Đã hiệu đính

PHỤ LỤC I.

“BHAGAVATGITA” HAY KHÚC CA THẦN THÁNH

“Bhagavat-Gita đáng chiêm ngưỡng hơn biết bao so với tất thảy những phế tích của phương Đông!”-H. D. Thoreau.

Không còn nghi ngờ gì nữa, thiên tài của dân tộc Ấn Độ đã vươn đến những tầm vóc tối thượng trong miền suy tưởng tôn giáo. Và một trong những tuyệt tác cao quý nhất, kết tinh trọn vẹn tinh thần thần học ấy, chính là “Bhagavatgita,” hay Khúc Ca Thần Thánh. Niên đại thực sự của bản trường ca triết học vĩ đại này cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp. Các học giả châu Âu nhìn chung đều cho rằng tác phẩm không quá cổ xưa và được sáng tác sau Công nguyên; thậm chí, một vài người trong số họ còn quả quyết bản trường ca mang những dấu ấn không thể nhầm lẫn về ảnh hưởng của giáo lý Cơ Đốc, xem đó là minh chứng cho thấy tác giả hẳn đã từng tiếp xúc với kinh thánh Cơ Đốc giáo. Trái lại, các học giả Ấn Độ lại nỗ lực chứng minh một niên đại xa xưa hơn rất nhiều cho tác phẩm, đồng thời lập luận rằng bất cứ nét tương đồng nào giữa tư tưởng trong “Gita” và trong các thánh thư của người Cơ Đốc, ắt hẳn bắt nguồn từ việc chính những tín đồ Cơ Đốc đã vay mượn từ các nguồn sử liệu Hindu.1

Từ rất sớm, “Bhagavatgita” đã thu hút sự chú ý sâu sắc của giới trí thức châu Âu, và được ngài Charles Wilkins chuyển ngữ sang tiếng Anh dưới thời Warren Hastings - người đã đích thân chắp bút viết lời tựa cho tác phẩm. Nối gót bản dịch của Wilkins là những công trình của Thompson và Davis, cùng bản dịch thơ vần luật của ngài Edwin Arnold mang tựa đề “The Song Celestial” (Khúc Ca Khung Trời). Bản trường ca uy nghi này cũng đã được chuyển ngữ sang cả tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp, cùng hầu hết các ngôn ngữ lớn của phương Tây. Ở khắp các quốc gia, tác phẩm đã đón nhận những lời xưng tụng nồng nhiệt nhất từ giới văn nhân và triết gia, nhờ vào âm hưởng thiêng liêng cao cả cùng những ý niệm triết học sâu xa, uyên áo.

Độc giả hẳn vẫn còn nhớ, “Bhagavatgita” vốn là một cuộc đối thoại giữa Krishna và Arjuna, diễn ra ngay đêm trước thềm cuộc giao tranh khốc liệt trên cánh đồng Kurukshetra. Cuộc mạn đàm ấy nảy sinh từ việc Arjuna chối từ tham gia vào một cuộc chiến chắc chắn sẽ dẫn đến sự tàn sát người thân ruột thịt khốc liệt chưa từng thấy.

Qua những vần thơ của “Gita”, ta thấy rõ Arjuna không chỉ mủi lòng xót xa trước tình máu mủ ruột rà với những người anh em họ hàng, mà còn kinh hãi trước ý nghĩ về những hậu quả sâu xa của cuộc tàn sát biết bao con người sắp diễn ra. Bằng tâm trí nhìn xa trông rộng, chàng mường tượng viễn cảnh diệt vong hàng loạt của giới chiến binh Kshatriya tất yếu sẽ kéo theo sự suy đồi luân lý trầm trọng nơi nữ giới. Từ đó, mầm mống của tai họa kinh hoàng nhất sẽ nảy sinh-sự pha tạp giữa các đẳng cấp! Đó là một tội ác tày trời mà người ta chỉ có thể nhắc đến bằng nỗi kinh khiếp tột cùng trong tín ngưỡng. Bởi lẽ, một trọng tội như sự hỗn loạn đẳng cấp chắc chắn sẽ đày ải nhân loại xuống cõi địa ngục tăm tối dành cho những kẻ đại ác. Thậm chí, nó còn kéo theo sự đọa đày vong linh tổ tiên khỏi chốn thiên tào an lạc, làm cho “những nghi thức dâng cúng bánh Pinda2 và tịnh thủy của họ bị dứt đoạn” bởi chính sự ô uế của đám hậu duệ. Đó thực sự là một viễn cảnh vô cùng đáng sợ mà họ phải đối mặt. Thế nhưng, một nỗi trăn trở khác dẫu bớt phần trĩu nặng lại vương vấn rõ rệt hơn trong tâm trí Arjuna: Liệu có hợp với đạo lý chăng khi chàng phải bước vào giao chiến với người trưởng bối đáng kính Bhisma cùng vị tôn sư Bà La Môn Drona? Cả hai vị vĩ nhân ấy, tự bao giờ, vẫn luôn nhận được từ chàng một sự tôn kính tuyệt đối.3

Thấy vậy, Krishna liền gạt bỏ những nỗi đắn đo đang vướng bận trong tâm trí Arjuna. Trước tiên, ngài nhấn mạnh vào bản chất bất diệt của linh hồn. Kế đến, ngài khẳng định thẳng thắn rằng bổn phận thiêng liêng của một chiến binh Kshatriya là cầm vũ khí xông pha trận mạc. Do đó, việc Arjuna tham chiến là lẽ đương nhiên và hoàn toàn đúng đắn, bất chấp hệ lụy có ra sao. Hơn thế nữa, Krishna nguyện gánh vác mọi nghiệp quả từ những hành động mà Arjuna sẽ thực hiện theo lời chỉ dạy của ngài. Để làm sáng tỏ điều này, Krishna phán truyền: “Những bậc trí giả chân chính nào có xót thương cho kẻ đã khuất lẫn người còn sống. Chẳng có thời khắc nào mà ta, ngươi hay những bậc quân vương kia chưa từng hiện hữu, và mai sau cũng chẳng có lúc nào tất cả chúng ta lại hóa thành hư vô... Giống như một người cởi bỏ tấm áo sờn rách để khoác lên mình y phục mới, linh hồn trú ngụ trong thể xác cũng vứt bỏ những hình hài già cỗi để bước sang những kiếp sống mới. Đao kiếm không thể chẻ đôi linh hồn, ngọn lửa chẳng thể thiêu rụi nó, dòng nước không làm nó ướt sũng và cơn gió cũng chẳng thể thổi bay... Tuyệt nhiên không có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì tách biệt khỏi linh hồn, và cũng không thể có sự hư vô đối với bất cứ thứ gì mang những đức tính của linh hồn.”

Qua những lời giáo huấn của Krishna, có thể thấy sinh mạng cá nhân mang rất ít giá trị, một quan điểm hoàn toàn tương đồng với triết lý cốt lõi của đạo Bà La Môn. Tuy nhiên, để thấu hiểu tường tận nhân sinh quan này, người đọc phải hết sức cẩn trọng, tránh đánh đồng quan niệm của người Hindu về sự bất diệt của linh hồn với đức tin Cơ Đốc giáo về sự bất tử của linh hồn cá nhân. Theo nhãn quan Hindu, linh hồn cá nhân chỉ là một mảnh ghép nhỏ bé của Đại hồn vũ trụ4. Nó tựa như một luồng sinh lực, có khả năng luân hồi5 qua vô lượng kiếp sống, hòa nhập vào bất cứ hình hài nào dù cao quý hay thấp hèn, để tự thích nghi trọn vẹn với chốn nương náu mới. Trừ khi bám víu vào một dạng vật chất nào đó, dù thô lậu hay vi tế, linh hồn hoàn toàn trống rỗng ý thức về cá ngã.6 Trong hệ giá trị của người Hindu, sự tồn tại mang theo ý thức bị xem là một cội rễ của khổ đau. Bởi vậy, mục đích tối thượng và khát vọng sâu xa nhất của mọi chúng sinh hữu tình phải là diệt trừ vĩnh viễn ý thức cá biệt. Sự tĩnh lặng tuyệt đối này chỉ đạt được khi ta rũ bỏ gông cùm vật chất bằng cách buông bỏ và triệt tiêu mọi ham muốn của giác quan. Đó chính là những lập luận mà Krishna dùng để hóa giải nỗi dằn vặt của Arjuna trước viễn cảnh phải sát hại hàng loạt người thân thuộc dòng dõi Kshatriya. Dẫu vậy, cuộc đàm đạo vẫn chưa khép lại, những vấn đề thần học vi tế khác tiếp tục nảy sinh và được Krishna soi sáng tường tận cho người bạn tri kỷ, đồng thời cũng là đệ tử thành tâm của mình.

Chúng tôi không có ý định sa đà vào từng nút thắt phức tạp trong cuộc đối thoại huyền vi này. Thay vào đó, trong chừng mực có thể bóc tách khỏi bức màn thần học kỳ bí bao trùm, chúng tôi chỉ đơn thuần trình bày những giáo lý và giới luật nền tảng nhất mà Krishna đã truyền dạy trong dịp trọng đại ấy.

Công việc hay lao động, dưới bất kỳ hình thức nào, vốn luôn bị thần học Bà La Môn xem là một ác nghiệp. Krishna cũng thừa nhận sự thật ấy, dù ngài cho rằng trong một số trường hợp nhất định, điều đó vẫn có thể được dung thứ và không đáng bị khiển trách. Làm việc chỉ vì bản thân công việc, hay mưu cầu đạt được một mục tiêu trần tục nào đó, thảy đều là điều không mong muốn, dù cho việc thực hiện những công việc cốt yếu nhằm cử hành các nghi lễ hiến tế7 hay nuôi dưỡng nhục thể vốn hợp lẽ đạo; song ngay cả những công việc này cũng phải được thi hành với một tâm thế vô cầu, không màng phần thưởng. Đối với các nghi lễ Vệ Đà8, tức là, những nghi thức hành lễ cổ xưa, nếu được cử hành đúng phép tắc, chắc chắn sẽ mang lại khoái lạc và quyền lực, thậm chí đưa linh hồn lên tận cõi trời trong một khoảng thời gian.9 Thế nhưng, cảnh giới chí thiện cao nhất-sự hòa nhập vào Đấng Tối Cao, và hệ quả là sự giải thoát tuyệt đối khỏi vòng luân hồi chuyển kiếp-lại chẳng thể nào đạt được chỉ bằng việc thực hành những nghi lễ Vệ Đà ấy. Cảnh giới đó chỉ có thể thấu đạt nhờ vào trí huệ hoặc đức tin. Bấy giờ, cả hai khái niệm trí huệ và đức tin này cần được soi rọi một cách đặc biệt. Vậy thì, bản chất cốt tủy của thứ trí huệ vô cùng linh nghiệm mang đến sự giải thoát kia là gì? Chắc chắn đó không phải là cách hiểu của thế giới phương Tây về thuật ngữ này, mà là một điều hoàn toàn khác biệt: cụ thể là sự quy phục các giác quan, sự diệt trừ triệt để mọi hỉ nộ ái ố, mọi hy vọng cùng sợ hãi, mọi khát khao lẫn ác cảm, mọi thói kiêu hãnh và sự thấp hèn. Trạng thái tịnh tâm tuyệt đối, dửng dưng trước vạn vật, dù thuộc về nhục dục hay trí năng, chính là cảnh giới của trí huệ dẫn lối linh hồn hòa nhập vào Đấng Tối Cao, hay linh hồn của vũ trụ.10

Một phương pháp để vươn tới trạng thái phúc lạc này, dẫu chưa hẳn là con đường ngắn nhất hay chắc chắn nhất, chính là thực hành hệ thống Yoga11. Phương pháp này đã được Đấng Krishna tán đồng. Ngài ban truyền những chỉ dẫn khái quát: một tín đồ, với lối ăn uống thanh đạm, cần tĩnh tọa nơi hoang vắng; tập trung ánh nhìn vào chóp mũi; dung hòa “sinh khí đi lên và sinh khí đi xuống". Cuối cùng, người đó phải rũ bỏ trọn vẹn mọi khát khao nảy sinh từ dục vọng, dùng tâm trí kìm hãm toàn bộ các giác quan từ mọi phía. Dần dà, hành giả sẽ bước vào trạng thái tĩnh tại thẳm sâu, nương nhờ sự tự thấu hiểu và được dẫn dắt bởi lòng nhẫn nại. Khi ấy, họ hướng trọn tâm trí vào cõi nội ngã và không nghĩ ngợi gì cả.

Một khi chạm tới cảnh giới này, tín đồ sẽ được giải thoát, bởi lẽ họ đã thực sự lĩnh ngộ trí huệ đích thực! Dù chỉ ra những giới hạn của kinh Vệ Đà đối với sự giải thoát tối hậu và chỉ dành lời ngợi khen chừng mực cho hệ thống Yoga, Krishna lại khắc sâu một cách uy lực giáo lý về sự mầu nhiệm của đức tin. Hơn hết thảy, đó là đức tin hướng về chính ngài - và đây dường như cũng là mục đích cốt lõi mà cuộc đối thoại này muốn tôn vinh.

Về phần mình, Krishna uy nghi tuyên xưng ngài là “nguyên nhân kiến tạo nên toàn bộ vũ trụ và cũng chính là kẻ hủy diệt nó.” Ngài khẳng định bản thân là “khởi thủy, khúc giữa, và điểm tận cùng của vạn vật,” và “chẳng có thế lực nào cao trọng hơn ngài.” Để minh chứng cho những lời tuyên bố ấy, vị thần đã đoái thương hóa hiện trước Arjuna trong “hình tướng tối cao toàn năng.” Hình tướng ấy hiện ra với muôn vàn miệng và mắt, phô bày vô số diện mạo kỳ vĩ cùng hằng hà sa số bảo vật của cõi thiên. Vô vàn binh khí thần thánh được giương cao. Đấng Tối Cao mang trên mình những vòng hoa thiêng và thiên y, tỏa ngát hương thơm thiên quốc. Đó là một hiện thân ngập tràn những diệu kỳ, chói lọi, vô tận, với vô lượng khuôn mặt hướng về muôn phương. Thậm chí, hào quang của hàng ngàn vầng thái dương cùng lúc bùng cháy trên bầu trời họa chăng mới sánh được với ánh quang vinh rực rỡ của đấng quyền năng ấy.

Ngay tại giây phút đó, người con trai của Pandu đã chiêm ngưỡng trọn vẹn toàn thể vũ trụ bao la, dẫu chia chẻ thành muôn vàn mảnh vụn, đều hội tụ cả trong thân xác của vị thần các vị thần. Quá đỗi kinh sợ đến mức tóc gáy dựng đứng, Dhananjaya (Arjuna) sụp lạy, đôi tay chắp lại thành kính và cất lời thưa với vị thần.

“Arjuna thưa: Đệ tử chiêm bái tất thảy chư thần, ôi Đấng Tối Cao, cùng toàn bộ muôn loài thụ tạo. Đệ tử thấy đấng Brahma ngự trên đài sen của ngài, cùng tất thảy các bậc Rishi và linh xà cõi trời. Đệ tử chiêm ngưỡng ngài hiện ra với vô số cánh tay, thân hình, khuôn miệng và đôi mắt trải rộng tứ bề, ôi đấng mang muôn vàn hình tướng. Đệ tử chẳng thể thấu suốt đâu là điểm tận cùng, đâu là khúc giữa, hay thậm chí đâu là điểm khởi thủy của chúng, ôi chúa tể vũ trụ, ôi đấng mang hình tướng của vạn hữu. Mang vương miện, chuỳ và luân xa12, ngài là một khối năng lượng rực sáng mọi phía. Đệ tử chiêm bái ngài thật khó để nhìn ngắm, được bao bọc tứ bề bằng thứ ánh sáng chói lọi của ngọn lửa hay mặt trời hừng hực cháy, vô lượng vô biên. Ngài là đấng bất diệt, là mục tiêu tối thượng của vũ trụ này. Ngài không thể mục nát, là vị thần hộ vệ của những đức hạnh vĩnh cửu. Đệ tử coi ngài là đấng nam thần vô thủy vô chung. Đệ tử chiêm bái ngài - đấng không có sự bắt đầu, đoạn giữa hay kết thúc, mang uy dũng vô biên với vô số cánh tay, có mặt trời và mặt trăng làm đôi mắt, ngọn lửa hừng hực làm khuôn miệng, thiêu đốt vũ trụ này bằng chính năng lượng của ngài. Vì không gian nằm giữa đất và trời chỉ tràn ngập duy nhất mình ngài, lan tỏa khắp muôn phương! Trước diện kiến hình tướng uy nghi và hung bạo này của ngài, ôi linh hồn tối thượng, ba cõi đều phải run rẩy. Nhìn kìa, những bầy tôi chư thần đang tiến vào ngài! Vài kẻ khiếp đảm đang chắp tay cầu nguyện. Vang lên rằng, Kính lạy ngài-những bậc đại Rishi và Siddha ngợi ca ngài bằng vô số bài thánh ca tán tụng. Các vị thần Rudra, Aditya, Vasu, cùng những vị được gọi là Sáddhya, Viçwa, Açwin, Marut, cùng với Ushmapa, Gandharva, Yaksha, Asura, các bầy tôi của Siddhya, thảy đều kinh ngạc chiêm bái ngài. Nhìn thấy hình tướng vĩ đại của ngài với ngàn vạn khuôn miệng và con mắt, ôi đấng hùng binh, với vô số cánh tay, bắp đùi và bàn chân, nhiều dạ dày và gớm ghiếc bởi những chiếc ngà, mọi thụ tạo đều khiếp đảm, và đệ tử cũng vậy. Quả thực, vươn chạm đến tận những tầng mây, ngập trong ánh sáng chói lóa hừng hực muôn màu sắc, khuôn miệng mở to cùng đôi mắt khổng lồ bốc lửa, chiêm bái ngài, ôi đấng Vishnu, linh hồn thẳm sâu của đệ tử đang run rẩy kinh hoàng. Đệ tử không sao gượng lại được sự can đảm và bình yên trong tâm trí. Nhìn thấy những khuôn miệng của ngài quá đỗi kinh hoàng bởi những chiếc ngà sắc nhọn, tàn bạo như ngọn lửa hủy diệt vạn vật vào ngày tàn của Yuga13, đệ tử không thể nhận diện nổi phương hướng nơi chân trời, cũng chẳng thể tìm lại được sự bình yên trong tâm. Xin hãy xót thương, ôi chúa tể của các vị thần, ngài là chốn nương tựa của vũ trụ. Và này đây tất cả những đứa con của Dhritarashtra, cùng với đám đông các vị vương hầu, cả Bhisma, Drona, lẫn đứa con trai này của Suta (Karna) đi cùng những chiến binh kiệt xuất nhất của phe ta, đang lao nhanh vào những khuôn miệng khủng khiếp nay trở nên hung bạo bởi những chiếc ngà của ngài! Vài kẻ, đầu bị nghiền nát, kẹt lại ở những kẽ răng. Giống như vô số dòng nước chảy qua những con kênh cuồn cuộn đổ mau về đại dương, hệt vậy, những anh hùng của thế giới loài người tiến vào những khuôn miệng bốc lửa tứ bề của ngài. Như những con thiêu thân lao vút vào ngọn lửa hừng hực để chuốc lấy sự hủy diệt, những con người này cũng vội vã lao vào những khuôn miệng của ngài để đón nhận diệt vong. Nuốt chửng tất cả những con người này từ mọi bề, ngài liếm láp họ bằng những khuôn miệng rực lửa. Đổ đầy toàn bộ vũ trụ bằng nguồn năng lượng vô biên, những vầng hào quang hung bạo của ngài, ôi thần Vishnu14, đang thiêu đốt vạn vật. Xin hãy nói cho đệ tử biết ngài mang hình tướng hung bạo ấy là ai. Đệ tử sụp lạy trước ngài, ôi vị thủ lĩnh chư thần, xin hãy xót thương đệ tử! Đệ tử khao khát được biết ngài, đấng nguyên thủy, vì đệ tử chẳng thể nào hiểu thấu những hành động của ngài.”

Sau một luận điểm đầy áp đảo hướng đến các giác quan của đệ tử, sau một minh chứng đáng kinh ngạc khẳng định ngài không chỉ là linh hồn phổ quát của tự nhiên mà còn là chính bản thân vũ trụ, Krishna tiết lộ cho Arjuna sự nhiệm màu của đức tin, thứ vượt lên trên cả hành động lẫn sự suy niệm. Do đó vị thần nói: “Hãy đặt trái tim của ngươi vào riêng mình ta, hãy đặt sự thấu hiểu của ngươi vào ta. Sau này ngươi sẽ ngự ở trong ta. Không có gì phải nghi ngờ về điều này;” và lại nói: “Ngươi vô cùng thân thiết đối với ta, do đó ta sẽ tuyên xưng điều gì là vì lợi ích của ngươi.... Rũ bỏ mọi bổn phận tôn giáo, hãy đến với ta như chốn nương tựa duy nhất của ngươi, ta sẽ giải cứu ngươi khỏi mọi tội lỗi.”

Việc khẳng định giáo lý về sự hiệu nghiệm của đức tin rõ ràng là mục đích đặc biệt của Gita; nhưng, với tinh thần dung hợp của Ấn Độ giáo, nó được khắc sâu mà không gây ra một sự đứt gãy quá lớn với các quan niệm chính thống liên quan đến những trụ cột và chốn nương tựa vốn được tôn kính qua năm tháng của người Hindu mộ đạo-kinh Vệ Đà và hệ thống Yoga. Tuy nhiên, cả hai thứ này đều bị tước đi một phần lớn tầm quan trọng khi so sánh với phương pháp mới để đạt đến cõi trời và sự giải thoát cuối cùng-thông qua đức tin vào Krishna.

Dẫu cho hệ thống đẳng cấp được duy trì mạnh mẽ trong “Bhagavatgita” và các thực hành của các Yogi được chấp thuận, nhiều tư tưởng tự do và cao cả nhất cũng được thể hiện trong bản trường ca vô cùng đáng chú ý này; như khi Krishna nói: “Bất kể hình tướng nào của thần linh hay của chính ta mà người sùng đạo khao khát tôn thờ bằng đức tin, đức tin đó của hắn vào hình tướng ấy ta sẽ làm cho trở nên kiên định. Được phú cho đức tin đó, hắn dâng sự sùng kính của mình cho hình tướng ấy và đạt được mọi khao khát, bởi mọi điều đó đều do ta định đoạt. Tuy nhiên, quả ngọt của những kẻ được ban cho ít ỏi trí tuệ thì chóng tàn phai. Những kẻ tôn thờ các vị thần sẽ về với các vị thần, trong khi những kẻ tôn thờ ta sẽ đến với ngay chính ta.” Lại nữa: “Ngay cả những tín đồ ấy, những kẻ được phú cho đức tin, tôn thờ các vị thần linh khác, hỡi con trai của Kunti, cũng là đang tôn thờ duy nhất ta, dù cho không đúng lề lối.” Và ở một đoạn khác: “Dù con người có đến với ta bằng bất cứ phương cách nào thì ta cũng dang tay đón nhận họ theo đúng phương cách đó.” Krishna cũng nói: “Ta đối xử công bằng với tất thảy muôn loài, không có kẻ nào đáng ghét đối với ta, cũng không có ai là yêu dấu. Tuy nhiên, những kẻ tôn thờ ta với lòng kính bái sẽ ở trong ta và ta cũng ở trong họ.”

Trong sự tĩnh tại thanh thản và cao cả của tư tưởng này, tác giả vô danh của “Gita” đã đạt đến một tầm cao của nền thần học quảng đại không thể vượt qua, có lẽ chưa từng được diễn đạt trước đây. Thế nhưng, than ôi! Thật khó cho ông khi phải đứng đơn độc trên đỉnh cao chót vót của triết học điềm tĩnh. Ông đành hạ mình xuống một góc nhìn đồng cảm và thấu hiểu hơn, khi Krishna của ông tuyên bố rằng “có hai loại thụ tạo trên thế giới này, cụ thể là phe thiện thần và phe ác quỷ. Những kẻ thuộc loại sau thì nhơ nhuốc, buông mình cho những nhục dục, vô luân, khẳng định rằng vũ trụ vắng bóng chân lý, nguyên lý dẫn đạo, và thậm chí không có một đấng cai trị. Chìm đắm trong hư vinh, quyền lực, kiêu hãnh, dục vọng và cuồng nộ, những kẻ chê bai này căm ghét ta trong chính thân xác của chúng và của những kẻ khác. Những kẻ thù ghét ta, tàn bạo, là những kẻ đê tiện nhất trong loài người và vô luân, ta ném chúng liên tục xuống những bào thai ác quỷ. Hỡi con trai của Kunti, bước vào những bào thai ác quỷ, bị huyễn hoặc hết kiếp này qua kiếp khác, chúng không sao vươn tới được ta, phải đi xuống cảnh đọa đày hèn mạt nhất.”

Về việc thần linh hóa thân, vốn là một ý niệm xa xưa đã được chấp nhận trong Ấn Độ giáo, Krishna nói: “Biết bao kiếp sống của ta đã trôi qua, hỡi Arjuna, cũng như của ngươi; ta biết rõ tất cả những điều đó, nhưng ngươi thì không, ôi kẻ trừng phạt những quân thù! Dẫu ta vốn chưa từng sinh ra và thuộc về thực thể không hề biết đến sự hoại diệt, dẫu ta là chúa tể của muôn loài; thế nhưng, dựa vào bản tính vật chất của riêng mình, ta ra đời nhờ vào chính quyền năng ảo ảnh của mình. Bất cứ khi nào, hỡi Bharata, sự suy đồi đạo đức xảy ra và sự trỗi dậy của sự bất kính, vào những dịp đó, ta tự sáng tạo ra chính mình. Để bảo vệ những người công chính, cũng để hủy diệt những kẻ ác nhân, vì mục đích thiết lập lòng mộ đạo, ta giáng sinh từ thời đại này qua thời đại khác.”

Bất luận tác giả của “Bhagavatgita” có vay mượn những ý niệm từ Cơ Đốc giáo hay không, chí ít, có một điều chắc chắn, rằng việc tôn thờ Krishna là một giai đoạn tương đối mới của Ấn Độ giáo; rằng giáo lý của nó về sự cứu rỗi hoặc sự giải thoát cuối cùng bằng đức tin cũng tương đối mới; và rằng khuynh hướng của giáo lý về đức tin này, như được truyền dạy trong “Gita”, là nhằm tách con người khỏi các nghi lễ và sự thờ cúng, cũng như làm họ thôi đeo đuổi việc thực hành Yoga.

Nhưng vì dường như đặc điểm của mỗi giai đoạn kế tiếp của Ấn Độ giáo là giữ mối quan hệ ôn hòa với những giai đoạn đã đi trước nó, “Gita” nỗ lực dẫn dắt con người đến nhiều hơn với giáo lý về đức tin vào Krishna, mà không quá hạ thấp các tư tưởng và thực hành chính thống hơn mức tuyệt đối cần thiết cho mục tiêu đang được hướng tới-do đó dẫn tới sự chấp thuận có phần dè dặt đối với các nghi lễ Vệ Đà và chủ nghĩa Yoga mà chúng ta tìm thấy trong chuyên luận này.

Về “Bhagavatgita”, áng văn vốn được tôn xưng như một hệ thống hoàn chỉnh của triết học tôn giáo Ấn Độ, tôi tin rằng những dòng phác họa ngắn gọn trên đây đã phần nào mang đến một góc nhìn thấu đáo.15 Dưới lăng kính của Ấn Độ giáo, đây là một hệ thống mang tính chiết trung; nơi người ta đã cấy ghép một nguyên lý mới mẻ-giáo lý về sự cứu rỗi thông qua đức tin-một khái niệm mà nguồn gốc ngoại lai của nó vẫn còn là điều bỏ ngỏ. Những ý niệm siêu phàm cùng triết lý siêu việt ấy mang một sức hút vô hình, lay động mãnh liệt những xúc cảm thanh cao nhất nơi tâm hồn những người Hindu hằng trăn trở. Tôi từng quen một chàng sinh viên trẻ đầy tài năng, người đã đắm chìm trong việc nghiên cứu “Gita” và bị cuốn theo những lời giáo huấn sâu sắc ấy đến mức tâm trí mất đi sự tĩnh tại, hoang tưởng rằng bản thân chính là Arjuna. Và khi cơn mộng mị qua đi, khao khát sục sôi duy nhất trong cõi lòng cậu là được lui về ở ẩn, sống một cuộc đời viễn ly tục lụy như các bậc Rishi thuở hồng hoang.

Về phần mình, khi khép lại thành tựu đỉnh cao này của triết học tôn giáo Ấn Độ, trong tôi đọng lại những dư vị đan xen giữa niềm ngưỡng vọng kính phục và một nỗi u hoài man mác.

Dường như ở bất kỳ quốc gia nào, con người cũng thường để cho trí tưởng tượng tư biện của mình tự do phiêu lãng quanh bức màn bí ẩn vĩ đại của Vũ trụ. Tác giả của “Gita” cũng đã ấp ủ những giấc mộng triết lý của riêng mình, cũng như bao người khác; và, tựa như Plato16 cùng nhiều bậc hiền triết, ông đã phô diễn những ý niệm độc đáo cùng những suy tưởng cá nhân để làm lời giải đáp cho bài toán lớn lao về sự tồn tại. Để rồi, những giấc mộng, những ý niệm lạ kỳ và những suy đoán biện bác ấy-dù được định danh là thần học hay triết học-đã được suy tôn như những chân lý vĩnh hằng, được truyền thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác, để rồi cuối cùng lại bị thế chỗ bởi những ý niệm lạ kỳ khác mang tầm vóc tương đương, được xây đắp trên những chân lý tưởng chừng vững như bàn thạch.

Dẫu vậy, khi rời bước khỏi thế giới của “Gita”, chí ít chúng ta cũng nên ghi nhận rằng giấc mộng của vị thi hào xứ Ấn Độ chẳng hề thiếu vắng đi sự cao quý trong xúc cảm và nét vĩ đại trong tư tưởng.



  1. Xin xem Bài tiểu luận của Tiến sĩ Lorinser về chủ đề này trong “Indian Antiquary,” tập ii., và phần phúc đáp đính kèm ở đầu bản dịch “Bhagavatgita” của Kashi Nath Trimbak Telang, M.A., LL.B. ↩

  2. (ND) Những viên thức ăn (thường làm từ cơm nếp, hạt vừng) được dâng lên linh hồn tổ tiên trong các nghi lễ tưởng nhớ (Śrāddha) của người Hindu để giúp họ siêu thoát và an nghỉ. ↩

  3. Arjuna hiển nhiên đã quên khuấy mất rằng chàng từng trực diện giao phong và đánh bại những bậc trưởng bối đáng kính này của mình khi đứng về phía Quốc vương xứ Panchala (tr. 162). ↩

  4. (ND) Thuật ngữ chỉ Brahman trong triết học Vedanta, được coi là Nguyên lý Tối cao, thực tại tuyệt đối và linh hồn chung của vạn vật trong vũ trụ, cội nguồn của mọi linh hồn cá nhân. ↩

  5. (ND) Tức Samsara, niềm tin triết học Ấn Độ cho rằng linh hồn sẽ liên tục sinh ra và chết đi trong nhiều kiếp sống khác nhau tùy thuộc vào nghiệp quả (karma) cho đến khi đạt được sự giải thoát. ↩

  6. Tương tự như trong các nghi lễ hiến tế, chư thần hấp thụ dưỡng chất từ luồng thanh khí của ngọn lửa dâng hiến; bởi vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, thân xác phàm trần (đặc biệt là khi được hỏa táng) đã cung cấp một phần tinh khí cho linh hồn vừa thoát xác, dẫu cho nó vẫn chưa hoàn toàn được giải thoát khỏi gông xiềng của vật chất dù đã trút bỏ được lớp vỏ thô lậu của hình hài. ↩

  7. Tồn tại một lý do vô cùng hệ trọng để biện minh cho sự ngoại lệ đặc thù đối với việc thực hành công việc trong các nghi lễ hiến tế, bởi, như Krishna đã thuyết giảng: “Từ thức ăn mà sinh ra vạn vật; từ cơn mưa mà nuôi dưỡng nên thức ăn; mưa được ban xuống từ nghi lễ hiến tế; và hiến tế chính là thành quả của công việc.” ↩

  8. (ND) Những hệ thống nghi thức, tế tự tôn giáo cổ xưa nhất của Ấn Độ được ghi chép trong bộ kinh Veda, nhằm dâng lễ vật lên các vị thần linh để cầu xin phước lành và sức mạnh. ↩

  9. Dưới nhãn quan của các nhà thần học Hindu, cả những hỷ lạc chốn thiên đường hay những đớn đau dưới cõi địa ngục đều không mang tính vĩnh cửu. Khi một linh hồn mang thể xác đã-nhờ những thiện nghiệp, sự tu tập khổ hạnh, v.v.-tích lũy đủ công đức, nó sẽ được ân chuẩn nếm trải những hỷ lạc của cõi trời trong một khoảng thời gian tương xứng với quả báo tốt lành của nó. Khi những công đức này cạn kiệt, nó buộc phải luân hồi tái sinh một lần nữa trên cõi trần này. Tương tự như vậy, linh hồn mang thể xác gánh chịu những ác nghiệp đáng bị trừng phạt sẽ phải thụ án dưới địa ngục và sau đó quay trở lại dương thế. Dù trong trường hợp nào, sau khi tái sinh cũng không còn sót lại chút hồi ức nào về những kiếp sống trước đó hay về những hỷ nộ ái ố thuở xưa. Thế nhưng, ở cõi trời hay dưới địa ngục, một ký ức vẫn sẽ được lưu giữ lại về kiếp sống cuối cùng trên trái đất, mà quả thực, trạng thái ở cõi trời hay cõi âm dường như chỉ là một dạng thức tiếp nối. ↩

  10. “Sự rũ bỏ thói hư vinh, không phô trương hào nhoáng, xa lánh việc sát sinh tổn hại, lòng bao dung lượng thứ, sự chính trực ngay thẳng, lòng sùng kính đạo sư, sự thuần khiết thanh tao, tính kiên định vững vàng, sự tự chủ, sự dửng dưng trước những cám dỗ của lục căn, sự vắng bóng của lòng vị kỷ, thấu triệt được sự khốn cùng và cái ác của sinh, lão, bệnh, tử, sự tự do thoát khỏi mọi trói buộc, không mảy may ủy mị trước con cái, thê tử, gia tộc cùng những vướng bận khác, và sự bình thản như nhất của nội tâm khi đối diện với điều thiện và điều ác, lòng sùng mộ kiên trung không lay chuyển đối với ta mà không màng tạp niệm về bất cứ thứ gì khác, thường xuyên lui tới chốn tịch liêu, chán ghét sự tụ họp đông người, sự kiên định trong việc liễu ngộ mối liên kết của nội ngã cá nhân với đấng tối cao, nhận thức được đích đến của việc thấu tỏ chân lý-tất cả những điều này được gọi là trí huệ, và tất cả những gì đi ngược lại điều này chính là sự vô minh. Thứ là cứu cánh của trí huệ, (bây giờ) ta sẽ tuyên xưng (cho ngươi) liễu ngộ điều đó, con người sẽ đắc được cõi bất tử. (Đó là) đấng Brahma tối cao, không có sự khởi thủy, người được cho là không tồn tại cũng không phải là không tồn tại, v.v., v.v.”-Krishna, trong “Bhagavatgita.” ↩

  11. (ND) Một trong sáu trường phái triết học chính thống của Ấn Độ giáo, không chỉ là các bài tập thể chất mà là một hệ thống kỷ luật tâm linh khắt khe nhằm kiểm soát tâm trí, giác quan để đạt đến sự hợp nhất với Đấng Tối Cao. ↩

  12. (ND) Bảo khí Sudarshana Chakra, một vũ khí thần thánh hình đĩa tròn có răng cưa xoay tít, thường xuất hiện cùng thần Vishnu hoặc các hóa thân của ngài như một biểu tượng của quyền năng bảo vệ và thi hành công lý. ↩

  13. (ND) Một kỷ nguyên hay chu kỳ thời gian trong vũ trụ học Hindu. Khi một chu kỳ Yuga kết thúc, vũ trụ sẽ trải qua một quá trình hủy diệt để tái thiết lập lại trật tự. ↩

  14. (ND) Một trong ba vị thần tối cao (Trimurti) của đạo Hindu, đóng vai trò là Đấng Bảo Tồn vũ trụ. Krishna được xem là một trong những hóa thân (avatar) quan trọng nhất của ngài. ↩

  15. Những ai có tâm hướng về trường phái bí truyền và chủ nghĩa thần bí có thể tham khảo “Bài luận về Bhagavatgita,” của T. Subba Row, B.A., B.L., F.T.S. (Bombay, 1888), từ đó họ sẽ học được, tr. 56-58, rằng anh em nhà Pandava trên thực tế là hiện thân của năm nguyên tố cấu thành nên con người hay đúng hơn là Nhân loại; rằng “nhà Kaurava không gì khác ngoài những ác niệm của con người, những thói hư tật xấu của hắn cùng những đồng minh của chúng,” và rằng “triết lý của Krishna răn dạy Arjuna rằng chàng phải khắc phục được những cám dỗ này, dẫu chúng có mối liên hệ mật thiết với chàng ra sao đi chăng nữa, trước khi chàng có thể bảo vệ được vương quốc hay xác lập quyền làm chủ đối với nội ngã.” ↩

  16. “Cộng hòa,” quyển x., chương 614-621. ↩