CHƯƠNG II. SHERLOCK HOLMES LUẬN ĐÀM

Đó chính là kiểu khoảnh khắc kịch tính mà bạn tôi vẫn luôn khao khát được sống trọn trong đó. Nếu bảo rằng anh bàng hoàng, hay thậm chí phấn khích, trước lời tuyên bố sửng sốt ấy thì thật là nói quá. Dù bản chất khác thường của anh tuyệt nhiên không vương chút tàn nhẫn nào, thì những kích thích dồn dập suốt một thời gian dài cũng đã khiến anh trở nên chai lì đi ít nhiều. Thế nhưng, nếu những cảm xúc nơi anh có phần cùn mòn, thì năng lực lý trí lại bừng lên sắc bén lạ thường. Lúc bấy giờ, gương mặt anh không hề hằn lên một nét kinh hãi nào như tôi đã cảm thấy trước lời tuyên bố khô khốc kia. Trái lại, vẻ mặt anh ánh lên sự điềm nhiên và trầm ngâm đầy khoái trá - hệt như một nhà hóa học khi say sưa ngắm những tinh thể đang nhẹ nhàng lắng xuống đúng vị trí trong dung dịch quá bão hòa của mình.

"Thật đáng chú ý!", anh cất tiếng. "Đáng chú ý vô cùng!"

"Trông anh có vẻ chẳng ngạc nhiên mấy nhỉ."

"Thích thú thì có, anh Mac ạ, nhưng hầu như chẳng có gì phải ngạc nhiên cả. Tại sao tôi phải ngạc nhiên chứ? Tôi nhận được một lá thư nặc danh từ một nguồn mà tôi biết là quan trọng, cảnh báo rằng một người nào đó đang đứng trước hiểm họa cận kề. Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, tôi đã biết mối hiểm họa ấy đã thực sự biến thành sự thật - và người đó đã chết. Tôi thấy thích thú; nhưng, như anh thấy đấy, tôi không hề ngạc nhiên."

Chỉ bằng vài ba câu vắn tắt, anh đã trình bày cho viên thanh tra toàn bộ câu chuyện về bức thư và mật mã. MacDonald ngồi tỳ cằm lên tay, đôi lông mày rậm rạp màu cát của ông nhíu chặt lại thành một mớ bòng bong vàng sậm.

"Sáng nay tôi đã định xuống tận Birlstone", ông nói. "Tôi ghé qua đây là để hỏi xem ông có muốn cùng đi không - ông và cả người bạn của ông đây nữa. Nhưng xét từ những gì ông vừa nói, có lẽ chúng ta nên ở lại London mà làm việc thì hiệu quả hơn."

"Tôi lại không nghĩ thế đâu", Holmes đáp.

"Khốn kiếp thật, ông Holmes!", viên thanh tra buột miệng. "Báo chí chỉ trong một hai ngày tới sẽ ngập tràn vụ án bí ẩn Birlstone thôi; nhưng bí ẩn ở chỗ nào cơ chứ, khi mà có một kẻ ngay tại London này đã tiên tri chính xác tội ác trước cả lúc nó xảy ra? Chúng ta chỉ việc tóm cổ kẻ đó, thế là mọi chuyện còn lại sẽ sáng tỏ hết!"

"Không còn nghi ngờ gì nữa, anh Mac ạ. Nhưng anh định tóm cổ cái gã Porlock ấy bằng cách nào?"

MacDonald lật qua lật lại lá thư Holmes vừa trao cho ông. "Gửi từ Camberwell - điều đó chẳng giúp chúng ta được bao nhiêu. Còn cái tên, đúng như ông nói, là giả mạo. Hiển nhiên là chẳng có lấy mấy manh mối để mà bám víu vào. Có phải ông vừa nói ông đã từng gửi tiền cho hắn không?"

"Hai lần."

"Bằng cách nào?"

"Gửi tiền giấy qua bưu điện Camberwell."

"Ông có bao giờ nhọc công điều tra xem ai đã đến nhận chưa?"

"Chưa."

Viên thanh tra tỏ vẻ ngạc nhiên, có phần sửng sốt. "Tại sao lại không?"

"Bởi vì tôi luôn giữ trọn chữ tín. Ngay từ bức thư đầu tiên, tôi đã hứa với hắn rằng tôi sẽ không cố công truy tìm danh tính của hắn."

"Ông có nghĩ có kẻ nào đó đứng sau lưng hắn không?"

"Tôi biết chắc là có."

"Vị giáo sư mà tôi đã từng nghe ông nhắc đến, phải không?"

"Chính xác!"

Thanh tra MacDonald khẽ mỉm cười. Đôi mí mắt ông giật giật khi liếc nhanh về phía tôi. "Thú thực với ông nhé, ông Holmes," ông cất lời, "ở C.I.D.1 bọn tôi vẫn nghĩ ông hơi bị ám ảnh về vị giáo sư này đấy. Bản thân tôi cũng đã thử lần theo vài manh mối. Nhưng phải nói thật, ông ấy trông có vẻ là một người cực kỳ đáng kính. Uyên bác. Và tài năng nữa."

"Tôi rất mừng," Holmes đáp, "vì ít ra anh cũng đã đi đủ xa để nhận ra cái tài năng ấy."

"Trời ạ, ai mà chẳng nhận ra chứ!" MacDonald kêu lên. "Sau khi nghe quan điểm của ông, tôi thấy mình có bổn phận phải tới gặp ông ta. Tôi đã trò chuyện với ông ấy về nhật thực. Chuyện thế nào lại dẫn đến đề tài đó thì tôi thực sự không tài nào nhớ nổi. Nhưng rồi ông ấy lôi ra một cái đèn chiếu và một quả địa cầu, và chỉ trong vòng một phút, mọi thứ trở nên sáng tỏ như ban ngày. Ông ấy còn cho tôi mượn một cuốn sách nữa. Tôi chẳng ngại thừa nhận đâu - nó hơi quá tầm đối với tôi, dù tôi cũng từng được hưởng một nền giáo dục tử tế ở Aberdeen. Với khuôn mặt gầy gò, mái tóc hoa râm và lối nói chuyện đầy trang nghiêm ấy, ông ta hẳn sẽ trở thành một mục sư tuyệt vời. Khi chia tay, ông ấy đặt tay lên vai tôi - cảm giác cứ như lời chúc phúc của một người cha trước khi đứa con bước ra thế giới lạnh lẽo và tàn nhẫn vậy."

Holmes bật cười khúc khích, hai tay xoa vào nhau đầy khoái trá. "Tuyệt vời!" anh thốt lên. "Thật tuyệt vời! Nói tôi nghe nào, anh bạn MacDonald. Tôi đoán cuộc phỏng vấn thú vị và đầy cảm động ấy đã diễn ra ngay trong phòng làm việc của giáo sư, phải không?"

"Đúng vậy."

"Một căn phòng đẹp chứ?"

"Rất đẹp - thực sự là rất tuyệt, ông Holmes ạ."

"Anh ngồi đối diện với bàn làm việc của ông ta?"

"Đúng thế."

"Ánh nắng chiếu thẳng vào mắt anh, còn mặt ông ta thì chìm trong bóng tối?"

"Ồ, lúc đó là buổi tối. Nhưng tôi nhớ rất rõ - ngọn đèn chiếu thẳng vào mặt tôi."

"Chắc chắn là như vậy rồi. Thế anh có tình cờ để ý thấy một bức tranh treo ngay trên đầu vị giáo sư không?"

"Tôi chẳng bỏ sót mấy chi tiết đâu, ông Holmes. Có lẽ tôi học được điều đó từ chính ông đấy. Có, tôi đã thấy bức tranh - một cô gái trẻ đang chống cằm, liếc nghiêng, như thể đang lén nhìn ai."

"Bức tranh đó," Holmes chậm rãi nói, "là của Jean Baptiste Greuze2."

Viên thanh tra cố tỏ ra hứng thú.

"Jean Baptiste Greuze," Holmes tiếp tục, những đầu ngón tay chụm lại, người ngả hẳn ra sau lưng ghế, "là một họa sĩ người Pháp đã rực sáng trong khoảng thời gian từ năm 1750 đến 1800. Dĩ nhiên, tôi đang nói đến sự nghiệp sáng tác của ông ấy. Những đánh giá của giới phê bình hiện đại càng củng cố thêm quan điểm đề cao ông ấy mà những người cùng thời từng có."

Ánh mắt viên thanh tra bắt đầu lơ đãng. "Chẳng phải chúng ta nên-" ông ngập ngừng.

"Chúng ta đang làm điều đó đây," Holmes ngắt lời. "Tất cả những gì tôi đang nói đều có liên quan trực tiếp và sống còn đến cái mà anh gọi là Vụ Bí ẩn Birlstone. Thực tế, xét theo một khía cạnh nào đó, nó chính là trung tâm của toàn bộ vụ việc."

MacDonald nở một nụ cười gượng gạo rồi quay sang nhìn tôi với vẻ cầu cứu. "Suy nghĩ của ông chạy nhanh quá, tôi theo không kịp rồi, ông Holmes ạ. Ông đã bỏ qua một hoặc hai mắt xích, và tôi không sao vượt qua nổi khoảng trống đó. Thế quái nào mà một vị họa sĩ đã quá cố lại có liên quan đến vụ án ở Birlstone được chứ?"

"Đối với một thám tử," Holmes nhận xét, "mọi kiến thức đều hữu ích. Ngay cả một sự thật tưởng như tầm thường - chẳng hạn vào năm 1865, một bức tranh của Greuze mang tên La Jeune Fille à l'Agneau3 đã được bán với giá một triệu hai trăm nghìn franc, tức hơn bốn mươi nghìn bảng Anh, tại buổi đấu giá Portalis - cũng có thể khơi dậy cả một chuỗi suy ngẫm trong tâm trí anh."

Rõ ràng lời nói ấy đã có tác dụng. Gương mặt viên thanh tra bừng lên vẻ thích thú thực sự.

"Tôi xin nhắc anh," Holmes tiếp, "rằng mức lương của vị giáo sư có thể được tra cứu trong một vài cuốn sách tham khảo đáng tin cậy. Con số đó là bảy trăm bảng một năm."

"Vậy thì làm sao ông ấy có thể mua-"

"Đúng vậy!" Holmes reo lên. "Làm sao hắn có thể chứ?"

"Chà, điều này thật đáng chú ý," viên thanh tra đăm chiêu nói. "Tiếp đi, ông Holmes. Tôi rất thích đấy. Tuyệt thật!"

Holmes khẽ mỉm cười. Anh luôn được sưởi ấm bởi sự ngưỡng mộ chân thành - một đặc điểm của người nghệ sĩ đích thực. "Thế còn Birlstone thì sao?" anh hỏi.

"Chúng ta vẫn còn thời gian," viên thanh tra đáp, liếc nhìn đồng hồ. "Tôi đã gọi một chiếc xe ngựa đợi sẵn ngoài cửa. Tới nhà ga Victoria sẽ không mất đến hai mươi phút đâu. Nhưng quay lại bức tranh này đã. Tôi nhớ có lần ông từng bảo tôi, ông Holmes, rằng ông chưa bao giờ gặp Giáo sư Moriarty kia mà."

"Đúng, tôi chưa bao giờ gặp hắn."

"Vậy làm sao ông biết được phòng làm việc của hắn?"

"À, đó lại là một vấn đề khác. Tôi đã đến phòng hắn ba lần. Hai lần tôi giả vờ chờ hắn với những lý do khác nhau, rồi rời đi trước khi hắn xuất hiện. Còn lần thứ ba-" Holmes ngập ngừng, "chà, tôi e là khó có thể kể chi tiết cho một thám tử cảnh sát nghe được. Chính trong lần cuối cùng ấy, tôi đã mạn phép liếc qua các giấy tờ của hắn - và thu được những kết quả ngoài sức tưởng tượng."

"Ông tìm thấy bằng chứng phạm tội ư?"

"Hoàn toàn không có gì cả. Đó mới chính là điều khiến tôi kinh ngạc. Nhưng giờ thì anh đã thấy điểm mấu chốt của bức tranh rồi đấy. Nó phơi bày một sự thật: hắn cực kỳ giàu có. Làm sao hắn có được sự giàu sang ấy? Hắn chưa từng lập gia đình. Em trai hắn chỉ là một trưởng ga ở miền tây nước Anh. Chiếc ghế giáo sư mang về cho hắn vỏn vẹn bảy trăm bảng một năm. Vậy mà hắn lại sở hữu một bức tranh của Greuze."

"Thế thì sao?"

"Suy luận đã quá rõ ràng rồi còn gì."

"Ý ông là ông ta có một nguồn thu nhập khổng lồ, và số tiền đó ắt hẳn phải đến từ những con đường bất hợp pháp?"

"Chính xác. Dĩ nhiên, tôi còn có những lý do khác để tin như vậy - hàng tá những sợi tơ mỏng manh dẫn mờ ảo về phía trung tâm của mạng nhện, nơi con sinh vật độc ác và bất động kia đang lặng lẽ ẩn nấp. Tôi chỉ nhắc đến bức Greuze vì nó mang vấn đề vào thẳng tầm quan sát của chính anh."

"Chà, ông Holmes," MacDonald thừa nhận, "tôi phải nói rằng những gì ông vừa nói thật sự rất thú vị. Hơn cả thú vị - nó kỳ diệu. Nhưng xin ông hãy làm cho nó rõ ràng hơn một chút nữa, nếu có thể. Tiền từ đâu mà ra? Làm giả giấy tờ? Đúc tiền giả? Hay trộm cắp?"

"Anh đã bao giờ đọc về Jonathan Wild4 chưa?"

"Chà, cái tên nghe quen quen. Một nhân vật trong tiểu thuyết phải không? Tôi chẳng mấy để tâm đến mấy gã thám tử trong tiểu thuyết đâu - những kẻ làm đủ thứ việc này việc kia mà chẳng bao giờ để người ta thấy họ làm bằng cách nào. Toàn là cảm hứng suông thôi, đâu phải thực tế công việc."

"Jonathan Wild không phải thám tử," Holmes đáp, "và hắn cũng chẳng phải nhân vật trong tiểu thuyết. Hắn là một ông trùm tội phạm sống ở thế kỷ trước - khoảng năm 1750 hay đâu đó."

"Vậy thì hắn chẳng giúp ích gì được cho tôi. Tôi là người thực tế."

"Anh Mac này," Holmes chậm rãi nói, "việc thực tế nhất mà anh từng làm trong đời, ấy là tự nhốt mình trong phòng suốt ba tháng trời và đọc mười hai tiếng mỗi ngày về biên niên sử tội phạm. Mọi thứ đều vận hành theo chu kỳ - ngay cả Giáo sư Moriarty. Jonathan Wild từng là thế lực ngầm của giới tội phạm London, một kẻ đem trí tuệ và tổ chức của mình ra bán cho chúng với mức hoa hồng mười lăm phần trăm. Bánh xe cũ vẫn quay, và những chiếc nan hoa tương tự lại xuất hiện. Tất cả những điều này đều đã từng xảy ra trước đây, và rồi sẽ còn lặp lại. Tôi sẽ kể cho anh nghe một đôi điều về Moriarty. Có thể anh sẽ thấy hứng thú."

"Ông sẽ khiến tôi hứng thú đấy, chắc chắn luôn."

"Tôi tình cờ biết được ai là mắt xích đầu tiên trong đường dây của hắn - một đường dây mà ở một đầu là gã Napoleon lạc lối này5, còn đầu kia là hàng trăm tên lưu manh, móc túi, tống tiền, cùng lũ cờ bạc bịp bợm, với đủ mọi loại tội ác chen vào giữa. Tham mưu trưởng của hắn là Đại tá Sebastian Moran - một kẻ cũng xa lánh, kín kẽ và luật pháp không sao đụng tới được, y hệt như chính hắn vậy. Anh có đoán được hắn trả cho tay đại tá này bao nhiêu không?"

"Tôi rất muốn được nghe đây."

"Sáu nghìn bảng một năm. Đấy, anh thấy không - đó là cái giá cho bộ não, một nguyên tắc kinh doanh kiểu Mỹ. Tôi vô tình biết được con số ấy. Nó còn cao hơn cả mức lương của Thủ tướng đấy. Điều đó cho anh một khái niệm về lợi nhuận của Moriarty và quy mô hoạt động của hắn. Còn một điểm nữa: gần đây tôi đã cất công săn lùng một số tấm séc của Moriarty - chỉ là những tờ séc vô hại thông thường mà hắn dùng để thanh toán các hóa đơn chi tiêu trong nhà. Chúng được rút ra từ sáu ngân hàng khác nhau. Điều đó có gây ấn tượng gì với anh không?"

"Rõ ràng là rất kỳ lạ! Nhưng ông rút ra được điều gì từ đó?"

"Rằng hắn không muốn có bất kỳ lời bàn tán nào về sự giàu có của mình. Không một ai được phép biết hắn sở hữu những gì. Tôi không nghi ngờ gì nữa - hắn có đến hai mươi tài khoản ngân hàng. Phần lớn tài sản của hắn rất có thể được cất giữ ở nước ngoài, tại Deutsche Bank hoặc Crédit Lyonnais6. Khi nào anh có khoảng một hai năm rảnh rỗi, tôi khuyên anh nên dành thời gian nghiên cứu về Giáo sư Moriarty."

Càng nghe câu chuyện, Thanh tra MacDonald càng thêm ấn tượng. Ông đã để mình đắm chìm trong sự mê mẩn ấy suốt một hồi lâu, và giờ đây trí óc thực tiễn kiểu Scotland mới đột ngột kéo ông quay về với vấn đề trước mắt.

"Mà thôi, ông ta có thể đợi được," MacDonald nói. "Ông đã làm chúng ta lạc đề với những giai thoại thú vị của mình rồi, ông Holmes ạ. Điều thực sự quan trọng chính là nhận xét của ông về mối liên hệ nào đó giữa vị giáo sư và vụ án này. Phải chăng ông suy ra điều đó từ lời cảnh báo mà gã Porlock đã gửi đến? Xét về mặt thực tiễn lúc này, chúng ta có thể tiến xa hơn thế được không?"

"Chúng ta có thể phác thảo đôi chút về động cơ của vụ án. Theo những gì tôi nắm được từ lời thuật ban đầu của anh, đây là một vụ sát nhân không sao giải thích nổi - hoặc ít nhất là chưa được giải thích. Vậy thì, nếu giả định nguồn cơn của tội ác đúng như chúng ta đang nghi ngờ, có thể tồn tại hai động cơ khác nhau. Trước hết, tôi xin nói với anh rằng Moriarty cai trị đám thuộc hạ bằng một bàn tay sắt. Kỷ luật của hắn tàn khốc đến rợn người. Trong bộ luật của hắn chỉ vẻn vẹn một hình phạt duy nhất: cái chết. Giờ đây, chúng ta có thể giả định rằng kẻ bị sát hại kia - cái ông Douglas mà số phận sắp ập xuống đã bị một tên tay sai của tên trùm tội phạm biết trước - bằng cách nào đó đã phản bội ông chủ. Sự trừng phạt theo sau lẽ tự nhiên, và rồi mọi kẻ khác đều sẽ biết đến nó - chỉ để gieo vào lòng chúng nỗi kinh hoàng trước cái chết."

"Chà, đó là một giả thuyết đấy, ông Holmes."

"Giả thuyết thứ hai cho rằng vụ này nằm trong hoạt động kinh doanh thông thường của Moriarty. Có vụ cướp nào xảy ra không?"

"Tôi chưa nghe nói đến."

"Nếu có, thì lẽ dĩ nhiên nó sẽ đi ngược lại giả thuyết đầu tiên và củng cố cho giả thuyết thứ hai. Moriarty có thể đã được thuê để dàn dựng vụ này, kèm theo lời hứa chia một phần chiến lợi phẩm, hoặc hắn được trả trước một khoản tiền để thực hiện. Cả hai khả năng đều có thể xảy ra. Nhưng dù rơi vào trường hợp nào, hay thậm chí là một sự kết hợp thứ ba nào khác, thì chúng ta cũng phải tìm kiếm lời giải ở Birlstone. Tôi quá hiểu con người này để hy vọng rằng hắn sẽ bỏ lại bất cứ manh mối nào ở đây có thể dẫn lối ta tìm đến hắn."

"Vậy thì chúng ta phải tới Birlstone thôi!" MacDonald kêu lên, bật dậy khỏi ghế. "Chúa ơi! Muộn hơn tôi tưởng mất rồi. Tôi chỉ có thể cho hai ông đúng năm phút để chuẩn bị thôi đấy."

"Thế là quá đủ cho cả hai chúng tôi rồi," Holmes đáp, anh bật dậy và nhanh chóng thay chiếc áo choàng ngủ bằng áo khoác ngoài. "Trong lúc chúng ta đang di chuyển, anh Mac, tôi mong anh vui lòng kể cho tôi nghe mọi chuyện về vụ việc này."

Hóa ra, "mọi chuyện" lại ít ỏi đến mức đáng thất vọng, song vẫn đủ để đảm bảo với chúng tôi rằng vụ án trước mắt hoàn toàn xứng đáng để một chuyên gia dành toàn bộ sự quan tâm sát sao nhất. Holmes rạng rỡ hẳn lên và xoa hai bàn tay gầy guộc vào nhau khi lắng nghe những chi tiết tuy thưa thớt nhưng vô cùng đáng chú ý ấy. Một chuỗi dài những tuần vô vị đã khuất sau lưng chúng tôi, và cuối cùng ở đây cũng xuất hiện một đối tượng xứng tầm với những năng lực phi thường kia - thứ năng lực mà, cũng giống như mọi tài năng đặc biệt khác, sẽ trở nên bứt rứt khó chịu đối với kẻ sở hữu chúng mỗi khi không được vận dụng. Trí não sắc lẹm ấy đã bắt đầu cùn đi và han gỉ vì thiếu hoạt động.

Đôi mắt Sherlock Holmes rực sáng, đôi má nhợt nhạt ửng dần sắc hồng, và toàn bộ khuôn mặt háo hức của anh bừng lên một thứ ánh sáng rạng rỡ phát ra từ chính nội tâm khi tiếng gọi của công việc tìm đến. Anh rướn người về phía trước trong chiếc xe ngựa, say mê lắng nghe MacDonald phác thảo sơ lược về vấn đề đang chờ đón chúng tôi ở Sussex. Như viên thanh tra đã giải thích, bản thân ông cũng mới chỉ dựa vào một bản báo cáo được viết vội, gửi cho ông bằng chuyến tàu chở sữa vào lúc sáng sớm. White Mason, viên cảnh sát trưởng địa phương, là bạn riêng của MacDonald, và chính nhờ vậy mà MacDonald đã nhận được tin báo kịp thời hơn nhiều so với lệ thường ở Scotland Yard mỗi khi cảnh sát các tỉnh cần đến sự hỗ trợ của họ. Thường thì các chuyên gia của Lực lượng Cảnh sát Thủ đô chỉ được mời đến khi mọi dấu vết đã nguội lạnh từ lâu.

"THANH TRA MACDONALD THÂN MẾN," bức thư mà ông đọc to cho chúng tôi cùng nghe viết, - "Yêu cầu hỗ trợ chính thức từ phía anh được gửi kèm trong một phong bì riêng. Thư này chỉ dành cho mình anh. Hãy đánh điện cho tôi biết anh có thể bắt chuyến tàu sáng nào tới Birlstone, tôi sẽ ra đón - hoặc cho người ra đón nếu tôi quá bận. Vụ án này là một ca cực kỳ hóc búa. Đừng lãng phí một phút nào, hãy khởi hành ngay. Nếu anh có thể đưa ông Holmes đi cùng, xin hãy làm vậy; bởi ông ấy sẽ tìm thấy ở đây một thứ rất hợp với sở thích của mình. Chúng tôi hẳn đã nghĩ toàn bộ sự việc này chỉ là một màn dàn dựng cho sân khấu, nếu không có một cái xác chết nằm ngay giữa hiện trường. Trời ạ! Nó thực sự là một ca hóc búa đấy."

"Bạn của anh có vẻ không phải là kẻ khờ," Holmes nhận xét.

"Không đâu thưa ông, White Mason là một người cực kỳ nhạy bén, nếu như tôi không đánh giá sai."

"Chà, anh còn thông tin gì nữa không?"

"Chỉ có điều là anh ấy sẽ cho chúng ta biết mọi chi tiết khi chúng ta gặp mặt."

"Vậy làm sao anh biết được về ông Douglas và cái sự thật rằng ông ấy đã bị sát hại một cách dã man?"

"Điều đó nằm trong bản báo cáo chính thức đính kèm. Nó không dùng từ 'dã man' - đó đâu phải là thuật ngữ chính thức được công nhận. Nó đưa ra cái tên John Douglas. Nó đề cập rằng vết thương của ông ấy nằm ở phần đầu, do đạn bắn ra từ một khẩu súng săn. Nó cũng cho biết thời điểm báo động, là vào khoảng nửa đêm qua. Nó nói thêm rằng đây chắc chắn là một vụ sát nhân, nhưng chưa có vụ bắt giữ nào được tiến hành, và vụ án này mang một số đặc điểm vô cùng rắc rối và khác thường. Hiện tại chúng tôi chỉ có bấy nhiêu thôi, ông Holmes."

"Vậy thì, nếu anh cho phép, chúng ta sẽ tạm dừng ở đây, anh Mac. Sự cám dỗ của việc vội vàng hình thành những giả thuyết dựa trên dữ liệu chưa đầy đủ chính là tai họa trong nghề nghiệp của chúng ta. Ở thời điểm hiện tại, tôi chỉ có thể nhìn thấy hai điều chắc chắn - một bộ óc vĩ đại tại London, và một người đàn ông đã chết tại Sussex. Sợi xích liên kết giữa chúng mới chính là thứ mà chúng ta sẽ phải lần theo."



  1. Viết tắt của Criminal Investigation Department (Cục Điều tra Tội phạm), một bộ phận quan trọng của Scotland Yard (Trụ sở Cảnh sát London). 

  2. Jean-Baptiste Greuze (1725-1805) là một họa sĩ người Pháp nổi tiếng với các bức tranh chân dung, đặc biệt là hình ảnh những thiếu nữ mang vẻ đẹp ngây thơ, đa cảm. 

  3. Tiếng Pháp, nghĩa là 'Cô gái trẻ và con cừu non'. Một tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Greuze. 

  4. Jonathan Wild (1682-1725) là một nhân vật có thật, một 'ông trùm' tội phạm khét tiếng ở London thế kỷ 18. Hắn hoạt động hai mặt: vừa làm người chỉ điểm cho cảnh sát, vừa âm thầm điều hành mạng lưới trộm cướp rộng lớn. Holmes so sánh Moriarty với Wild vì cả hai đều là những kẻ giật dây tội phạm ẩn sau vỏ bọc hợp pháp. 

  5. Holmes ám chỉ Giáo sư Moriarty. Việc ví Moriarty như một 'Napoleon của giới tội phạm' là cách so sánh kinh điển của Arthur Conan Doyle, nhằm nhấn mạnh trí tuệ siêu việt và quyền lực tuyệt đối của hắn trong thế giới ngầm, tương tự như vị hoàng đế Pháp trong quân sự. 

  6. Hai ngân hàng khổng lồ và uy tín bậc nhất châu Âu thời bấy giờ (Deutsche Bank của Đức và Crédit Lyonnais của Pháp). Việc Moriarty cất giấu tài sản ở đây cho thấy mạng lưới tài chính của hắn vươn ra khỏi biên giới nước Anh, nhằm tránh sự kiểm soát của pháp luật trong nước.