CHƯƠNG V. THỜI KHẮC TĂM TỐI NHẤT

Nếu có điều gì có thể đẩy danh tiếng của Jack McMurdo lên một tầm cao mới trong mắt đồng bọn, thì đó chính là vụ bắt giữ cùng màn trắng án ngoạn mục của anh. Việc một kẻ vừa gia nhập chi hội ngay trong đêm đầu tiên đã gây ra chuyện khiến bản thân phải bước chân ra trước vành móng ngựa là một kỷ lục chưa từng có trong biên niên sử của tổ chức. Giờ đây, anh đã nức tiếng là một tay bạn nhậu thượng hạng, một gã ăn chơi khoái hoạt, và trên hết - một con người mang trong mình lòng kiêu hãnh đến mức không chịu nhún nhường trước bất kỳ lời xúc phạm nào, dù kẻ buông lời có là chính vị Trùm đầy quyền uy đi chăng nữa. Nhưng hơn tất thảy, anh còn khiến đồng bọn phải nể sợ bởi một nhận thức lặng lẽ lan truyền trong hàng ngũ: rằng trong số tất cả bọn họ, chẳng ai có được bộ óc sắc lạnh đủ để phác thảo nên một kế hoạch đẫm máu, cũng như đôi bàn tay đủ cứng cỏi để thực thi nó, xuất sắc hơn anh. "Cậu ta sẽ là chàng trai cho những phi vụ gọn ghẽ," những kẻ kỳ cựu thì thầm với nhau, và họ kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để trao việc vào tay anh.

McGinty vốn chẳng thiếu công cụ; nhưng lão nhận ra đây là một công cụ xuất chúng vào bậc nhất. Lão có cảm giác như một kẻ đang ghìm giữ con chó săn máu hung tợn trong vòng dây xích. Những tên hèn nhát thì có sẵn để làm mấy việc vặt vãnh; nhưng rồi sẽ đến ngày lão thả con mãnh thú này xông vào con mồi của nó. Một vài thành viên trong chi hội, trong số đó có Ted Baldwin, sôi sục phẫn nộ trước bước thăng tiến nhanh như chớp của kẻ lạ mặt và căm ghét anh vì chính điều đó; ấy vậy nhưng họ đều né tránh anh, bởi anh sẵn sàng lao vào ẩu đả cũng nhanh chẳng kém gì khi cất tiếng cười đùa.

Nhưng dù anh có chiếm được lòng tin của các anh em trong hội, thì vẫn còn một nơi khác - một nơi còn quan trọng hơn với anh gấp bội - nơi mà anh đã đánh mất nó. Cha của Ettie Shafter không muốn dây dưa gì đến anh nữa. Ông cấm anh bén mảng đến nhà. Còn bản thân Ettie, cô yêu anh quá đỗi để có thể dứt khoát từ bỏ, nhưng chính lương tri trong sáng của cô đã cảnh báo cô về những gì sẽ ập đến nếu cô kết hôn với một kẻ bị cả thị trấn coi là tội phạm.

Một buổi sáng nọ, sau một đêm trằn trọc không ngủ, cô quyết định đến gặp anh - có lẽ là lần cuối cùng - và dồn hết sức mạnh để kéo anh ra khỏi những ảnh hưởng xấu xa đang nhấn chìm anh. Cô tìm đến nhà anh, như anh đã bao lần nài nỉ cô làm vậy, rồi bước vào căn phòng anh dùng làm phòng khách. Anh đang ngồi ở bàn, quay lưng về phía cô, trước mặt là một lá thư. Một thoáng tinh nghịch chợt bừng lên trong cô - dù sao cô cũng chỉ mới mười chín tuổi. Anh không hề nghe thấy tiếng cô đẩy cửa bước vào. Cô rón rén tiến lại gần, rồi đặt nhẹ đôi bàn tay lên bờ vai đang gù xuống của anh.

Nếu cô định làm anh giật mình, thì cô đã thành công mỹ mãn; nhưng đổi lại, chính cô cũng bị giật mình không kém. Với một cú xoay người nhanh như cọp vồ, anh quay phắt lại phía cô, bàn tay phải mò tới cổ họng cô. Cùng lúc đó, tay kia của anh vò nát tờ giấy trước mặt. Trong một khoảnh khắc, anh đứng sững, mắt trợn trừng. Rồi sự kinh ngạc và niềm vui sướng thay thế cho vẻ hung dữ vừa làm biến dạng gương mặt anh - một vẻ hung dữ khiến cô co rúm người lại trong nỗi kinh hoàng, như thể trước một thứ gì đó chưa từng xâm phạm vào cuộc sống yên bình của cô.

"Là em!" anh thốt lên, lau mồ hôi trên trán. "Vậy mà em đã đến với anh, trái tim của trái tim anh, vậy mà anh chẳng biết làm gì hơn ngoài việc toan bóp cổ em! Lại đây nào, em yêu," anh dang rộng vòng tay, "để anh đền bù cho em."

Nhưng cô vẫn chưa hoàn hồn sau cái thoáng thấy bất ngờ về nỗi sợ hãi đầy tội lỗi mà cô đã đọc được trên gương mặt người đàn ông. Mọi bản năng đàn bà trong cô đều mách bảo rằng đó không chỉ đơn thuần là nỗi sợ của một kẻ bị làm cho giật mình. Tội lỗi - chính là nó - tội lỗi và sợ hãi!

"Có chuyện gì với anh vậy, Jack?" cô kêu lên. "Sao anh lại sợ em đến thế? Ôi, Jack, nếu lương tâm anh thanh thản, anh đã không nhìn em như vậy!"

"Ừ thì, anh đang mải nghĩ về mấy chuyện khác, thế rồi em bước tới nhẹ như trên đôi chân tiên nữ của em-"

"Không, không, còn hơn thế nữa, Jack." Một mối nghi ngờ chợt lóe lên trong cô. "Cho em xem lá thư anh đang viết đi."

"Ôi, Ettie, anh không thể làm thế được."

Mối nghi ngờ của cô lập tức biến thành sự chắc chắn. "Gửi cho một người đàn bà khác," cô khóc. "Em biết mà! Sao anh lại giấu em? Có phải anh viết cho vợ anh không? Làm sao em biết được anh không phải là người đã có gia đình - anh, một kẻ lạ mặt, không ai biết gì về anh cả?"

"Anh chưa có gia đình, Ettie. Nhìn này, anh thề! Với anh, em là người đàn bà duy nhất trên đời. Dưới cây thánh giá của Chúa, anh thề điều đó!"

Mặt anh trắng bệch đi vì sự nghiêm túc đến cuồng nhiệt, đến mức cô không thể không tin anh.

"Vậy thì," cô khóc, "tại sao anh không cho em xem lá thư?"

"Anh sẽ nói cho em biết, acushla1 à," anh nói. "Anh đã thề là không cho ai xem nó, và cũng như anh sẽ không thất hứa với em, anh cũng sẽ giữ lời với những người đã nhận lời thề của anh. Đây là việc của chi hội, và ngay cả với em nó cũng là bí mật. Còn nếu anh giật mình sợ hãi khi một bàn tay đặt lên vai mình, thì em không thể hiểu được rằng đó cũng có thể là bàn tay của một thám tử sao?"

Cô cảm nhận được anh đang nói thật. Anh kéo cô vào lòng và hôn lên những nỗi sợ hãi cùng nghi ngờ của cô cho đến khi chúng tan biến.

"Ngồi đây bên anh nào. Một cái ngai thật kỳ lạ cho một nữ hoàng như em; nhưng đó là thứ tốt nhất mà gã người yêu tội nghiệp của em có thể tìm được đấy. Rồi sẽ có ngày anh làm được điều tốt hơn cho em, anh đang nghĩ vậy. Giờ thì tâm trí em đã thanh thản trở lại chưa?"

"Làm sao nó có thể thanh thản được, Jack, khi em biết rằng anh là một tội phạm giữa những tên tội phạm, khi em không bao giờ biết được ngày nào mình sẽ nghe tin anh bị đưa ra tòa vì tội giết người? 'McMurdo kẻ Thanh trừng' - đó là cái tên một trong những người khách trọ của nhà em đã gọi anh ngày hôm qua. Nó xuyên qua tim em như một lưỡi dao."

"Chà, lời cay nghiệt thì có làm gãy xương ai đâu2."

"Nhưng chúng là sự thật."

"Ừ thì, em yêu, mọi chuyện không tệ như em nghĩ đâu. Tụi anh chỉ là những kẻ khốn khổ đang cố giành lấy quyền lợi cho mình theo cách riêng thôi."

Ettie vòng tay qua cổ người yêu. "Từ bỏ đi, Jack! Vì em, vì Chúa, hãy từ bỏ đi! Đó là điều em đến đây hôm nay để cầu xin anh. Ôi, Jack, hãy nhìn xem - em cầu xin anh trên đôi gối quỳ của mình! Quỳ ở đây trước anh, em cầu xin anh hãy từ bỏ nó!"

"Ôi, Jack, em cầu xin anh hãy từ bỏ nó!"

Anh nâng cô dậy và vỗ về cô, để đầu cô dựa vào ngực anh.

"Ừ thì, em yêu, em không biết mình đang đòi hỏi điều gì đâu. Làm sao anh có thể từ bỏ khi điều đó đồng nghĩa với việc phá vỡ lời thề và đào ngũ khỏi các đồng chí của mình? Nếu em có thể thấy được tình cảnh của anh, em sẽ không bao giờ đòi hỏi điều đó. Hơn nữa, cho dù anh có muốn đi nữa, thì làm sao anh làm được? Em không nghĩ rằng chi hội sẽ để một kẻ ra đi tự do với tất cả những bí mật của nó chứ?"

"Em đã nghĩ đến điều đó rồi, Jack. Em đã lên kế hoạch hết cả. Cha em có dành dụm được một ít tiền. Ông đã chán ngấy nơi này rồi, nơi mà nỗi sợ hãi những kẻ đó làm đen tối cuộc sống của chúng ta. Ông sẵn sàng ra đi. Chúng ta sẽ cùng nhau trốn đến Philadelphia hoặc New York, nơi chúng ta sẽ được an toàn khỏi bọn chúng."

McMurdo bật cười. "Chi hội có cánh tay dài lắm. Em nghĩ nó không thể vươn từ đây đến tận Philadelphia hay New York sao?"

"Vậy thì, đi về miền Tây, hoặc đến Anh, hoặc Đức, nơi cha em đã từ đó mà đến - bất cứ nơi nào để thoát khỏi cái Thung lũng Khủng khiếp này!"

McMurdo chợt nghĩ đến Lão Brother Morris. "Ừ thì, đây là lần thứ hai anh nghe người ta gọi thung lũng bằng cái tên đó," anh nói. "Bóng tối dường như thực sự đè nặng lên một số người trong các em."

"Nó làm đen tối từng khoảnh khắc trong cuộc đời chúng em. Anh có nghĩ Ted Baldwin đã từng tha thứ cho chúng ta không? Nếu không phải vì hắn sợ anh, thì anh nghĩ cơ hội của chúng ta sẽ ra sao? Giá mà anh nhìn thấy ánh mắt trong đôi mắt đen thèm khát đó của hắn mỗi khi chúng rơi vào em!"

"Trời đất! Anh sẽ dạy cho hắn cách cư xử tử tế hơn nếu bắt gặp hắn làm thế! Nhưng nghe này, cô gái nhỏ. Anh không thể rời khỏi đây. Anh không thể - hãy tin điều đó từ anh, một lần và mãi mãi. Nhưng nếu em để anh tìm con đường riêng của mình, anh sẽ cố gắng thu xếp một cách rút lui danh dự khỏi chốn này."

"Chẳng có danh dự gì trong một chuyện như thế này cả."

"Ừ thì, đó chỉ là cách em nhìn nhận thôi. Nhưng nếu em cho anh sáu tháng, anh sẽ giải quyết sao cho mình có thể ra đi mà không phải hổ thẹn khi nhìn vào mặt người khác."

Cô gái bật cười trong niềm vui sướng. "Sáu tháng!" cô kêu lên. "Đó có phải là một lời hứa không?"

"Ừ, có thể là bảy hoặc tám. Nhưng chậm nhất là trong vòng một năm, chúng ta sẽ bỏ lại thung lũng này sau lưng."

Đó là điều lớn nhất mà Ettie có thể giành được, và thế cũng đã là một điều gì đó. Một tia sáng mờ ảo để chiếu rọi lên sự ảm đạm của tương lai trước mắt. Cô trở về nhà cha mình với tâm trạng nhẹ nhõm hơn bao giờ hết kể từ ngày Jack McMurdo bước vào cuộc đời cô.

Người ta có thể ngỡ rằng, mang thân phận một thành viên, mọi hành động của tổ chức đều sẽ được kể cho anh nghe; thế nhưng chẳng mấy chốc anh phát hiện ra rằng tổ chức này rộng lớn và phức tạp hơn một chi hội đơn thuần rất nhiều. Ngay cả Trùm McGinty cũng không biết hết mọi chuyện; bởi có một chức sắc mang danh Đại biểu Hạt, trú tại Hobson's Patch xa hơn về phía cuối tuyến đường sắt, kẻ nắm trong tay quyền lực trên nhiều chi hội khác nhau mà hắn vận dụng một cách bất thình lình và độc đoán. McMurdo chỉ được thấy hắn đúng một lần - một gã đàn ông nhỏ thó, xảo quyệt, tóc hoa râm, với dáng đi lén lút cùng cái liếc mắt sắc lẹm đầy ác ý. Hắn mang tên Evans Pott, và ngay cả vị Trùm vĩ đại của Vermissa cũng dành cho hắn một chút ghê tởm pha lẫn sợ hãi - thứ tình cảm chẳng khác nào gã khổng lồ Danton có thể dành cho gã Robespierre nhỏ bé mà nguy hiểm3.

Một hôm, Scanlan, người bạn cùng trọ với McMurdo, nhận được một mảnh giấy từ McGinty, kèm theo một tờ khác của Evans Pott. Nội dung báo cho anh biết rằng hắn đang phái tới hai tay giỏi - Lawler và Andrews - những kẻ có chỉ thị hành động ngay tại khu vực lân cận; tuy nhiên, vì lý tưởng chung, tốt nhất là không nên tiết lộ bất kỳ chi tiết nào về mục tiêu của họ. Liệu Bodymaster có thể bảo đảm những thu xếp ổn thỏa về chỗ ở và sự thoải mái cho họ, cho đến khi thời khắc hành động điểm chăng? McGinty nói thêm rằng chẳng ai giữ kín được bí mật ở Union House, và vì thế, ông hết sức biết ơn nếu McMurdo cùng Scanlan để cho những kẻ lạ mặt tá túc vài ngày trong nhà trọ của mình.

Ngay tối hôm ấy, hai gã đàn ông xuất hiện, mỗi kẻ xách theo chiếc túi du lịch của mình. Lawler là một kẻ lớn tuổi, sắc sảo, ít nói và tự chủ, vận chiếc áo khoác chẽn đen cũ kỹ, chiếc mũ phớt mềm cùng bộ râu xồm xoàm điểm bạc - tất cả ban cho ông ta vẻ ngoài của một nhà truyền giáo lưu động. Còn gã đồng hành Andrews thì trẻ hơn chẳng đáng bao nhiêu, khuôn mặt thẳng thắn và vui vẻ, mang phong thái hăm hở của một kẻ đang tận hưởng kỳ nghỉ và nhất quyết vắt kiệt từng phút của nó. Cả hai đều tuyệt đối không đụng đến rượu, và cư xử về mọi mặt như những thành viên gương mẫu của hội - chỉ có một điểm khác biệt giản đơn: họ là những sát thủ đã liên tục chứng tỏ mình là những công cụ đắc lực nhất của hiệp hội giết người này. Lawler đã thực hiện mười bốn nhiệm vụ kiểu ấy, còn Andrews là ba.

Theo McMurdo quan sát, họ khá sẵn lòng trò chuyện về những chiến công trong quá khứ, những việc mà họ thuật lại với niềm tự hào nửa bẽn lẽn của những kẻ đã làm tròn bổn phận một cách tốt đẹp và vô vị lợi cho cộng đồng. Ấy vậy mà họ lại kín như bưng về nhiệm vụ sắp tới.

"Họ chọn chúng tôi vì cả tôi và cậu bé đây đều không uống rượu," Lawler giải thích. "Họ có thể tin rằng chúng tôi sẽ không nói quá những điều cần nói. Các anh đừng hiểu lầm, nhưng chúng tôi tuân theo lệnh của Đại biểu Hạt."

"Chắc chắn rồi, tất cả chúng ta đều ở trong cùng một cuộc chơi mà," Scanlan, bạn của McMurdo, đáp lời khi cả bốn cùng quây quần bên bàn ăn tối.

"Điều đó khá đúng đấy, và chúng tôi sẵn lòng ra sức tán gẫu cho đến khi bò về chuồng4 về vụ giết Charlie Williams hay Simon Bird, hoặc bất kỳ vụ nào khác đã qua. Nhưng chừng nào việc chưa xong, chúng tôi không hé môi nửa lời."

"Có đến nửa tá thằng quanh vùng này mà tôi muốn gửi gắm vài lời," McMurdo buông ra, kèm theo một tiếng chửi thề. "Tôi đoán đây không phải là Jack Knox ở Ironhill mà các anh đang nhắm tới. Tôi sẵn sàng lặn lội cả một quãng đường chỉ để chứng kiến thằng đó nhận lấy những gì nó xứng đáng."

"Không, chưa phải hắn."

"Hay Herman Strauss?"

"Không, cũng chưa phải ông ta."

"Chà, nếu các anh không nói cho chúng tôi biết, chúng tôi cũng chẳng thể ép các anh. Nhưng tôi thực sự rất vui nếu được biết đấy."

Lawler mỉm cười và lắc đầu. Gã không mắc mưu.

Bất chấp sự kín miệng của các vị khách, Scanlan và McMurdo nhất quyết muốn có mặt tại cái mà họ gọi là "cuộc vui". Thế nên, vào một giờ sớm của buổi sáng hôm đó, khi McMurdo nghe thấy họ rón rén bước xuống cầu thang, anh lay Scanlan dậy, và hai người vội vàng mặc quần áo. Lúc họ ra đến nơi, những kẻ kia đã lẻn ra ngoài, bỏ ngỏ cánh cửa sau lưng. Trời vẫn chưa sáng, và dưới ánh đèn leo lét, họ có thể trông thấy hai bóng người đang ở xa xa cuối phố. Họ thận trọng bám theo, những bước chân không để lại âm thanh trên lớp tuyết dày.

Nhà trọ nằm sát rìa thị trấn, và chỉ ít phút sau họ đã đến một ngã tư nằm bên ngoài ranh giới. Ở đó, ba gã đàn ông khác đang chờ sẵn. Lawler và Andrews trao đổi ngắn gọn và gấp gáp với họ, rồi tất cả cùng nhau di chuyển. Rõ ràng đây là một vụ đáng gờm, cần đến nhiều tay. Từ chỗ này, những con đường rẽ nhánh dẫn tới các khu mỏ khác nhau. Bọn lạ mặt chọn con đường dẫn đến Đồi Quạ - một doanh nghiệp khổng lồ nằm trong tay những kẻ quyền thế, và nhờ vào viên quản lý dũng cảm, năng nổ đến từ New England, Josiah H. Dunn, nơi đây đã xoay xở duy trì được chút trật tự và kỷ luật nào đó trong suốt triều đại khủng bố kéo dài.

Trời lúc này đang hửng sáng, và một dòng thợ mỏ lầm lũi tiến bước, từng người một và từng tốp, dọc theo con đường đen kịt.

McMurdo và Scanlan bước thong dong cùng đám đông, mắt không rời những kẻ họ đang theo dấu. Một lớp sương mù dày đặc bao trùm trên đầu họ, và từ giữa lòng sương, tiếng còi hơi rít lên đột ngột. Đó là hồi tín hiệu mười phút trước khi những chiếc lồng thang hạ xuống và công việc trong ngày bắt đầu.

Lúc họ tiến đến khoảng không mở quanh hầm mỏ, cả trăm thợ đã đứng chờ, giậm chân và hà hơi vào những ngón tay; bởi trời lạnh đến buốt da. Những kẻ lạ mặt tụ thành một nhóm nhỏ dưới bóng của trạm động cơ. Scanlan và McMurdo trèo lên một đống xỉ, nơi toàn bộ khung cảnh phơi bày trước mắt họ. Họ trông thấy kỹ sư mỏ - một người đàn ông Scotland râu ria rậm rạp, cao lớn tên là Menzies - bước ra từ trạm động cơ và thổi còi hiệu lệnh hạ lồng thang.

Ngay đúng khoảnh khắc ấy, một chàng trai trẻ cao ráo, dáng người lỏng lẻo, gương mặt nghiêm nghị và cạo râu sạch sẽ, hăng hái bước về phía miệng hầm. Khi anh tiến đến, mắt anh bắt gặp cái nhóm người im lìm và bất động dưới trạm động cơ. Những gã này đã kéo mũ sụp xuống và bẻ cổ áo cao lên che giấu khuôn mặt. Trong một khoảnh khắc, linh cảm của Thần Chết đặt bàn tay lạnh ngắt lên trái tim viên quản lý. Rồi ngay giây kế tiếp, anh gạt phăng nó đi và chỉ thấy trước mắt mình bổn phận đối với lũ lạ mặt tọc mạch kia.

"Các người là ai?" anh chất vấn khi sấn tới. "Các người lảng vảng ở đó làm gì?"

Không một lời đáp; nhưng gã trẻ tuổi Andrews bước lên và nổ súng thẳng vào bụng anh ta. Một trăm thợ mỏ đang đứng chờ bỗng chốc đờ người ra, bất động và bất lực như thể họ bị tê liệt. Viên quản lý ôm chặt hai tay vào vết thương, gập người xuống. Rồi anh lảo đảo lùi lại; nhưng một kẻ giết người khác lại nổ súng, và anh ngã gục sang một bên, quằn quại và cào cấu trên đống xỉ than. Menzies, gã Scotland, gầm lên một tiếng phẫn nộ khi chứng kiến cảnh tượng ấy, rồi lao thẳng tới với cây cờ lê sắt vung cao nhắm vào bọn giết người; nhưng ông đón nhận hai viên đạn vào mặt và gục chết ngay dưới chân chúng.

Một làn sóng thợ mỏ dồn lên phía trước, cùng một tiếng kêu thương xót và giận dữ hỗn độn; thế nhưng vài gã lạ mặt đã kịp lên đạn khẩu súng sáu nòng và chĩa thẳng vào đám đông. Đám đông tan vỡ và tản ra, một số tháo chạy tán loạn trở về nhà ở Vermissa.

Đến khi những kẻ dũng cảm nhất đã tập hợp lại và quay trở lại khu mỏ, băng sát thủ đã biến mất trong màn sương ban mai. Chẳng một nhân chứng nào có thể thề về danh tính của những kẻ đã ra tay - những kẻ, ngay trước mặt cả trăm khán giả, đã gây ra tội ác kép này.

Scanlan và McMurdo quay về; Scanlan có vẻ hơi lặng lẽ, bởi đây là nhiệm vụ giết người đầu tiên anh tận mắt chứng kiến, và nó hóa ra kém phần vui vẻ hơn những gì anh từng tin tưởng. Tiếng la hét kinh hoàng của người vợ viên quản lý quá cố đuổi theo lưng họ khi họ vội vã trở về thị trấn. McMurdo chìm trong suy tư và im lặng; nhưng anh không hề tỏ ra đồng cảm với sự yếu mềm của người bạn đồng hành.

"Chắc chắn rồi, nó cũng giống như một cuộc chiến thôi," anh lặp lại. "Đó là cuộc chiến giữa chúng ta và bọn họ, và chúng ta đánh trả ở nơi chúng ta có thể giáng đòn tốt nhất."

Đêm ấy, phòng chi hội tại Union House vang lên tiếng chén tạc chén thù của một bữa tiệc lớn. Người ta ăn mừng không chỉ bởi vụ giết hại viên quản lý và kỹ sư mỏ Đồi Quạ - một chiến công sẽ sớm đưa tổ chức này sánh ngang với những công ty bị tống tiền và khủng bố khác trong vùng - mà còn bởi một thắng lợi từ phương xa, được thực hiện bởi chính bàn tay của chi hội.

Số là khi Đại biểu Hạt cử năm tay giỏi đến giáng đòn ở Vermissa, ông ta đã yêu cầu đổi lại: ba người của Vermissa phải được bí mật tuyển chọn và phái đi để giết William Hales ở Stake Royal. Hales là một trong những chủ mỏ nổi tiếng nhất và được yêu mến nhất ở khu vực Gilmerton, một con người mà ai cũng tin rằng không hề có kẻ thù trên đời - bởi xét về mọi mặt, ông ta quả là một ông chủ mẫu mực. Thế nhưng, ông ta lại quá chú trọng vào hiệu suất công việc. Chính vì vậy, ông ta đã sa thải một số nhân viên say xỉn và lười biếng - những kẻ lại chính là thành viên của cái hiệp hội đầy quyền lực kia. Những tấm thông báo mang hình quan tài treo lủng lẳng ngoài cửa nhà không hề làm suy chuyển quyết tâm của ông ta. Và thế là, giữa lòng một đất nước tự do và văn minh, ông ta nhận ra mình đã bị kết án tử hình.

Cuộc hành quyết giờ đây đã được thực thi trót lọt. Ted Baldwin, lúc này đang ngả ngớn trên chiếc ghế danh dự ngay bên cạnh Bodymaster, chính là kẻ chỉ huy nhóm hành quyết. Khuôn mặt đỏ bừng cùng đôi mắt lờ đờ vằn tia máu của hắn phơi bày những đêm mất ngủ và cơn say triền miên. Hắn cùng hai đồng chí của mình đã trải qua đêm hôm trước trên núi. Cả bọn nhếch nhác, nhuốm đầy dấu vết của mưa gió thời tiết. Ấy vậy mà chẳng một người anh hùng nào trở về từ một cuộc đột kích hiểm nghèo lại có thể nhận được sự chào đón cuồng nhiệt hơn từ đồng đội.

Câu chuyện được kể đi kể lại giữa những tràng reo hò thích thú và những tiếng cười khoái trá. Bọn chúng đã mai phục mục tiêu của mình lúc ông ta đánh xe về nhà trong ánh chạng vạng, cố thủ trên đỉnh một con dốc đứng - nơi con ngựa buộc phải kéo xe từng bước một. Ông ta khoác quá nhiều lớp áo lông chống rét đến nỗi không tài nào rút được khẩu súng ngắn của mình. Bọn chúng lôi ông ta ra và bắn hết phát này đến phát khác. Ông ta đã thét lên, van xin lòng thương xót. Những tiếng thét ấy được nhại đi nhại lại như một trò tiêu khiển cho cả chi hội.

"Nghe lại xem lão ta kêu rú thế nào!" - chúng gào lên.

Chẳng ai trong bọn chúng quen biết người đàn ông ấy. Nhưng ẩn sâu trong mỗi vụ giết người là một vở kịch muôn thuở, và bọn chúng đã cho lũ Thanh Trừng của Gilmerton thấy rằng người Vermissa là những kẻ đáng tin cậy.

Duy có một sự cố nhỏ đã xảy ra: khi chúng vẫn đang trút cạn băng đạn vào cái xác câm lặng, một người đàn ông cùng vợ ông ta bất ngờ lái xe ngang qua. Có kẻ đề xuất nên bắn nốt cả hai. Nhưng họ chỉ là những thường dân vô tội, chẳng dính dáng gì đến hầm mỏ. Thế nên chúng nghiêm giọng ra lệnh cho họ phải tiếp tục đánh xe đi và giữ im lặng, kẻo điều tồi tệ hơn sẽ giáng xuống đầu họ. Và thế là cái hình hài lốm đốm máu bị bỏ lại như một lời cảnh báo cho tất thảy những ông chủ cứng đầu cứng cổ. Còn ba gã báo thù cao quý thì vội vã hội ngộ trên núi, nơi thiên nhiên hoang sơ trải dài đến tận rìa những lò nung và đống xỉ than. Tại đó, chúng bình an vô sự, tay chân lành lặn, công việc đã hoàn thành mỹ mãn, và những tràng pháo tay của đồng đội còn văng vẳng bên tai.

Đó quả là một ngày trọng đại đối với các thành viên Scowrer5. Bóng tối như càng buông xuống thung lũng thêm dày đặc hơn. Thế nhưng, cũng như một vị tướng khôn ngoan biết chọn đúng thời khắc chiến thắng để giáng thêm một đòn kép, không cho kẻ thù có thời gian củng cố sau thảm họa, Boss McGinty - với đôi mắt ấp ủ đầy hiểm độc nhìn ra toàn cảnh chiến trường của mình - đã sắp sẵn một cuộc tấn công mới nhằm vào những kẻ chống đối ông ta. Ngay đêm đó, khi đám đông say khướt dần giải tán, ông ta khẽ chạm vào cánh tay McMurdo và dẫn anh sang một bên, vào chính căn phòng phía trong nơi họ từng có cuộc gặp gỡ đầu tiên.

"Nghe này, chàng trai của ta," ông ta cất giọng, "cuối cùng thì ta cũng có một công việc xứng đáng dành cho cậu. Cậu sẽ tự tay thực hiện nó."

"Tôi rất tự hào khi nghe điều đó," McMurdo đáp.

"Cậu có thể mang theo hai người - Manders và Reilly. Chúng nó đã được điểm mặt cho nhiệm vụ này rồi. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ yên ổn ở cái vùng này cho đến khi nào Chester Wilcox bị khử, và cậu sẽ nhận được lời cảm ơn từ mọi chi hội trong vùng mỏ than nếu cậu hạ được hắn."

"Dù sao thì tôi cũng sẽ cố gắng hết sức. Hắn là ai, và tôi phải tìm hắn ở đâu?"

McGinty rút điếu xì gà đã nhai dở, hút dở quen thuộc ra khỏi khóe miệng, rồi bắt đầu phác họa một sơ đồ trên trang giấy xé từ cuốn sổ tay của mình.

"Hắn là quản đốc trưởng của Công ty Iron Dike. Một công dân cứng cỏi, từng là trung sĩ quân kỳ thời chiến tranh6, đầy mình sẹo và tóc đã hoa râm. Chúng ta đã hai phen thử hạ hắn, nhưng chẳng ăn may, và Jim Carnaway thì đã mất mạng vì chuyện đó. Giờ đến lượt cậu. Đây là căn nhà - nằm trơ trọi ngay ngã tư Iron Dike, đúng như cậu thấy trên sơ đồ này - chẳng có căn nhà nào khác trong tầm nghe. Ban ngày thì vô ích thôi. Hắn có vũ trang, bắn nhanh và chính xác, chẳng cần hỏi han gì ai. Nhưng ban đêm - chà, hắn ở đó cùng vợ, ba đứa con và một ả giúp việc. Cậu không thể chọn lựa được đâu. Tất cả hoặc không ai hết. Nếu cậu có thể kê một bao thuốc súng nổ ngay cửa trước với một mồi lửa chậm -"

"Người đàn ông này đã làm gì cơ chứ?"

"Ta đã chẳng bảo cậu là hắn đã bắn Jim Carnaway rồi hay sao?"

"Nhưng tại sao hắn lại bắn anh ta?"

"Quỷ tha ma bắt, điều đó thì liên quan quái gì đến cậu? Carnaway đang lảng vảng quanh nhà hắn ban đêm, và hắn nổ súng. Thế là đủ cho ta và cậu rồi. Cậu phải kết thúc chuyện này cho ra ngô ra khoai."

"Còn hai người đàn bà và lũ trẻ. Họ cũng phải chết ư?"

"Họ phải chết - bằng không thì làm sao chúng ta tóm được hắn?"

"Có vẻ khắc nghiệt quá cho họ, bởi họ đâu có làm gì."

"Cậu đang nói cái thứ nhảm nhí gì thế? Cậu định rút lui đấy à?"

"Bình tĩnh, thưa ngài Ủy viên, bình tĩnh nào! Đã bao giờ tôi nói hay làm điều gì khiến ngài phải ngờ rằng tôi sẽ chùn bước trước mệnh lệnh của Bodymaster chi hội mình chưa? Việc ấy đúng hay sai, đó là chuyện do ngài quyết định."

"Vậy cậu sẽ làm chứ?"

"Tất nhiên là tôi sẽ làm."

"Khi nào?"

"Chà, tốt nhất ngài nên cho tôi một hai đêm để tôi thám thính căn nhà và vạch kế hoạch. Rồi sau đó -"

"Rất tốt," McGinty nói, siết tay anh. "Ta giao việc này cho cậu. Sẽ là một ngày vĩ đại khi cậu mang tin về cho chúng ta. Đòn cuối cùng này sẽ buộc tất cả bọn chúng phải quỳ gối."

McMurdo suy tư rất lâu và sâu sắc về nhiệm vụ bất ngờ được đặt vào tay mình. Căn nhà biệt lập nơi Chester Wilcox sinh sống cách đó chừng năm dặm, nằm trong một thung lũng lân cận. Ngay đêm ấy, anh một mình lên đường chuẩn bị cho phi vụ. Mãi đến tận khi trời hửng sáng, anh mới quay về sau chuyến trinh sát. Ngày hôm sau, anh gặp hai cấp dưới của mình, Manders và Reilly - những gã trai trẻ liều lĩnh, hân hoan như thể sắp sửa bước vào một cuộc săn hươu.

Hai đêm sau, họ tập hợp bên ngoài thị trấn. Cả ba đều mang vũ khí, và một người trong số họ mang theo một cái bao nhồi đầy thuốc súng - loại dùng trong các mỏ đá. Đã hai giờ sáng khi họ tiếp cận căn nhà hẻo lánh. Đó là một đêm đầy gió, với những mảng mây vỡ vụn trôi dạt nhanh qua khuôn mặt vầng trăng khuyết. Họ đã được cảnh báo phải đề phòng chó săn, nên cả bọn tiến về phía trước hết sức thận trọng, những khẩu súng lục đã lên cò nằm gọn trong tay. Nhưng chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng gió rít từng cơn, cũng chẳng có chuyển động nào ngoài những cành cây đung đưa trên đầu họ.

McMurdo áp tai vào cánh cửa ngôi nhà vắng lặng. Tất cả đều tĩnh mịch bên trong. Đoạn anh tựa bao thuốc súng vào cánh cửa, dùng dao rạch một lỗ, rồi gắn kíp nổ vào. Khi ngòi lửa đã bắt cháy đều, anh cùng hai đồng bọn co giò bỏ chạy. Họ đã yên vị ở một khoảng cách an toàn, thoải mái nép mình trong một con mương trú ẩn, trước khi tiếng gầm xé toang của vụ nổ cùng tiếng ầm ầm trầm đục của tòa nhà sụp đổ vọng đến, báo tin công việc đã hoàn tất. Chưa từng có vụ nào gọn ghẽ đến thế trong suốt biên niên sử đẫm máu của hội.

Nhưng than ôi, công sức được tổ chức chu đáo và thực thi táo bạo ấy lại hóa ra công cốc! Được cảnh báo từ số phận của những nạn nhân trước đó, và ý thức rõ mình đã bị điểm mặt cho sự hủy diệt, Chester Wilcox đã kịp dời bản thân cùng gia đình đi chỉ một ngày trước đó. Ông ta chuyển đến một khu dân cư an toàn hơn và ít người biết đến hơn, nơi có một đội cảnh sát túc trực canh gác. Căn nhà bị thuốc súng xé toang chỉ là một ngôi nhà trống, và viên cựu trung sĩ quân kỳ đáng gờm năm xưa vẫn tiếp tục dạy dỗ kỷ luật cho đám thợ mỏ của Iron Dike.

"Cứ để hắn cho tôi," McMurdo tuyên bố. "Hắn là mục tiêu của tôi, và tôi nhất định sẽ tóm được hắn, dù có phải chờ đến cả năm trời."

Toàn chi hội đã thông qua một cuộc bỏ phiếu cảm ơn và tín nhiệm, và sự việc tạm thời lắng xuống một thời gian. Thế rồi vài tuần sau, khi các mặt báo đưa tin Wilcox đã bị bắn hạ từ một cuộc phục kích, chẳng ai phải bàn cãi: McMurdo rốt cuộc đã hoàn tất công việc còn dang dở của mình.

Đó là cách thức hoạt động của Hội những người Tự do, và đó cũng là những hành vi của bọn Thanh trừng - nhờ đó chúng gieo rắc ách thống trị khủng bố lên khắp một vùng đất rộng lớn và trù phú, nơi đã sống trong nỗi ám ảnh triền miên trước sự hiện diện ghê rợn của chúng suốt một thời gian dài. Tại sao lại còn phải vấy bẩn thêm những trang viết này bằng những tội ác tiếp theo đây nữa? Lẽ nào những gì tôi đã kể vẫn chưa đủ để phơi bày chân dung lũ người ấy cùng những phương cách của chúng?

Những hành vi ấy đã được ghi vào sử sách, và ở đó, người ta có thể tra cứu từng chi tiết. Người ta sẽ biết đến vụ bắn chết Cảnh sát Hunt và Evans chỉ vì hai người này dám liều lĩnh bắt giữ hai thành viên của hội - một tội ác kép được sắp đặt ngay tại chi hội Vermissa rồi thi hành một cách máu lạnh trên thân thể hai con người đã bị tước vũ khí và hoàn toàn vô phương kháng cự. Người ta cũng sẽ đọc thấy vụ bà Larbey bị bắn ngay khi đang tận tụy chăm sóc người chồng - kẻ đã bị đánh gần chết theo lệnh của Ông trùm McGinty. Vụ sát hại Jenkins, người anh cả, rồi ngay sau đó là người em trai của ông; vụ cắt xẻo thân thể James Murdoch; vụ cho nổ tung nhà gia đình Staphouse bằng mìn; và vụ thảm sát cả gia đình Stendal - tất cả nối đuôi nhau dồn dập trong cùng một mùa đông khủng khiếp ấy.

Bóng tối phủ trùm lên Thung lũng Khiếp sợ một lớp màn đen đặc quánh. Mùa xuân đã về, những dòng suối lại rì rào chảy và cây cối lại đua nhau trổ hoa. Cả Tạo hóa - bấy lâu bị giam hãm trong một vòng vây sắt - dường như được tiếp thêm hy vọng; nhưng hy vọng lại chẳng mảy may ghé thăm những người đàn ông và đàn bà đang sống dưới ách khủng bố kia. Chưa bao giờ đám mây đen lơ lửng trên đầu họ lại dày đặc và vô vọng đến thế như vào buổi đầu hè năm 1875.



  1. Từ tiếng Ireland (bắt nguồn từ 'a chuisle'), có nghĩa là 'nhịp đập trái tim tôi', thường được dùng như một từ xưng hô âu yếm, thể hiện nguồn gốc Ireland của người nói. 

  2. Thành ngữ (tương đương 'Hard words break no bones' trong tiếng Anh), ý nói những lời đàm tiếu hay lăng mạ chỉ là lời nói suông, không thể gây ra tổn thương thực sự về thể xác. 

  3. Điển tích lịch sử nhắc đến Georges Danton và Maximilien Robespierre, hai nhân vật chủ chốt trong Cách mạng Pháp. Robespierre tuy nhỏ bé nhưng độc tài và tàn nhẫn, cuối cùng đã đẩy Danton (người to lớn, uy dũng) lên máy chém. Phép ẩn dụ cho sự e dè của một kẻ quyền lực trước một kẻ tuy nhỏ bé nhưng thâm độc. 

  4. Dịch sát nghĩa từ thành ngữ tiếng Anh 'till the cows come home' (cho đến khi bò về chuồng), mang nghĩa bóng là làm việc gì đó 'rất lâu' hoặc 'không bao giờ kết thúc'. Ở đây thể hiện cách nói lóng mộc mạc của tầng lớp lao động. 

  5. Scowrers trong tiểu thuyết được tác giả lấy cảm hứng từ Molly Maguires, một hội kín có thật của giới thợ mỏ gốc Ireland tại bang Pennsylvania thế kỷ 19, khét tiếng với các hoạt động bạo lực và tống tiền. 

  6. Nguyên gốc là 'color sergeant' (trung sĩ mang cờ), một hạ sĩ quan có vinh dự và trách nhiệm bảo vệ quân kỳ của đơn vị. 'Chiến tranh' ở đây ngầm chỉ Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865), lý giải cho bản lĩnh dạn dày và kỷ luật thép của nhân vật.