CHƯƠNG IV. THUNG LŨNG KHỦNG KHIẾP

Khi McMurdo thức giấc vào sáng hôm sau, anh có đủ mọi lý do chính đáng để nhớ lại buổi lễ kết nạp vào chi hội đêm qua. Đầu anh đau như búa bổ vì hơi men, còn cánh tay nơi bị đóng dấu thì nóng rát và sưng tấy lên trông thấy. Anh vốn có một khoản thu nhập riêng nên chẳng cần phải đến chỗ làm đều đặn như ai; bởi vậy anh dùng bữa sáng khá muộn, rồi nán lại nhà suốt buổi sáng để viết một bức thư dài cho một người bạn. Sau đó, anh giở tờ Daily Herald ra đọc. Trong một cột báo được chèn vào phút chót, anh bắt gặp dòng tít: "Vụ bạo hành tại Tòa soạn Herald - Chủ bút bị thương nặng". Đó là một bài tường thuật ngắn gọn về những sự việc mà chính anh còn rõ hơn cả người viết ra nó. Bài báo khép lại bằng lời tuyên bố:

Vụ việc hiện đã được chuyển giao cho cảnh sát; tuy nhiên, khó lòng hy vọng rằng những nỗ lực của họ sẽ thu được kết quả khả quan hơn so với quá khứ. Một số kẻ bạo hành đã bị nhận diện, và người ta kỳ vọng rằng sẽ sớm có một bản án được ban hành. Căn nguyên của vụ bạo hành này, khỏi cần phải nói thêm, chính là cái hội kín khét tiếng đã kìm kẹp cộng đồng này suốt một thời gian dài, và tờ Herald đã luôn giữ vững lập trường không khoan nhượng nhằm chống lại nó. Vô số bạn bè của ngài Stanger sẽ vui mừng khi biết rằng, dù ông đã bị đánh đập một cách tàn nhẫn và dã man, cùng với những vết thương nghiêm trọng ở vùng đầu, song không có mối nguy hiểm trực tiếp nào đe dọa đến tính mạng của ông.

Bên dưới có ghi rằng một đội cảnh sát bảo vệ, được trang bị súng trường Winchester1, đã được trưng dụng để canh gác tòa soạn.

McMurdo vừa đặt tờ báo xuống, đang loay hoay châm tẩu thuốc bằng bàn tay vẫn còn run rẩy sau những cơn quá chén đêm qua, thì có tiếng gõ cửa vọng vào từ bên ngoài. Bà chủ nhà bước vào, mang theo một tờ giấy nhắn do một cậu bé vừa mới đưa tới. Mảnh giấy không có chữ ký, chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

Tôi muốn nói chuyện với cậu, nhưng thà đừng làm chuyện đó ở nhà cậu thì hơn. Cậu sẽ thấy tôi đứng cạnh cột cờ trên Đồi Miller. Nếu cậu đến đó ngay bây giờ, tôi có một việc quan trọng muốn nói, và cậu cũng cần phải nghe.

McMurdo đọc đi đọc lại mảnh giấy đến hai lần, lòng đầy kinh ngạc tột độ; bởi anh không tài nào đoán ra nổi nó mang hàm ý gì, hay kẻ nào đã viết nên những dòng chữ ấy. Nếu đó là nét chữ của phụ nữ, anh đã có thể mường tượng rằng đây là khởi đầu cho một trong những cuộc phiêu lưu vốn chẳng mấy xa lạ trong quá khứ của mình. Nhưng đây rõ ràng là nét chữ của một người đàn ông, và hơn thế, lại là nét chữ của một kẻ có học thức. Cuối cùng, sau một thoáng chần chừ, anh quyết định cứ đi xem mọi chuyện ra sao.

Đồi Miller là một công viên công cộng chẳng mấy được chăm chút, nằm ngay giữa trung tâm thị trấn. Vào mùa hè, nơi đây là chốn nghỉ mát được lòng người dân nhất; nhưng đến mùa đông, nó trở nên hoang vắng lạ thường. Từ đỉnh đồi, người ta không chỉ trông thấy toàn bộ thị trấn tồi tàn trải dài một cách thưa thớt, mà còn có thể phóng tầm mắt ra tận thung lũng ngoằn ngoèo bên dưới, nơi những mỏ than và nhà máy rải rác nhuộm đen cả lớp tuyết phủ hai bên bờ, cùng với những dãy núi trùng điệp khoác lên mình màu xanh thẫm của rừng cây và màu trắng xóa của tuyết bao bọc tứ phía.

McMurdo thong thả dạo bước dọc theo con đường mòn uốn lượn, khuất dưới bóng những rặng thông thường xanh, cho đến khi anh tới một nhà hàng bỏ hoang vốn từng là trung tâm hội hè náo nhiệt vào những tháng mùa hè. Ngay bên cạnh đó là một cột cờ trơ trọi đứng sừng sững, và bên dưới cột cờ, một bóng người đàn ông đứng đợi, mũ kéo sụp xuống, cổ áo bành tô dựng đứng lên che kín gương mặt. Khi người ấy quay lại, McMurdo nhận ra đó chính là Brother Morris - kẻ đã chuốc lấy cơn thịnh nộ của Bodymaster vào đêm qua. Ám hiệu của chi hội được cả hai trao đổi mau lẹ khi họ chạm mặt nhau.

"Tôi có đôi lời muốn nói với cậu, anh McMurdo ạ," người đàn ông lớn tuổi hơn cất giọng, âm điệu ngập ngừng cho thấy ông đang động đến một vấn đề hết sức tế nhị. "Thật mừng vì cậu đã đến."

"Sao ông không ký tên vào tờ giấy nhắn?"

"Người ta buộc phải thận trọng chứ, anh bạn ạ. Giữa thời buổi này, người ta chẳng bao giờ biết được một chuyện có thể quay lại hại mình ra sao. Lại còn chẳng biết nên tin ai và không nên tin ai nữa."

"Nhưng chắc chắn người ta có thể tin tưởng những người anh em trong chi hội chứ."

"Không, không, chẳng phải lúc nào cũng thế đâu," Morris kêu lên, giọng đầy kịch liệt. "Bất cứ điều gì chúng ta nói ra - thậm chí cả những gì chúng ta nghĩ trong đầu - dường như đều lọt đến tai cái gã McGinty ấy hết."

"Này ông!" McMurdo nghiêm giọng. "Mới chỉ tối qua thôi, như ông biết rất rõ, tôi đã thề trung thành với Bodymaster của chúng ta. Ông định bắt tôi phá vỡ lời thề đó hay sao?"

"Nếu cậu giữ quan điểm ấy," Morris buồn bã đáp, "thì tôi chỉ còn biết nói rằng tôi lấy làm tiếc đã làm phiền cậu phải đến gặp tôi. Mọi chuyện đã đến bước đường cùng khi hai con người tự do không thể thổ lộ suy nghĩ của mình với nhau."

McMurdo, nãy giờ vẫn đang chăm chú dò xét người bạn đồng hành, dường như có phần dịu lại đôi chút. "Chắc chắn là tôi chỉ nói cho riêng mình thôi," anh lên tiếng. "Tôi là lính mới, như ông đã biết, và mọi thứ với tôi vẫn còn khá lạ lẫm. Tôi chẳng có tư cách gì để mở miệng phán xét, thưa ông Morris, và nếu ông thấy có điều gì đáng để nói với tôi, thì tôi đang ở đây để lắng nghe đây."

"Rồi để mang tất cả về báo lại cho Boss McGinty!" Morris cay đắng buông lời.

"Thật tình, nếu vậy thì ông đang bất công với tôi quá đấy," McMurdo kêu lên. "Về phần mình, tôi trung thành với chi hội, và tôi nói thẳng với ông như thế; nhưng tôi sẽ là một kẻ hèn hạ nếu đem những gì ông thổ lộ với tôi đi lặp lại cho bất kỳ ai khác. Chuyện sẽ dừng lại ở tôi mà thôi; mặc dù tôi cũng phải cảnh báo rằng ông đừng mong đợi sự giúp đỡ hay thông cảm nào từ phía tôi."

"Tôi đã sớm từ bỏ việc kiếm tìm cả hai điều ấy rồi," Morris nói. "Có thể tôi đang đặt chính tính mạng mình vào tay cậu qua những lời tôi sắp nói ra đây; nhưng, dù cậu có tồi tệ đến mức nào - và đêm qua tôi đã thấy cậu dường như đang dần trở nên tồi tệ chẳng kém gì những kẻ tồi tệ nhất - dù sao đi nữa, cậu cũng chỉ vừa mới bước chân vào đây, và lương tâm của cậu hãy còn chưa kịp chai sạn như lương tâm của bọn họ. Đó chính là lý do tôi nghĩ đến việc tìm cậu để nói chuyện."

"Thế rốt cuộc ông có điều gì muốn nói?"

"Nếu cậu phản bội tôi, một lời nguyền sẽ giáng xuống đầu cậu!"

"Chắc chắn rồi, tôi đã nói là tôi sẽ không làm thế."

"Vậy thì tôi muốn hỏi cậu: khi cậu gia nhập hội Freeman2 ở Chicago và tuyên thệ lời thề bác ái và trung thành, có bao giờ cậu mảy may nghĩ rằng nó sẽ dẫn cậu đến con đường tội ác hay không?"

"Nếu như ông gọi đó là tội ác," McMurdo đáp.

"Gọi đó là tội ác!" Morris kêu lên, giọng run rẩy vì xúc động. "Cậu mới chỉ chứng kiến một phần rất nhỏ của nó thôi, nếu như cậu còn có thể gọi nó bằng bất kỳ cái tên nào khác. Tối qua có phải là tội ác không, khi một con người đáng tuổi cha cậu bị đánh đập cho đến lúc máu chảy ròng ròng từ mái tóc bạc trắng của ông ấy? Đấy có phải là tội ác không - hay cậu còn muốn gọi nó là gì nữa?"

"Sẽ có kẻ nói rằng đó là chiến tranh," McMurdo đáp, "một cuộc chiến giữa hai giai cấp, chẳng bên nào từ thủ đoạn, mỗi bên đều tung ra những đòn nặng nhất mà mình có."

"Vậy thì, lúc gia nhập hội Freeman ở Chicago, cậu có từng nghĩ đến chuyện như thế này không?"

"Không, tôi buộc phải thú thật là không."

"Tôi cũng đã không nghĩ đến khi tôi gia nhập ở Philadelphia. Nó vốn chỉ là một câu lạc bộ tương trợ và là nơi gặp gỡ của những người bạn bè. Rồi sau đó tôi nghe đến nơi này - nguyền rủa cái giờ phút mà cái tên ấy lần đầu tiên lọt vào tai tôi! - và tôi đã tìm đến đây để mong đổi đời! Lạy Chúa! để đổi đời! Vợ tôi và ba đứa con nhỏ cùng đi với tôi. Tôi đã mở một tiệm bách hóa ngay trên Quảng trường Chợ, và công việc làm ăn rất phát đạt. Rồi tin đồn lan ra rằng tôi là một hội viên Freeman, và tôi bị ép buộc phải gia nhập chi hội địa phương, hệt như cậu tối qua vậy. Tôi mang cái huy hiệu tủi nhục ấy trên cẳng tay mình, và một thứ còn tồi tệ hơn thế in hằn sâu trong trái tim tôi. Tôi nhận ra rằng mình đang nằm dưới sự sai khiến của một tên ác ôn xấu xa nhất và mắc kẹt trong một mạng lưới tội ác chằng chịt. Tôi còn có thể làm gì được nữa? Mọi lời tôi nói ra để mong cải thiện tình hình đều bị coi là phản nghịch, y hệt như đêm qua vậy. Tôi không thể trốn thoát; bởi tất cả những gì tôi có trên cõi đời này đều nằm cả trong cái cửa hàng của tôi. Nếu tôi rời khỏi hội, tôi biết rất rõ điều đó đồng nghĩa với việc mình sẽ bị sát hại, và chỉ có Chúa mới biết chuyện gì sẽ xảy đến với vợ con tôi. Ôi, anh bạn, nó thật kinh khủng - kinh khủng vô cùng!" Ông ôm mặt, và cả thân hình ông rung lên theo từng tiếng nức nở nghẹn ngào.

McMurdo nhún vai. "Ông quá mềm yếu cho công việc này rồi," anh nói. "Ông không phải loại người phù hợp cho những chuyện như thế."

"Tôi từng có lương tâm và đức tin; nhưng giờ đây chúng đã biến tôi thành một tên tội phạm trong hàng ngũ của bọn họ. Tôi bị chọn để tham gia một vụ án. Nếu tôi chùn bước, tôi biết rõ điều gì sẽ chờ đợi mình. Có lẽ tôi đúng là một kẻ hèn nhát. Có lẽ chính ý nghĩ về người vợ bé nhỏ tội nghiệp và những đứa con thơ đã biến tôi thành một kẻ hèn nhát. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi cũng đã đi. Tôi đoán chuyện đó sẽ ám ảnh tôi đến suốt đời.

"Đó là một ngôi nhà hẻo lánh, cách đây hai mươi dặm, nằm khuất sau dãy núi đằng kia. Tôi được phân công đứng gác ngoài cửa, giống như cậu đêm qua vậy. Chúng không thể tin tưởng mà giao cho tôi việc gì hơn thế. Những kẻ khác đi vào trong. Khi chúng bước ra, đôi tay chúng nhuốm đầy máu đỏ tươi đến tận cổ tay. Lúc chúng tôi quay lưng bỏ đi, một đứa trẻ gào khóc thảm thiết chạy ra khỏi ngôi nhà, đuổi theo phía sau. Đó là một cậu bé chừng năm tuổi, vừa chứng kiến cảnh cha mình bị sát hại. Tôi gần như ngất lịm đi vì nỗi kinh hoàng, ấy thế mà vẫn phải giữ trên mặt một nụ cười bạo dạn và tươi tỉnh; bởi tôi biết quá rõ rằng nếu tôi không làm vậy, thì ngôi nhà tiếp theo mà chúng sẽ bước ra với đôi tay đẫm máu chính là nhà của tôi, và đứa trẻ gào khóc gọi cha sẽ chính là bé Fred bé bỏng của tôi.

"Nhưng lúc ấy tôi đã trở thành một tên tội phạm thực sự rồi - kẻ tòng phạm trong một vụ giết người, mãi mãi đánh mất chính mình trên cõi đời này, và cả ở thế giới bên kia nữa. Tôi vốn là một con chiên ngoan đạo; thế nhưng vị linh mục đã không thèm nói với tôi lấy một lời nào khi ngài nghe tin tôi là một tên Scowrer3, và tôi bị rút phép thông công4 khỏi đức tin của chính mình. Tình cảnh của tôi là như thế đấy. Và giờ đây tôi thấy cậu đang bước xuống cùng một con đường ấy, và tôi hỏi cậu: kết cục rồi sẽ ra sao? Cậu đã sẵn sàng để trở thành một kẻ sát nhân máu lạnh hay chưa, hay liệu chúng ta còn có thể làm được gì để ngăn chặn điều đó?"

"Ông định làm gì?" McMurdo đột ngột hỏi. "Ông sẽ không đi mật báo đấy chứ?"

"Chúa cấm!" Morris kêu lên. "Chắc chắn rồi, chỉ riêng ý nghĩ ấy thôi cũng đủ tước đi mạng sống của tôi."

"Thế thì tốt," McMurdo nói. "Tôi đã nghĩ rằng ông là một kẻ yếu đuối và rằng ông đã thổi phồng mọi chuyện lên quá mức rồi."

"Thổi phồng ư! Hãy đợi cho đến khi cậu sống ở đây thêm một thời gian nữa. Hãy nhìn xuống thung lũng kia đi! Nhìn đám mây từ hàng trăm ống khói đang che phủ nó kìa! Tôi nói cho cậu biết, đám mây của sự chết chóc còn lơ lửng dày đặc và thấp hơn thế gấp bội trên đầu người dân nơi đây. Nó chính là Thung lũng Khủng khiếp, Thung lũng của Tử thần. Nỗi kinh hoàng ngự trị trong trái tim mỗi con người, từ lúc chạng vạng cho đến tận khi bình minh. Hãy đợi đấy, chàng trai trẻ, rồi chính cậu sẽ tự mình nếm trải điều đó."

"Thôi được rồi, tôi sẽ cho ông biết suy nghĩ của mình sau khi tôi chứng kiến thêm nhiều chuyện nữa," McMurdo hờ hững đáp. "Có một điều rất rõ ràng: ông không phải là người dành cho nơi này, và ông càng sớm bán tháo cửa hàng đi chừng nào - dù chỉ thu về được một hào cho mỗi đô la giá trị - thì càng tốt cho ông chừng ấy. Những gì ông đã nói ra sẽ được giữ kín nơi tôi; nhưng, thề có Chúa! nếu tôi phát hiện ra ông là một kẻ mật báo -"

"Không, không!" Morris kêu lên thảm thiết.

"Vậy thì, cứ để chuyện đó lại đây. Tôi sẽ ghi nhớ những điều ông vừa nói, và biết đâu một ngày nào đó tôi sẽ nhắc lại với ông. Tôi cho rằng ông có ý tốt khi tìm đến tôi để nói chuyện như thế này. Giờ thì tôi về nhà đây."

"Một lời nữa thôi, trước khi cậu đi," Morris nói. "Biết đâu chúng ta đã bị ai đó trông thấy đi cùng nhau. Chúng có thể sẽ muốn biết chúng ta đã nói những chuyện gì."

"À! Nghĩ thế cũng phải."

"Tôi đề nghị cho cậu một chân thư ký trong cửa hàng của tôi."

"Và tôi từ chối. Chuyện của chúng ta chỉ có thế. Chào nhé, Brother Morris, và cầu mong mọi chuyện sẽ suôn sẻ hơn với ông trong tương lai."

Ngay chiều hôm ấy, McMurdo đang ngồi hút thuốc, trầm tư bên lò sưởi trong phòng khách, thì cánh cửa đột ngột bật mở - và dáng vóc đồ sộ của Boss McGinty choán kín cả khung cửa. Lão trao ám hiệu, rồi thả mình ngồi xuống đối diện chàng trai trẻ, đôi mắt lão ghim chặt vào anh hồi lâu; và anh đáp trả bằng một cái nhìn sắc lạnh chẳng kém phần kiên định.

"Ta vốn chẳng phải hạng người hay đi thăm viếng ai, anh bạn McMurdo ạ," cuối cùng lão cất giọng. "Ta đoán là lũ người tìm đến thăm ta đã chiếm sạch thì giờ của ta mất rồi. Nhưng ta nghĩ phen này nên phá lệ một chút - ghé xuống gặp cậu ngay tại tổ ấm của cậu."

"Được ngài đoái hoài ghé thăm là một vinh dự quá lớn, thưa ngài," McMurdo nhiệt thành đáp, vừa nói vừa lấy chai whisky trong tủ xuống. "Một vinh dự mà tôi thực sự không dám mong đợi."

"Cánh tay thế nào rồi?" Tay Boss hỏi.

McMurdo nhăn mặt. "Chà, nó thì tôi chẳng quên được đâu," anh nói; "nhưng công bằng mà nói, vậy mới xứng."

"Phải, xứng đáng lắm," kẻ kia đáp, "dành cho những kẻ một lòng trung thành, theo đến cùng và là cánh tay đắc lực của chi hội. Này, sáng nay trên Đồi Miller, cậu đã trò chuyện gì với Brother Morris thế?"

Câu hỏi ập đến bất thình lình, may thay anh đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. Anh phá lên cười thành tiếng. "Morris có biết đâu tôi có thể kiếm sống khối khối ngay tại nhà mình. Và cũng sẽ chẳng bao giờ biết được; bởi so với hạng người như tôi, ông ta có thừa lương tâm quá. Nhưng ông ta là một ông già tốt bụng thực sự. Ông ta tưởng tôi đang thất nghiệp, và nghĩ rằng làm cho tôi một việc tốt - rủ tôi về làm thư ký cho tiệm bách hóa của ông ta."

"Ồ, ra chỉ có thế thôi sao?"

"Vâng, đúng chỉ có thế."

"Và cậu đã từ chối?"

"Tất nhiên rồi. Có phải tôi không kiếm nổi gấp mười lần số đó ngay trong chính căn phòng ngủ của mình, chỉ với bốn tiếng làm việc thôi sao?"

"Nói vậy cũng phải. Nhưng ta khuyên cậu đừng có qua lại nhiều với Morris."

"Tại sao lại không?"

"Chà, ta cho rằng lý do đơn giản là vì ta bảo cậu đừng làm thế. Ở vùng này, bấy nhiêu đó thôi cũng đủ đối với hầu hết mọi người rồi."

"Có thể là đủ với hầu hết mọi người; nhưng chưa đủ với tôi đâu, thưa ngài," McMurdo bạo miệng đáp. "Nếu ngài là kẻ biết nhìn người, ắt ngài đã thấy rõ điều đó."

Gã khổng lồ da ngăm trừng mắt nhìn anh, bàn tay lông lá của lão bóp chặt lấy chiếc ly trong giây lát, cứ như thể lão sắp ném thẳng nó vào mặt kẻ đối diện. Rồi lão phá ra cười - một tràng cười lớn, ầm ĩ và đầy giả tạo.

"Quả thực cậu là một gã kỳ quặc hết chỗ nói," lão bảo. "Được rồi, nếu cậu muốn lý do, ta sẽ cho cậu lý do. Morris có nói gì với cậu chống lại chi hội không?"

"Không."

"Chống lại ta thì sao?"

"Không."

"Chà, đó là vì hắn chưa dám tin cậu đấy thôi. Nhưng trong thâm tâm, hắn không phải là một người anh em trung thành. Bọn ta biết rõ điều đó. Bởi thế bọn ta vẫn luôn theo dõi hắn và chờ thời cơ để xử lý hắn. Và ta đang nghĩ - thời điểm ấy đã gần kề lắm rồi. Chuồng chiên của chúng ta không có chỗ cho những con chiên ghẻ lở. Nhưng nếu cậu còn qua lại với kẻ bất trung, ắt bọn ta sẽ nghĩ cậu cũng là kẻ bất trung. Hiểu chứ?"

"Làm gì có chuyện tôi kết giao với ông ta; bởi tôi đâu có ưa gì lão ấy," McMurdo đáp. "Còn về chuyện bất trung - nếu kẻ nào khác ngoài ngài mà dám buông lời ấy với tôi, thì hắn sẽ chẳng có cơ hội thốt ra nó lần thứ hai đâu."

"Tốt, vậy là đủ rồi," McGinty nói, nốc cạn ly rượu. "Ta xuống đây là để nói với cậu một lời đúng lúc, và cậu đã nghe rồi đấy."

"Tôi muốn biết," McMurdo nói, "làm sao ngài biết được chuyện tôi đã nói chuyện với Morris vậy?"

McGinty cười lớn. "Nắm rõ mọi chuyện đang diễn ra ở cái thị trấn này - đó chính là công việc của ta," lão đáp. "Ta nghĩ cậu tốt nhất nên cứ mặc nhiên coi như ta nghe thấy tất tần tật mọi thứ xảy ra quanh đây. Thôi, hết giờ rồi, và ta sẽ chỉ nói-"

Nhưng lời từ biệt của lão bị cắt ngang một cách đột ngột đến sững sờ. Cánh cửa bật tung với một tiếng động vang rền, và ba gương mặt cau có, chằm chằm nhìn họ từ bên dưới vành mũ cảnh sát. McMurdo bật dậy, tay đã mò tới khẩu súng; nhưng cánh tay anh khựng lại giữa chừng khi nhận ra hai nòng súng trường Winchester đang chĩa thẳng vào đầu mình. Một người đàn ông mặc đồng phục bước vào phòng, tay lăm lăm khẩu súng lục ổ quay. Đó là Đại úy Marvin - kẻ từng hoạt động ở Chicago, nay thuộc Lực lượng Cảnh sát Mỏ5. Ông ta khẽ lắc đầu, nở một nụ cười nửa miệng hờ hững, rồi đưa mắt nhìn McMurdo.

"Tôi đã bảo rồi, kiểu gì cậu cũng sẽ dính vào rắc rối, anh bạn Crooked McMurdo của Chicago ạ," ông ta cất giọng. "Cậu thì có bao giờ tránh xa được mấy chuyện lôi thôi đâu, phải không nào? Lấy mũ và đi cùng chúng tôi."

"Tôi e rằng ông sẽ phải trả giá cho chuyện này đấy, Đại úy Marvin," McGinty lên tiếng. "Ông là ai, cho tôi hỏi, mà dám đột nhập vào nhà người khác theo cái kiểu này, lại còn quấy nhiễu những công dân lương thiện, tuân thủ pháp luật hẳn hoi?"

"Ngài cứ đứng ngoài chuyện này đi, ngài McGinty," viên đại úy cảnh sát đáp. "Chúng tôi tới đây không phải để tìm ngài, mà là để tìm gã McMurdo này. Việc của ngài bây giờ là hợp tác, chứ không phải cản trở chúng tôi thi hành công vụ."

"Cậu ta là bạn tôi, và tôi sẽ đứng ra bảo lãnh cho mọi hành vi của cậu ta," tay Trùm tuyên bố.

"Xét theo mọi nguồn tin mà tôi có được, thưa ngài McGinty, rất có thể một ngày kia chính ngài mới là người phải trả lời về những hành vi của mình đấy," viên đại úy buông một câu sắc lạnh. "Còn gã McMurdo này - hắn đã là một tên tội phạm từ trước khi đặt chân tới đây, và hắn vẫn cứ thế. Khống chế hắn đi, Tuần cảnh, để tôi tước vũ khí."

"Súng của tôi đây." McMurdo cất giọng điềm nhiên. "Có điều, Đại úy Marvin này, nếu chỉ có tôi và ông, mặt đối mặt với nhau, tôi e là ông chẳng thể tóm được tôi dễ dàng đến thế đâu."

"Lệnh khám xét của các ông đâu?" McGinty gầm lên. "Có Chúa mới biết! Sống ở cái vùng Vermissa này mà chẳng khác gì sống bên Nga, khi những kẻ như các ông đang thao túng cả lực lượng cảnh sát. Đây chính là sự lạm quyền trắng trợn của bọn tư bản, và tôi cam đoan với ông, chuyện này chưa xong đâu!"

"Ngài cứ việc làm những gì ngài cho là bổn phận của mình, thưa ngài Ủy viên. Chúng tôi sẽ làm phần việc của chúng tôi."

"Tôi bị buộc tội gì?" McMurdo hỏi.

"Có liên quan đến vụ hành hung lão Chủ bút Stanger tại tòa soạn tờ Herald. Chỉ tiếc cho cậu là lúc ấy chưa thành tội giết người."

"Ồ, nếu tất cả những gì các ông có để chống lại cậu ta chỉ có thế thôi," McGinty phá lên cười lớn, "thì các ông nên tự cứu mình khỏi cả đống phiền phức bằng cách rút lui ngay lập tức. Người đàn ông này đã ngồi chơi xì phé cùng tôi tại quán rượu của tôi cho đến tận nửa đêm, và tôi có thể đưa ra cả tá nhân chứng sẵn sàng xác nhận điều đó."

"Đó là chuyện của ngài, và tôi đoán ngài có thể trình bày chuyện đó trước tòa vào ngày mai. Còn bây giờ, đi thôi, McMurdo, và đi cho lặng lẽ nếu cậu không muốn báng súng gõ vào đầu mình. Ngài làm ơn tránh ra, ông McGinty; tôi cảnh báo ngài đấy, tôi sẽ không dung thứ bất kỳ hành vi kháng cự nào trong lúc thi hành công vụ!"

Vẻ ngoài của viên đại úy cương quyết đến mức cả McMurdo lẫn ông trùm của anh đều buộc phải chấp nhận tình thế. Kẻ sau còn kịp thì thầm vài lời với người tù nhân trước khi họ chia tay.

"Thế còn vụ kia thì sao -" lão hất ngón tay cái ra phía sau, ám chỉ cỗ máy in tiền giả.

"Êm hết rồi," McMurdo thì thầm đáp, anh đã nghĩ ra một nơi cất giấu an toàn dưới sàn nhà.

"Tạm biệt cậu nhé," tay Trùm nói, siết chặt tay anh. "Tôi sẽ cho gọi luật sư Reilly và đích thân lo liệu việc bào chữa. Cứ tin tôi đi, chúng sẽ chẳng thể nào giữ cậu lại được lâu."

"Tôi thì chẳng dám cá vào chuyện đó đâu. Còng tù nhân lại, hai người các anh, và cứ bắn hắn nếu hắn dám giở trò. Tôi sẽ khám xét căn nhà trước khi rời đi."

Ông ta làm đúng như vậy; thế nhưng dường như chẳng tìm thấy lấy một dấu vết nào của cỗ máy đã được cất giấu. Khi bước xuống, ông cùng thuộc hạ áp giải McMurdo về trụ sở. Màn đêm đã buông xuống, và một trận bão tuyết dữ dội đang gào thét, khiến các con phố gần như vắng tanh không một bóng người; vậy mà vẫn có vài kẻ lang thang lần theo nhóm người, và được tiếp thêm can đảm nhờ bóng tối bao phủ, chúng lớn tiếng buông những lời nguyền rủa nhắm vào người tù.

"Treo cổ cái thằng Scowrer khốn kiếp ấy lên!" chúng rú lên. "Treo cổ hắn đi!" Chúng cười nhạo và réo gọi khi anh bị đẩy qua cánh cửa đồn cảnh sát. Sau một cuộc thẩm vấn chính thức ngắn gọn từ viên thanh tra trực ban, anh bị tống thẳng vào phòng giam chung. Chính tại nơi này, anh gặp lại Baldwin cùng ba tên tội phạm khác của đêm hôm trước - tất cả đều đã bị bắt vào chiều hôm ấy và đang chờ bị đưa ra xét xử vào sáng hôm sau.

Thế nhưng, ngay cả khi đã nằm gọn bên trong pháo đài của luật pháp này, cánh tay dài của hội Freemen vẫn có thể vươn tới. Tối muộn, một viên cai ngục xuất hiện, mang theo một bó rơm để làm giường nằm cho họ, và từ trong bó rơm ấy, hắn lôi ra hai chai rượu whisky, vài chiếc cốc, cùng một bộ bài. Cả bọn đã trải qua một đêm hết sức vui nhộn, chẳng hề mảy may lo lắng về phiên tòa khắc nghiệt đang chờ đợi vào buổi sáng.

Và quả thực, chẳng có lý do gì để phải bận tâm - như kết quả sau cùng đã phơi bày. Với những chứng cứ trước mắt, ngài thẩm phán hoàn toàn bất lực trong việc chuyển hồ sơ vụ án lên một tòa cấp cao hơn. Về phía những người thợ sắp chữ và thợ in, chính họ buộc phải thừa nhận rằng ánh sáng hôm ấy hết sức lờ mờ, bản thân ai nấy đều đang chìm trong cơn hoảng loạn tột độ, và việc buộc họ phải thề thốt khẳng định chính xác danh tính những kẻ tấn công là điều gần như không tưởng - dẫu rằng trong thâm tâm, họ vẫn tin chắc các bị cáo nằm trong số đó. Đến khi bị vị luật sư lão luyện mà McGinty thuê về thẩm vấn chéo, lời khai của họ càng trở nên mơ hồ, chắp vá như sương khói.

Người bị thương ra khai rằng ông ta đã bị đòn tấn công chớp nhoáng đánh úp hoàn toàn bất ngờ, đến nỗi chẳng thể nào khẳng định được điều gì, ngoại trừ một chi tiết duy nhất: kẻ đầu tiên giáng đòn vào ông có để ria mép. Ông nói thêm rằng ông biết chắc chúng là bọn Scowrer, đơn giản bởi lẽ trong cả cái cộng đồng này, chẳng còn ai có thể nuôi dù chỉ một mảy may hận thù với ông; và ông đã bị đe dọa từ lâu, chỉ vì những bài xã luận thẳng thắn không biết sợ hãi của mình. Nhưng ở phía bên kia cán cân công lý, lời khai của sáu công dân - đồng thanh, nhất quán, và không hề có lấy một vết nứt - trong đó bao gồm cả vị quan chức thành phố danh giá, ngài McGinty, đã vẽ nên một bức tranh hoàn toàn khác. Những con người ấy, theo lời họ, đã có mặt tại một bữa tiệc bài ở Nhà trọ Union cho đến tận một thời điểm muộn hơn rất nhiều so với giờ xảy ra vụ bạo hành.

Không cần phải nói, họ được trắng án. Và không chỉ trắng án - bồi thẩm đoàn còn gửi đến họ những lời lẽ gần như là một lời xin lỗi vì sự phiền toái mà họ đã phải chịu đựng, kèm theo đó là một lời khiển trách ngầm, nhắm thẳng vào Đại úy Marvin cùng lực lượng cảnh sát vì thứ nhiệt tình thái quá trong việc chõ mũi vào mọi ngóc ngách của đời sống nơi đây.

Phán quyết được đón nhận bằng những tràng vỗ tay vang dội khắp phòng xử án, nơi McMurdo nhận ra vô số những gương mặt thân quen. Những người anh em trong chi hội mỉm cười và vẫy tay chào anh. Thế nhưng, cũng có những kẻ khác - những kẻ ngồi im lìm với đôi môi mím chặt và ánh mắt nặng trĩu suy tư, dõi theo đám người đang lũ lượt bước ra khỏi bục bị cáo. Một trong số họ, một gã đàn ông nhỏ thó, với bộ râu đen tua tủa và vẻ ngoài kiên quyết đến cứng cỏi, đã buông thành lời cái suy nghĩ đang âm ỉ cháy trong lồng ngực mình - và trong lồng ngực những đồng chí của gã - vào cái khoảnh khắc những kẻ vừa thoát tội lướt ngang qua.

"Lũ sát nhân khốn kiếp!" gã gằn giọng. "Rồi chúng tao sẽ xử tụi bay!"



  1. Dòng súng trường lặp đạn bằng đòn bẩy vô cùng nổi tiếng, được mệnh danh là 'Khẩu súng chinh phục miền Tây nước Mỹ' trong nửa cuối thế kỷ 19. 

  2. Tên gọi đầy đủ là 'Eminent Order of Freemen' (Dòng Tự do Ưu tú), một tổ chức huynh đệ hợp pháp đóng vai trò làm bức bình phong cho các hoạt động tội phạm ngầm của băng đảng Scowrers. 

  3. Tên gọi của băng đảng tội phạm ngầm thống trị thung lũng bằng bạo lực. Tác giả Arthur Conan Doyle đã lấy nguyên mẫu từ 'Molly Maguires' - một hội kín của thợ mỏ gốc Ireland có thật từng gây ra chuỗi bạo động tại Pennsylvania vào thế kỷ 19. 

  4. Hình phạt nghiêm khắc nhất trong Kitô giáo (Excommunication), cấm một cá nhân tham gia vào các bí tích và các nghi lễ tôn giáo, đồng nghĩa với việc bị khai trừ khỏi cộng đồng giáo hội. 

  5. Nguyên tác 'Coal and Iron Police', một lực lượng cảnh sát tư nhân do các công ty khai thác mỏ ở Pennsylvania (Mỹ) thành lập và trả lương vào thế kỷ 19 để bảo vệ tài sản và trấn áp các cuộc đình công của công nhân.