CHƯƠNG III. VÙNG ĐẤT THIÊNG
Bao quanh thị trấn Thanesar là Brahmavarta, vùng đất linh thiêng của người Hindu. Từ đó, chỉ cần tản bộ một quãng ngắn là bước vào cõi thiêng Kurukshetra.
Bản thân Thanesar ngày nay đã hóa thành một chốn hoang tàn đổ nát. Hồ nước thuở xưa, nơi hai dòng họ Pandava và Kaurava từng huyết chiến trong một cuộc đại chiến, giờ đây chỉ còn là một vùng đầm lầy u ám, tịch liêu. Dẫu vậy, một bên bờ hồ vẫn được điểm xuyết bởi rặng đa cổ thụ uy nghi và tuyệt mỹ. Dưới tán lá rậm rạp, thâm u ấy nấp mình vài ngôi đền gạch trát thạch cao nhỏ bé, mang đậm phong vị kiến trúc đền miếu dân dã chốn Bắc Ấn.
Dòng thời gian nghiệt ngã đã rải rác khắp thế gian những dấu tích phế hưng từ bàn tay kiến tạo của con người. Dưới ánh mặt trời, ở bất kỳ quốc gia nào, ta cũng có thể bắt gặp những mảnh vỡ vụn của thành quách, đền đài hay cung điện. Tùy thuộc vào bối cảnh, chúng lại khơi gợi những mạch cảm xúc và tâm trạng đầy khác biệt trong lòng người chiêm ngưỡng. Đơn cử, khi đối diện với sự uy nghiêm, vững chãi của đế chế La Mã, ta trầm ngâm suy tưởng giữa những hàng cột trụ đứng sừng sững tại quảng trường Forum, hay thả hồn hình dung lại những trò giải trí đẫm máu của cư dân đế quốc tại Đấu trường Colosseum kỳ vĩ. Với một niềm ngưỡng mộ xen lẫn chút ngậm ngùi, ta chiêm ngưỡng tại Delhi cổ kính những tàn dư đồ sộ của một ngôi thánh đường Hồi giáo oai linh, vốn được dựng lên từ những chiến lợi phẩm tước đoạt từ các đền thờ Hindu có niên đại xa xưa hơn. Thế nhưng, khi cất bước lang thang giữa những tàn tích gạch đá bạt ngàn của Thanesar, lòng ta chỉ dâng lên một nỗi buồn bã đơn thuần, không vướng bận thêm một cảm niệm nào khác. Nơi này chẳng còn vương lại dẫu chỉ một tàn dư mỏng manh của vẻ đẹp hay sự huy hoàng thuở trước. Trú ngụ giữa chốn điêu tàn ấy phần lớn chỉ có bầy khỉ hoang, những sinh linh mà một học giả người Punjabi mộ đạo từng ngậm ngùi ví von là “những tu sĩ Bà La Môn quá cố... dường như đang ngóng vọng về mái nhà xưa.”1
Tôi đặt chân đến thị trấn này vào tháng 12 năm 1892, và quả thực, hiếm có nơi nào trên cõi đời lại mang một vẻ hoang lương, quạnh quẽ đến nhường ấy. Ngay cả những con phố sở hữu những dãy nhà xây gạch mang hình dáng khá hiện đại cũng đang dần chìm vào cảnh hoang tàn. Chúng quá tầm thường để níu giữ ánh nhìn, lại quá mới mẻ để gợi nên một vẻ đẹp đầy thi vị như tranh vẽ, và tuyệt nhiên chẳng có bóng người ở, ngoại trừ bầy “tu sĩ Bà La Môn quá cố” kia. Dấu ấn điêu tàn in hằn lên cả những cửa hiệu và nếp nhà còn sót lại, phác họa một khung cảnh xập xệ chung của cả thị trấn. Dẫu vậy, những mặt hàng bày bán lại chẳng hề vương chút bụi thời gian, chứng tỏ những cư dân còn bám trụ nơi Thanesar này vẫn vẹn nguyên niềm say mê với các loại kẹo bánh ngọt ngào phong phú của xứ sở, và vẫn rất ưa chuộng những dải saree rực rỡ sắc màu cùng những chiếc vòng tay thủy tinh choori lấp lánh.
Giữa bức tranh suy tàn bao trùm, một vài ngôi đền Hindu mang chóp nhọn vút cao vẫn ngạo nghễ vươn mình, và lăng mộ của vị thánh đạo Hồi, Shaikh Chilli2, ngự trên một gò đất thoai thoải, cũng kiêu hãnh đội vòm mái bằng cẩm thạch vươn lên giữa không trung. Song, phần còn lại của bức tranh, như tôi đã miêu tả, chỉ là sự tồi tàn và nhếch nhác.
Nép mình trong khuôn viên lăng mộ Shaikh Chilli là một mái trường nhỏ, nơi tôi tình cờ bắt gặp những cậu học trò đang miệt mài kinh sử trong một lần dạo bước tham quan. “Thật là những cậu bé kém may mắn,” tôi thầm nghĩ, “khi phải lớn lên giữa một bầu không khí tinh thần ngột ngạt của một thành phố đang chết mòn!”
Dẫu cho Kurukshetra hiện tại đã đánh mất mọi ánh hào quang hay sự vĩ đại thuở nào, một chuyến hành hương về nơi đây vẫn vô giá đối với những học giả khát khao đắm mình vào chiều sâu lịch sử và tôn giáo Ấn Độ.
Trên một dải bình nguyên, nơi tầm mắt vẫn có thể vươn xa chạm đến những đường nét xanh mờ ảo của rặng Himalayas hùng vĩ, lữ khách sẽ bắt gặp, ngay bên ngoài ranh giới Thanesar một quãng ngắn, một vùng đầm lầy cạn có chu vi chừng ba dặm, um tùm cỏ dại. Đây chính là hồ nước lịch sử mang trong mình dấu ấn thời gian mà, theo nhận định của Tướng Cunningham, đã từng là một thánh địa linh thiêng từ rất lâu trước khi nổ ra cuộc đại chiến; thẳm sâu hơn, có lẽ gốc rễ của nó còn vươn tới tận thời đại kinh Rig Veda3. “Liệu có thể nào,” tôi trầm ngâm đứng bên vũng nước ngập cỏ dại, tự hỏi, “rằng trải qua cả trăm thế hệ, lòng thành kính bất diệt của dân tộc Hindu lại luôn bền bỉ, gắn chặt vào một mảng nước xám xịt trên vùng đồng bằng trống trải này chăng?” “Và cớ làm sao,” tôi lại tự hỏi, “sự sùng đạo tột bậc ấy lại chưa từng tô điểm cho đôi bờ hồ tĩnh lặng này bằng những đền đài nguy nga (bởi nơi đây vắng bóng những phế tích bề thế), và vì lẽ gì mà ngày nay, nó lại chìm sâu vào lãng quên đến nhường này?”
Bạn đọc thân mến, liệu quý vị có muốn cùng tôi dạo bước quanh mặt hồ để quan sát di tích này từ mọi góc độ không?4 Nằm ở bờ phía đông là quần thể kiến trúc duy nhất mang tầm vóc đáng kể, trong đó, bề thế nhất là một ngôi đền mới được cất lên gần đây dù không có điểm nhấn nào quá đặc biệt về mặt nghệ thuật không gian. Tựu trung, đó chỉ là một Mandir5 thông thường; song, nơi đây vẫn thấp thoáng phong vị tín ngưỡng bản địa khi lưu giữ năm bức tượng đất sét tô màu phác họa chân dung năm anh em nhà Pandava, vốn được ngăn cách với những lữ khách hiếu kỳ hay những tín đồ quá đỗi sùng đạo bằng một hàng rào tre mộc mạc mà vững chãi. Ngôi đền tự hào sở hữu một chiếc chảo sắt khổng lồ-đường kính không dưới tám feet và sâu chừng chín inch-đã lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt của tôi. Chiếc chảo vĩ đại ấy là tâm điểm trong các kỳ lễ hội rộn rã, khi dân chúng quyên góp tiền bạc để được các tu sĩ Bà La Môn phân phát thức ăn.
Một hệ thống bậc thang đá dẫn lối từ thềm đền xuống tận sát mặt nước, trải dài ôm trọn gần một nửa vòng cung phía đông và phía bắc của hồ. Một con đường đắp cao chạy dài qua những vòm cầu kiên cố vươn ra giữa lòng hồ, để rồi dẫn tới một ngôi đền nhỏ nhắn, nằm khuất dưới tán lá rợp bóng mát. Gần đó, một cây cầu khác-nay chỉ còn nhấp nhô đôi chút trên mặt sóng-chạy song song với con đường đắp cao nọ, cắt ngang lòng hồ, nối liền đôi bờ đông tây với một hòn đảo nhỏ lẻ loi ở chính giữa. Chính trên hòn đảo trơ trọi này, vị hoàng đế Mughal Aurangzeb6 khét tiếng cuồng tín thuở xưa đã cho dựng nên một pháo đài khiêm tốn, làm chốt chặn cho một toán lính nhỏ nhoi với một sứ mệnh duy nhất: ngăn cản các tín đồ Hindu trầm mình gột rửa trong làn nước thiêng của tôn giáo họ.
Tiếp tục hành trình xuôi dọc bờ đông, chúng ta lướt qua vài ba ngôi miếu nhỏ nay đã xập xệ, nép mình dưới bóng râm của những cội đa vươn dài những nhánh cành rậm rạp, soi bóng mình xuống làn nước lặng lẽ, trong xanh. Men theo các bậc thềm bằng đá, ta đặt chân đến bờ phía bắc mang một dáng vẻ khá tinh tươm và tươi mới. Người dẫn đường kể cho chúng tôi nghe rằng, công trình mang hơi thở hiện đại này chính là tuyệt tác tạ ơn của một vị "Larkeen Sahib7", một viên quan cai trị vùng đất này, người vốn mang lòng ngưỡng mộ sâu sắc đạo Hindu; ngài đã cho xây dựng bậc cấp ghat8 này như một nghĩa cử tri ân chân thành, sau khi phu nhân của ngài qua khỏi một căn bệnh bí ẩn nhờ những lời cầu nguyện của các tu sĩ Bà La Môn. Than ôi! Vị "Larkeen Sahib" đáng kính, tôi bất chợt tự hỏi liệu huyền thoại nhuốm màu sùng kính mà người dân địa phương đang rỉ tai nhau về ngài, đã từng lọt đến tai ngài hay chưa!
Rảo bước sang thềm bờ tây, ta bắt gặp một đài tưởng niệm nhỏ nhắn bằng gạch thô, nơi tưởng nhớ đến sự hy sinh suttee9 của năm người vợ thuộc về một tu sĩ Bà La Môn vô danh nào đó, mà danh tính nay đã rơi vào quên lãng.
Nhích lên phía trước đài tưởng niệm đôi chút, hơi lùi xa khỏi mép nước, chúng tôi được dẫn lối đến một “bythuck10” của Guru Nanak, đấng tổ sư khai sáng nên đạo Sikh; và rồi, chúng tôi phải nương mình bên trong những bức tường ấy để tránh một cơn mưa tầm tã trút xuống, khiến quang cảnh chung quanh bỗng chốc trở nên ảm đạm và vắng vẻ. Tại chính nơi đây, người dẫn đường cất giọng kể rằng Guru Nanak thuở trước từng tĩnh tọa trầm tư bên bờ hồ thiêng. Thế nhưng, từng dòng người hành hương tuôn đến chiêm bái đã phá vỡ cõi tĩnh lặng của ngài; thế là một ngày nọ, để lánh khỏi sự sùng kính quá mức nhiệt thành, ngài đã lặng lẽ chìm sâu vào lòng đất, men theo một luồng địa đạo bí ẩn, để rồi huyền diệu ngoi lên tại thánh địa Hurdwar11 bên bờ Hằng hà thiêng liêng. Chuyến du hành kỳ diệu dưới lòng đất ấy hẳn nhiên không thể nào bị ngờ vực, bởi lẽ có cả một đường hầm làm nhân chứng sống động cho câu chuyện truyền kỳ, với một bậc thang kiên cố dẫn lối người ta bước xuống. Vâng, quả thực ở đó có ba bốn bậc thang dẫn xuống một khoảng tối nhỏ hẹp đục sâu vào vách đền. Nhưng hỡi ôi, đường hầm nào đâu? Con trai tôi đã mạo hiểm trèo xuống khoảng hố ấy để mục sở thị. Một nét hụt hẫng thoáng lướt qua gương mặt vị hướng dẫn viên Bà La Môn. Cớ sao lại có sự tò mò thừa thãi và nhuốm màu báng bổ đến dường này? Câu chuyện truyền tụng chắc chắn phải là chân lý, bởi mọi người đều một mực tin tưởng vào nó; và hiển nhiên, vị thế của cái bythuck nơi Guru Nanak từng an tọa này gợi mở bao điều thú vị, bởi nó minh chứng cho sự gắn kết kiên cường của những tín đồ đạo Sikh với gốc rễ tín ngưỡng Hindu cổ đại-nguồn cội mà đại đa số những người theo đạo Sikh ngày nay vẫn đang tự nguyện quy bái.
ĐỀN THỜ VÀ CÁC BẬC CẤP TẮM TRÊN HỒ THIÊNG TẠI KURUKSHETRA.

Nếu có điều gì để lại ấn tượng sâu đậm tại Kurukshetra-cũng như tại nhiều thánh địa tương tự trên khắp cõi Ấn Độ-thì đó hẳn là sự kiên gan bền bỉ của các tu sĩ Bà La Môn. Qua bao thăng trầm dâu bể của các thời đại, họ vẫn kiên cường bám trụ lại những nơi thiêng liêng của mình. Dẫu cho dân gian vẫn rỉ tai nhau về những nguồn lợi khổng lồ mà họ thu vén được, suốt ngần ấy năm, tầng lớp tu sĩ này chưa từng đoái hoài đến việc tô điểm hay tu bổ các thánh địa. Diện mạo tạm bợ của những chốn linh thiêng ấy có chăng chỉ nhờ vào đôi ba khoản đóng góp thưa thớt và chẳng mấy hào phóng từ lòng hảo tâm của các cá nhân. Người ta cũng nhận ra một điều thú vị: mỗi khi đức tin chuyển mình, mỗi bận một giáo phái mới trỗi dậy, các tu sĩ Bà La Môn luôn sẵn lòng dành ra một chốn dung thân thuận tiện, rồi vội vã gắn kết vinh quang tân thời ấy với những huyền thoại đã khắc sâu từ muôn thuở. Bởi lẽ đó, ta mới thấy ngôi miếu của Guru Nanak tọa lạc ngay tại Kurukshetra. Và cũng không có gì đáng ngạc nhiên, nếu một ngày nào đó ta bắt gặp một ngôi miếu tôn vinh Swami Dayanand12, một khi giáo phái Aryan đủ lớn mạnh để buộc các tu sĩ Bà La Môn phải công nhận tầm vóc của mình. Suy cho cùng, ranh giới giữa chính thống hay dị giáo, đối với họ, chỉ là một tiểu tiết chẳng hề mảy may bận tâm.
Lý do đằng sau sự kiên định lạ thường ấy-khiến lòng thành kính của người Hindu trải qua hàng ngàn năm vẫn trọn vẹn hướng về các đền đài và thánh địa cổ xưa-thoạt nhìn có vẻ kỳ lạ, song lại không hề khó lý giải. Họ sở hữu một hệ thống tu sĩ thế tập, một tầng lớp bám rễ vào nguồn thu từ các đền thờ. Với họ, đền thờ cũng tựa như thửa ruộng đối với người nông dân. Sự thật giản đơn ấy chính là lời giải đáp cho hiện tượng này, cũng như cho bao uẩn khúc khác trong lịch sử tôn giáo Hindu, và có lẽ là cả lịch sử của bất kỳ dân tộc nào duy trì chế độ tu sĩ cha truyền con nối. Những thế hệ tu sĩ nối tiếp nhau, vì chén cơm manh áo của chính mình, buộc phải tìm mọi cách thu hút các đoàn hành hương không ngớt đổ về ngôi đền mà họ thừa kế. Họ gìn giữ những truyền thống cổ xưa, hoặc thêu dệt nên những huyền thoại mới mẻ nhằm chiều chuộng thị hiếu không ngừng đổi thay của thời đại. Giống như những vạt cỏ dại sinh sôi nơi mặt hồ vốn là hậu duệ trực tiếp của lớp cỏ đã bám rễ chốn ấy từ thuở hồng hoang, các tu sĩ Bà La Môn ngụ bên bờ hồ cũng chính là hậu duệ trực tiếp của những vị Bà La Môn từng hưng thịnh ở đó từ thời thượng cổ. Cỏ dại sống bám vào lớp bùn lầy và vùng nước tù đọng của ao hồ; còn các tu sĩ Bà La Môn, họ sống dựa vào những truyền thuyết hoang đường và những đặc quyền huyễn hoặc đã lỗi thời.
Cái bythuck của Guru Nanak-mà sự hiện diện của nó bên bờ hồ đã khơi mào cho những dòng tản mạn kể trên-chỉ nằm cách đầu phía tây của cây cầu Aurangzeb vài trăm thước. Và bởi bờ phía nam dường như chẳng có gì níu bước, chúng tôi quyết định băng qua hòn đảo, ngắm nhìn pháo đài Mughal, rồi men theo cây cầu để trở về ngôi đền chính. Nhưng trước lúc rời đi, chúng tôi nán lại đôi chút trên cầu, cố gắng lưu giữ qua ống kính vài khoảnh khắc nên thơ của khung cảnh bờ đông.
Trong khu vực bao quanh Kurukshetra, trong “chu vi một trăm sáu mươi dặm”, Tướng Cunningham từng ghi nhận, “dân gian vẫn lưu truyền rằng có đến ba trăm sáu mươi thánh địa.” Hầu hết những nơi này đều gắn liền với tên tuổi các anh hùng trong bản sử thi bi tráng ‘Mahabharata’. Nhiều địa danh trong số đó chắc chắn mang dấu ấn cổ xưa thực sự, được minh chứng qua những gò đất sừng sững và những phế tích gạch vụn hoang tàn. Thế nhưng, trong mắt tôi, phần lớn lại mang dáng dấp của những sáng tạo thời hiện đại. Theo kinh Mahatmya13-với chỉ một bản duy nhất được cho là cổ thư-các thánh địa này từng chìm trong hoang phế suốt nhiều thế kỷ kể từ sau cuộc chinh phạt của người Hồi giáo. Mãi cho đến khi một Dandi14-tức vị tu sĩ khất thực-có tên là Ram Chandra Swâmi du hành từ Kâsi15 đến Kurukshetra. Đau buồn trước cảnh hoang tàn hiu quạnh, ông quyết định dừng chân ở đó, dốc lòng khôi phục lại các thánh địa. Tuy nhiên, vì vị trí của nhiều địa điểm đã vĩnh viễn chìm vào quên lãng, ông tự nhận mình đã được khai sáng qua những giấc mộng; và từ đó, ông biên soạn nên một cuốn sách miêu tả tỉ mỉ về chúng, mang tên "Kinh Mahatmya 6000 sloka," hay còn được biết đến với tên gọi "Kinh Dandi Mahatmya." Mãi về sau, một học giả Pandit tại Thanesar, tên là Banmáli, đã vạch lại toàn bộ mạng lưới thánh địa dựa trên những vị trí do vị Dandi cung cấp. Đáng kinh ngạc thay, bản ghi chép của ông ngày nay lại được tất cả các tu sĩ Bà La Môn nhất mực tôn thờ như một chân lý, dẫu cho "cơ sở duy nhất để ông xác định tọa độ những nơi chốn ấy chỉ là một giấc chiêm bao."16
Mang theo những suy tư vừa thấu tỏ, tôi chẳng còn mấy mặn mà với việc viếng thăm các thánh địa - những nơi vốn dĩ không có lấy một nét kiến trúc hay cảnh quan nào thực sự lôi cuốn. Dẫu vậy, tôi không đành lòng rời khỏi vùng Brahmavarta mà chưa một lần ghé thăm dòng Saraswati linh thiêng. Phương tiện di chuyển duy nhất ở Thanesar là xe Ekka17. Mặc dù kinh nghiệm đau thương từng nhắc nhở tôi rằng loại xe này có thể hành hạ mọi khúc xương, mọi thớ thịt trên cơ thể đến nhường nào, tôi vẫn đành phải nhờ đến chúng vì quỹ thời gian còn lại quá đỗi eo hẹp.
Chúng tôi mướn hai cỗ xe ekka, một chiếc dành cho tôi cùng cậu con trai, chiếc kia dành cho vị Babu18 không thể vắng mặt cùng người dẫn đường Bà La Môn. Hai lữ khách không phải người Hindu chúng tôi trông hẳn rất nực cười khi cố thu mình lọt thỏm vào trong cỗ xe cọc cạch, bắt đầu khởi hành hướng về bờ sông Saraswati! Dưới cơn mưa xối xả như trút nước, người phu xe Ekka-wallah xốc nảy chúng tôi vượt qua những đoạn đường tồi tệ nhất trần đời, tưởng chừng như xương cốt sắp vỡ vụn. Cuối cùng, cỗ xe dừng lại tại khu đất nơi lăng mộ Samadh19 của vị cố vương Rajah20 xứ Faridekote đang uy nghi tọa lạc.
Tại đây, chúng tôi buộc phải xuống xe và tiếp tục cuốc bộ hướng về dòng sông huyền thoại, vốn đã vang danh từ thuở người Aryan bắt đầu định cư trên đất Ấn. Ướt sũng và rã rời toàn thân, tôi cùng những người đồng hành dò dẫm bước qua bãi cỏ ngập ngụa bùn lầy chừng hơn trăm thước. Để rồi, khi đứng trên bờ, tôi chợt ngỡ ngàng nhận ra trước mắt mình chỉ là một dòng suối nhỏ hẹp, rộng chưa đầy hai mươi mét đang lững lờ trôi. Vậy đó, tôi đã được chiêm ngưỡng dòng Saraswati lịch sử, và chuyến hành hương của tôi thực tế cũng coi như chính thức khép lại.
Chính vào thời khắc nguyệt thực, khi mạch nước từ mọi bể tắm thiêng liêng bí ẩn hội tụ về chuỗi hồ quanh Thanesar, cũng là lúc các tu sĩ Bà La Môn tại Kurukshetra gặt hái lộc phước; bởi lẽ khi ấy, hàng vạn khách hành hương chen lấn để được gội mình trong dòng tịnh thủy, và dĩ nhiên, họ sẽ thành tâm dâng cúng các tu sĩ tùy theo khả năng cùng lòng mộ đạo của mình.21 Vị cử nhân Đại học Punjab từng được nhắc đến ở trên đã tiết lộ cho chúng ta vài chi tiết kỳ lạ về những khoản bố thí mà giới phú hào vung ra trong các dịp như thế này. Cụ thể về những kỳ nhật thực, ông kể rằng: “Các vương hầu Rajah và đại đế Maharajah trong vùng cũng không hề vắng bóng trong những sự kiện như vậy. Họ rộng tay ban phát, và hàng trăm ngàn rupee nào có sá gì so với tầm vóc linh thiêng của thời khắc này. Những tu sĩ Bà La Môn, cõng trên lưng cơ man bánh kẹo ngọt cùng ngập tràn tiền bạc giấu kín trong những chiếc túi khó thấy (sic), hoan hỉ ra về với lòng tri ân sâu sắc. Họ cũng không quên nhận thêm nhiều bò sữa, và một vài vị phước lớn hơn cả còn được các Rajah cùng giới danh gia vọng tộc ban thưởng cả những ngôi làng hay bầy voi, dẫu cho những món quà xa hoa này ngày hôm sau sẽ được chuộc lại chỉ bằng một số tiền nhỏ mọn. Maharajah Narendra Singh xứ Patiala từng sẵn lòng dâng hiến một trong những người vợ của mình vào một dịp tương tự, và khi được yêu cầu định giá bà, vị tế sư parohit22 dường như bằng lòng chấp nhận mức giá một trăm ngàn rupee; lúc ấy vị vương hậu Rani23 đã vô cùng phẫn nộ vì ông ta dám định giá quá bèo bọt cho thê thiếp của một Rajah giàu có đến vậy.”24
Khá khó hiểu là tác giả của đoạn văn kỳ lạ trên dường như lại không hề nhận thức được ý nghĩa thực sự đằng sau những sự kiện mà ông ghi chép, và có vẻ ông chẳng mảy may thấy có gì đáng lên án trong thói phô trương phù phiếm vốn chỉ để che đậy sự hẹp hòi thực chất mà chính ông vừa thuật lại. Điều này đặc biệt đáng lưu tâm bởi nó giúp ta có cơ sở để đánh giá thói hào phóng tột độ của nhiều nhân vật trong các bộ sử thi Ấn Độ. Hơn thế nữa, đây không chỉ là những lời phỏng đoán suông. Bản thân chúng ta cũng bắt gặp một trường hợp hoàn toàn tương tự về Vua Dasahratha, như đã được đề cập ở trang 20.
Dẫu sức hút thiêng liêng của Kurukshetra đạt đến độ rực rỡ nhất vào những kỳ nhật thực hay nguyệt thực, vẫn luôn có một dòng người mộ đạo âm thầm, bền bỉ tìm về các ngôi đền ở Thanesar quanh năm. Từng bước chân hành hương của họ đều được các tu sĩ Bà La Môn cẩn trọng ghi nhận; các vị này lưu giữ một kho tàng biên niên sử ghi chép danh tính và huyết thống của biết bao lữ khách. Mỗi khi có một người hành hương đặt chân tới, tu sĩ Bà La Môn sẽ ân cần cất tiếng hỏi han danh xưng, đẳng cấp, dòng dõi gotra25, nơi chôn nhau cắt rốn, chốn ngụ cư hiện thời, cùng ý nguyện sâu xa của chuyến hành hương. Tường tận những gốc gác ấy, gần như ngay lập tức, một vị tu sĩ sẽ giở ra được những trang biên niên hoen ố, minh chứng về chuyến viếng thăm Thanesar từ thuở nảo thuở nao của một bậc tiền nhân thân thuộc với vị lữ khách nọ. Ngay khi sự gắn kết ấy được xác tín qua pho sách cổ, vị tu sĩ Bà La Môn kia nghiễm nhiên trở thành thầy cúng tạm thời của gia tộc, kiêm luôn vai trò người dẫn đường đặc quyền cho khách mới đến; và từ vị thế ấy, họ dễ dàng thu lời tùy ý. Bản thân tôi chẳng thể nào quên được hình ảnh người bạn đường Babu đáng mến của mình đã bị bủa vây ra sao giữa đám đông các thầy cúng. Dưới ngọn đèn dầu hiu hắt, ông im lặng lắng nghe người ta xướng lên rành rọt từng chuyến hành hương mà tổ tiên mình đã thực hiện đến đất Thanesar. Và một khi đã đặt chân lên mảnh đất thiêng này, ông chẳng thể dễ dàng rời đi nếu chưa làm lễ tẩy trần. Ngay cả giữa cơn mưa tháng Mười hai buốt giá, ông vẫn phải trầm mình xuống bể tắm thiêng liêng, lặn ngụp dưới làn nước buốt lạnh đôi ba bận. Trên bờ, vị tu sĩ Bà La Môn đứng dưới bóng cây rợp mát, rì rầm tụng niệm những câu thần chú mantras26, tựa hồ đang thay mặt đấng thiêng liêng để ấn chứng cho chuyến hành hương của ông tới xứ Brahmavarta.
-
“Cuộc hành hương đến chiến trường Mahabharata,” của Madho Ram, B.A., Tạp chí “Punjab Magazine,” tháng 6 năm 1890. ↩
-
(ND) Một nhà thông thái và học giả Sufi giáo nổi tiếng thế kỷ 17, từng là thầy giáo tâm linh của hoàng tử Dara Shikoh, con trai trưởng của hoàng đế Mughal Shah Jahan. ↩
-
(ND) Bộ kinh Veda cổ xưa và quan trọng nhất của Ấn Độ giáo, bao gồm hàng ngàn bài thánh ca ngợi ca các vị thần, ước tính được biên soạn từ khoảng 1500-1200 TCN. ↩
-
Đáng chú ý là phe Pandava đóng quân ở bờ tây hồ, trong khi phe Kaurava lại hạ trại ở bờ đông. ↩
-
(ND) Từ tiếng Hindi chỉ một ngôi đền hoặc nơi thờ tự của người theo đạo Hindu. ↩
-
(ND) Hoàng đế thứ sáu của đế quốc Mughal (trị vì 1658-1707), nổi tiếng cai trị bằng kỷ luật sắt, áp đặt luật Hồi giáo nghiêm ngặt và phá hủy nhiều đền đài Hindu. ↩
-
(ND) Cách gọi chệch đi của người bản địa đối với một viên chức người Anh (có thể tên là Larkin hoặc Lawrence) kèm theo kính ngữ 'Sahib' (ngài). ↩
-
(ND) Hệ thống các bậc thang bằng đá dẫn xuống một vùng nước như sông, hồ ở Ấn Độ, nơi tín đồ tụ tập để tắm rửa, thanh tẩy và thực hiện các nghi lễ tôn giáo. ↩
-
(ND) Hay Sati, tập tục cổ xưa ở Ấn Độ, trong đó góa phụ tự thiêu sống trên giàn hỏa táng cùng thi hài của chồng để thể hiện sự tiết hạnh và lòng thủy chung. ↩
-
(ND) Cách viết cũ của từ 'baithak', nghĩa là 'chỗ ngồi', nơi tĩnh tọa thiền định hoặc điểm tụ họp để đàm đạo tôn giáo của một vị đạo sư. ↩
-
(ND) Tức Haridwar, một trong bảy thánh địa quan trọng nhất của Ấn Độ giáo, nằm ở nơi dòng sông Hằng linh thiêng chảy từ dãy Himalaya xuống vùng đồng bằng. ↩
-
(ND) Nhà lãnh đạo tinh thần và cải cách xã hội Ấn Độ (1824-1883), người sáng lập giáo phái Arya Samaj (tức 'giáo phái Aryan'), chủ trương loại bỏ việc thờ cúng thần tượng và quay về các giá trị cốt lõi của kinh Veda. ↩
-
(ND) Thể loại văn bản tôn giáo Hindu ca ngợi sự linh thiêng của một vị thần, một ngôi đền hoặc một hành trình hành hương. ↩
-
(ND) Một nhánh của các tu sĩ khổ hạnh (sannyasi) trong Ấn Độ giáo, đặc trưng bởi việc luôn mang theo một cây gậy (danda) như biểu tượng của sự khước từ thế tục. ↩
-
(ND) Tức thành phố Varanasi hay Benares, thánh địa linh thiêng bậc nhất của Ấn Độ giáo nằm bên bờ sông Hằng. ↩
-
“Báo cáo khảo sát khảo cổ học Ấn Độ,” quyển XIV (Punjab), Tướng Cunningham, trang 90. ↩
-
(ND) Một loại xe kéo nhỏ gọn có hai bánh do một con ngựa hoặc bò kéo, thường không có lò xo giảm xóc, phổ biến ở miền Bắc Ấn Độ. ↩
-
(ND) Ở Ấn Độ thuộc Anh, 'Babu' thường dùng làm danh xưng tôn kính hoặc chỉ những người Ấn Độ làm nhân viên thư ký, viên chức có học vấn. ↩
-
(ND) Đài tưởng niệm hoặc lăng mộ nhỏ được xây cất tại địa điểm hỏa táng của một nhà cai trị, bậc thánh nhân hay tu sĩ trong đạo Hindu và đạo Sikh. ↩
-
(ND) Tước hiệu hoàng gia của Ấn Độ, dành cho các vị vua, tiểu vương hoặc người cai trị một vùng lãnh thổ. ↩
-
Cùng với sự suy tàn của Thanesar, lượng khách hành hương tìm về các thánh địa cũng sụt giảm đáng kể. "Các biện pháp vệ sinh do chính quyền Anh áp đặt nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan vấp phải sự phản đối gay gắt, làm nản lòng một lượng lớn khách hành hương.... Người ta bảo rằng, trái ngược với cảnh tượng ngày trước khi các bậc quyền quý thường rầm rộ hành quân đến Thanesar với những đoàn tùy tùng và quân hầu đông đúc, thì nay họ lặng lẽ đi tàu hỏa với dăm ba người hầu đến ga gần nhất rồi lại trở về y như thế."-Cẩm nang địa danh quận Ambala, trang 73-74. Nhưng ở chiều ngược lại, ngành đường sắt ắt hẳn cũng đã đưa đường dẫn lối cho biết bao người vốn xưa kia chẳng có đủ thời gian hay tiền bạc để viếng thăm các đền thờ trong điều kiện đi lại khắc nghiệt thuở xưa. ↩
-
(ND) Vị linh mục hoặc tế sư đại diện cho gia đình (thường thuộc đẳng cấp Bà La Môn) chuyên trách tiến hành các nghi lễ tôn giáo cho gia tộc hoặc hoàng gia. ↩
-
(ND) Tước hiệu hoàng gia tương đương với 'Rajah' nhưng dành cho phái nữ, nghĩa là nữ hoàng, vương hậu hoặc công chúa ở Ấn Độ. ↩
-
“Cuộc hành hương đến chiến trường Mahabharata,” của Madho Ram, B.A., Tạp chí “Punjab Magazine,” tháng 6 năm 1890. ↩
-
(ND) Hệ thống gia tộc, dòng dõi theo phụ hệ trong xã hội Hindu. Người cùng chung một gotra được coi là hậu duệ của cùng một vị đạo sư (rishi) thời cổ đại. ↩
-
(ND) Những âm tiết, từ ngữ hoặc lời cầu nguyện linh thiêng trong tiếng Phạn, được tụng niệm trong nghi lễ nhằm tập trung tâm trí và kết nối với thần linh. ↩
CHAPTER III. THE SACRED LAND
Round about the town of Thanesar lies Brahmavarta the sacred land of the Hindus, and within a short walk of the town is Kurukshetra.
Thanesar itself is in ruins, and the lake near which the Pandavas and Kauravas fought their great battle is now a dismal swamp, yet adorned on one side by a beautiful fringe of really magnificent banyan trees, under whose leafy covering are sheltered a few of those unimposing brick and plaster temples so common in Upper India.
Unsparing time has strewn the whole world with the ruins of man’s handiwork. The crumbling remains of cities, temples and palaces may be found in every country under the sun; and, according to circumstances, appeal to widely different feelings and evoke widely different sentiments in the heart of the spectator. Thus, it is with a profound sense of the reality and greatness of Roman power that we muse amidst the columns of the Forum, or recall to mind in the mighty Colosseum the tragic pastimes of the imperial people. It is with a respectful admiration, not unmingled with pity, that we see in old Delhi the considerable ruins of the lordly mosque constructed out of the spoils of more ancient Hindu temples. But it is only with a feeling of simple depression, unrelieved by any other sentiment, that we wander amongst the extensive brick ruins of Thanesar, unredeemed by a trace of either beauty or grandeur, and largely tenanted by monkeys, in whom a pious Punjabi graduate recognizes “defunct Brahmans ... watching as it were over their old habitations.”1
I visited the town in December, 1892, and never have I seen a place which looked more utterly forlorn. Whole streets of brick-built houses quite modern in appearance falling into ruins, which are too mean to be interesting, too recent to be picturesque and, for the most part, entirely uninhabited, except by the “defunct Brahmans” already referred to. Where shops and dwellings still exist they partake of the general tumble-down character of the town; but the wares for sale are by no means ancient, and show that the remnant who burrow in Thanesar still indulge in the rich confectionery of the country and still take pleasure in the gay-coloured saree and the glittering chowree of glass.
Amidst the general decay a few Hindu temples with tall, tapering spires still show a brave front, and the tomb of the Mussulman saint, Shaikh Chilli, built on a slight elevation, rears its marble dome into the air with something of pride; but the rest, as I have said, is meanness and squalor itself.
Within the precincts of Shaikh Chilli’s tomb is a school where I saw the boys at their tasks as I passed in to see the place. “What unlucky boys,” thought I, “to be brought up amidst the unwholesome moral atmosphere of a decaying city!”
Although there is no present glory or grandeur about Kurukshetra, a visit to it will repay the thoughtful student of Indian history and religion.
In an expanse of flat country, from which, however, the blue outlines of the Himalayas may be traced in the distance, the traveller finds, a short way outside Thanesar, a shallow swamp about three miles in circumference and overgrown with weeds. This is the historic lake which, according to General Cunningham, was a sacred place long anterior to the great war; indeed, as far back as the time of the Rig Veda itself. “Can it be possible,” I mused, as I stood beside this weed-covered pool, “that for a hundred generations the affectionate devotion of the Hindu race has consistently and persistently clung to this unattractive bit of water in an open plain?” “And how is it,” I asked myself, “that their piety never adorned its banks with temples (for there are here no ruins worth speaking of), and why is it now so neglected?”
Will the reader accompany me round the lake and survey it from all points of view?2 On the east side are the only important buildings, the largest being a temple of very modern date and no architectural pretensions. It is an ordinary Mandir; but has just a slight local character in the fact that it contains five coloured clay statues of the Pandavas, railed off from the too curious or too pious spectator by a strong, rudely constructed railing of bamboos. It rejoices in the possession of a huge iron frying-pan-not less than eight feet in diameter and about nine inches deep-to which my attention was specially directed. This gigantic frying-pan is much in demand on festival days, when the multitude pays to be fed by the Brahmans.
A flight of steps leads from the temple into the water, and runs nearly along one-half of the eastern and northern sides of the lake. A causeway on arches extends into the lake and ends in a small temple picturesquely shadowed with trees. Another bridge, now but little above the level of the water, parallel to the causeway just mentioned, leads right across the lake, joining to both east and west banks a small island in the middle, on which that famous bigot, the Mughal Emperor Aurangzeb, erected a diminutive fort to accommodate a small garrison, intrusted with the duty of preventing the Hindus from bathing in their sacred pool.
Proceeding along the east bank we pass a number of small tumble-down shrines, overshadowed by majestic banyans, extending their mighty arms in graceful curves over the tranquil green water. We still follow the steps and arrive at the north end which has quite a recent look about it. Our guide tells us that this modern addition was the work of one “Larkeen Sahib,” an official in these parts, who was very fond of the Hindu, and had built this ghat for them out of a feeling of gratitude because his wife had owed her recovery from a mysterious illness to the intercession of the Brahmans. Oh! “Larkeen Sahib,” I wonder if the pious local legend which is told about you has ever reached your ears!
On the western side we find a little brick cenotaph which commemorates the suttee of the five wives of a Brahman whose name is now forgotten.
Somewhat in advance of this cenotaph, and a little away from the lake-side, we are conducted to a “bythuck” of Guru Nanak, the original founder of the Sikh sect, and we take shelter within its walls from a pelting shower of rain which makes the landscape more cheerless than ever. Here our guide informs us Guru Nanak used to sit beside the sacred pool to practise contemplation. But the admiring crowds who came to visit him would give him no peace; so one day, to avoid their unwelcome attentions, he just sank into the ground and, following a subterranean tunnel, emerged at Hurdwar on the Ganges. There could be no doubt about this miraculous underground journey, for there was the very tunnel itself to support the truth of the story, with a substantial flight of steps leading down into it. Yes, true enough, there were three or four steps leading down into a small hole within the walls of the shrine. But how about the tunnel? My son descended into the hole to explore it. A look of chagrin passed over the face of our Brahman guide. Why this unnecessary and irreverent curiosity? The story must be true, for every one believed it; and, certainly, the position of this bythuck of Guru Nanak is interesting, for it shows how persistently the Sikhs attach themselves to the old Hindu faith to which the vast majority of professing Sikhs now practically belong.
THE TEMPLE AND BATHING GHÂTS ON THE SACRED LAKE AT KURUKSHETRA.
If there is anything that strikes one at Kurukshetra-and similar places in India-it is that the Brahmans have clung with wonderful tenacity through the vicissitudes of ages to their sacred spots; and that though they have, according to universal belief, enjoyed considerable revenues, they have, through all these ages, done nothing to adorn their sacred places, which owe what temporary embellishment they have to the not too magnificent and not too frequent liberality of individuals. It strikes one also that, with each changing fashion of belief, each rise of a new sect, the Brahmans having willingly accommodated it with a convenient local habitation and have hastened to associate its glories with those of its predecessors. Hence the shrine of Guru Nanak at Kurukshetra, alongside which we shall, no doubt, some day have one in honour of Swami Dayanand, when the Aryan sect is sufficiently grown to impress the Brahmans with its importance; the mere matter of orthodoxy or unorthodoxy being somewhat unimportant.
The reason for the wonderful persistence with which the affectionate regard of the Hindus has hovered round their old shrines and holy places for thousands of years, though at first sight rather strange, is not difficult of explanation. They have a hereditary priesthood, a priesthood that lives by the proceeds of the shrines, and to whom the shrines are what land is to the cultivator. In this simple fact lies the explanation of the matter, and of other points in Hindu religious history, and probably in the history of other nations with hereditary priesthoods. Successive generations of priests have, for their own subsistence, to attract to the shrine they have inherited successive generations of pilgrims, by keeping alive the old traditions, or inventing new legends to suit the altered tastes of the times. As the weeds that flourish in the lake are lineal descendants of the weeds that grew in the same place time out of mind, so are the Brahmans on the banks of the lake the lineal descendants of the Brahmans who flourished there in times immemorial. As the weeds live on the rank soil and stagnant water of the pond, so live the Brahmans on their wild legends and stale pretensions.
Guru Nanak’s bythuck-the presence of which on the lake-side led to the above digression-is but a few hundred yards from the west end of Aurangzeb’s bridge and, as there appeared to be nothing of interest on the south side, we crossed over to the island, inspected the Mughal fort and, following the bridge, returned to the principal temple; but before doing so we managed to secure a few photographs of the pretty scene on the east bank as viewed from the bridge.
In the region round Kurukshetra, within a “circuit of one hundred and sixty miles,” says General Cunningham, “there are popularly said to be three hundred and sixty holy sites,” most of which are connected with the names of the heroes of the ‘Mahabharata.’ Many of these are no doubt genuine ancient places, as attested by their high mounds and brick ruins. But the greater number appear to me to be the inventions of modern days. According to the Mahatmyas, of which only one is said to be old, the holy places had lain desolate for several centuries after the Muhammadan conquest, when a Dandi or mendicant, named Ram Chandra Swâmi, came from Kâsi to Kurukshetra. He was grieved to see the desolation and determined to stop there and try to restore the holy places. But, as even the sites of many were unknown, he professed to have obtained a knowledge of them in his dreams; and, accordingly, he wrote a book describing them, which is called the “Mahatmya of 6000 slokas,” and also the “Dandi Mahatmya.” Long afterwards a Pandit of Thanesar, named Banmáli, traced all the holy sites from the positions given by the Dandi, whose account is now accepted as genuine by all Brahmans, although “his only authority for the identification was a dream.”3
With the foregoing in mind I was not very eager to visit the sacred places, which have neither scenic nor architectural attractions. However, I could not leave Brahmavarta without seeing the holy Saraswati. The only form of conveyance available at Thanesar was the Ekka and, though I knew from sad experience what ekkas could do in the way of producing discomfort to every limb, I was fain to call them into requisition as the time at my disposal was short. Two ekkas were engaged, one for my son and myself, the other for the indispensable Babu and the Brahman guide. What a sight we two unhindu pilgrims did present as we contorted ourselves into the springless vehicle and set off for the Saraswati! In a drenching downpour of rain our Ekka-wallah drove us, almost jolted to bits, over the worst roads ever made, to a spot where the Samadh of a deceased Rajah of Faridekote now stands. Here we had to dismount and proceed on foot to the river, famous since the time when the Aryans settled in India. Dripping wet, and aching all over, I proceeded with the rest through the grass and slush a hundred yards or so, to find myself on the banks of a tiny stream not twenty yards wide, which was sluggishly flowing at my feet. I had now seen the historic Saraswati and my visit to the sacred land was practically over.
It is at the time of a lunar eclipse, when the waters of all other sacred tanks mingle mysteriously with those of the ponds near Thanesar, that the Brahmans of Kurukshetra reap their harvest of gains; for then tens of thousands of pilgrims crowd to bathe in the sacred pool, and, of course, fee the priests according to the measure of their means and their piety.4 The Punjab University graduate, already quoted, gives us some curious particulars in regard to the largesses distributed on such occasions by the wealthy. He tells us, with reference to solar eclipses, that “The Rajahs and Maharajahs of the land, too, are not absent on such occasions. They untie their purse-strings, and hundreds and thousands of rupees are considered as nothing when compared with the importance of the moment. The Brahmans, with loads of sweetmeats on their backs and with money in their unknown (sic) pockets, go home cheerfully and thankfully. They do not fail to get many cows in addition, and some fortunate few even receive at the hands of the Rajahs, and other big men, presents of villages or of elephants, which are returned for a paltry sum on the following day. Maharajah Narendra Singh of Patiala is said to have gone the length of parting with one of his wives on a similar occasion and, when on being asked to name her price, the parohit seemed willing to accept a lakh of rupees, the Rani was very angry with him for demanding such a low sum in return for the wife of such a wealthy Rajah.”5
The writer of the above curious passage seems strangely unconscious of the real significance of the facts he records, and apparently finds nothing to condemn in the vain display of ostentatious liberality, masking actual meanness, to which he refers, and which is especially noteworthy as supplying a probable standard by which to measure the overpowering munificence of many personages who figure in the Indian epics. This, too, is not mere conjecture. We have a similar instance in the case of King Dasahratha, referred to at p. 20.
Although the attractions of Kurukshetra are greatest on the occasion of eclipses, a tiny stream of visitors to the shrines trickles through Thanesar all the year round. Of their visits particular note is taken by the Brahmans, who keep a record of the names and family connections of the several visitors. On the arrival of a pilgrim the Brahmans inquire his name, caste and gotra, his native place, his place of residence, and the objects of his visit. With these facts in their possession some one amongst them is almost sure to be able to produce the record of the visit to Thanesar, at some previous time, of some relative of the pilgrim. When the Brahman has established this, from one of his books, he thereby becomes the family priest, pro tempore, and the privileged guide of the new arrival, out of whom he makes as much money as he can. I shall not readily forget how the Babu, who kindly accompanied me, was pounced upon by the priests; how by the light of a flickering lamp he had read out to him all about the visits which had been paid to Thanesar by his relatives; and how, having come to the sacred land, he could not well leave it until, even in the pitiless December rain, he had to enter a sacred tank and take sundry dips under the water, while the Brahman, standing on the bank in the shelter of some trees, repeated the mantras which gave, as it were, the approval of the church to this pilgrimage of his to Brahmavarta.
-
“A Pilgrimage to the Field of the Mahabharata,” by Madho Ram, B.A., “Punjab Magazine,” June, 1890. ↩
-
It is worth noting that it was on the western side of the lake that the Pandavas encamped, and Kauravas on the eastern side. ↩
-
“Archæological Survey of India Reports,” vol. xiv. (Punjab), by General Cunningham, p. 90. ↩
-
With the decay of Thanesar there has been a marked falling off in the number of pilgrims to the sacred places. “The sanitary arrangements introduced by the British authorities to prevent the spread of disease are said to be most unpopular and to deter large numbers of pilgrims from attending.... It is said that, whereas in former days great men used to march to Thanesar with small armies of followers and attendants they now come by rail with a few servants to the nearest station and return in the same way.”-Gazetteer of the Ambala District, pp. 73-74. On the other hand, the railways must bring to the shrines many who could not have spared the time or the money to visit them under the old conditions of travel. ↩
-
“A Pilgrimage to the Field of the Mahabharata,” by Madho Ram, B.A., “Punjab Magazine,” June, 1890. ↩