PHẦN I. BĂNG ĐẢNG SCOWRERS

CHƯƠNG I. NGƯỜI ĐÀN ÔNG

Ngày mùng bốn tháng Hai năm 1875. Mùa đông năm ấy vô cùng khắc nghiệt, tuyết phủ dày đặc trong những hẻm núi thuộc dãy Gilmerton. Nhưng những chiếc máy cày tuyết chạy bằng hơi nước vẫn giữ cho tuyến đường sắt được thông suốt. Chuyến tàu chiều nối liền chuỗi khu định cư khai thác than và luyện sắt đang chậm chạp, rền rĩ leo lên những đoạn dốc đứng. Nó xuất phát từ Stagville dưới vùng đồng bằng, hướng về Vermissa - thị trấn trung tâm nằm ở đầu Thung lũng Vermissa. Từ điểm này, đường ray lượn vòng rồi lao xuống Ngã tư Barton, Helmdale, và hạt Merton - một vùng thuần nông nghiệp. Đây chỉ là tuyến đường sắt đơn. Ấy vậy mà tại mỗi nhánh rẽ - vốn nhiều vô số kể - những đoàn xe goòng dài dằng dặc chất đầy than và quặng sắt lại xuất hiện như minh chứng cho nguồn tài nguyên ngầm đã mang đến một cộng đồng dân cư thô lỗ và một nhịp sống xô bồ cho góc hẻo lánh, hoang vu bậc nhất này của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Nơi đây quả thật quá đỗi hoang vu! Vị tiểu thuyết gia hay người khai phá đầu tiên nào từng qua mảnh đất này cũng khó lòng mường tượng nổi: những thảo nguyên tươi đẹp nhất, những đồng cỏ ngập nước xanh mướt nhất cũng chẳng có giá trị gì khi đem so với vùng đất u ám này. Toàn những vách đá đen ngòm và những cánh rừng rậm rạp đan xen. Phía trên những khu rừng tối tăm, thường khó lòng xuyên thấu nằm bên sườn núi, là những đỉnh núi trọc lóc, cao chót vót. Tuyết trắng và đá lởm chởm sừng sững ở mỗi bên sườn, chừa lại một thung lũng ngoằn ngoèo, uốn lượn và dài thượt ở chính giữa. Dọc theo con đường hẹp ấy, đoàn tàu nhỏ xíu đang chậm chạp bò lên.

Những ngọn đèn dầu vừa được thắp sáng trong toa hành khách đi đầu - một toa xe dài và trống trải, với chừng hai mươi hay ba mươi người đang ngồi. Phần lớn họ là những người thợ mỏ trở về sau một ngày lao động nhọc nhằn ở khu vực thấp hơn của thung lũng. Ít nhất một chục người, qua khuôn mặt lấm lem và những chiếc đèn lồng an toàn1 họ mang theo, tự phô bày thân phận dân khai thác mỏ của mình. Họ ngồi hút thuốc thành từng nhóm, trò chuyện bằng giọng trầm thấp, và thỉnh thoảng lại liếc nhìn hai người đàn ông ở phía đối diện toa xe - những người mà đồng phục và huy hiệu cho thấy rõ họ là cảnh sát.

Vài người phụ nữ thuộc tầng lớp lao động và một hai hành khách trông có vẻ là những chủ cửa hàng nhỏ ở địa phương tạo nên phần còn lại của đám đông. Ngoại trừ một thanh niên ngồi thu mình trong góc. Đây chính là người mà chúng ta quan tâm. Hãy nhìn anh ta thật kỹ; bởi anh ta hoàn toàn xứng đáng với sự chú ý ấy.

Anh là một thanh niên có nước da sáng, vóc dáng trung bình, ngót nghét bước sang tuổi ba mươi. Anh có đôi mắt xám to, tinh anh và hài hước, thỉnh thoảng lại nheo nheo đầy tò mò khi quan sát những người xung quanh qua cặp kính. Người ta dễ dàng nhận ra anh thuộc kiểu người có tính cách hòa đồng, có lẽ khá đơn giản, và luôn háo hức muốn thân thiện với tất cả mọi người. Bất cứ ai cũng có thể lập tức nhận định anh là kẻ thích giao du, có bản tính cởi mở, trí óc nhanh nhạy cùng nụ cười luôn thường trực trên môi. Vậy mà, người nào chịu khó quan sát kỹ hơn một chút sẽ nhận ra một sự cứng cỏi nhất định nơi quai hàm và cái mím chặt khắc nghiệt nơi khóe môi. Điều đó sẽ cảnh báo người ta rằng, đằng sau vẻ ngoài kia là những chiều sâu khó dò. Gã thanh niên người Ireland tóc nâu dễ mến này rất có thể sẽ để lại dấu ấn của mình - dù là tốt hay xấu - lên bất kỳ cộng đồng nào anh ta đặt chân vào.

Sau khi buông đôi ba câu bâng quơ với người thợ mỏ ngồi gần nhất mà chỉ nhận lại những câu trả lời cộc lốc, ngắn gọn, vị khách đành cam chịu chìm vào sự im lặng chẳng mấy dễ chịu. Anh ủ rũ nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm khung cảnh đang dần phai nhạt trong ánh chiều tàn.

Đó chẳng phải là một viễn cảnh đáng mừng. Xuyên qua bóng tối đang dần buông xuống, ánh sáng rực đỏ của những lò nung nhấp nháy trên các sườn đồi. Những đống xỉ than to tướng và những bãi đổ tro xỉ lù lù hiện ra ở hai bên đường ray, với những trục giếng cao vút của các mỏ than sừng sững phía trên chúng. Những cụm nhà gỗ ọp ẹp chen chúc nhau - những ô cửa sổ bắt đầu hiện lên đường viền trong ánh sáng đèn - nằm rải rác đây đó dọc theo tuyến đường. Và những trạm dừng chân liên tục tấp nập những cư dân với nước da ngăm đen của họ.

Những thung lũng sắt và than của vùng Vermissa hoàn toàn không phải là nơi lui tới cho những người nhàn rỗi hay giới tri thức. Khắp nơi đều có những dấu hiệu khắc nghiệt của cuộc chiến sinh tồn thô bạo nhất: những công việc thô sơ cần được giải quyết, và những người lao động thô lỗ, mạnh mẽ đã hoàn thành chúng.

Vị khách trẻ tuổi phóng ánh mắt nhìn ra vùng đất hoang tàn này với một khuôn mặt pha trộn giữa vẻ ghê tởm và sự hứng thú - điều cho thấy cảnh tượng trước mắt là hoàn toàn mới mẻ đối với anh. Thỉnh thoảng, anh lại rút từ trong túi ra một bức thư dày cộm mà anh đang đọc dở, rồi nguệch ngoạc vài dòng ghi chú lên lề. Có một lần, anh rút ra từ đằng sau thắt lưng một thứ mà người ta khó lòng ngờ lại nằm trong tay một người có cung cách ôn hòa đến thế: một khẩu súng lục ổ quay cỡ lớn nhất của hải quân2. Khi anh xoay nghiêng nó về phía có ánh sáng, những ánh lấp lánh trên vành vỏ đạn đồng nằm gọn trong ổ đạn cho thấy nó đã được nạp đầy. Anh nhanh chóng cất nó trở lại vào chiếc túi bí mật của mình - nhưng không kịp trước khi nó lọt vào mắt một người công nhân vừa ngồi xuống băng ghế ngay bên cạnh.

"Này, người anh em!" anh ta cất tiếng. "Anh có vẻ được vũ trang đầy đủ và sẵn sàng chiến đấu nhỉ."

Người thanh niên mỉm cười với vẻ bối rối.

"Phải," anh đáp, "đôi khi chúng tôi cần đến chúng ở nơi tôi đến."

"Và đó có thể là nơi nào vậy?"

"Tôi từ Chicago tới."

"Một người lạ ở vùng này sao?"

"Phải."

"Anh có thể sẽ thấy mình cần đến nó ở đây đấy," người thợ nói.

"À! Vậy sao?" Người thanh niên tỏ ra thích thú.

"Anh chưa nghe nói gì về những chuyện xảy ra quanh đây à?"

"Không có gì bất thường cả."

"Chà, tôi cứ tưởng cả vùng này đều đầy rẫy những chuyện đó chứ. Rồi anh sẽ nghe ngóng được nhanh thôi. Điều gì đã đưa anh tới đây vậy?"

"Tôi nghe nói luôn có việc làm cho một người sẵn sàng cống hiến."

"Anh có phải là thành viên của công đoàn không?"

"Chắc chắn rồi."

"Vậy thì tôi đoán anh sẽ có được công việc của mình. Anh có bạn bè nào không?"

"Chưa có; nhưng tôi có cách để kết bạn."

"Cách đó là gì vậy?"

"Tôi là một thành viên của Dòng Chiến Sĩ Tự Do Xuất Chúng (Eminent Order of Freemen)3. Chẳng có thị trấn nào là không có chi hội, và nơi nào có chi hội, nơi đó tôi sẽ tìm được bạn bè của mình."

Lời bình luận này gây ra một tác động kỳ lạ lên người bạn đồng hành của anh. Anh ta liếc nhìn quanh một cách đầy nghi ngờ những người khác trong toa xe. Những người thợ mỏ vẫn đang thì thầm to nhỏ với nhau. Hai viên sĩ quan cảnh sát thì đang thiu thiu ngủ. Anh ta xích lại gần hơn, ngồi sát bên vị khách trẻ tuổi, rồi chìa tay ra.

"Để nó ở đây," anh ta nói.

Một cái bắt tay thân tình được trao đổi.

"Tôi thấy anh nói thật," người thợ nói. "Nhưng cẩn tắc vô ưu." Anh ta đưa tay phải lên lông mày phải. Vị khách lập tức đưa tay trái lên lông mày trái của chính mình.

"Những đêm tối tăm thật khó chịu," người thợ nói.

"Vâng, với những người lạ đi đường," người kia đáp.

"Thế là đủ rồi. Tôi là Người anh em Scanlan, Chi hội 341, Thung lũng Vermissa. Rất vui được gặp anh ở vùng này."

"Cảm ơn anh. Tôi là Người anh em John McMurdo, Chi hội 29, Chicago. Hội trưởng J.H. Scott. Nhưng tôi quả là may mắn khi gặp được một người anh em sớm đến vậy."

"Chà, có rất nhiều người trong số chúng ta ở quanh đây. Anh sẽ không tìm thấy hội nào phát triển rực rỡ ở bất cứ đâu trên đất Hợp chúng quốc này hơn là ngay tại Thung lũng Vermissa này đâu. Nhưng chúng tôi có thể dùng được một vài thanh niên như anh. Tôi không hiểu sao một gã nhanh nhẹn của công đoàn lại không tìm được việc làm ở Chicago."

"Tôi đã tìm được rất nhiều việc để làm," McMurdo nói.

"Vậy tại sao anh lại rời đi?"

McMurdo hất đầu về phía những viên cảnh sát và mỉm cười. "Tôi đoán những gã đó hẳn sẽ rất vui khi biết được điều này," anh nói.

Scanlan cất tiếng rên rỉ đầy thông cảm. "Đang gặp rắc rối à?" anh ta hỏi nhỏ.

"Khá lớn."

"Một vụ phải vào tù sao?"

"Và hơn thế nữa."

"Đừng nói là giết người nhé!"

"Giờ còn quá sớm để nói về những chuyện như thế," McMurdo đáp, với vẻ mặt của một kẻ bị bất ngờ đến độ lỡ lời nói nhiều hơn những gì mình định nói. "Tôi có những lý do chính đáng của riêng mình để rời khỏi Chicago, và cứ để thế là đủ với anh đi. Anh là ai mà lại tự cho mình quyền đi hỏi những chuyện như thế chứ?" Đôi mắt xám của anh lóe lên cơn giận dữ đột ngột và đầy nguy hiểm từ sau cặp kính.

"Được rồi, người anh em, không có ý xúc phạm đâu. Bọn này sẽ không vì thế mà nghĩ xấu về anh, bất kể anh đã làm gì. Giờ anh đang định đi đâu?"

"Vermissa."

"Đó là trạm dừng thứ ba trên tuyến đường. Anh định ở đâu?"

McMurdo rút ra một chiếc phong bì rồi đưa nó lại gần ngọn đèn dầu mờ ảo. "Đây là địa chỉ - Jacob Shafter, Phố Sheridan. Đó là một nhà trọ được một người tôi quen ở Chicago giới thiệu."

"Chà, tôi không biết chỗ đó; nhưng Vermissa nằm ngoài phạm vi hoạt động của tôi. Tôi sống ở Hobson's Patch, và đó chính là nơi chúng ta đang đi tới đây. Nhưng, này, có một lời khuyên tôi muốn dành cho anh trước khi chúng ta chia tay: Nếu anh gặp rắc rối ở Vermissa, hãy đến thẳng Tòa nhà Công đoàn và tìm gặp Ông trùm McGinty. Ông ấy là Hội trưởng của Chi hội Vermissa, và chẳng có gì có thể xảy ra ở vùng này nếu Black Jack McGinty không muốn thế. Tạm biệt nhé, người anh em! Có lẽ chúng ta sẽ gặp lại nhau ở chi hội vào một trong những buổi tối tới. Nhưng hãy nhớ lời tôi: Nếu anh gặp rắc rối, hãy tìm đến Ông trùm McGinty."

Scanlan bước xuống tàu, và McMurdo lại một lần nữa chìm vào dòng suy nghĩ riêng của mình. Màn đêm giờ đã buông xuống. Ngọn lửa từ những lò nung mọc lên san sát gầm rú và nhảy múa trong bóng tối. Trên nền đỏ rực ấy, những bóng đen khom lưng gồng mình, vặn vẹo xoay xở, hòa cùng nhịp chuyển động của tời kéo và trục quay, theo điệu của một thứ tiếng loảng xoảng xen lẫn tiếng gầm gừ vang lên không ngớt.

"Tôi đoán địa ngục chắc cũng trông giống như thế này thôi," một giọng nói cất lên.

McMurdo quay đầu lại, thấy một trong hai viên cảnh sát đã xê dịch chỗ ngồi và đang nhìn chằm chằm ra vùng đất hoang vu rực lửa bên ngoài.

"Về chuyện đó," viên cảnh sát còn lại tiếp lời, "chúng tôi cho rằng địa ngục hẳn phải giống y như thế này. Nếu ở dưới kia có lũ quỷ nào tồi tệ hơn mấy cái tên mà chúng tôi có thể chỉ mặt điểm tên ngay lúc này, thì quả là vượt quá sức tưởng tượng rồi. Cậu là người mới đến vùng này phải không, chàng trai?"

"Thế thì sao nào?" McMurdo đáp lại bằng một giọng càu nhàu.

"Chỉ có thế này thôi, thưa cậu, rằng tôi khuyên cậu nên thận trọng trong việc chọn bạn mà chơi. Nếu tôi là cậu, tôi sẽ chẳng dây dưa với Mike Scanlan hay băng đảng của hắn làm gì."

"Cái quái gì khiến mấy người phải xía vào chuyện ai là bạn của tôi?" McMurdo gầm lên, giọng dữ dội đến mức mọi cái đầu trong toa tàu đều ngoái lại để chứng kiến cuộc đụng độ. "Tôi có xin mấy người lời khuyên không, hay mấy người nghĩ tôi là thằng ngốc không tự lo liệu nổi việc của mình? Mấy người chỉ nên mở miệng khi được hỏi thôi, và lạy Chúa, mấy người sẽ phải đợi đến mọt kiếp nếu người đó là tôi đấy!" Anh ta hếch mặt lên và nhe răng cười với những viên tuần tra như một con chó đang nhe nanh gầm gừ.

Hai viên cảnh sát - những người đàn ông to lớn và tốt bụng - đã bị sửng sốt trước sự hung hãn khác thường mà lời đề nghị thân thiện của họ bị khước từ.

"Không có ý xúc phạm đâu, người lạ," một viên lên tiếng. "Đấy chỉ là một lời cảnh báo vì lợi ích của chính cậu thôi, bởi chính cậu cũng đã cho thấy mình là người mới đến nơi này còn gì."

"Tôi là người mới đến nơi này, nhưng tôi chẳng còn lạ gì cái giống mấy người đâu!" McMurdo thét lên trong cơn thịnh nộ lạnh lùng. "Tôi đoán ở đâu thì mấy người cũng cùng một giuộc cả thôi, luôn thọc gậy bánh xe bằng những lời khuyên khi chẳng ai buồn nhờ đến."

"Có lẽ chúng ta sẽ còn gặp lại cậu sớm thôi," một trong hai viên tuần tra buông lời, kèm theo một nụ cười nhếch mép. "Cậu đúng là một kẻ khó chiều thực sự đấy, nếu tôi đánh giá không nhầm."

"Tôi cũng đang nghĩ thế," viên kia nhận xét. "Tôi đoán chúng ta sẽ còn gặp lại nhau."

"Tôi chẳng sợ mấy người đâu, đừng có mà tơ tưởng!" McMurdo gầm lên. "Tên tôi là Jack McMurdo - nhớ lấy nhé! Nếu mấy người muốn tìm tôi, cứ đến nhà Jacob Shafter trên Phố Sheridan, Vermissa mà tìm; thế đấy, tôi chẳng hề trốn tránh mấy người, đúng không? Dù ngày hay đêm, tôi cũng dám nhìn thẳng vào mặt những kẻ như mấy người - đừng có mà hiểu nhầm điều ấy!"

Một tiếng xì xào đồng tình lẫn ngưỡng mộ nổi lên từ đám thợ mỏ trước thái độ gan dạ của kẻ mới đến, trong khi hai viên cảnh sát chỉ biết nhún vai rồi quay lại với cuộc trò chuyện riêng của họ.

Vài phút sau, đoàn tàu từ từ lăn bánh vào một nhà ga lờ mờ ánh đèn, và hành khách bắt đầu tản ra mọi phía; bởi Vermissa cho đến nay vẫn là thị trấn lớn nhất trên toàn tuyến đường sắt này. McMurdo nhấc chiếc túi xách bằng da lên và định bước vào màn đêm, thì một người thợ mỏ tiến đến bắt chuyện.

"Chúa ơi, anh bạn! Anh biết cách nói chuyện với bọn cớm đấy," gã thốt lên bằng một giọng đầy kính phục. "Thật tuyệt khi được nghe anh nói. Đưa túi đây để tôi xách cho, và tôi sẽ chỉ đường cho anh luôn. Tôi đi ngang qua nhà lão Shafter trên đường về túp lều của mình."

Từ những người thợ mỏ khác, một loạt tiếng "Chúc ngủ ngon" thân thiện vang lên khi họ lần lượt băng qua sân ga. Dù chưa từng đặt chân đến nơi này, McMurdo - kẻ nổi loạn - đã trở thành một gương mặt được biết đến ở Vermissa.

Vùng quê quanh đây vốn đã là một nơi đáng sợ; nhưng chính cái thị trấn này, theo cách riêng của nó, lại còn mang một vẻ u sầu đến thắt lòng. Ít ra, dọc theo cái thung lũng dài thượt kia còn phảng phất đâu đó một sự hùng vĩ u ám - nơi những ngọn lửa khổng lồ cháy rực và những đám mây khói lững lờ trôi, nơi sức mạnh cùng sự cần cù của con người tìm thấy những tượng đài xứng đáng trong những ngọn đồi do chính họ đổ ra bên cạnh những công trình khai quật quái dị của mình. Nhưng thị trấn thì phơi bày ra một thứ xấu xí và bẩn thỉu trơ trẽn đến mức đồng đều. Con phố lớn bị xe cộ cày xới thành một bãi bùn nhão nhoét đầy những rãnh lầy ghê rợn. Những vỉa hè thì hẹp và mấp mô lồi lõm. Những ngọn đèn khí đá mọc san sát nhau dường như chỉ để phô bày rõ hơn một dãy dài những ngôi nhà gỗ ọp ẹp và bẩn thỉu, mỗi căn đều có hàng hiên hướng ra mặt phố.

Khi họ tiến gần đến trung tâm thị trấn, khung cảnh bừng sáng hơn hẳn nhờ một dãy các cửa hàng được thắp đèn rực rỡ, và còn rực rỡ hơn nữa bởi một cụm quán rượu và sòng bạc - nơi những người thợ mỏ tiêu xài những đồng lương hào phóng nhưng đầy khó nhọc của họ.

"Đó là Tòa nhà Công đoàn," người dẫn đường lên tiếng, chỉ tay về phía một quán rượu vươn lên cao gần như mang dáng dấp của một khách sạn. "Jack McGinty là ông trùm ở đó."

"Ông ta là người thế nào?" McMurdo hỏi.

"Sao cơ! Anh chưa từng nghe nói về ông trùm à?"

"Làm sao tôi có thể nghe nói về ông ta khi anh biết tôi là kẻ lạ mặt ở vùng này cơ chứ?"

"Chà, tôi cứ tưởng tên tuổi của ông ta đã lừng danh khắp cả nước rồi. Nó xuất hiện trên mặt báo thường xuyên lắm mà."

"Về chuyện gì?"

"Chà," người thợ mỏ hạ giọng, "- về những vụ lùm xùm."

"Những vụ lùm xùm nào?"

"Lạy Chúa, anh bạn! Anh quả là kỳ lạ, nếu tôi phải nói thế mà không có ý xúc phạm. Ở vùng này chỉ có mỗi một chuỗi những vụ việc mà anh sẽ nghe nhắc đến, và đó là những vụ việc của băng Scowrers4."

"Chà, hình như tôi đã từng đọc về băng Scowrers ở Chicago. Một băng đảng giết người, đúng không?"

"Nín đi, nếu anh còn muốn sống!" người thợ mỏ thốt lên, đứng sững lại trong nỗi kinh hãi và ngạc nhiên nhìn chằm chằm người bạn đồng hành. "Anh bạn, anh sẽ chẳng sống được bao lâu ở vùng này đâu nếu anh ăn nói giữa đường giữa chợ như thế. Nhiều người đã bị đánh cho nhừ tử vì những chuyện còn nhẹ hơn thế đấy."

"Chà, tôi chẳng biết gì về bọn chúng cả. Đó chỉ là những gì tôi đã đọc được thôi."

"Và tôi cũng không nói là anh chưa đọc được sự thật đâu." Người đàn ông lo lắng đảo mắt nhìn quanh, nheo mắt dõi vào bóng tối như thể sợ hãi một mối hiểm nguy đang rình rập đâu đó. "Nếu giết chóc là tội ác, thì có Chúa mới biết được ở đây đã có bao nhiêu vụ giết người, và còn tàn nhẫn hơn thế nữa kìa. Nhưng đừng có dám thở ra cái tên Jack McGinty có liên quan đến chuyện đó nhé, người lạ; vì mọi tiếng thì thầm đều sẽ lọt đến tai ông ta, và ông ta không phải là loại người dễ bỏ qua chuyện đó đâu. Giờ thì, đó là ngôi nhà mà anh đang tìm đấy, căn nhà nằm lùi lại so với mặt phố kia. Anh sẽ thấy lão Jacob Shafter - người điều hành nó - là một trong những kẻ lương thiện nhất còn sống ở cái thị trấn này."

"Tôi cảm ơn anh," McMurdo nói, và bắt tay người bạn mới quen. Rồi anh lê bước, tay xách chiếc túi, đi lên con đường dẫn đến ngôi nhà trọ, nơi anh gõ một tiếng vang dội vào cánh cửa.

Cánh cửa bật mở ngay tức khắc - nhưng người đứng sau đó hoàn toàn không giống bất cứ điều gì anh từng mường tượng. Đó là một thiếu nữ, trẻ trung và xinh đẹp lạ thường. Cô mang những nét đặc trưng của dòng máu Đức: mái tóc vàng óng ả như nắng hạ, làn da trắng mịn tựa sứ, và nổi bật trên gương mặt thanh tú ấy là cặp mắt đen láy sâu thẳm - một sự tương phản đầy mê hoặc. Chính đôi mắt ấy đang dò xét người lạ mặt với vẻ ngỡ ngàng pha chút bối rối duyên dáng, khiến một dải ửng hồng lan nhẹ trên đôi gò má vốn nhợt nhạt của cô. Đứng trong khung ánh sáng rực rỡ hắt ra từ ngưỡng cửa, hình ảnh ấy in vào mắt McMurdo như một bức họa tuyệt mỹ nhất mà đời anh từng được chiêm ngưỡng. Vẻ đẹp ấy càng trở nên choáng ngợp hơn bởi chính sự tương phản với khung cảnh xung quanh - tất cả chỉ toàn là bụi bặm, nhơ nhớp và u ám đến ngạt thở. Một đóa hoa violet e ấp vươn lên từ đống xỉ than đen ngòm nơi mỏ quặng cũng không thể nào gây sửng sốt hơn thế. McMurdo đứng sững, mê mẩn đến không thốt nên lời. Và chính cô gái là người lên tiếng trước, phá tan bầu không khí tĩnh lặng.

"Tôi cứ tưởng là cha tôi cơ," cô cất giọng nhẹ nhàng, âm sắc thoảng chút hương vị Đức quốc. "Anh đến tìm ông ấy ạ? Ông đang xuống dưới phố rồi. Tôi nghĩ chỉ vài phút nữa là ông về thôi."

McMurdo vẫn dán mắt vào cô, ánh nhìn ngưỡng mộ không hề che giấu, đến nỗi đôi mi cô phải cụp xuống đầy ngượng ngùng trước vị khách quá đỗi áp đảo này.

"Không, thưa cô," cuối cùng anh cũng mở lời, "tôi đâu có vội gì chuyện gặp cha cô. Nhưng ngôi nhà này đã được giới thiệu cho tôi làm chỗ trọ. Tôi đã nghĩ nó cũng hợp với mình - và giờ thì tôi biết chắc là nó hợp."

"Anh quyết định nhanh thật đấy," cô đáp, nở một nụ cười.

"Người nào không mù thì đều quyết định nhanh như thế thôi," anh chàng đối đáp.

Cô bật cười trước lời khen khéo ấy. "Mời anh vào trong, thưa ngài. Tôi là Ettie Shafter, con gái ông Shafter. Mẹ tôi đã khuất, và hiện giờ tôi lo liệu mọi việc trong nhà. Anh có thể ngồi bên lò sưởi ở gian phòng phía trước đợi cha tôi về - À, ông ấy về kia rồi! Vậy là anh có thể bàn bạc mọi chuyện với ông ngay bây giờ."

Một người đàn ông to béo, đứng tuổi đang nặng nề lê bước trên lối vào. Chỉ bằng dăm ba câu, McMurdo đã trình bày rõ mục đích của mình. Một người tên Murphy đã cho anh địa chỉ này hồi còn ở Chicago. Còn chính ông ta cũng có được nó từ một người khác nữa. Lão Shafter tỏ ra hoàn toàn sẵn lòng. Tay lạ mặt này chẳng hề cò kè mặc cả, bằng lòng ngay tắp lự với mọi điều khoản, và rõ ràng là hạng người rủng rỉnh tiền bạc. Với bảy đô la một tuần trả trước, anh có được miếng ăn và chỗ ngủ dưới mái nhà này.

Cứ thế, McMurdo - kẻ đào tẩu tự xưng - đã an cư dưới mái ấm của gia đình Shafter. Đó là bước chân đầu tiên mở màn cho một chuỗi biến cố dài lê thê và tăm tối, để rồi cuối cùng kết thúc ở một miền đất xa xôi hút tận chân trời.



  1. Safety lamp (như đèn Davy), loại đèn được thiết kế đặc biệt với lưới kim loại bao quanh ngọn lửa để ngăn nguy cơ bắt cháy khí gas hầm lò, một công cụ sống còn đối với ngành khai thác than thế kỷ 19. 

  2. Nguyên tác ám chỉ 'Navy revolver' (như khẩu Colt Navy), loại súng lục ổ quay uy lực thời bấy giờ. Dù được thiết kế cho hải quân, loại súng này lại rất phổ biến trong giới giang hồ và cao bồi miền Tây nước Mỹ. 

  3. Một hội kín hư cấu do tác giả sáng tạo, lấy cảm hứng từ các hội đoàn lao động có thật ở Mỹ thời bấy giờ, thường được dùng làm bình phong cho các hoạt động ngầm của giới thợ mỏ. 

  4. Băng đảng hư cấu trong tiểu thuyết, được lấy cảm hứng trực tiếp từ 'Molly Maguires' - một hội kín có thật của thợ mỏ gốc Ireland, từng gây ra hàng loạt vụ bạo lực đẫm máu tại các mỏ than Pennsylvania thế kỷ 19.