CHƯƠNG III. CHI HỘI 341, VERMISSA

Ngay hôm sau cái đêm chứa đầy những biến cố chấn động, McMurdo dọn khỏi nhà ông già Jacob Shafter mà đến trọ nơi căn nhà của góa phụ MacNamara, nép mình tít tận rìa thị trấn. Scanlan - kẻ đầu tiên anh quen biết trên chuyến tàu - ít lâu sau cũng tìm được dịp dọn đến Vermissa, rồi hai gã sớm trở thành bạn trọ chung một mái. Chẳng còn vị khách nào khác, mà bà chủ nhà lại là một phụ nữ Ireland đứng tuổi, tính tình dễ dãi, luôn để mặc họ muốn làm gì thì làm. Nhờ vậy, cả hai có được một sự tự do tuyệt đối trong lời ăn tiếng nói lẫn hành động - một điều quý giá vô cùng đối với những gã đàn ông cùng nhau canh giữ những bí mật.

Shafter đã mềm lòng đến mức cho phép McMurdo ghé lại dùng bữa bất kỳ khi nào anh muốn. Nhờ thế, sợi dây nối kết giữa anh và Ettie không hề bị cắt đứt. Trái lại, nó ngày một thêm gần gũi, thêm thân mật, theo từng tuần lễ lặng lẽ trôi qua.

Trong căn phòng ngủ ở chỗ trọ mới, McMurdo đã đủ an toàn để lôi ra những khuôn đúc tiền giả. Dưới muôn vàn lời thề giữ kín, một vài anh em trong chi hội được phép bước vào chiêm ngưỡng. Mỗi kẻ ra về đều thủ sẵn trong túi một vài đồng tiền giả làm mẫu - thứ được đúc tinh xảo đến mức chẳng bao giờ gây ra lấy một chút khó khăn hay nguy hiểm nào khi đem đi tiêu pha. Cớ sao, khi đã nắm trong tay một thứ nghệ thuật tuyệt diệu như vậy, McMurdo lại cam chịu hạ mình làm những công việc tầm thường - điều ấy luôn là một bí ẩn chẳng ai giải nổi đối với đám bạn đồng hành của anh. Dẫu vậy, với bất kỳ kẻ nào thắc mắc, anh đều nói rõ: nếu anh sống mà chẳng có lấy một nguồn thu nhập minh bạch nào, thì cảnh sát sẽ chẳng mấy chốc lần theo dấu vết mà tóm được anh.

Sự thực là đã có một viên cảnh sát đang mon men theo dõi anh. Nhưng may mắn thay, sự cố ấy lại mang về cho gã phiêu lưu nhiều mối lợi hơn là phiền toái. Sau màn ra mắt ban đầu, hiếm có buổi tối nào anh không tìm đường đến quán rượu của McGinty, để rồi thêm thân thiết với "những cậu nhóc" - cái danh xưng vui tai mà băng đảng nguy hiểm đang tung hoành khắp vùng này dùng để gọi nhau. Phong thái bảnh bao và lối ăn nói đầy gan góc của anh đã khiến tất thảy đều yêu mến. Còn cái cách anh quật ngã đối thủ chớp nhoáng và đầy kỹ thuật trong một trận ẩu đả không luật lệ chốn quán rượu lại càng giúp anh giành trọn sự nể trọng của cái cộng đồng thô bạo ấy. Ấy vậy mà, vẫn còn một sự việc khác, đã tôn vinh vị thế của anh lên một tầm cao mới trong mắt họ.

Vào đúng giờ cao điểm một buổi tối nọ, cánh cửa bật mở và một kẻ sải bước vào, mình vận bộ đồng phục xanh trầm lặng, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai của lực lượng cảnh sát khu mỏ. Đây là một lực lượng đặc biệt - do chính các tuyến đường sắt và các chủ mỏ than dựng nên - nhằm tiếp sức cho những nỗ lực yếu ớt của lực lượng cảnh sát dân sự, những con người hoàn toàn bất lực trước nạn du côn có tổ chức đang khủng bố cả một vùng. Một bầu im lặng nặng nề bao trùm khi kẻ ấy bước vào, và hàng chục cặp mắt tò mò đồng loạt đổ dồn về phía viên cảnh sát. Nhưng mối quan hệ giữa cảnh sát và tội phạm lại mang những nét rất riêng ở một số vùng đất của nước Mỹ; chính McGinty, khi ấy đang đứng sau quầy rượu, cũng chẳng hề để lộ chút ngạc nhiên nào khi thấy viên cảnh sát ung dung nhập vào hàng ngũ khách khứa của lão.

"Một ly whisky nguyên chất; đêm nay trời lạnh quá," viên sĩ quan cảnh sát cất tiếng. "Tôi e là chúng ta chưa từng có dịp gặp gỡ, thưa ngài?"

"Hẳn ông là vị đại úy mới đến?" McGinty hỏi.

"Đúng vậy. Chúng tôi đặt niềm tin vào ngài, ngài ủy viên, cũng như vào những vị công dân hàng đầu khác, để giúp chúng tôi duy trì luật pháp và trật tự ở thị trấn này. Tên tôi là Đại úy Marvin."

"Chúng tôi sẽ ổn hơn nhiều nếu không có ông, Đại úy Marvin," McGinty đáp lời, giọng lạnh tanh. "Bởi lẽ chúng tôi vốn đã có lực lượng cảnh sát riêng của thị trấn rồi, và chẳng cần đến bất kỳ thứ hàng nhập cảng nào hết. Ông là cái thá gì ngoài một công cụ được đám tư bản trả lương, được chúng thuê về để đánh đập hoặc bắn hạ những người dân nghèo của chính mình?"

"Thôi nào, thôi nào, chúng ta đâu cần phải tranh cãi về chuyện ấy," viên sĩ quan cảnh sát vui vẻ đáp. "Tôi nghĩ rằng mỗi người chúng ta đều đang làm nhiệm vụ của mình theo cách mà mình nhìn nhận; song chẳng phải ai cũng nhìn nhận giống ai." Hắn uống cạn ly rượu và xoay người định bước đi, thì bất chợt, ánh mắt hắn chạm phải gương mặt của Jack McMurdo - kẻ khi ấy đang cau mày đứng ngay sát bên cạnh. "Chà! Chà!" hắn kêu lên, đưa mắt dò xét anh từ đầu đến chân. "Thì ra là một người quen cũ!"

McMurdo co rúm người lùi lại. "Đời tôi chưa từng là bạn của ông hay của bất kỳ tên cớm khốn kiếp nào khác," anh gằn giọng.

"Người quen thì chẳng phải lúc nào cũng là bạn," viên đại úy cảnh sát nhếch mép cười. "Cậu chính là Jack McMurdo của Chicago, không lẫn vào đâu được. Và cậu đừng có chối!"

McMurdo nhún vai. "Tôi nào có chối," anh đáp. "Ông nghĩ tôi xấu hổ vì chính cái tên của mình sao?"

"Thì dù sao, cậu cũng có lý do chính đáng để làm thế."

"Ông định nói cái quái gì vậy hả?" anh gầm lên, hai nắm đấm cuộn chặt.

"Không, không, Jack ạ, những lời dọa nạt ầm ĩ ấy chẳng có tác dụng gì với tôi đâu. Tôi từng là một sĩ quan ở Chicago trước khi tôi đặt chân đến cái hầm than chết tiệt này, và tôi nhận ra một tên tội phạm Chicago ngay khi vừa trông thấy."

Mặt McMurdo chùng hẳn xuống. "Đừng nói với tôi rằng ông chính là Marvin của Trụ sở Trung tâm Chicago đấy nhé!" anh kêu lên.

"Chính là Teddy Marvin ngày trước đây, luôn sẵn sàng phục vụ cậu. Chúng tôi vẫn chưa quên vụ bắn chết Jonas Pinto trên ấy đâu."

"Tôi chưa từng bắn ông ta."

"Chưa từng sao? Một bằng chứng vô tư và tuyệt vời quá nhỉ? Chà, cái chết của lão ta đến một cách hết sức tình cờ và cực kỳ thuận lợi cho cậu đấy, nếu không thì họ đã tóm được cậu vì tội tuồn tiền giả từ lâu rồi. Thôi, chúng ta có thể để chuyện cũ trôi qua. Bởi vì, giữa cậu và tôi - và có lẽ tôi đang đi hơi xa hơn giới hạn nhiệm vụ của mình khi thốt ra điều này - họ chẳng thể nào tìm được bằng chứng rõ ràng để buộc tội cậu đâu, và Chicago sẵn sàng dang tay đón cậu trở lại vào ngày mai."

"Tôi đang sống rất tốt ở chỗ hiện tại."

"Chà, tôi đã chỉ điểm cho cậu rồi đấy, và cậu quả là một con chó hờn dỗi khi chẳng thèm biết ơn tôi vì điều đó."

"Thôi được, tôi cho là ông có ý tốt, và tôi cảm ơn ông," McMurdo đáp, bằng một thái độ chẳng lấy gì làm nhã nhặn.

"Tôi sẽ giữ im lặng, chừng nào tôi còn thấy cậu đang sống một cách lương thiện," vị đại úy nói. "Nhưng, lạy Chúa! Nếu sau chuyện này mà cậu còn dở chứng, thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác đấy! Thôi, chúc cậu ngủ ngon - và chúc ngài ngủ ngon, thưa ngài Ủy viên."

Hắn rời khỏi quán rượu, nhưng không phải trước khi kịp tạo ra một vị anh hùng địa phương. Những chiến tích của McMurdo ở cái thành phố Chicago xa xôi vốn đã được truyền tai nhau từ trước đó. Anh từng gạt phăng mọi câu hỏi dồn dập bằng một nụ cười nhạt, hệt như một kẻ chẳng muốn bị ai nhồi nhét vào một thứ vĩ đại gượng ép. Thế nhưng giờ đây, sự việc đã được xác nhận một cách chính thức. Lũ khách nhàn rỗi trong quán xúm lại vây quanh anh, những bàn tay nồng nhiệt lần lượt siết chặt lấy tay anh. Kể từ giây phút ấy, cánh cửa cộng đồng này đã rộng mở chào đón anh. Anh có thể uống thứ rượu rất mạnh mà chẳng để lộ trên người lấy một dấu vết nào; nhưng tối hôm ấy, nếu không có Scanlan - người bạn cùng phòng - kịp thời kề bên dìu về, thì vị anh hùng vừa được tung hô chắc hẳn đã phải ngủ lại dưới gầm bàn.

Vào một tối thứ Bảy, McMurdo chính thức được kết nạp vào chi hội. Anh vốn nghĩ mình sẽ được miễn nghi lễ, bởi đã là hội viên kết nạp từ Chicago; nhưng Vermissa có những nghi thức riêng mà họ vô cùng tự hào, và bất kỳ kẻ thỉnh nguyện nào cũng phải trải qua đầy đủ. Cuộc họp diễn ra trong một căn phòng lớn ở Union House - nơi vốn được dành riêng cho những mục đích như vậy. Có chừng sáu mươi thành viên tụ họp tại Vermissa; thế nhưng con số ấy hoàn toàn không phản ánh hết thực lực của tổ chức, bởi lẽ còn có nhiều chi hội khác rải rác khắp thung lũng, cùng những chi hội bên kia các dãy núi hai bên sườn. Mỗi khi có phi vụ hệ trọng, họ thường xuyên hoán đổi thành viên cho nhau, ngõ hầu một tội ác có thể được thực hiện bởi những kẻ hoàn toàn xa lạ với địa phương. Tính tổng cộng, có không dưới năm trăm tên rải rác trên khắp khu vực khai thác than.

Trong căn phòng hội họp trống trải, đám đàn ông quây quần quanh một chiếc bàn dài. Ở một bên còn kê thêm một chiếc bàn thứ hai, chất đầy chai và ly, nơi không ít thành viên trong nhóm đã bắt đầu liếc mắt về phía ấy. McGinty ngồi ghế chủ tọa, chiếc mũ nhung đen dẹt chễm chệ trên mái tóc đen rối bù xù, và một dải khăn quàng tím chói quấn ngang cổ, khiến lão trông tựa như một giáo sĩ đang chủ trì nghi lễ ma quỷ nào đấy. Bên phải và bên trái lão là những chức sắc cấp cao của chi hội - trong số đó có gương mặt vừa tàn nhẫn vừa điển trai của Ted Baldwin. Mỗi người đều mang trên mình một chiếc khăn choàng hoặc huy chương, biểu trưng cho chức tước của mình.

Phần lớn bọn chúng đều là những kẻ đã đứng tuổi; nhưng số còn lại trong nhóm là những thanh niên trạc mười tám đến hai mươi lăm - những tay chân lực lưỡng và luôn sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của các bậc bề trên. Trong số những kẻ lớn tuổi hơn, nhiều gã mang những đường nét phơi bày trần trụi cái tâm hồn hung ác và vô pháp luật bên trong; vậy nhưng khi đưa mắt nhìn xuống hàng ngũ cấp dưới, thật khó mà tin nổi rằng những chàng trai hăm hở với gương mặt cởi mở ấy lại chính là một băng sát nhân nguy hiểm - những kẻ mà tâm trí đã chịu một sự băng hoại đạo đức hoàn toàn, đến nỗi chúng coi tài nghệ trong việc giết chóc là một niềm tự hào ghê rợn, và ngước nhìn kẻ nổi danh với những "phi vụ gọn gàng" bằng một sự kính trọng sâu sắc nhất.

Đối với bản chất trụy lạc ấy, việc tình nguyện ra tay chống lại một con người chưa từng làm tổn thương chúng - và trong nhiều trường hợp, một kẻ chúng chưa từng thấy mặt bao giờ - đã trở thành một hành động dũng cảm và nghĩa hiệp. Khi tội ác đã được thực hiện, chúng tranh cãi xem kẻ nào mới thực sự là người tung ra đòn chí mạng, rồi mua vui cho nhau cùng cả băng bằng cách diễn tả lại những tiếng kêu la và những cơn co giật của nạn nhân.

Lúc ban đầu, chúng còn giữ đôi chút bí mật trong các thỏa thuận của mình; nhưng đến thời điểm câu chuyện này được thuật lại, các hoạt động của chúng đã trở nên công khai một cách trắng trợn. Lý do là bởi sự thất bại lặp đi lặp lại của pháp luật đã chứng minh cho chúng thấy rằng: một mặt, chẳng ai dám đứng ra làm chứng chống lại chúng; mặt khác, chúng có vô số nhân chứng trung thành để triệu tập, cùng một hòm công quỹ đầy ắp đủ sức thuê những luật sư tài ba nhất tiểu bang. Suốt mười năm dài đằng đẵng của những tội ác man rợ, chưa từng có lấy một bản án nào được tuyên. Mối nguy duy nhất đe dọa bọn Scowrers chỉ nằm ở chính các nạn nhân của chúng - những người, dù bị áp đảo về số lượng và bị tấn công bất ngờ, đôi khi vẫn có thể, và thỉnh thoảng đã thực sự, để lại dấu vết trên người những kẻ tấn công mình.

McMurdo đã được báo trước rằng có một thử thách nào đó đang chờ đợi anh; nhưng chẳng ai chịu nói cho anh biết đó là thứ gì. Giờ đây, anh được hai người anh em vẻ mặt trang nghiêm dẫn vào một căn phòng bên ngoài. Xuyên qua vách ngăn bằng ván gỗ, anh có thể nghe thấy tiếng xì xào của nhiều giọng nói vọng ra từ buổi tụ họp bên trong. Đôi lần anh thoáng bắt được âm thanh của chính tên mình, và anh biết rằng họ đang thảo luận về việc kết nạp anh. Rồi một người canh gác từ bên trong bước vào, ngực vắt chéo một dải băng xanh lá cây pha vàng.

"Thủ lĩnh truyền lệnh: trói hắn lại, bịt mắt và dẫn vào trong," gã nói.

Ba kẻ lột áo khoác của anh, xắn ống tay áo bên phải lên, rồi cuối cùng luồn một sợi dây thừng vòng qua phía trên khuỷu tay và xiết chặt lại. Sau đó, chúng trùm lên đầu và nửa trên khuôn mặt anh một chiếc mũ trùm đầu bằng vải đen dày, khiến anh không thể nhìn thấy gì hết. Rồi anh được dẫn vào đại sảnh.

Dưới lớp mũ trùm đầu, mọi thứ tối đen như mực và ngột ngạt đến nghẹt thở. Anh nghe thấy tiếng sột soạt và tiếng thì thầm của những kẻ xung quanh, rồi giọng McGinty vọng đến trầm đục và xa xăm xuyên qua lớp vải bịt kín đôi tai anh.

"John McMurdo," giọng nói cất lên, "cậu đã là thành viên của Hội Anh Em Tự Do Cổ Đại1 chưa?"

Anh cúi đầu xác nhận.

"Chi hội của cậu là số 29, Chicago, phải không?"

Anh lại cúi đầu.

"Những đêm tối thật nhọc nhằn," giọng nói ngân lên.

"Phải, với những lữ khách lạc đường," anh đáp.

"Mây đang vần vũ nặng trĩu."

"Phải, một cơn bão đang kéo đến."

"Các anh em có hài lòng không?" Thủ lĩnh hỏi.

Một tiếng xì xào tán đồng vang lên khắp phòng.

"Chúng ta biết, người anh em, qua ám hiệu và mật khẩu của cậu, rằng cậu thực sự là người của chúng ta," McGinty nói. "Nhưng chúng ta muốn cậu hiểu rằng ở quận này, và ở những quận khác thuộc khu vực này, chúng ta có một số nghi thức nhất định, cùng những nhiệm vụ riêng đòi hỏi những người đàn ông xứng đáng. Cậu đã sẵn sàng để được thử thách chưa?"

"Tôi sẵn sàng."

"Cậu có một trái tim dũng cảm không?"

"Có."

"Hãy bước một bước dài về phía trước để chứng minh điều đó."

Ngay khi những lời ấy vừa được thốt ra, anh cảm thấy hai đầu mũi nhọn cứng ấn thẳng vào trước mắt mình, ghì chặt đến mức tưởng chừng như anh không thể nhích người về phía trước mà không có nguy cơ mất đi đôi mắt. Dẫu vậy, anh vẫn lấy hết can đảm bước tới một cách kiên quyết. Và khi anh bước, áp lực lập tức tan biến. Một tiếng xì xào tán thưởng khe khẽ dậy lên khắp căn phòng.

"Thằng này có trái tim dũng cảm đấy," giọng nói vang lên. "Cậu có chịu được đau đớn không?"

"Cũng như bất kỳ ai khác," anh trả lời.

"Thử hắn đi!"

Anh đã phải vận hết sức lực để không hét lên, khi một cơn đau thấu tận xương tủy chạy dọc cánh tay mình. Cú sốc bất ngờ suýt khiến anh ngất đi; nhưng anh đã nghiến chặt môi và nắm chặt bàn tay để che giấu nỗi đau đớn tột cùng.

Anh đã phải vận hết sức lực để không hét lên.

"Tôi còn chịu được nhiều hơn thế nữa," anh nói.

Lần này, những tràng pháo tay vang dội khắp phòng. Chưa từng có màn ra mắt đầu tiên nào xuất sắc hơn được chứng kiến ở chi hội này. Những bàn tay vỗ nhẹ lên lưng anh, và chiếc mũ trùm đầu bị giật phăng ra. Anh đứng đấy, chớp mắt và mỉm cười, giữa những lời chúc tụng của các anh em.

"Một lời cuối cùng, người anh em McMurdo," McGinty nói. "Cậu đã tuyên thệ lời thề giữ bí mật và lòng trung thành, và cậu nhận thức được rằng bất kỳ sự vi phạm nào đối với lời thề ấy đều bị trừng phạt bằng cái chết ngay lập tức và không thể tránh khỏi?"

"Tôi nhận thức được," McMurdo nói.

"Và cậu chấp nhận sự cai trị của Thủ lĩnh đương nhiệm trong mọi hoàn cảnh?"

"Tôi chấp nhận."

"Vậy thì, nhân danh Chi hội 341, Vermissa, ta chào đón cậu đến với những đặc quyền và những cuộc tranh luận của nó. Anh em Scanlan, hãy bày rượu lên bàn, và chúng ta sẽ cùng nâng ly mừng người anh em xứng đáng của chúng ta."

Áo khoác của McMurdo đã được mang đến cho anh; nhưng trước khi mặc vào, anh xem xét cánh tay phải vẫn còn đau buốt dữ dội của mình. Ở đó, trên lớp da thịt cẳng tay, hằn lên một vòng tròn với một hình tam giác bên trong - sâu hoắm và đỏ ửng, đúng như dấu vết mà chiếc mỏ hàn sắt đã để lại. Vài kẻ đứng cạnh anh kéo tay áo lên và khoe những vết sẹo chi hội của riêng mình.

"Bọn tôi đứa nào cũng có," một gã nói; "nhưng chẳng mấy đứa gan dạ như anh khi đối mặt với nó đâu."

"Chậc! Có gì đâu," anh đáp; vậy nhưng nó vẫn bỏng rát và nhức nhối không thôi.

Khi những ly rượu mừng sau buổi lễ kết nạp đã cạn sạch, công việc của chi hội được nối lại. McMurdo, vốn chỉ quen với những màn trình diễn nhạt nhẽo nơi Chicago, giờ đây lắng nghe bằng đôi tai rộng mở và lòng kinh ngạc lớn hơn nhiều so với những gì anh dám để lộ ra trước những sự việc đang diễn tiến.

"Công việc đầu tiên trong chương trình," McGinty cất giọng, "là đọc bức thư từ Quản đốc Phân khu Windle, thuộc Chi hội Quận Merton số 249. Ông ta viết:

"'KÍNH GỞI NGÀI.-Có một vụ việc cần phải xử lý đối với Andrew Rae, thuộc công ty Rae & Sturmash, những chủ mỏ than gần khu vực này. Ngài hẳn còn nhớ chi hội của ngài đang mang nợ chúng tôi một ân huệ, vì đã tiếp nhận sự phục vụ của hai anh em trong vụ liên quan đến người lính tuần tra mùa thu năm ngoái. Ngài hãy cử hai người đàn ông tốt đến, họ sẽ do Thủ quỹ Higgins của chi hội này phụ trách, địa chỉ của ông ta ngài đã rõ. Ông ta sẽ chỉ dẫn cho họ thời điểm và địa điểm hành động. Trân trọng trong tinh thần tự do,

"'J.W. WINDLE, Q.P.K.A.O.F.'"

"Windle chưa bao giờ từ chối chúng ta mỗi khi ta cần mượn một hai người, và chúng ta cũng chẳng thể từ chối ông ấy." McGinty dừng lời, đưa đôi mắt đờ đẫn đầy ác ý quét một vòng quanh căn phòng. "Ai sẽ tình nguyện cho công việc này?"

Một vài thanh niên giơ tay lên. Vị Thủ lĩnh nhìn họ với một nụ cười tán thưởng.

"Cậu sẽ đi, Tiger Cormac. Nếu cậu xử lý vụ này tốt như lần trước, cậu sẽ không phạm sai lầm nào đâu. Và cả cậu nữa, Wilson."

"Tôi không có súng lục," người tình nguyện thứ hai, một cậu trai chỉ mới mười mấy tuổi, đáp.

"Lần đầu tiên của cậu phải không? Chà, sớm muộn gì cậu cũng phải nếm mùi máu thôi. Nó sẽ là một khởi đầu tuyệt vời cho cậu đấy. Còn về khẩu súng, cậu sẽ thấy nó đang đợi cậu, hoặc là ta đã nhầm. Nếu mấy cậu báo cáo vào thứ Hai thì thời gian sẽ vừa vặn. Khi trở về, các cậu sẽ nhận được một sự chào đón nồng nhiệt."

"Lần này có phần thưởng gì không?" Cormac hỏi - một gã trai trẻ vạm vỡ, khuôn mặt đen nhẻm dữ tợn, kẻ mà sự tàn bạo đã mang lại cho hắn biệt danh "Hổ".

"Đừng bận tâm về phần thưởng. Các cậu chỉ làm chuyện này vì danh dự thôi. Có lẽ khi xong việc, dưới đáy hộp sẽ còn sót lại vài đồng đô la lẻ."

"Người đàn ông ấy đã làm gì thế?" Wilson trẻ tuổi hỏi.

"Chắc chắn rồi, không phải để một kẻ như cậu hỏi xem người ấy đã làm gì. Hắn đã bị xét xử bên kia rồi. Đó không phải là việc của chúng ta. Tất cả những gì chúng ta phải làm là thi hành cho họ, cũng như cách họ sẽ làm cho chúng ta. Nhân tiện đây, hai người anh em từ chi hội Merton sẽ đến chỗ chúng ta vào tuần tới để lo một số công việc trong khu vực này."

"Họ là ai?" một giọng hỏi vọng lên.

"Thực ra, tốt nhất là đừng hỏi làm gì. Nếu anh không biết gì, anh sẽ chẳng thể làm chứng được điều chi, và chẳng có rắc rối nào có thể nảy sinh. Nhưng họ là những kẻ sẽ tạo ra một phi vụ gọn ghẽ khi ra tay."

"Và cũng đã đến lúc rồi!" Ted Baldwin bật kêu. "Dân tình ở những khu vực này đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Chỉ mới tuần trước thôi, ba người của chúng ta đã bị Quản đốc Blaker sa thải. Món nợ này đã treo trên đầu ông ta từ lâu lắm rồi, và ông ta sẽ phải trả đủ và đích đáng."

"Nhận được gì?" McMurdo thì thầm với người ngồi cạnh mình.

"Một phần công việc của viên đạn súng hoa cải!" gã đàn ông buột miệng, kèm theo một tràng cười lớn. "Anh nghĩ sao về cách thức của chúng tôi, người anh em?"

Tâm hồn tội phạm của McMurdo dường như đã thấm nhuần tinh thần của hội kín hèn hạ mà giờ đây anh là một thành viên. "Tôi rất thích," anh nói. "Đây quả là một nơi thích hợp cho một chàng trai có bản lĩnh."

Vài người ngồi quanh nghe được lời anh và hò reo tán thưởng.

"Gì thế?" vị Thủ lĩnh tóc đen cất giọng hỏi vọng từ cuối bàn.

"Thưa ngài, đó là người anh em mới của chúng ta, anh ấy nhận thấy cách thức của chúng ta rất hợp với gu của mình."

McMurdo bật đứng dậy trong chốc lát. "Tôi xin thưa, thưa ngài Thủ lĩnh Đáng kính, nếu cần đến một người đàn ông, tôi sẽ coi đó là vinh dự được chọn để giúp sức cho chi hội."

Một tràng pháo tay vang dội đáp lại lời tuyên bố ấy. Người ta cảm nhận được rằng một mặt trời mới đang từ từ nhô vành lên khỏi đường chân trời. Nhưng với một số người lớn tuổi hơn, tốc độ ấy dường như có phần quá gấp gáp.

"Tôi xin đề nghị," viên thư ký Harraway, một ông lão râu xám với khuôn mặt của loài kền kền, đang ngồi cạnh vị chủ tọa, lên tiếng, "rằng người anh em McMurdo nên chờ đợi cho đến khi chi hội có nhã ý cần đến sự phục vụ của anh ấy."

"Chắc chắn rồi, đó chính là ý của tôi; tôi hoàn toàn phó thác vào tay ngài," McMurdo đáp.

"Thời cơ của cậu sẽ đến, người anh em," vị chủ tọa nói. "Chúng ta đã ghi nhận cậu là một người đàn ông sẵn sàng xông pha, và chúng ta tin rằng cậu sẽ làm nên những việc tốt ở khu vực này. Tối nay có một chuyện nhỏ mà cậu có thể tham gia, nếu cậu muốn."

"Tôi xin chờ một việc gì đó xứng đáng hơn."

"Dù sao thì tối nay cậu cũng có thể đến, và điều đó sẽ giúp cậu hiểu được chúng ta đang đại diện cho điều gì trong cộng đồng này. Ta sẽ thông báo sau. Trong lúc chờ đợi," lão liếc xuống tờ chương trình, "ta còn một vài điểm nữa cần đưa ra trước cuộc họp. Trước tiên, ta sẽ hỏi thủ quỹ về số dư tài khoản ngân hàng của chúng ta. Có khoản lương hưu dành cho góa phụ của Jim Carnaway. Anh ấy đã bị hạ gục khi đang thi hành công vụ cho chi hội, và nhiệm vụ của chúng ta là đảm bảo rằng cô ấy không bị thiệt thòi."

"Jim đã bị bắn hồi tháng trước, khi họ đang tìm cách giết Chester Wilcox ở Marley Creek," người hàng xóm của McMurdo giải thích cho anh.

"Quỹ hiện tại đang ở mức rất khả quan," viên thủ quỹ đáp, cuốn sổ ngân hàng đặt ngay trước mặt. "Các công ty gần đây đã rất hào phóng. Max Linder & Co. đã trả năm trăm để được yên thân. Walker Brothers gửi đến một trăm; nhưng tôi đã tự ý trả lại và yêu cầu năm trăm. Nếu tôi không nhận được hồi âm trước thứ Tư, thiết bị nâng hạ của họ có thể sẽ gặp trục trặc. Chúng tôi đã phải đốt trụi máy nghiền than của họ vào năm ngoái thì họ mới chịu trở nên biết điều. Sau đó, Công ty Than West Section đã thanh toán khoản đóng góp hàng năm. Chúng ta đang có đủ tiền trong tay để đáp ứng mọi nghĩa vụ."

"Thế còn Archie Swindon?" một người anh em hỏi.

"Ông ta đã bán hết tài sản và rời khỏi khu vực. Lão già ác quỷ ấy đã để lại cho chúng ta một tờ giấy nhắn, nói rằng ông ta thà làm một người quét dọn qua đường miễn phí ở New York còn hơn là một chủ mỏ lớn mà phải sống dưới ách của một băng đảng tống tiền. Lạy Chúa! Thật may là ông ta đã kịp thoát thân trước khi mảnh giấy đó đến tay chúng ta! Tôi đoán ông ta sẽ chẳng bao giờ còn dám vác mặt đến thung lũng này nữa."

Một người đàn ông đứng tuổi, cạo râu nhẵn nhụi, với khuôn mặt hiền hậu và một vầng trán đẹp, đứng dậy từ cuối bàn, đối diện với vị chủ tọa. "Thưa ngài Thủ quỹ," ông cất tiếng, "tôi có thể hỏi, ai là người đã mua lại tài sản của người đàn ông mà chúng ta vừa đuổi ra khỏi vùng này?"

"Đúng vậy, người anh em Morris. Công ty Đường sắt Nhà nước và Quận Merton đã mua lại."

"Và ai đã mua lại các hầm mỏ của Todman và của Lee, những tài sản đã bị đưa ra thị trường theo cùng một cách vào năm ngoái?"

"Cũng chính công ty đó, người anh em Morris."

"Và ai đã mua lại các công trình luyện sắt của Manson và của Shuman, của Van Deher và của Atwood - tất cả những nơi gần đây đều đã bị bỏ hoang?"

"Tất cả đều được mua bởi Công ty Khai thác Chung West Gilmerton."

"Tôi không thấy, người anh em Morris," vị chủ tọa xen vào, "rằng ai mua chúng thì có ảnh hưởng gì đến chúng ta, vì họ đâu thể mang chúng đi khỏi khu vực này."

"Với tất cả sự tôn trọng dành cho ngài, thưa ngài Thủ lĩnh Đáng kính, tôi nghĩ điều đó có thể ảnh hưởng rất lớn đến chúng ta. Tiến trình này đã kéo dài suốt mười năm đằng đẵng rồi. Chúng ta đang dần đẩy tất cả những người nhỏ lẻ ra khỏi ngành thương mại. Và kết quả là gì? Thay vào chỗ của họ, chúng ta thấy những công ty khổng lồ như công ty Đường sắt hay công ty Sắt thép Chung, những tập đoàn có giám đốc ngồi tận New York hay Philadelphia, những kẻ chẳng thèm bận tâm đến những lời đe dọa của chúng ta. Chúng ta có thể trút giận lên các ông chủ địa phương của họ; nhưng điều đó chỉ đồng nghĩa với việc những kẻ khác sẽ được cử đến thay thế mà thôi. Và chúng ta đang tự tạo ra mối nguy cho chính mình. Những người nhỏ lẻ thì không thể làm hại chúng ta. Họ chẳng có tiền bạc hay quyền lực gì. Chừng nào chúng ta chưa vắt kiệt họ, họ sẽ tiếp tục nằm dưới quyền kiểm soát của chúng ta. Nhưng nếu những công ty lớn này phát hiện ra rằng chúng ta đang cản trở họ và lợi nhuận của họ, họ sẽ chẳng tiếc công sức hay chi phí để săn lùng chúng ta và lôi chúng ta ra trước pháp luật."

Một bầu không khí im lặng nặng nề bao trùm sau những lời lẽ đầy điềm gở ấy. Khuôn mặt mọi người cùng tối sầm lại khi họ trao đổi với nhau những ánh nhìn u ám. Họ đã trở nên quyền lực và bất khả xâm phạm đến mức ý nghĩ về một sự trừng phạt có thể ập đến từ phía sau đã hoàn toàn bị xóa sạch khỏi tâm trí. Vậy mà giờ đây, chính ý nghĩ đó lại mang đến một cơn ớn lạnh thấu xương cho ngay cả những kẻ liều lĩnh nhất trong số họ.

"Lời khuyên của tôi," người ấy nói tiếp, "là chúng ta hãy nhẹ tay hơn với những người nhỏ lẻ. Vào cái ngày tất cả bọn họ bị quét sạch ra khỏi đây, sức mạnh của hội kín này sẽ tan vỡ."

Những sự thật không được hoan nghênh thì chẳng bao giờ được ưa chuộng. Những tiếng la hét giận dữ bùng lên khi người phát biểu ngồi xuống ghế. McGinty đứng dậy, vầng trán u ám.

"Người anh em Morris," lão nói, "ông luôn là một kẻ bi quan. Chừng nào các thành viên của chi hội này còn sát cánh bên nhau, thì không một thế lực nào trên đất Hoa Kỳ này có thể đụng đến họ. Chắc chắn rồi, chẳng phải chúng ta đã thử thách đủ nhiều tại các tòa án pháp luật rồi sao? Ta hy vọng những công ty lớn rồi cũng sẽ thấy việc trả tiền dễ dàng hơn là chiến đấu, y hệt như những công ty nhỏ đã làm. Và giờ đây, thưa các anh em," McGinty vừa nói vừa cởi chiếc mũ nhung đen và chiếc khăn quàng cổ của lão, "chi hội này đã hoàn tất công việc của buổi tối, ngoại trừ một chuyện nhỏ có thể được đề cập trước khi chúng ta chia tay. Đã đến lúc các anh em giải khát và tìm kiếm sự hòa hợp rồi."

Bản chất con người quả thật là một điều kỳ lạ. Ở đây, giữa những con người này - những kẻ mà đối với họ, việc giết chóc đã trở nên quen thuộc, những kẻ đã hết lần này đến lần khác tước đoạt mạng sống của người cha trong một gia đình, một người đàn ông nào đó mà họ không hề có chút ác cảm cá nhân nào, không một chút mảy may nghĩ đến nỗi ân hận hay lòng trắc ẩn đối với người vợ đang than khóc hay những đứa con thơ bơ vơ của nạn nhân - vậy mà sự dịu dàng hay nỗi bi thương trong âm nhạc lại có thể khiến họ rơi nước mắt. McMurdo sở hữu một giọng nam cao tuyệt vời, và nếu như trước đó anh chưa hoàn toàn giành được thiện cảm của chi hội, thì giờ đây điều đó không thể bị chối từ thêm nữa sau khi anh đã khiến họ xao xuyến với bài "I'm Sitting on the Stile, Mary"2 và "On the Banks of Allan Water."3

Ngay trong đêm đầu tiên ấy, thành viên mới này đã tự biến mình thành một trong những người anh em được yêu mến nhất, và đã được ghi dấu sẵn cho sự thăng tiến và những chức vụ cao. Thế nhưng, vẫn còn những phẩm chất khác cần có, bên cạnh phẩm chất của một người đồng chí tốt, để trở thành một Freeman4 thực thụ, và anh đã được chứng kiến một ví dụ về những điều ấy trước khi buổi tối khép lại. Chai rượu whisky đã được chuyền qua nhiều vòng, lũ đàn ông mặt mũi đỏ gay và đã sẵn sàng cho những trò phá phách, khi vị Thủ lĩnh của chúng một lần nữa đứng dậy phát biểu.

"Các chàng trai," lão nói, "có một kẻ trong thị trấn này cần phải được chỉnh đốn, và nhiệm vụ của các anh là đảm bảo rằng hắn sẽ nhận được điều đó. Ta đang nói về James Stanger của tờ Herald. Các anh đã thấy dạo này hắn lại bắt đầu mở miệng nói xấu chúng ta như thế nào rồi đấy."

Một tiếng xì xào đồng tình vang lên, đi kèm với vô số những lời nguyền rủa lầm bầm. McGinty rút ra một mảnh giấy từ túi áo ghi lê của lão.

"'Luật Pháp và Trật Tự!' Đó là cái tiêu đề hắn đặt cho nó. 'Triều Đại Của Sự Khủng Bố nơi Vùng Mỏ Than và Sắt. Mười hai năm đã trôi qua kể từ những vụ ám sát đầu tiên chứng minh sự tồn tại của một tổ chức tội phạm ngay giữa lòng chúng ta. Kể từ ngày đó, những hành động bạo lực này chưa bao giờ ngừng lại, cho đến nay chúng đã đạt đến một đỉnh điểm khiến chúng ta trở thành nỗi ô nhục của thế giới văn minh. Phải chăng vì những kết cục như thế này mà đất nước vĩ đại của chúng ta đã dang rộng vòng tay đón nhận những người nhập cư chạy trốn khỏi các chế độ chuyên chế ở Châu Âu? Phải chăng chính họ sẽ trở thành những kẻ bạo chúa đè nén lên những con người đã che chở cho họ, và một tình trạng khủng bố cùng vô pháp luật sẽ được thiết lập ngay dưới bóng của những nếp gấp thiêng liêng nơi Lá Cờ Tự Do đầy sao - một điều sẽ dấy lên nỗi kinh hoàng trong tâm trí chúng ta nếu ta đọc thấy nó đang tồn tại dưới chế độ quân chủ thối nát nhất của Phương Đông? Những kẻ đó đều đã bị lộ danh tính. Tổ chức này là công khai và hiển nhiên. Chúng ta còn phải chịu đựng nó bao lâu nữa? Liệu chúng ta có thể mãi mãi sống-' Chắc chắn rồi, ta đã đọc đủ mớ rác rưởi ấy rồi!" vị chủ tọa gầm lên, ném mảnh giấy xuống bàn. "Đó là những gì hắn nói về chúng ta. Câu hỏi mà ta đặt ra cho các anh lúc này là: Chúng ta sẽ nói gì với hắn đây?"

"Giết hắn!" hàng chục giọng nói hung hãn đồng thanh gào lên.

"Tôi phản đối," người anh em Morris, người đàn ông với vầng trán đẹp và khuôn mặt cạo râu nhẵn nhụi, lên tiếng. "Tôi nói cho các anh em biết, bàn tay của chúng ta đã quá nặng nề trong thung lũng này rồi, và sẽ đến một thời điểm mà để tự vệ, mọi người đàn ông sẽ hợp sức lại để đè bẹp chúng ta. James Stanger là một người đứng tuổi. Ông ấy được kính trọng trong thị trấn và khắp cả khu vực. Tờ báo của ông ấy đại diện cho tất cả những gì vững chãi nhất nơi thung lũng này. Nếu người đàn ông đó bị hạ sát, một cơn địa chấn sẽ lan xuyên suốt tiểu bang này, và nó sẽ chỉ kết thúc bằng sự diệt vong của chính chúng ta."

"Và làm cách nào họ có thể mang đến sự diệt vong cho chúng ta, hỡi ngài Standback?" McGinty gầm lên. "Có phải bằng cảnh sát không? Chắc chắn rồi, một nửa trong số chúng đang ăn lương của chúng ta, nửa còn lại thì sợ chúng ta. Hay là bằng tòa án và thẩm phán? Chẳng phải chúng ta đã từng thử điều đó trước đây rồi sao, và chuyện gì đã xảy ra nào?"

"Có một vị Thẩm phán Lynch5, rất có thể sẽ xét xử vụ án này," người anh em Morris đáp.

Một tiếng thét giận dữ đồng loạt chào đón lời đề xuất ấy.

"Ta chỉ cần nhấc một ngón tay," McGinty gầm lên, "và ta có thể đưa hai trăm người vào thị trấn này, đủ sức để quét sạch nó từ đầu này đến đầu kia." Rồi lão đột ngột cất cao giọng, nhíu chặt đôi lông mày đen khổng lồ thành một cái cau mày đáng sợ. "Nghe cho rõ đây, người anh em Morris, ta đã để mắt đến ông, và đã để mắt đến ông một thời gian rồi! Bản thân ông không có lòng can đảm, thế mà ông còn cố rút cạn lòng can đảm của những kẻ khác. Sẽ là một ngày tồi tệ cho ông, người anh em Morris, khi chính tên ông xuất hiện trên chương trình nghị sự của chúng ta, và ta đang nghĩ rằng có lẽ ta nên đặt nó vào đó."

Morris tái nhợt mặt mày, đôi đầu gối dường như nhũn ra dưới thân ông khi ông ngã phịch xuống ghế. Ông đưa ly rượu lên bằng bàn tay run rẩy và uống cạn một hơi trước khi có thể cất lời. "Tôi xin lỗi ngài, thưa ngài Thủ lĩnh Đáng kính, và xin lỗi mọi anh em trong chi hội này, nếu tôi đã nói quá những gì mình nên nói. Tôi là một thành viên trung thành - tất cả các ngài đều biết rõ điều đó - và chính nỗi sợ hãi về tai họa sẽ giáng xuống chi hội đã khiến tôi thốt ra những lời lo âu ấy. Nhưng tôi đặt niềm tin vào sự phán xét của ngài hơn là của chính bản thân mình, thưa ngài Thủ lĩnh Đáng kính, và tôi hứa với ngài rằng tôi sẽ không xúc phạm ngài thêm lần nào nữa."

Vầng trán cau có của vị Thủ lĩnh giãn ra khi lão lắng nghe những lời lẽ khiêm nhường ấy. "Rất tốt, người anh em Morris. Chính bản thân ta cũng sẽ rất tiếc nếu phải cho ông một bài học. Nhưng chừng nào ta còn ngồi ở chiếc ghế này, chúng ta sẽ là một chi hội thống nhất - trong lời nói cũng như trong hành động. Và giờ đây, các chàng trai," lão tiếp tục, đưa mắt quét một vòng khắp nhóm, "ta sẽ nói thế này, rằng nếu Stanger nhận được những gì hắn đáng phải nhận, thì rắc rối sẽ lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta cần phải gánh. Bọn biên tập viên này thường cấu kết với nhau, và mọi tờ báo trong tiểu bang sẽ kêu gọi cảnh sát lẫn quân đội vào cuộc. Nhưng ta đoán các anh có thể cho hắn một lời cảnh cáo khá nghiêm khắc. Anh sẽ sắp xếp việc này chứ, người anh em Baldwin?"

"Chắc chắn rồi!" chàng thanh niên háo hức đáp.

"Anh sẽ lấy bao nhiêu người?"

"Nửa tá, cùng hai người canh cửa. Tôi sẽ đi, Gower, và anh, Mansel, và anh, Scanlan, cùng hai anh em nhà Willaby."

"Ta đã hứa với người anh em mới rằng cậu ấy sẽ được đi," vị chủ tọa nói.

Ted Baldwin liếc nhìn McMurdo bằng đôi mắt cho thấy hắn vẫn chưa quên và cũng chưa hề tha thứ. "Chà, cậu ta có thể đến nếu cậu ta muốn," hắn buông một câu cộc lốc. "Thế là đủ rồi. Chúng ta bắt tay vào việc càng sớm càng tốt."

Đám đông tan dần trong những tiếng la hét, tiếng hò reo và những khúc ca say khướt. Quán rượu vẫn ken đặc những kẻ đang cao hứng, với không ít anh em còn nán lại. Nhóm nhỏ được giao nhiệm vụ bước ra ngoài đường, lặng lẽ tiến bước thành từng cặp hai ba người men theo vỉa hè, cốt sao không gây chú ý. Đêm rét buốt đến thấu xương. Vầng trăng khuyết treo lơ lửng, rọi ánh sáng lạnh lẽo xuống bầu trời chi chít sao và phủ đầy sương giá. Đoàn người dừng chân, tụ lại trong một khoảng sân đối diện một tòa nhà cao tầng. Hàng chữ "Vermissa Herald" dát vàng lấp lánh giữa những ô cửa sổ sáng đèn. Từ sâu bên trong vẳng ra tiếng lách cách đều đều của những cỗ máy in.

"Này, mày," Baldwin lên tiếng với McMurdo, "mày đứng dưới cửa canh chừng, giữ đường thông thoáng cho bọn tao. Arthur Willaby ở lại với mày. Còn lại đi theo tao. Đừng sợ gì hết, các chàng trai; bọn mình có cả tá nhân chứng sẵn sàng thề rằng bọn mình đang có mặt ở Quán Bar Union vào đúng thời điểm này."

Lúc này đã gần nửa đêm. Phố xá vắng tanh, chỉ còn lác đác một hai kẻ đang trên đường về nhà trong men say. Cả nhóm băng qua đường. Cánh cửa tòa soạn báo bị đẩy bật tung, Baldwin cùng đồng bọn lao thẳng vào trong rồi xông lên cầu thang ngay trước mặt. McMurdo và một người nữa nán lại phía dưới. Từ căn phòng trên gác bỗng vọng xuống một tiếng thét, một tiếng kêu cứu, rồi tiếp đó là âm thanh hỗn loạn của những bước chân giẫm đạp và tiếng ghế đổ rầm rầm. Chỉ một thoáng sau, một người đàn ông tóc xám lao vụt ra chỗ chiếu nghỉ cầu thang.

Ông ta chưa kịp chạy xa hơn thì đã bị tóm gọn. Cặp kính rơi loảng xoảng xuống ngay dưới chân McMurdo. Một tiếng bịch vang lên, rồi một tiếng rên rỉ. Ông ta đổ sấp mặt xuống sàn. Nửa tá chiếc gậy gộc vung lên, va vào nhau chan chát trong khi giáng xuống thân thể ông. Ông ta quằn quại, những chi dài gầy guộc run lên bần bật dưới từng cú đập tàn nhẫn. Cuối cùng, những kẻ kia cũng dừng tay. Nhưng Baldwin thì chưa. Gương mặt tàn ác hằn lên một nụ cười quỷ dữ, hắn vẫn tiếp tục nhắm thẳng vào đầu người đàn ông - chỗ mà ông ta đang tuyệt vọng giơ hai cánh tay lên che chắn. Mái tóc bạc giờ đã loang lổ từng vệt máu. Baldwin vẫn khom người trên nạn nhân của mình, ra đòn ngắn và hiểm độc bất cứ lúc nào hắn tìm thấy một chỗ hở, thì McMurdo phóng vụt lên cầu thang, mạnh tay đẩy bật hắn lùi lại.

"Mày định giết ông ta mất," anh nói. "Dừng tay!"

Baldwin trố mắt kinh ngạc nhìn anh. "Mẹ kiếp mày!" hắn gầm lên. "Mày là cái thá gì mà dám can thiệp - mày, cái thằng mới chân ướt chân ráo vào chi hội? Lùi lại!" Hắn giơ gậy lên; nhưng McMurdo đã nhanh hơn, rút phắt khẩu súng lục khỏi túi.

"Chính mày mới phải lùi lại!" anh quát. "Tao sẽ bắn nát mặt mày nếu mày dám đụng một ngón tay vào tao. Còn về chi hội, chẳng phải Thủ lĩnh đã ra lệnh là không được giết người đàn ông này sao - thế mà mày đang làm cái quái gì ngoài việc giết chết ông ta đây?"

"Nó nói đúng đấy," một tên trong bọn lên tiếng.

"Lạy Chúa! Bọn mày nhanh chân lên thì tốt hơn!" người đàn ông đứng dưới kêu to. "Cửa sổ khắp nơi đều sáng đèn cả rồi, và năm phút nữa thôi cả thị trấn sẽ có mặt ở đây đấy!"

Quả thực, tiếng la hét đã bắt đầu vang lên ngoài phố, và một nhóm nhỏ thợ sắp chữ cùng thợ ép máy in đang xúm lại nơi sảnh dưới, gắng gượng lấy hết can đảm để hành động. Bỏ mặc thân thể mềm nhũn bất động của vị biên tập viên nơi đầu cầu thang, bọn tội phạm vội vàng lao xuống rồi tẩu thoát nhanh dọc theo con phố. Về đến Union House, một số hòa ngay vào đám đông bên trong quán rượu của McGinty, thì thầm qua quầy rượu báo với Ông chủ rằng mọi việc đã được giải quyết êm đẹp. Những kẻ khác, và trong số đó có McMurdo, tách ra len lỏi vào những con phố nhỏ, rồi qua những lối đi vòng vèo mà lần về nhà riêng của mình.



  1. Nguyên tác tiếng Anh là "Ancient Order of Freemen". Đây là lớp vỏ bọc mang danh nghĩa một tổ chức huynh đệ hợp pháp để che đậy cho những hoạt động tội ác và bạo lực của bọn Scowrers, tương tự như cách hội kín Molly Maguires từng dùng tổ chức "Ancient Order of Hibernians" làm bình phong ngoài đời thực. 

  2. Một bài hát dân ca Ireland (còn gọi là The Irish Emigrant), có giai điệu vô cùng bi thương kể về nỗi đau mất mát. Tác giả cố tình đưa vào để tạo ra một sự tương phản mỉa mai rợn người: những kẻ sát nhân không biết xót thương khi ra tay tàn sát nạn nhân, lại có thể dễ dàng rơi nước mắt vì một khúc ca buồn. 

  3. Một bản ballad buồn bã nổi tiếng của nước Anh/Scotland kể về cái chết bi thảm của một cô gái trẻ. Cùng với "I'm Sitting on the Stile, Mary", chi tiết âm nhạc này làm nổi bật sự mâu thuẫn kỳ lạ trong tâm lý của đám tội phạm: máu lạnh, tàn nhẫn trong thực tế nhưng lại yếu đuối, ủy mị trước nghệ thuật. 

  4. Danh xưng (dịch nghĩa đen là "Người Tự do") dùng để chỉ một thành viên đã chính thức vượt qua các vòng thử thách khắc nghiệt, tuyên thệ trung thành tuyệt đối và được kết nạp vào "Hội Anh Em Tự Do Cổ Đại". 

  5. Đây không phải tên của một viên thẩm phán có thật, mà là cách nói hình tượng ám chỉ "Luật Lynch" (Lynch law) - một hiện tượng phổ biến ở Mỹ thế kỷ 19. Thuật ngữ này chỉ việc một đám đông công phẫn tự ý nổi lên, bắt giữ và hành hình (thường là treo cổ) những kẻ bị tình nghi phạm tội mà không thông qua bất kỳ trình tự xét xử hợp pháp nào.