt ông đặt bức chân dung của thần Krishna đang thổi sáo và tựa lưng vào một con bò. Bức chân dung được trang hoàng lộng lẫy bằng rất nhiều hoa. Ở đó còn có hai chiếc bình nhỏ. Một chiếc đựng long não và chút nhang đang cháy, chiếc còn lại đựng hoa và trái cây. Dân chúng bu lại đông nghịt như bầy ong." -Life in an Indian Village (Đời sống tại một ngôi làng Ấn Độ), tác giả T. Rama Krishna, B.A., trang 144. ↩
-
(ND) Danh xưng tôn kính trong văn hóa Ấn Độ dành cho những học giả, thầy giáo hoặc tu sĩ Bà-la-môn uyên bác, những người tinh thông kinh điển Phạn ngữ, triết học và luật pháp truyền thống. ↩
-
(ND) Thể thơ truyền thống phổ biến nhất của Ấn Độ, được viết bằng tiếng Phạn. Một shloka thường gồm hai dòng, mỗi dòng 16 âm tiết, là nhịp điệu chính được dùng để sáng tác các bộ sử thi vĩ đại. ↩
-
"The Ethnography of Afghanistan" (Nghiên cứu Dân tộc học về Afghanistan), tác giả Tiến sĩ H. W. Bellew, C.S.I., trên tạp chí "Asiatic Quarterly Review," tháng Mười, 1891. ↩
GREAT INDIAN EPICS: GENERAL INTRODUCTION
Foremost amongst the many valuable relics of the old-world literature of India stand the two famous epics, the “Ramayana” and the “Mahabharata,” which are loved with an untiring love by the Hindus, for they have kept alive, through many a dreary century, the memory of the ancient heroes of the land, whose names are still borne by the patient husbandman and the proud chief.1 These great poems have a special claim to the attention even of foreigners, if considered simply as representative illustrations of the genius of a most interesting people, their importance being enhanced by the fact that they are, to this day, accepted as entirely and literally true by some two hundred millions of the inhabitants of India. And they have the further recommendation of being rich in varied attractions, even when regarded merely as the ideal and unsubstantial creations of Oriental imagination.
Both the “Ramayana” and “Mahabharata” are very lengthy works which, taken together, would make up not less than about five and twenty printed volumes of ordinary size. They embrace detailed histories of wars and adventures and many a story that the Western World would now call a mere fairy tale, to be listened to by children with wide-eyed attention. But interwoven with the narrative of events and legendary romances is a great bulk of philosophical, theological, and ethical materials, covering probably the whole field of later Indian speculation. Indeed, the epics are a storehouse of Brahmanical instruction in the arts of politics and government; in cosmogony and religion; in mythology and mysticism; in ritualism and the conduct of daily life. They abound in dialogues wherein the subtle wisdom of the East is well displayed, and brim-over with stories and anecdotes intended to point some moral, to afford consolation in trouble, or to inculcate a useful lesson. To epitomize all this satisfactorily would be quite impossible; but what I have given in this little volume will, I hope, be sufficient to show the nature and structure of the epics, the characteristics that distinguish them as essentially Indian productions, and the light they throw upon the condition of India and the state of Hindu society at the time the several portions were written, or, at any rate, collected together. The narrative, brief though it be, will reflect the more abiding features of Indian national life, revealing some unfamiliar ideas and strange customs. Even within the narrow limits of the reduced picture here presented, the reader will get something more than a glimpse of those famous Eastern sages, whose half-comprehended story has furnished the Theosophists of our own day with the queer notion of their extraordinary Mahatmas; he will learn somewhat of the wisdom and pretensions of those sages, and will not fail to note that the belief in divine incarnations was firmly rooted in India in very early times. He will incidentally acquire a knowledge of all the fundamental religious ideas of the Hindus and of the highest developments of their philosophy; he will also become familiar with some primitive customs which have left unmistakable traces in the institutions of modern social life in the East as well as in the West; and will, perhaps, be able to track to their origin some strange conceptions which are floating about the intellectual atmosphere of our time.
Woven out of the old-time sagas of a remarkable people, “the ancient Aryans of India, in many respects the most wonderful race that ever lived on Earth,”2 the Sanskrit epics must have a permanent interest for educated people in every land; while all Indian studies must have an attraction for those who desire to watch, with intelligent appreciation, the wonderfully interesting transformations in religion and manners, which contact with Western civilization is producing in the ancient and populous land of the Hindus. Not less interesting will such studies be to those who are able to note the curious, though as yet slight, reaction of Hindu thought upon modern European ideas in certain directions; as, for example, in the rise of Theosophy, in the sentimental tendency manifested in some quarters towards asceticism, Buddhism and Pantheism; in the approval by a small class in Europe of the cremation of the dead, and in the growing fascination of such doctrines as those of metempsychosis and Karma.
Although it is difficult for the Englishman of the nineteenth century to understand the intellectual attitude of modern India in respect to the wild legends of its youth, it may help towards a comprehension of this point if one reflects that had not Christianity superseded the original religions of Northern Europe, had the Eddas and Sagas, with their weird tales of wonder and mystery, continued to be authoritative scripture in Britain, the religious faith of England might now have been somewhat on a par with that of India to-day-an extraordinary medley of the wildest legends and deepest philosophy. It is a subject for wonder how the gods of the ancestors of the English people have entirely faded from popular recollection in Britain, how Sagas and Eddas have been completely forgotten, leaving only a substratum of old superstitions about witchcraft, omens, etc. (once religious beliefs), amongst the more backward of the populace. How many Englishmen ever think, how many of them even know, anything about Thor or Odin and the bloody sacrifices (often human sacrifices)3 with which those deities were honoured? How many realize that the worship of these gods and the rites referred to had a footing in some parts of Europe as recently as eight hundred years ago?4
The almost complete extinction of the ancestral beliefs of the European nations is a striking fact to which the religious history of India presents no parallel. In Europe the great wall of Judaic Christianity-too often cemented with blood-has been reared, in colossal dimensions, between the past and the present, cutting off all communication between the indigenous faiths and modern speculative philosophy of the Western nations; while diverting the affectionate interest of the devout from local to foreign shrines.
No barrier of nearly similar proportions has ever been raised in India. Islam, it is true, has planted its towers in many parts of the country and has, to some restricted extent, blocked the old highways of thought, causing a certain estrangement between the old and new world of ideas; but the severance between the past and the present has nowhere been as complete as in Europe, for many an Indian Muslim, though professing monotheism, still lingers upon the threshold of the old Hindu temples, and still, in times of trouble, will stealthily invoke the aid of the national deities, who are not yet dead and buried like those of the Vikings. Hence it may be asserted of the vast majority of the Indian people that their vision extends reverentially backward, through an uninterrupted vista, to the gods and heroes of their remote ancestors.
And who were those remote ancestors, those Aryan invaders of India in the gray dawn of human history? We have had two answers to that question. A few years ago the philologists assured us, very positively, that the Aryans were a vigorous primitive race whose home was in central Asia and who had sent successive waves of emigration and conquest westwards, right across the continent of Europe, to be arrested in their onward march only by the wide waters of the Atlantic. We were also assured, by these learned investigators into the mysteries of words and languages, that one horde of Asiatic Aryans, instead of following the usual westward course adopted by their brethren, had turned their thoughts towards the sunnier climes of the South, and, scaling the northwestern barrier of India, had conquered the aborigines and settled in the great Indo-Gangetic plain at the foot of the Himalayas. These conclusions find a place in all our text-books of Indian or European history. The schoolboy, who has read his Hunter’s brief history5 of India, knows well that “the forefathers of the Greek and the Roman, of the English and the Hindu, dwelt together in Central Asia, spoke the same tongue, worshipped the same gods,” and that “the history of ancient Europe is the story of the Aryan settlements around the shores of the Mediterranean.” However, these conclusions have recently undergone revision and radical modification. Within the last decade a theory, which originated in England with Dr. Latham and which met with contemptuous disregard when first propounded, has been revived by certain German savants and scientists.6 Supported by the latest results of craniological and anthropological investigation, Latham’s theory, in a modified form, has, under the erudite advocacy of Dr. Schrader and Karl Penka, gained all but universal acceptance. The theory now in favour, which is founded more on inferences from racial than linguistic peculiarities, differs from the one referred to above in a very important respect. The home of the Aryans, instead of being found in Central Asia, is traced to Europe, so that the Aryan invaders of India, many centuries before Christ, were men of European descent who pushed their way eastward and gradually extended their dominion first over Iran and subsequently over Northern India, having scaled the snowclad Himalayas, literally in search of “fresh fields and pastures new.” When they reached India, after a long sojourn in Eastern countries, they were a mixed European and Asiatic race, with probably a large share of Turanian blood,7 speaking a language of Aryan origin.8 A strong, warlike, aggressive race, these Aryans won for themselves a dominant position in ancient India, and have left to this day the unmistakable traces of their language in many of the vernaculars of the land.
The decision of the question of the origin of the Aryans and the locality of their primitive home is not one of purely antiquarian interest, it is one of national importance, as anyone will be prepared to admit who knows, and can recall to mind, the effect upon the educated Hindus of the announcement that their own ancestors had been the irresistible subjugators of Europe. Whether the Norman conquerors of England were of Celtic or, as the late Professor Freeman insisted, of Teutonic stock, is not unimportant to the Englishman for the true comprehension of his national history and not without some influence even in practical politics; but of far greater moment will it be for the Hindu whether he learn to regard the Aryans of old as an Asiatic or a European race, cradled on the “Roof of the World” or in the flats of the Don.
Although all Hindus look upon the Aryan heroes of the Indian epics as the ancestors of their race, and fondly pride themselves in their mighty deeds, the claim, in the case of the vast majority, is, of course, untenable; since the great bulk of the Indian population has no real title to Aryan descent. Yet Rama and Arjuna are truly Indian creations, enshrined in the sacred literature of the land. And the pride and faith of the Hindus in these demigods has, perhaps, sustained their spirits and elevated their characters, through the vicissitudes of many a century since the heroic age of India.
What genuine facts, or real events, may underlie the poetical narratives of the authors of the “Ramayana” and “Mahabharata” will never be known. The details naïvely introduced are often such as to leave an irresistible impression that there is a substratum of substantial truth serving as a foundation for the fantastic and airy structure reared by the poets, and we now and then recognize, for instance in their despairing fatefulness, a distant echo of ideas which have travelled with the Aryan race to the Northern Seas. But the too fertile imagination of the Indian poets, their supreme contempt for details and utter disregard of topographical accuracy, leave little hope of our ever getting any satisfactory history out of the Sanskrit epics, or even of our establishing an identity in regard to localities and details of construction such as has been traced, in our own day, by Schliemann, between the buried citadel of Hissarlik on the Hellespont and vanished Ilion. For those who do not share these opinions there is a wide and deep field for industrious research; but I confess that I am somewhat indifferent regarding the extremely doubtful history or the very fanciful allegory that may be laboriously extracted from the Indian epics by ingenious historians and mythologists. Indeed I would protest against these grand epics being treated as history, for then they must be judged by the canons of historical composition and would be shorn of their highest merits. They are poems not history, they are the romantic legends and living aspirations of a people, not the sober annals of their social and political life.
Like the other great poems created by the genius of the past, the Indian epics have a value quite independent of either the history or the allegory which they enshrine. They appeal to our predilection for the marvellous and our love of the beautiful, while affording us striking pictures of the manners of a bygone age, which, for many reasons, we would not willingly lose.
Being religious books, the “Ramayana” and “Mahabharata” are, more or less, known to the Hindus; but it is a noteworthy fact that even educated Indians are but little acquainted with the details of these poems, although both epics have been translated into the leading vernaculars of the country and also into English. I have known educated young men, with more faith in their ancient books than knowledge of their contents, warmly deny the possibility of certain narratives having a place in these books, because, to their somewhat Europeanized ideas, they seemed too far-fetched to be probable. The more striking incidents are, however, familiar to every Hindu, for Brahmans wander all over the country, reciting the sacred poems to the people. They gather an audience of both sexes and all ages and read to them from the venerable Sanskrit, rendering the verses of the dead language of the Aryan invaders of India into the living speech of their hearers. Sometimes the Brahmans read and expound vernacular translations of these poems of Valmiki and Vyasa. Often-times these recitations are accompanied with much ceremony and dignified with a display of religious formalities.9 Day after day the people congregate to listen, with rapt attention, to the old national stories, and the moral lessons drawn from them, for their instruction, by the Pandits. To this day a considerable proportion of the people of India order much of their lives upon the models supplied by their venerable epics, which have, moreover, mainly inspired such plastic and pictorial work as the Indian people have produced; being for the Hindu artist what the beautiful creations of Greek fancy, or the weird myths of the Middle Ages, have been for his European brother.
Impressed with the importance of some knowledge of the Indian epics on the part of everyone directly or indirectly interested in the life and opinions of the strange and highly intellectual Hindu race, which has preserved its marked individuality of character through so many centuries of foreign domination, I have written, for the benefit of those, whether Europeans or Indians, who may be acquainted with the English language, the brief epitomes of them contained in the following pages; deriving my materials not from the original Sanskrit poems, which are sealed books to me, but from the translations, more or less complete and literal, of these voluminous works, which have been given to the world by both European and Indian scholars. On all occasions where religious opinions or theological doctrines are concerned I have given the preference to the translations of native scholars, as I know that Indian Sanskritists have a happy contempt for Western interpretations of their sacred books, and it seemed very desirable, in such a case, to let the Hindus speak for themselves. Besides, I am of opinion that the English versions of the “Ramayana” and “Mahabharata,” now being given to the world by Indian scholars, have a unique value, which later translations will, in all probability, not possess. The present translators are orthodox Hindus possessing a competent knowledge of English, and their aim has been to produce English versions of their sacred poems, as understood and accepted by themselves and by the orthodox Indian world to-day, their renderings, no doubt, reflecting the traditional interpretation handed down from past times. Hereafter we shall have more learned translations, in which European ideas will do duty for Indian ones, and the old poems will be interpreted up to our own standard of science and philosophy. In wild legends we shall discover subtle allegories veiling sober history, in license and poetry we shall find deep religious mysteries, and in archaic notions shall recognize, with admiration, the structure of modern philosophy. Something of this has already come about, and that the rest is not far-off is evident; for we have only recently been told, that “in the shlokas of the ‘Ramayana’ and ‘Mahabharata’ we have many important historical truths relating to the ancient colonization of the Indian continent by conquering invaders ... all designedly concealed in the priestly phraseology of the Brahman, but with such exactitude of method, nicety of expression and particularity of detail, as to render the whole capable of being transformed into a sober, intelligible and probable history of the political revolutions that took place over the extent of India during ages antecedent to the records of authentic history, by anyone who will take the trouble to read the Sanskrit aright through the veil of allegory covering it.”10
While regretting my shortcomings in respect to the language of the bards who composed the Sanskrit epics, since I am thereby cut off from appreciating the beauty of their versification and the felicities of expression which no translation can possibly preserve, I derive consolation from the reflection, that with sufficiently accurate translations at hand-similar to our English versions of the Hebrew and Greek Scriptures-a knowledge of Sanskrit is certainly not essential for the production of a work with the moderate pretensions of this little volume.
-
“No other work in India at the present day possesses the attraction which these epics have for the majority of the people.”-Life in an Indian Village, by T. Rama Krishna, B.A. (T. Fisher Unwin, 1891). ↩
-
Professor Max Müller’s Hibbert Lectures, 1878, p. 50. ↩
-
Prisoners of war of all ranks were sacrificed in numbers. ↩
-
Du Chaillu’s “The Viking Age,” vol i., chapter xx., et seq. ↩
-
“A Brief History of the Indian People,” by Sir William Wilson Hunter, K.C.S.I. (Trübner and Co.). ↩
-
The world has recently been informed by Dr. Brinton that the theory attributed to Dr. Latham was really first advanced by Omalius D’Halloy in the “Bulletins de l’Academie Royale de Belgique” in May, 1848 (“Nature,” July 21st, 1892). ↩
-
As is maintained by Dr. Hermann Braunehoffer, “Journal of Royal Asiatic Society,” 1890, pp. 687-689. ↩
-
“The Origin of the Aryans,” by Isaac Taylor, M.A., LL.D. (Walter Scott); “Prehistoric Antiquities of the Aryan Peoples,” by Dr. O. Schrader, translated by F. B. Jevons, M.A. (Charles Griffin and Co.). ↩
-
The preparations for a recital of this kind in a village in the Madras Presidency are thus described. “People came pouring in from Kelambakam and from neighbouring villages to the house of the village headman. On the pial of his house was seated the preacher. Before him was placed the picture of Krishna playing the flute and leaning on a cow. The picture was profusely decorated with flowers. There were also two small vessels. In one there were camphor and some burning incense, in the other were flowers and fruits. The people swarmed about like bees.”-Life in an Indian Village, by T. Rama Krishna, B.A., p. 144. ↩
-
“The Ethnography of Afghanistan,” by Dr. H. W. Bellew, C.S.I., in the “Asiatic Quarterly Review,” October, 1891. ↩