Đã hiệu đính

SỬ THI RAMAYANA HAY NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU CỦA RAMA

CHƯƠNG I. LỜI MỞ ĐẦU

Mỗi năm một lần, vào dịp lễ hội lớn mang tên Dasahra1, câu chuyện về pho sử thi Hindu trứ danh "Ramayana" lại được khơi dậy trong tâm thức người dân miền Bắc Ấn Độ. Một buổi trình diễn kịch nghệ ngoài trời lớn được dàn dựng, tái hiện những sự kiện cốt lõi trong cuộc đời của vị anh hùng Rama. "Ramayana" không đơn thuần là một giai thoại dân gian; đó là một áng thơ đầy thi hứng, mà trong niềm tin của đại đa số người dân Ấn Độ, từng chi tiết đều hoàn toàn chân thực. Dẫu khởi nguồn từ ít nhất mười chín thế kỷ trước, áng sử thi vẫn sống mãi trong tâm trí những người con xứ Aryavarta2, dường như vẫn giữ trọn sự thân thuộc với họ như từng gắn bó với tổ tiên suốt năm mươi thế hệ qua. Cho đến tận ngày nay, những đoàn hành hương mộ đạo vẫn cất bước lần theo dấu chân lưu lạc, cũng như hành trình khải hoàn của Rama, trải dài từ vương quốc Oudh3 nơi ngài chào đời cho đến tận hòn đảo Ceylon4 xa xăm. Hàng triệu người vẫn tin vào sự linh nghiệm từ danh xưng của ngài, xem đó là suối nguồn của sự bình an và cứu rỗi. Chính bởi những lẽ đó, áng thơ này mang một giá trị lớn lao và sức hút đặc biệt đối với bất kỳ ai khát khao thấu hiểu người Ấn Độ; tác phẩm soi rọi vào tư tưởng và cảm xúc của những bậc thi nhân thuở trước, đồng thời khắc họa tâm hồn của một dân tộc mà trải qua hai ngàn năm lịch sử, vẫn chưa từng thôi say đắm kiệt tác này.

Trong những chương tiếp theo, tôi sẽ khởi đầu bằng việc khắc họa vắn tắt những sự kiện trọng tâm được lưu truyền trong "Ramayana", rồi dẫn dắt từ quá khứ đến hiện tại qua việc miêu tả vở kịch thường niên mà bản thân đã nhiều lần chứng kiến nơi đất Bắc Ấn Độ.

Được chắp bút bằng Phạn ngữ, "Ramayana" ghi lại những câu chuyện về sự ra đời và những cuộc phiêu lưu của Rama. Toàn bộ áng sử thi, được phân định thành bảy cuốn hay bảy phần, bao gồm khoảng năm mươi ngàn dòng thơ, chiếm trọn năm tập sách qua ngòi bút dịch thơ của ông Ralph Griffith,5 dẫu rằng ở một chừng mực nào đó, đấy vốn dĩ đã là một phiên bản tinh gọn. Quyền tác giả của áng sử thi lừng lẫy này được hậu thế tin rằng thuộc về đạo sĩ Valmiki, và có một câu chuyện đẹp vẫn được lưu truyền về cái cách mà ông đã chắp bút nên tác phẩm. Một bậc chân tu khổ hạnh danh tiếng, mang dáng dấp của đấng siêu phàm tên là Narada6, đã tường thuật cho Valmiki nghe những sự kiện chính trong cuộc phiêu lưu của Rama, khiến vị đạo sĩ bị cuốn hút mạnh mẽ vào câu chuyện của vị anh hùng cùng những người bằng hữu. Miên man suy ngẫm về những điều Narada vừa hé lộ, Valmiki rảo bước về phía bờ sông để tắm gội. Chợt đâu gần đó, hai con diệc xinh đẹp, mảy may không hay biết hiểm nguy đang rình rập, vẫn vô tư đùa nghịch trên bờ suối rợp bóng cây; thì bỗng chốc, một mũi tên từ gã thợ săn giấu mặt lao vút tới, bắn hạ một con trong cặp chim vô tội. Con chim còn lại, đau đớn tột cùng trước nỗi mất mát, cứ hoảng loạn chao liệng quanh xác người bạn tình, cất lên những tiếng kêu bi thiết. Rung động sâu xa trước nỗi buồn bã của sinh linh nhỏ bé, Valmiki thốt ra những lời chất chứa phẫn nộ cùng xót thương, bằng những ngôn từ mà, đến chính ông cũng phải ngỡ ngàng, lại mang đậm nhịp điệu và có thể được xướng lên trong tiếng nhạc họa vần. Chẳng bao lâu sau, Đấng Sáng Tạo muôn loài Brahma7 đã hạ phàm, thăm viếng vị đạo sĩ tại nơi ẩn cư; nhưng tâm trí của Valmiki khi ấy hãy còn vướng bận cảnh ngộ xót xa bên bờ sông, đến nỗi ông vô thức ngâm lại những vần thơ vừa ứng tác lúc nãy. Đấng Brahma mỉm cười, cho vị ẩn sĩ hay rằng những vần thơ ấy đã nảy sinh trên bờ môi ông, ngõ hầu ông có thể phổ nên câu chuyện cuốn hút và uyên thâm về Rama bằng đúng nhịp điệu shloka ấy. Đấng Tối Cao quả quyết với Valmiki rằng mọi chi tiết của câu chuyện rung động lòng người này sẽ được hiển lộ trước mắt ông, đồng thời hướng dẫn vị đạo sĩ hãy chắp bút áng sử thi vĩ đại - một kiệt tác sẽ trường tồn chừng nào núi non và biển cả còn hiện hữu trên trái đất này. Phương thức mà Valmiki lĩnh hội trọn vẹn muôn vàn chi tiết của câu chuyện cũng thật đáng để suy ngẫm, bởi nó mang đậm triết lý Ấn Độ trong quan niệm sáng tác.

"Ngồi quay mặt về hướng đông trên đệm cỏ Kusa8, và nhấp nước theo đúng nghi thức, ngài hướng bản thân vào việc chiêm nghiệm chủ đề này thông qua quyền năng Yoga.9 Và, nhờ vào diệu năng Yoga của mình, ngài đã nhìn thấy hiển hiện rõ ràng trước mắt mình Rama và Lakshmana, cùng với Sita, và nhà vua Dasharatha, cùng những người vợ của ông, nơi vương quốc của chính mình, đang cười đùa, trò chuyện, hành xử và sinh hoạt hệt như trong đời thực."10



  1. (ND) Hay Dussehra/Vijayadashami, là một trong những lễ hội quan trọng nhất của đạo Hindu, thường diễn ra vào tháng 9 hoặc tháng 10 hàng năm nhằm kỷ niệm chiến thắng của cái thiện trước cái ác, đặc biệt là chiến thắng của thần Rama trước quỷ vương Ravana. ↩

  2. (ND) Tên gọi cổ của vùng Bắc Ấn Độ thời kỳ Vệ Đà, mang ý nghĩa "vùng đất của người Aryan", nơi được xem là cái nôi của nền văn minh và văn hóa Hindu giáo. ↩

  3. (ND) Hay Awadh, là một khu vực lịch sử ở miền Bắc Ấn Độ (nay thuộc bang Uttar Pradesh). Trong sử thi, trung tâm của vùng đất này là thành Ayodhya - vương quốc của vua Dasharatha, cha của Rama. ↩

  4. (ND) Tên gọi cũ thời thuộc địa của quốc đảo Sri Lanka ngày nay, tương ứng với đảo quốc Lanka trong sử thi, nơi quỷ vương Ravana cai trị. ↩

  5. "The Rámáyan of Válmikí," bản dịch thơ tiếng Anh của Ralph T. H. Griffith, M.A., Hiệu trưởng Trường Benares College (London, Trübner and Co.). ↩

  6. (ND) Một nhà hiền triết thần thánh trong thần thoại Hindu, thường đóng vai trò là sứ giả của các vị thần, đi lang thang khắp tam giới để truyền bá thông điệp và kiến thức thần thánh. ↩

  7. (ND) Vị thần Sáng tạo, một trong ba vị thần tối cao (Trimurti - Tam vị nhất thể) của Ấn Độ giáo cùng với thần Vishnu (bảo tồn) và thần Shiva (hủy diệt). ↩

  8. (ND) Hay cỏ Darbha, một loại cỏ thiêng trong nghi lễ Ấn Độ giáo, được tin là có khả năng thanh tẩy và thường dùng làm thảm trải cho các tu sĩ ngồi thiền định hoặc thực hành các nghi thức tôn giáo. ↩

  9. Về Yoga và Yoga giáo, tôi đã đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn trong tác phẩm trước đó, "Indian Life, Religious and Social," tr. 11-47 (London, Fisher Unwin). ↩

  10. "The Ramayana," bản dịch văn xuôi tiếng Anh từ nguyên bản tiếng Phạn của Valmiki bởi Manmatha Nath Dutt, M.A. (Deva Press, Calcutta). Nếu không có chú thích nào khác, tất cả các trích dẫn văn xuôi từ "Ramayana" trong những trang tiếp theo đều được lấy từ tác phẩm này. ↩