CHƯƠNG V. NHỮNG NHÂN VẬT TRONG SỰ VỤ

"Ngài đã xem xong thư phòng rồi chứ?" White Mason hỏi khi chúng tôi quay trở lại ngôi nhà.

"Tạm thời là vậy," thanh tra đáp, và Holmes khẽ gật đầu.

"Vậy thì có lẽ bây giờ các ngài muốn nghe lời khai của một vài người trong nhà. Chúng ta có thể dùng phòng ăn. Ames, xin ông vào trước và kể cho chúng tôi những gì ông biết."

Lời khai của người quản gia giản dị và rành mạch, toát lên một ấn tượng thuyết phục về sự chân thành. Ông đã phục vụ ở đây từ năm năm trước, kể từ khi ông Douglas lần đầu đặt chân đến Birlstone. Ông hiểu rằng ông Douglas là một quý ông giàu có, đã gây dựng cơ nghiệp ở nước Mỹ. Ông chủ là người tốt bụng và chu đáo - có lẽ không hẳn giống với những vị chủ mà Ames từng quen phục vụ, nhưng người ta đâu thể đòi hỏi mọi thứ đều hoàn hảo. Chưa bao giờ ông thấy bất kỳ dấu hiệu sợ hãi nào nơi ông Douglas: trái lại, ông chủ chính là con người can đảm nhất mà ông từng biết. Ông Douglas ra lệnh kéo cầu treo lên mỗi đêm, đơn giản vì đó là tục lệ cổ xưa của tòa nhà cũ kỹ này, và ông chủ vốn thích gìn giữ những thói quen xưa cũ.

Ông Douglas ít khi đến London hay rời khỏi ngôi làng; thế nhưng vào cái ngày trước khi án mạng xảy ra, ông đã đi mua sắm ở Tunbridge Wells1. Ames nhận thấy nơi ông Douglas hôm ấy một nỗi bồn chồn và phấn khích lạ thường; ông chủ tỏ ra thiếu kiên nhẫn và cáu kỉnh - điều vốn chưa từng thấy ở con người vốn ôn hòa này. Đêm hôm đó, Ames vẫn chưa đi ngủ; lúc ấy ông đang ở phòng để đồ ăn phía sau nhà, cất dọn bộ đồ bạc, thì bỗng nghe thấy tiếng chuông reo dồn dập một cách dữ dội. Ông không nghe thấy tiếng súng; nhưng điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi phòng để đồ ăn và nhà bếp nằm tít tận phía sau cùng của ngôi nhà, ngăn cách bởi mấy cánh cửa đóng kín cùng một hành lang dài ở giữa. Người quản gia nữ - bà Allen - cũng vừa bước ra khỏi phòng, bị lôi cuốn bởi cái âm thanh réo rắt khẩn thiết ấy. Họ cùng nhau tiến lên phía trước ngôi nhà.

Khi tới chân cầu thang, Ames trông thấy bà Douglas đang bước xuống. Không, bà ấy đâu có vội vã; ông chẳng nhận thấy bà có vẻ gì là đặc biệt kích động. Ngay lúc bà chạm tới bậc thang cuối cùng, ông Barker lao vụt ra khỏi thư phòng. Ông ấy chặn bà Douglas lại và tha thiết cầu xin bà hãy quay trở lên.

"Vì Chúa, xin bà hãy quay về phòng mình!" ông ta thốt lên. "Jack tội nghiệp đã chết rồi! Bà chẳng thể làm được gì nữa đâu. Vì Chúa, xin bà hãy quay lại đi!"

Sau một hồi thuyết phục ngay trên cầu thang, bà Douglas đã quay lui. Bà không hề la hét. Cũng chẳng một tiếng khóc than nào lớn tiếng thoát ra. Bà Allen, người quản gia nữ, đã đỡ bà lên lầu và ở lại cùng bà trong phòng ngủ. Ames cùng với ông Barker sau đó quay trở lại thư phòng, nơi mọi thứ hiện ra đúng y như những gì cảnh sát về sau đã chứng kiến. Lúc ấy nến vẫn chưa được thắp lên; chỉ có ngọn đèn dầu đang cháy, hắt ra một thứ ánh sáng leo lét. Họ đã nhìn qua khung cửa sổ; nhưng đêm đen kịt và chẳng thể thấy hay nghe được gì. Sau đó, họ lao ra sảnh lớn, nơi Ames quay tời để hạ cầu treo xuống. Ông Barker liền tức tốc chạy đi gọi cảnh sát.

Đó là những điểm chính yếu trong lời khai của người quản gia.

Lời khai của bà Allen, người quản gia nữ, về căn bản chỉ là sự chứng thực cho những điều mà người đồng nghiệp của bà đã kể. Phòng của bà quản gia nữ nằm gần phía trước ngôi nhà hơn so với căn phòng để đồ ăn, nơi Ames đang làm việc. Bà đang sửa soạn đi ngủ thì tiếng chuông reo vang lớn giật mình lôi bà ra khỏi cơn buồn ngủ. Bà vốn hơi nặng tai. Có lẽ chính vì thế mà bà đã không nghe thấy tiếng súng nổ; nhưng dù sao thì thư phòng cũng cách một quãng khá xa. Bà nhớ mình đã từng nghe thấy một âm thanh nào đó - mà bà mường tượng là tiếng sập cửa. Chuyện đó xảy ra sớm hơn khá nhiều - ít nhất là nửa giờ trước khi hồi chuông vang lên. Khi Ames chạy lên phía trước, bà liền đi theo ông. Bà trông thấy ông Barker bước ra khỏi thư phòng, gương mặt tái nhợt và đầy kích động. Ông ấy chặn bà Douglas - lúc này đang bước xuống cầu thang - lại. Ông cầu xin bà quay trở lên, và bà Douglas đã đáp lời ông, nhưng bà Allen không nghe rõ bà ấy nói gì.

"Bà hãy đưa phu nhân lên lầu! Và ở lại với phu nhân!" ông Barker nói với bà Allen.

Thế là bà Allen đã đưa bà Douglas vào phòng ngủ, rồi cố hết sức an ủi bà chủ. Bà Douglas vô cùng kích động, toàn thân run rẩy, nhưng tuyệt nhiên không có ý định bước xuống nhà thêm nữa. Bà chỉ ngồi đó, trong bộ áo choàng ngủ, bên lò sưởi trong phòng, đầu gục xuống giữa hai lòng bàn tay. Bà Allen đã ở bên bà chủ gần như suốt cả đêm hôm đó. Còn về những người hầu khác, tất cả họ đều đã đi ngủ và hoàn toàn không hay biết chuyện gì cho đến tận khi cảnh sát ập đến. Họ ngủ ở tận cùng phía sau ngôi nhà, nơi chẳng thể nào nghe thấy bất cứ âm thanh gì vọng tới.

Cho đến lúc này, trước những câu tra hỏi chéo, người quản gia nữ cũng chẳng thể bổ sung thêm được điều gì, ngoài những lời than vãn cùng nỗi kinh ngạc tột cùng.

Nhân chứng tiếp theo, sau bà Allen, chính là Cecil Barker. Về những sự kiện đêm hôm trước, ông chẳng có mấy điều để bổ sung thêm vào lời khai đã trình với cảnh sát. Riêng ông, ông tin chắc rằng kẻ sát nhân đã tẩu thoát qua cửa sổ. Vết máu, theo nhận định của ông, chính là bằng chứng thuyết phục nhất cho luận điểm ấy. Vả lại, cầu treo đã được kéo lên - đâu còn lối thoát nào khác. Ông không tài nào lý giải nổi kẻ ám sát đã biến mất ra sao, hay vì sao hắn lại bỏ lại chiếc xe đạp, nếu quả thực nó thuộc về hắn. Chết đuối dưới hào nước ư? Không thể nào. Chỗ sâu nhất cũng chưa đầy ba foot.

Trong thâm tâm, Barker đã hình thành một giả thuyết hết sức rành rẽ về vụ án mạng này. Douglas vốn là một con người kín tiếng. Có những chương trong cuộc đời ông mà ông không bao giờ hé môi nhắc đến. Thuở thiếu thời, ông đã di cư sang Mỹ. Ở đó, ông làm ăn phát đạt. Barker gặp ông lần đầu tại California, nơi cả hai trở thành đối tác trong một khu mỏ sinh lời ở một chốn mang tên Benito Canyon2. Công việc hanh thông vô cùng; thế rồi Douglas bỗng dưng bán sạch cổ phần và khăn gói lên đường sang Anh. Lúc bấy giờ, ông đang là người góa vợ. Về sau, Barker cũng chuyển hết tài sản thành tiền mặt rồi tới London sinh sống. Từ đó, hai người nối lại tình bằng hữu.

Douglas đã để lại nơi Barker một ấn tượng không thể nhầm lẫn - rằng có một mối nguy hiểm nào đó vẫn luôn lơ lửng trên đầu ông. Barker vẫn hằng tin rằng việc Douglas đột ngột rời California, cũng như quyết định thuê một dinh thự biệt lập đến thế ở chốn thôn quê nước Anh, tất thảy đều dính dáng tới mối đe dọa ấy. Trong trí tưởng tượng của mình, ông mường tượng ra một tổ chức bí mật - một thế lực tàn nhẫn và không khoan nhượng - đang lùng sục Douglas, và sẽ chẳng bao giờ ngơi nghỉ cho tới khi hạ sát được ông. Chính vài ba lời nhận xét vu vơ của Douglas đã gieo vào đầu ông ý nghĩ ấy; dẫu rằng Douglas chưa từng một lần nói rõ tổ chức kia là gì, hay vì sao ông lại đắc tội với chúng. Barker chỉ có thể phỏng đoán rằng dòng chữ bí ẩn trên tấm bìa cứng kia ắt hẳn có liên quan nào đó tới hội kín này.

"Ông đã sát cánh cùng Douglas ở California bao lâu?" Thanh tra MacDonald cất tiếng hỏi.

"Tổng cộng năm năm."

"Ông vừa nói Douglas là người độc thân?"

"Một người góa vợ thì đúng hơn."

"Ông có từng nghe nói gì về xuất thân của người vợ đầu tiên ấy không?"

"Không. Tôi chỉ nhớ ông ấy từng kể bà ấy mang dòng máu Đức. Và tôi đã được thấy chân dung bà ấy - một người phụ nữ tuyệt đẹp. Bà mất vì bệnh thương hàn, trước khi tôi gặp Douglas chừng một năm."

"Ông có liên hệ quá khứ của Douglas với bất kỳ vùng đất cụ thể nào trên đất Mỹ không?"

"Tôi từng nghe ông ấy nhắc tới Chicago3. Ông ấy thuộc thành phố đó như lòng bàn tay, và từng làm việc ở đấy. Tôi cũng từng nghe ông nói về những khu mỏ than và mỏ sắt. Hồi đó, ông ấy đi đây đi đó khá nhiều."

"Liệu Douglas có dính dáng gì đến chính trị không? Cái tổ chức bí mật kia, có phải mang màu sắc chính trị?"

"Không. Chính trị là thứ ông ấy chẳng mảy may bận tâm."

"Vậy ông có lý do gì để ngờ rằng đó là một tổ chức tội phạm?"

"Ngược lại thì có. Cả đời tôi chưa từng gặp ai ngay thẳng hơn ông ấy."

"Cuộc sống của ông ấy ở California có điểm gì khác thường không?"

"Ông ấy thích ở lỳ trên khu mỏ của chúng tôi, tít tận trên núi. Trừ phi bất đắc dĩ, chứ ông ấy chẳng bao giờ lai vãng tới những nơi tụ tập đông người. Chính điều đó khiến tôi thoạt đầu đã nghi có ai đó đang theo dõi ông ấy. Rồi khi ông ấy bỏ sang châu Âu quá đỗi đột ngột, tôi càng tin chắc điều ấy là sự thật. Tôi tin rằng ông ấy đã nhận được một lời cảnh báo nào đó. Trong vòng một tuần sau ngày ông ấy rời đi, có đến nửa tá kẻ đã tìm đến hỏi thăm về ông ấy."

"Những kẻ như thế nào?"

"Ôi chao, một lũ trông hung tợn hết sức. Chúng kéo tới khu mỏ và đòi biết ông ấy đang ở đâu. Tôi bảo chúng rằng ông ấy đã sang châu Âu, và tôi chẳng biết đường nào mà tìm. Mưu đồ của chúng rõ rành rành là bất hảo - điều ấy nhìn qua là thấy ngay."

"Những kẻ ấy có phải dân Mỹ - dân California không?"

"Chà, tôi không dám chắc chúng có phải dân California hay không. Nhưng chắc chắn chúng là người Mỹ. Chỉ có điều, chúng không phải dân thợ mỏ. Tôi chẳng rõ chúng làm nghề gì - và quả thực tôi rất mừng khi thấy chúng cuốn xéo."

"Chuyện đó là sáu năm trước?"

"Gần bảy năm thì đúng hơn."

"Rồi sau đó hai ông còn ở bên nhau năm năm nữa ở California. Vậy là mọi chuyện bắt nguồn từ ít nhất mười một năm về trước?"

"Đúng vậy."

"Hẳn đó phải là một mối thù thâm căn cố đế lắm mới có thể âm ỉ dai dẳng trong ngần ấy năm trời. Chẳng phải chuyện vặt vãnh gì có thể gây nên điều đó."

"Tôi nghĩ nó đã phủ bóng lên toàn bộ cuộc đời ông ấy. Chưa một khoảnh khắc nào nó thực sự nhạt phai trong tâm trí ông."

"Nhưng nếu một người biết rõ mối nguy đang treo lơ lửng trên đầu mình là gì, ông không nghĩ rằng anh ta sẽ tìm đến cảnh sát để được bảo vệ hay sao?"

"Có lẽ ấy là thứ nguy hiểm mà chẳng sự bảo vệ nào có thể che chắn nổi. Còn một điều nữa mà các ông nên biết. Ông ấy luôn mang theo vũ khí bên mình. Khẩu súng lục không bao giờ rời túi áo ông ấy. Nhưng trớ trêu thay, đêm qua ông ấy mặc áo choàng ngủ - và đã bỏ quên nó trong phòng ngủ. Tôi đoán, khi cầu treo đã được kéo lên, ông ấy nghĩ mình đã an toàn."

"Tôi muốn làm sáng tỏ thêm một chút về những mốc thời gian này," MacDonald nói. "Đã đúng sáu năm kể từ ngày Douglas rời California. Một năm sau, ông mới theo ông ấy, phải không?"

"Đúng thế."

"Và Douglas đã kết hôn được năm năm. Vậy hẳn là ông quay về nước Anh vào khoảng thời gian ông ấy cưới vợ."

"Trước đó chừng một tháng. Tôi là phù rể của ông ấy."

"Ông có quen biết bà Douglas trước hôn lễ không?"

"Không. Tôi vắng mặt khỏi nước Anh suốt mười năm trời."

"Nhưng kể từ đó, ông đã gặp gỡ bà ấy khá thường xuyên."

Barker nhìn thẳng vào vị thám tử, ánh mắt nghiêm nghị. "Kể từ đó, tôi gặp ông ấy khá thường xuyên," ông đáp. "Nếu tôi có gặp bà ấy, thì ấy là bởi làm sao người ta có thể tới thăm một người đàn ông mà lại không quen biết vợ của anh ta? Nếu ông đang mường tượng ra một mối liên hệ mờ ám nào đó-"

"Tôi chẳng mường tượng gì cả, ông Barker. Tôi buộc phải tiến hành mọi hướng điều tra có thể liên quan đến vụ án. Nhưng tôi không hề có ý xúc phạm."

"Có những câu hỏi, tự thân chúng đã mang tính xúc phạm rồi," Barker đáp, giọng đầy giận dữ.

"Chúng tôi chỉ muốn biết sự thật. Làm sáng tỏ mọi chuyện chính là vì lợi ích của ông, và của tất cả mọi người. Douglas có hoàn toàn chấp thuận tình bằng hữu giữa ông và vợ ông ấy không?"

Mặt Barker tái nhợt đi. Đôi bàn tay to lớn, rắn chắc của ông bất giác siết lại, co giật. "Ông không có quyền đặt những câu hỏi như vậy!" ông kêu lên. "Điều ấy thì liên can quái gì đến chuyện ông đang điều tra?"

"Tôi buộc phải nhắc lại câu hỏi."

"Vậy thì tôi từ chối trả lời."

"Ông có thể từ chối; nhưng ông nên nhận thức rằng chính sự từ chối ấy, tự nó, đã là một câu trả lời rồi - bởi ông đã chẳng từ chối, nếu không có điều chi muốn che giấu."

Barker đứng lặng người một lúc, gương mặt đanh lại, đôi lông mày đen rậm chau xuống trong nỗi suy tư sâu thẳm. Rồi ông ngước lên, nở một nụ cười. "Thôi được, tôi cho rằng các ông chỉ đang làm tròn bổn phận, và tôi không có quyền cản trở điều đó. Tôi chỉ xin các ông một điều: đừng làm phiền bà Douglas về chuyện này. Lúc này, bà ấy đã có quá đủ thứ phải bận tâm rồi. Để tôi nói cho các ông rõ: Douglas tội nghiệp chỉ có một khuyết điểm duy nhất trên cõi đời này, ấy là tính ghen tuông. Ông ấy quý mến tôi - chẳng có người đàn ông nào có thể quý mến một người bạn hơn thế. Và ông ấy hết mực tận tụy với vợ mình. Ông ấy luôn mừng rỡ khi có tôi tới chơi, và hết lần này tới lần khác gọi tôi đến. Ấy thế nhưng, chỉ cần vợ ông ấy và tôi trò chuyện với nhau, hay tỏ ra có chút đồng cảm nào đó, là một cơn ghen sẽ phủ chụp lấy ông - ông ấy mất kiểm soát trong phút chốc và thốt ra những lời điên rồ hết sức. Đã hơn một lần, chính vì lẽ đó mà tôi thề sẽ không tới nữa; và rồi ông ấy lại viết cho tôi những lá thư ăn năn, van nài đến mức tôi chẳng đành lòng từ chối. Nhưng xin các ông hãy tin lời tôi, thưa các quý ông, nếu đây là lời sau cuối của tôi, thì tôi xin nói rằng: chưa từng có người đàn ông nào có được một người vợ yêu thương và chung thủy hơn bà ấy - và tôi cũng có thể nói thêm rằng, chẳng có người bạn nào trung thành hơn tôi!"

Lời lẽ ấy được thốt ra với tất cả nhiệt thành và xúc cảm. Thế nhưng, Thanh tra MacDonald vẫn chưa chịu buông tha chủ đề này.

"Ông có biết," MacDonald nói, "rằng chiếc nhẫn cưới của người đã khuất đã bị lấy mất khỏi ngón tay ông ấy?"

"Dường như là vậy," Barker đáp.

"Ý ông 'dường như' là thế nào? Ông thừa biết đó là sự thật cơ mà."

Người đàn ông thoáng lộ vẻ bối rối và do dự. "Khi tôi nói 'dường như', ý tôi là có lẽ chính ông ấy đã tự tháo nhẫn ra."

"Sự biến mất của chiếc nhẫn - bất kể ai là người tháo nó - tự thân nó cũng đủ để khiến bất kỳ ai liên tưởng rằng cuộc hôn nhân và bi kịch này có mối liên quan với nhau, ông không nghĩ vậy sao?"

Barker nhún đôi vai rộng. "Tôi không dám nói điều đó mang hàm ý gì," ông đáp. "Nhưng nếu ý ông là ám chỉ rằng nó có thể phản ánh, theo bất kỳ cách nào, lên danh dự của vị phu nhân này" - đôi mắt ông rực lên trong giây lát, rồi với một nỗ lực rõ rệt, ông ghìm nén cảm xúc - "thì, các ông đang đi sai hướng rồi. Chỉ có vậy thôi."

"Hiện tại tôi không còn điều gì để hỏi ông nữa," MacDonald lạnh lùng tuyên bố.

"Còn một chi tiết nhỏ," Sherlock Holmes lên tiếng. "Khi ông bước vào thư phòng, trên bàn chỉ có một ngọn nến đang cháy, phải vậy không?"

"Đúng, đúng vậy."

"Dưới ánh sáng leo lét ấy, ông nhận ra rằng một thảm kịch khủng khiếp đã xảy ra?"

"Chính xác."

"Ông liền rung chuông kêu cứu ngay tức khắc?"

"Đúng thế."

"Và người ta đã đến rất nhanh?"

"Trong vòng khoảng một phút."

"Ấy vậy mà khi họ tới nơi, họ thấy nến đã tắt - còn đèn dầu thì đã được thắp sáng. Điều đó quả là đáng chú ý."

Một lần nữa, Barker lộ ra đôi chút do dự. "Tôi không thấy có gì đáng chú ý ở đó cả, thưa ngài Holmes," ông đáp sau một thoáng ngập ngừng. "Ngọn nến tỏa ra thứ ánh sáng hết sức yếu ớt. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là tìm một nguồn sáng tốt hơn. Đèn dầu nằm sẵn trên bàn, thế là tôi thắp nó lên."

"Và thổi tắt nến?"

"Chính xác."

Holmes không hỏi thêm câu nào nữa. Barker, với một ánh nhìn lần lượt lướt qua từng người trong chúng tôi - mà theo cảm nhận của riêng tôi, trong đó thoáng ẩn chứa đôi phần thách thức - rồi quay lưng bước ra khỏi căn phòng.

Thanh tra MacDonald gửi vào một mảnh giấy nhắn, báo rằng ông xin được chờ bà Douglas trong phòng riêng của bà. Nhưng bà đáp lời rằng bà sẽ tiếp chúng tôi ở phòng ăn. Và rồi bà bước vào - một người đàn bà chừng ba mươi tuổi, dáng cao, xinh đẹp, với vẻ kín đáo và điềm tĩnh đến mức khiến người ta phải kinh ngạc. Chẳng có chút gì giống với hình bóng tiều tụy, mất trí vì đau thương mà tôi từng mường tượng. Quả thực, gương mặt bà nhợt nhạt và hốc hác, hằn rõ dấu vết của một cú sốc khủng khiếp vừa trải qua; nhưng phong thái bà vẫn trầm tĩnh lạ thường. Bàn tay thon thả đặt trên mép bàn vững vàng như chính bàn tay tôi. Đôi mắt u buồn, chất chứa niềm van nài, lần lượt nhìn từ gương mặt này sang gương mặt khác trong số chúng tôi, với một biểu cảm tò mò đến kỳ lạ. Ánh nhìn dò hỏi ấy đột ngột kết tinh thành một câu nói cộc lốc.

"Các ngài đã phát hiện được điều gì chưa?" bà cất tiếng.

Có phải trí tưởng tượng của tôi đánh lừa tôi chăng? Trong câu hỏi ấy, tôi nghe thấy nỗi sợ hãi nhiều hơn là niềm hy vọng.

"Chúng tôi đã triển khai mọi biện pháp trong khả năng, thưa phu nhân," vị thanh tra đáp. "Phu nhân có thể yên tâm rằng không một chi tiết nào bị bỏ sót."

"Xin đừng tiếc tiền bạc," bà nói, giọng đều đều và vô hồn. "Tâm nguyện của tôi là mọi nỗ lực có thể thực hiện được đều phải được thực hiện."

"Có lẽ phu nhân có thể cho chúng tôi biết đôi điều có thể soi sáng thêm sự việc."

"Tôi e là không; nhưng tất cả những gì tôi biết, tôi sẵn lòng cung cấp cho các ngài."

"Chúng tôi có nghe ông Cecil Barker kể rằng phu nhân đã không thực sự chứng kiến - rằng phu nhân chưa từng đặt chân vào căn phòng nơi thảm kịch diễn ra?"

"Không, ông ấy đã buộc tôi quay trở lại ngay trên cầu thang. Ông ấy cầu xin tôi hãy về phòng."

"Thì ra là vậy. Phu nhân nghe thấy tiếng súng rồi lập tức đi xuống dưới nhà."

"Tôi choàng vội áo ngủ rồi đi xuống."

"Bao lâu sau khi nghe tiếng súng thì phu nhân bị ông Barker chặn lại trên cầu thang?"

"Có lẽ khoảng hai phút. Thật khó mà ước lượng thời gian trong một thời khắc như thế. Ông ấy khẩn khoản cầu xin tôi đừng tiến thêm bước nào nữa. Ông ấy quả quyết rằng tôi chẳng thể làm được gì. Rồi bà Allen, người quản gia nữ, đã dìu tôi trở lên lầu. Tất cả diễn ra như một cơn ác mộng kinh hoàng."

"Phu nhân có thể cho chúng tôi biết chồng phu nhân đã xuống nhà được bao lâu trước khi phu nhân nghe tiếng súng?"

"Không, tôi không thể nói chính xác. Anh ấy rời phòng thay đồ của mình, và tôi không nghe thấy tiếng bước chân anh. Đêm nào anh ấy cũng đi tuần quanh nhà, bởi anh ấy vô cùng sợ hỏa hoạn. Đó là điều duy nhất tôi từng thấy anh ấy sợ hãi."

"Đó cũng chính là điểm tôi muốn hỏi tới, thưa phu nhân. Phu nhân chỉ biết chồng mình ở nước Anh, phải không?"

"Vâng, chúng tôi kết hôn đã được năm năm."

"Phu nhân có từng nghe anh ấy nhắc tới điều gì đó - một sự kiện nào đó đã xảy ra bên Mỹ - có thể mang lại mối nguy hiểm cho anh ấy?"

Bà Douglas trầm ngâm rất lâu trước khi trả lời. "Có," cuối cùng bà lên tiếng. "Tôi luôn cảm nhận thấy một mối nguy hiểm nào đó đang lơ lửng trên đầu anh ấy. Anh ấy từ chối bàn luận điều đó với tôi. Không phải vì thiếu tin tưởng - giữa chúng tôi có một tình yêu và lòng tin tuyệt đối - mà là vì anh ấy khao khát giữ cho tôi tránh khỏi mọi nỗi hoảng sợ. Anh ấy nghĩ rằng nếu tôi biết hết mọi chuyện, tôi sẽ trăn trở khôn nguôi, và vì thế anh ấy giữ im lặng."

"Vậy làm sao phu nhân biết được điều đó?"

Một nụ cười thoáng qua làm bừng sáng gương mặt bà Douglas. "Có người chồng nào mang trong mình một bí mật suốt đời mà người đàn bà yêu anh ấy lại không hề mảy may nghi ngờ hay sao? Tôi biết điều đó từ việc anh ấy nhất mực từ chối nói về những giai đoạn nhất định trong cuộc đời mình bên Mỹ. Tôi biết điều đó qua những biện pháp đề phòng anh ấy vẫn âm thầm thực hiện. Tôi biết điều đó qua đôi lời anh lỡ buột miệng thốt ra. Tôi biết điều đó qua cái cách anh ấy nhìn những gương mặt lạ bất ngờ xuất hiện. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ấy có những kẻ thù hùng mạnh, rằng anh ấy tin chúng đang theo dõi anh, và rằng anh ấy luôn trong tư thế đề phòng chúng. Tôi chắc chắn đến nỗi suốt bao năm qua, tôi luôn sống trong nỗi hoảng sợ mỗi khi anh ấy về nhà muộn hơn dự kiến."

"Tôi xin được hỏi," Holmes cất tiếng, "những từ ngữ nào đã thu hút sự chú ý của phu nhân?"

"Thung lũng Khủng khiếp4," người đàn bà đáp. "Đó là cụm từ anh ấy từng dùng khi tôi gặng hỏi. 'Anh đã từng ở trong Thung lũng Khủng khiếp. Anh vẫn chưa thoát khỏi nó.' - 'Chẳng lẽ chúng ta chẳng bao giờ thoát khỏi Thung lũng Khủng khiếp sao?' tôi từng hỏi anh, mỗi lần thấy anh trầm ngâm hơn thường lệ. 'Đôi khi anh nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ thoát được,' anh từng đáp."

"Hẳn là phu nhân đã hỏi anh ấy Thung lũng Khủng khiếp mang ý nghĩa gì rồi chứ?"

"Tôi đã hỏi; nhưng gương mặt anh ấy liền trở nên hết sức nghiêm nghị, và anh ấy lắc đầu. 'Việc một người trong chúng ta phải sống dưới cái bóng của nó đã là quá tồi tệ rồi,' anh ấy nói. 'Cầu Chúa đừng bao giờ để nó giáng xuống đầu em!' Tôi chắc chắn đó hẳn là một thung lũng có thật, nơi anh ấy đã từng sống và nơi một điều gì đó khủng khiếp đã xảy đến với anh; nhưng ngoài điều đó, tôi không thể cho ngài biết thêm gì nữa."

"Và anh ấy không bao giờ nhắc đến bất kỳ cái tên nào ư?"

"Có chứ. Anh ấy từng mê sảng vì sốt sau một tai nạn đi săn ba năm về trước. Lúc đó tôi nhớ có một cái tên liên tục xuất hiện trên môi anh. Anh ấy thốt ra cái tên ấy với tất cả sự giận dữ và một nỗi kinh hoàng. McGinty - đó là cái tên - Bodymaster5 McGinty. Khi anh ấy bình phục, tôi hỏi Bodymaster McGinty là ai, và tại sao hắn lại là chủ nhân của thân xác ai6. 'Không bao giờ là của anh, tạ ơn Chúa!' anh ấy đáp, kèm theo một tiếng cười; và đó là tất cả những gì tôi có thể moi ra từ anh. Nhưng có một mối liên hệ giữa Bodymaster McGinty và Thung lũng Khủng khiếp."

"Còn một điểm nữa," Thanh tra MacDonald nói. "Phu nhân đã gặp anh Douglas tại một nhà trọ ở London, phải không, và đính hôn với anh ấy tại đó? Có điều gì lãng mạn, hay bất kỳ điều gì bí mật hoặc bí ẩn nào xung quanh đám cưới hay không?"

"Có sự lãng mạn. Luôn luôn có sự lãng mạn. Chẳng có gì bí ẩn cả."

"Anh ấy không có tình địch nào sao?"

"Không, tôi hoàn toàn tự do."

"Hẳn phu nhân đã nghe rằng chiếc nhẫn cưới của anh ấy đã bị kẻ gian lấy đi. Điều đó có gợi cho phu nhân điều gì chăng? Cứ giả như một kẻ thù nào đó từ quá khứ của anh ấy đã lần theo dấu vết và gây ra tội ác này, thì liệu hắn có lý do khả dĩ nào để lấy đi chiếc nhẫn cưới?"

Trong một khoảnh khắc, tôi có thể thề rằng một bóng nụ cười rất mờ nhạt vừa thoáng qua trên môi người đàn bà.

[Trong một khoảnh khắc, tôi có thể thề rằng một bóng nụ cười rất mờ nhạt vừa thoáng qua trên môi người đàn bà.]

"Tôi thực sự không thể biết được," bà đáp. "Đó hiển nhiên là một điều vô cùng kỳ lạ."

"Thôi, chúng tôi xin không giữ phu nhân lâu hơn nữa, và chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc đã mang đến cho phu nhân sự phiền phức này vào một thời điểm như lúc này," vị thanh tra nói. "Hẳn còn một vài điểm khác nữa; nhưng chúng tôi sẽ liên hệ với phu nhân khi chúng nảy sinh."

Bà đứng dậy, và tôi lại bắt gặp ánh mắt dò hỏi lướt nhanh ấy - chính cái ánh nhìn mà bà vừa dùng để quan sát chúng tôi. "Lời khai của tôi đã tạo ấn tượng gì nơi các ngài?" - câu hỏi ấy dường như đã được thốt lên trong thinh lặng. Rồi, với một cái cúi chào, bà lướt nhẹ ra khỏi phòng.

"Bà ấy quả là một mỹ nhân - một mỹ nhân tuyệt sắc," MacDonald trầm ngâm cất lời, khi cánh cửa đã khép lại sau lưng người đàn bà. "Gã Barker này hẳn đã lai vãng nơi đây không ít lần. Hắn thuộc mẫu đàn ông có thể khiến phụ nữ xiêu lòng. Chính hắn thừa nhận kẻ đã chết là người cực kỳ hay ghen, và có lẽ chẳng ai rõ hơn hắn lý do để gã chồng ấy ghen tuông là gì. Rồi còn cái nhẫn cưới kia nữa. Các vị không thể gạt chuyện đó sang một bên. Kẻ nào lại đi giật đứt chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay một người đã chết - Ông nghĩ sao về chuyện này, ông Holmes?"

Bạn tôi vẫn ngồi ôm đầu, đắm chìm trong dòng suy tư thăm thẳm nhất. Giờ anh mới đứng dậy, kéo chuông gọi. "Ames," anh lên tiếng khi người quản gia bước vào, "ông Cecil Barker hiện đang ở đâu?"

"Tôi sẽ đi kiểm tra, thưa ngài."

Một lát sau, ông quay lại và cho biết Barker đang ở ngoài vườn.

"Ông có nhớ không, Ames, đêm qua khi ông gặp ông Barker trong thư phòng, chân ông ấy đang đi gì?"

"Dạ có, ngài Holmes. Ông ấy đi một đôi dép lê trong nhà. Tôi đã mang giày cho ông ấy khi ông ấy chạy đi gọi cảnh sát."

"Đôi dép ấy giờ ở đâu?"

"Vẫn còn nằm dưới gầm ghế ngoài sảnh, thưa ngài."

"Tốt lắm, Ames. Dĩ nhiên, một điều tối quan trọng đối với chúng ta là phải xác định được dấu chân nào là của ông Barker, và dấu chân nào là của kẻ từ bên ngoài đột nhập."

"Dạ, thưa ngài. Tôi xin được nói thêm rằng tôi có để ý đôi dép ấy đã dính máu - kỳ thực dép của tôi cũng vậy."

"Điều đó cũng khá tự nhiên thôi, xét tình trạng của căn phòng. Được rồi, Ames. Chúng tôi sẽ kéo chuông nếu cần ông."

Vài phút sau, chúng tôi đã có mặt trong thư phòng. Holmes mang theo đôi dép đi thảm từ ngoài sảnh vào. Đúng như Ames quan sát, đế của cả hai chiếc đều nhuốm một màu máu sẫm.

"Lạ thật!" Holmes lẩm bẩm, khi anh bước ra đứng dưới ánh sáng cửa sổ và xem xét chúng tỉ mỉ. "Quả thực rất lạ!"

Rồi bằng một trong những cử động nhanh như cắt, uyển chuyển tựa loài mèo, anh cúi xuống và đặt chiếc dép lên vệt máu trên bệ cửa sổ. Nó khớp đến từng milimét. Anh mỉm cười lặng lẽ với các đồng nghiệp.

Vị thanh tra biến sắc vì phấn khích. Chất giọng địa phương của ông tuôn ra lách cách như tiếng gậy gõ dọc hàng rào.

"Quỷ tha ma bắt," ông kêu lên, "thế là hết đường chối cãi rồi! Chính Barker đã để lại dấu chân mình trên bệ cửa sổ. Nó rộng hơn hẳn bất kỳ vết giày nào khác. Tôi nhớ ông đã nói đó là một bàn chân bẹt, và đây chính là lời giải thích. Nhưng rốt cuộc trò chơi này là gì vậy, ông Holmes - trò chơi này là gì?"

"Phải, rốt cuộc trò chơi này là gì?" bạn tôi trầm ngâm nhắc lại.

White Mason cười khúc khích, xoa xoa đôi bàn tay mũm mĩm vào nhau với vẻ hể hả của một kẻ lão luyện trong nghề. "Tôi đã nói rồi mà, đây đích thị là một vụ án hóc búa!" ông reo lên. "Và quả thực, nó hóc búa thật sự!"



  1. Royal Tunbridge Wells là một thị trấn lịch sử nằm ở hạt Kent, miền Đông Nam nước Anh. Vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, nơi đây là một khu nghỉ dưỡng suối khoáng sang trọng, thường được giới thượng lưu và trung lưu Anh lui tới để nghỉ ngơi, mua sắm. 

  2. 'Canyon' (hẻm núi) là dạng địa hình đặc trưng rất phổ biến ở vùng miền Tây nước Mỹ, đặc biệt là California. Các hẻm núi này thường là nơi tập trung các khu mỏ khai thác vàng bạc đá quý, thu hút nhiều thợ mỏ và những kẻ phiêu lưu trong thời kỳ Cơn sốt vàng (Gold Rush). 

  3. Một thành phố công nghiệp lớn của nước Mỹ. Vào cuối thế kỷ 19, Chicago nổi tiếng là trung tâm của các ngành công nghiệp nặng, đồng thời cũng là điểm nóng của tình trạng bạo lực, bạo loạn công đoàn lao động và sự hình thành của các tổ chức băng đảng. 

  4. Được dịch từ cụm 'The Valley of Fear'. Bối cảnh lịch sử của truyện ám chỉ đến vùng mỏ than ở Pennsylvania (Mỹ) cuối thế kỷ 19. Nơi đây từng bị kiểm soát bởi băng đảng bí mật Molly Maguires, chuyên sử dụng bạo lực và ám sát để cai trị các thợ mỏ, biến khu vực này thành một thung lũng của sự khiếp sợ. 

  5. Bodymaster là một chức danh có thật trong lịch sử, dùng để chỉ thủ lĩnh của một nhánh (Lodge) thuộc hội kín Ancient Order of Hibernians (tương ứng với băng Scowrers trong truyện). Tên gọi này mang hàm ý về quyền lực tuyệt đối của kẻ cầm đầu. 

  6. Tổn thất biên dịch (Translation loss). Trong nguyên tác tiếng Anh, bà Douglas hỏi "who the body master was, and of what body he was master" (chơi chữ với từ 'body' vừa mang nghĩa 'hội nhóm/tổ chức', vừa mang nghĩa 'thể xác'). Khi dịch sang tiếng Việt, nét nghĩa 'người đứng đầu một hội nhóm' bị mất đi, khiến câu hỏi thiên về nghĩa đen nhiều hơn.