Đã hiệu đính

MAHABHARATA

CHƯƠNG I. LỜI MỞ ĐẦU

Ngự trên đỉnh cột đá sa thạch đỏ mang tên Kutub Minar1, với những đường rãnh khía tuyệt mỹ sừng sững giữa vẻ tĩnh lặng của Delhi cổ đại, tầm mắt ta có thể thu trọn một khung cảnh bao la, một trong những miền đất cổ kính bậc nhất xứ Hindustan2.

Phóng tầm mắt vượt qua bình nguyên rải rác những tàn tích thời gian, hướng về những ngọn tháp và vòm mái tráng lệ của Delhi hiện đại, người quan sát sẽ nhận ra một khối phế tích đồ sộ nằm chếch về phía đông. Đó chính là Poorana killa, hay cựu pháo đài. Qua những cái tên truyền miệng tự ngàn xưa như Indrapat hay Indraprasta, chốn hoang phế này dường như vẫn còn gợi lên âm hưởng của một thời kỳ hoàng kim, thuở mà nó từng ngự trị vào khoảng mười lăm thế kỷ trước Công nguyên.

Chẳng riêng gì trên tiểu lục địa Ấn Độ hay trong tâm thức tín đồ Hindu, Indraprasta mới được tôn vinh như một thánh danh; bởi lẽ, ngay tại mảnh đất Campuchia xa xôi, người dân vẫn một mực tin rằng tổ tiên họ là những di dân từng xuôi về bán đảo phương Nam từ hai bên bờ sông Jumna3 vời vợi. Những phế tích kỳ vĩ của Angkor và Battambang nằm kề bên biển hồ Toulé-sap đã phô bày một cách tường minh cội rễ Hindu giáo và Phật giáo, đồng thời hóa thân thành những nhân chứng thầm lặng, minh chứng cho một vương quốc phồn vinh và hùng cường mang cội nguồn Ấn Độ từng hiện diện trong cõi dĩ vãng xa xăm.4

Delhi, cùng với dải bình nguyên bao la phía Bắc, vốn dĩ đã gắn chặt với những sự kiện chấn động bậc nhất xuyên suốt chiều dài lịch sử cổ kim của Ấn Độ. Nơi đây từng chứng kiến bao cuộc chiến tranh giành đế chế mang tính quyết định nhất từng nổ ra ở dải đất phía Nam rặng tuyết sơn Himalaya.

Có lẽ, pho sử thi "Mahabharata" bắt nguồn từ những mẩu dã sử mộc mạc của người Aryan5, tương tự như các dân tộc Bắc Âu-đó là những truyền thuyết lịch sử ngợi ca bao chiến công oanh liệt của những chiến binh quả cảm, những con người mà đôi bàn tay gân guốc vốn dĩ đã quen vung giáo, múa rìu hơn là cầm cày hay cầm bút.6 Dẫu vậy, nếu quả thực là thế, thì các thi sĩ - những người đã sử dụng chất liệu từ các dã sử của tổ tiên để xây dựng nên một bản hùng ca vĩ đại của dân tộc, dường như đã không mấy bận tâm đến việc bảo toàn tính xác thực khắt khe của các truyền thuyết. Và rồi, mỗi khi mạch tự sự bị cắt ngang bởi những bài luận giải dài dòng hay các cuộc đàm đạo dài miên man, ta có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn rõ nét của vị biên soạn Bà La Môn7, cùng những dấu ấn cá nhân của ông trong việc bổ sung kho tư liệu. Chính vì lẽ đó, ta cũng nên thẳng thắn thừa nhận ngay từ đầu rằng, trong số một trăm ngàn câu thơ "Mahabharata" hiếm khi chắt lọc được những sự thật lịch sử thuần túy. Dẫu vậy, một kho tàng tri thức vô giá, dù không rập khuôn theo lăng kính lịch sử thông thường, vẫn dễ dàng được tìm thấy trong pho sử thi đồ sộ này, mang lại cho nó một giá trị vĩnh cửu muôn đời.

Quyền tác giả của pho sử thi "Mahabharata" tương truyền thuộc về đạo sư Vyasa, bậc tôn giả mang danh hiệu biên soạn, và sự ra đời của tác phẩm này cũng đáng chú ý không kém gì tác phẩm "Ramayana". Ngay ở phần mở đầu của khúc trường ca có nói rằng: "Người con trai của Satyavati (tức Vyasa), sau những tháng ngày đắm mình trong khổ hạnh và thiền định để chiêm nghiệm kinh Veda8 vĩnh hằng, đã biên soạn nên pho sử thi thiêng liêng này." Tuy đã hoàn tất toàn bộ thi phẩm đồ sộ nhưng chưa ghi chép lại một dòng nào, vị đạo sư bắt đầu trăn trở tìm cách truyền thụ áng văn vĩ đại này cho các môn đồ. Cảm thông với mong muốn lan tỏa những lợi ích của thi phẩm ấy đến người khác, Đấng Tối Cao Brahma đã hiển linh trước mặt vị thánh hiền. "Và khi Vyasa, giữa vòng vây của biết bao vị Muni9, nhìn thấy ngài, ông đã vô cùng ngạc nhiên; ông chắp tay cúi đầu và truyền lệnh dâng lên một bệ tọa. Rồi Vyasa bước quanh ngài, Đấng được suy tôn là Hiranyagarbha10, lúc bấy giờ đang an tọa trên bệ tọa; ông đứng cạnh ngài, và, được lệnh của Brahma Parameshti, ông ngồi xuống bên cạnh bệ tọa, lòng chan chứa tình cảm và nở nụ cười ngập tràn hoan hỉ" (P. C. Roy).11 Sau khi dành trọn lời khen ngợi cho khúc ca mà Vyasa đã sáng tác, Đấng Tối Cao phán truyền: "Ngươi hãy nghĩ đến Ganesa12, hỡi Muni, để chép lại bài thơ," và ngay sau đó "ngài lui về nơi ngự trị của mình." Vị thần minh triết Ganesa, khi nghe lời thỉnh cầu từ Vyasa, liền đi xuống am thất của vị đạo sư và ưng thuận chép lại câu chuyện kỳ diệu này, với một điều kiện: ngọn bút của ngài tuyệt đối không được ngơi nghỉ dù chỉ trong khoảnh khắc. Lời hẹn ước được đôi bên chấp thuận và nghiêm ngặt tuân thủ. Chính vì lẽ đó, "Mahabharata" đã được lưu truyền muôn đời, như một pho thánh điển bất diệt và vẹn toàn, khởi nguồn từ những lời ca của vị thi sĩ được đấng thiêng liêng soi sáng.

Nói về tầm vóc vĩ đại và tính thiêng liêng của tuyệt tác, ta chỉ cần mượn lại những dòng tụng xưng từ chính thi phẩm: "Không một câu chuyện nào được lưu truyền giữa thế gian này lại không nương tựa vào pho sử thi vĩ đại ấy, cũng giống như cơ thể con người phải nhờ vào thức ăn mỗi ngày vậy."

"Nghiên cứu 'Bharata' là một hành động sùng đạo. Kẻ nào đọc lên dù chỉ một nhịp thơ với trọn vẹn đức tin sẽ được gột sạch mọi lỗi lầm."

"Người nào mỗi ngày đều thành kính lắng nghe pho thánh điển này sẽ được ban phước thọ trường, tiếng thơm vang xa và ngày sau được siêu thăng cõi thiên giới."

"Một Bà La Môn, dù phạm phải tội lỗi nào trong ngày qua các giác quan, thảy đều sẽ được giải thoát nếu trì tụng 'Bharata' vào lúc hoàng hôn. Và dù có gieo tội lỗi nào trong đêm tối từ hành động, lời nói cho đến tâm tưởng, cũng đều sẽ được gột rửa sạch sẽ nếu cất lên tiếng tụng 'Bharata' lúc hừng đông ló rạng."

Những xác tín thiêng liêng ngần ấy có thể ảnh hưởng như thế nào đến hệ giá trị đạo đức của cả một dân tộc, đó là điều chúng ta sẽ không dừng lại để tìm hiểu.

"Mỗi dân tộc," như Prévost-Paradol từng kiến giải, "đều có trong lịch sử một biến cố vĩ đại, nơi họ gắn kết toàn bộ quá khứ và cả tương lai của mình, và ký ức về nó vừa là tiếng gọi quy tụ đồng bào, vừa là lời hứa hẹn về sự cứu rỗi. Cuộc Thiên di khỏi Ai Cập, người Do Thái nói vậy; sự sụp đổ của đế chế Medes13, người Ba Tư nói vậy; và các cuộc chiến tranh của người Medes, người Hy Lạp cũng nói vậy. Người ta sẽ gợi nhắc nó trong mọi bối cảnh để làm bệ phóng cho các luận điểm, các tham vọng chính trị, các thi pháp hùng biện, những lời kêu gọi ái quốc trong những thời khắc nguy nan nhất, và sau rốt, biến thành những niềm tiếc nuối khôn nguôi."14

Đối với người dân Ấn Độ, đó chính là cuộc đại chiến được định đoạt tại trận Kurukshetra15, sự kiện trung tâm trong toàn bộ lịch sử của họ. Dấu mốc ấy đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên. Trước cuộc chiến đó là một thế giới ngự trị bởi trí tuệ siêu việt và những chiến công hiển hách; sau sự kiện ấy là sự suy tàn của tâm trí và sự thoái hóa của hình hài. Đó chẳng phải là một hoài niệm mơ hồ, mà là một niềm tin cắm rễ sâu thẳm, thứ mà một trí thức Ấn Độ uyên bác cũng sẻ chia đồng điệu với những người đồng hương bình dân nhất. Tôi từng quen biết một học giả Hindu, người đã sôi nổi quả quyết rằng trong thời hoàng kim ấy, các bậc Rishi16 và những bậc trí giả đương thời đều tinh thông nghệ thuật hàng không, và có lẽ là cả những phương thức dịch chuyển siêu tốc mà nhân loại hiện đại chúng ta vẫn chưa từng hay biết. Tôi từng nghe ông hùng hồn tuyên bố rằng ngay cả điện thoại, micrô hay máy quay đĩa cũng đã được các nhà hiền triết Hindu biết đến cho tới khi mọi thành tựu khoa học và nghệ thuật của thế giới cổ đại hoàn toàn bị hủy diệt, cùng với xác thân của những người anh hùng "Mahabharata" trên sa trường Kurukshetra định mệnh. Dù ta ít có xu hướng đưa những tuyên bố nhuốm màu lãng mạn ấy vào trong khuôn khổ của một nền lịch sử khoa học đến đâu, thì ít nhất, chúng vẫn đúng ở chỗ cho thấy sự không tồn tại của bất kỳ khoa học tiến bộ nào trong cộng đồng dân cư Ấn Độ kể từ một thời kỳ xa xăm cho đến tận ngày nay.

Trong số mười vạn câu thơ của "Mahabharata," có chưa tới một phần tư số lượng tập trung vào cốt truyện chính của pho sử thi - phần còn lại bao gồm những tình tiết phụ, đôi khi rất hay nhưng ít nhiều xa rời mạch truyện, cùng với những bài luận về nghệ thuật quản trị, các chuẩn mực đạo đức và những triết lý thần học. Chính mạch truyện chính này là điều mà tôi đã tóm tắt lại trong tập sách nhỏ này, và đồng thời, tôi cũng đã cố gắng giữ lại, ở mức độ tốt nhất có thể, những nét đặc trưng của hệ tư tưởng trong áng sử thi này.



  1. (ND) Kutub Minar (hay Qutb Minar) là một tháp chiến thắng bằng đá sa thạch đỏ và cẩm thạch nằm ở Delhi, Ấn Độ. Được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 12 bởi triều đại Hồi giáo, đây được coi là một trong những công trình kiến trúc Hồi giáo cổ nhất và cao nhất ở Ấn Độ. ↩

  2. (ND) Hindustan là tên gọi trong lịch sử dùng để chỉ vùng đất phía bắc bán đảo Ấn Độ, đặc biệt là lưu vực sông Hằng và sông Ấn. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Ba Tư, có nghĩa là 'vùng đất của người Hindu'. ↩

  3. (ND) Sông Jumna (hay Yamuna) là một trong những con sông linh thiêng nhất trong Ấn Độ giáo, chảy qua miền bắc Ấn Độ và là phụ lưu lớn nhất của sông Hằng. Trong thần thoại, dòng sông được nhân cách hóa thành nữ thần Yamuna. ↩

  4. “Nouvelle Géographie Universelle,” par Elisée Reclus, tome viii., p. 873, et seq. Keane’s “Asia,” pp. 678-680. ↩

  5. (ND) Aryan là thuật ngữ chỉ các bộ tộc du mục sử dụng ngôn ngữ Ấn-Iran, những người đã di cư vào miền bắc Ấn Độ khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Họ được coi là những người đã sáng tác ra kinh Veda và đặt nền móng cho nền văn minh Veda cổ đại. ↩

  6. Tôi cho rằng, sau khi lần giở qua bảng phả hệ trải dài vô tận của các vị quân vương trong "Mahabharata", người ta buộc phải kết luận rằng ẩn sâu dưới tất thảy vẫn hiển hiện một nền tảng sự thật lịch sử, bất chấp những màn sương mù huyền thoại đang giăng phủ mờ mịt tầm nhìn. ↩

  7. (ND) Bà La Môn (Brahmin) là đẳng cấp cao nhất trong hệ thống phân chia giai cấp (Varna) truyền thống của Ấn Độ giáo, bao gồm các tu sĩ, học giả, triết gia và là những người nắm giữ các nghi thức tôn giáo, tri thức học thuật. ↩

  8. (ND) Kinh Veda là tập hợp các văn bản tôn giáo cổ xưa nhất của Ấn Độ giáo, được viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit). Chúng được coi là những mặc khải thiêng liêng và chứa đựng các bài thánh ca, nghi thức tế tự, cùng triết lý nền tảng của văn minh Ấn Độ cổ đại. ↩

  9. (ND) Muni trong văn hóa Ấn Độ là thuật ngữ chỉ những bậc hiền triết, tu sĩ khổ hạnh hoặc những đạo sư đã đạt đến trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối trong tâm hồn thông qua thiền định. ↩

  10. (ND) Hiranyagarbha (nghĩa đen là 'Bào thai vàng' hoặc 'Quả trứng vàng') là một khái niệm trong triết học Veda, chỉ nguồn gốc nguyên thủy của vạn vật hoặc linh hồn vũ trụ tối cao, thường được đồng nhất với thần sáng tạo Brahma. ↩

  11. Cuốn "Mahabharata" của Krishna-Dwaipayana Vyasa, được Pratap Chundur Roy chuyển ngữ sang văn xuôi tiếng Anh (Calcutta, Bharata Press). Trừ khi được ghi chú cụ thể khác đi, mọi trích đoạn văn xuôi từ "Mahabharata" trong các trang tiếp theo đều được trích xuất từ tác phẩm này. ↩

  12. (ND) Ganesa (hay Ganesha) là vị thần đầu voi trong Ấn Độ giáo, tượng trưng cho trí tuệ, sự thịnh vượng và là đấng xóa bỏ mọi trở ngại. Ngài là con trai của thần Shiva và nữ thần Parvati. ↩

  13. (ND) Đế chế Medes (Media) là một vương quốc cổ đại nằm ở khu vực tây bắc Iran ngày nay. Đế chế này từng cai trị một vùng rộng lớn ở Cận Đông trước khi bị đế quốc Ba Tư dưới thời Cyrus Đại đế đánh bại và sáp nhập vào giữa thế kỷ 6 TCN. ↩

  14. "Mỗi dân tộc trong lịch sử của mình đều khắc ghi một thành tựu vĩ đại, nơi họ neo đậu toàn bộ quá khứ và cả tương lai: và ký ức về nó vừa là tiếng gọi quy tụ đồng bào, vừa là lời hứa hẹn về sự phồn vinh cứu rỗi. Cuộc Thiên di, người Do Thái sẽ tụng xưng thế; sự sụp đổ của đế chế Medes, người Ba Tư sẽ tự hào thế; và các cuộc chiến tranh của người Medes, đến lượt người Hy Lạp sẽ vinh danh thế. Những thời khắc thiêng liêng ấy sẽ được gợi nhắc trong mọi bối cảnh để làm bệ phóng cho các luận điểm, các tham vọng chính trị, các thi pháp hùng biện, những lời kêu gọi ái quốc trong những cuộc khủng hoảng lớn, và sau rốt, hóa thành những niềm tiếc nuối bất diệt."-Essai sur l’histoire universelle, par M. Prévost-Paradol, tome premier, p. 166. ↩

  15. (ND) Trận Kurukshetra là cuộc chiến tranh trung tâm trong sử thi Mahabharata, diễn ra giữa hai gia tộc Kaurava và Pandava để tranh giành ngôi báu. Kurukshetra hiện là một vùng đất thuộc bang Haryana, miền bắc Ấn Độ, được coi là thánh địa vì đây cũng là nơi thần Krishna giảng truyền Bhagavad Gita. ↩

  16. (ND) Rishi (Thánh hiền hay Ẩn sĩ) là danh xưng dành cho các nhà thơ, triết gia, hoặc những người có khả năng thấu thị tâm linh thời Veda. Họ được cho là những người đã giao tiếp và truyền lại các bài thánh ca trong kinh Veda từ cõi thần thánh. ↩