CHƯƠNG III. BI KỊCH Ở BIRLSTONE
Giờ đây, tôi xin phép tạm lùi lại một bước, gạt cái tôi nhỏ bé của mình sang một bên, để thuật lại những sự kiện đã xảy ra trước khi chúng tôi đặt chân đến hiện trường - dưới ánh sáng của những điều mà sau này chúng tôi mới được biết. Chỉ có cách ấy, tôi mới mong bạn đọc thấu hiểu được từng con người trong cuộc, cũng như khung cảnh lạ lùng nơi số phận họ được an bài.
Làng Birlstone là một cụm dân cư nhỏ bé và vô cùng cổ kính, gồm những nếp nhà tranh nửa gỗ nép mình nơi rìa bắc của hạt Sussex. Suốt hàng thế kỷ, nơi đây vẫn giữ nguyên nét hoang sơ không hề đổi thay; thế nhưng trong vài năm gần đây, chính vẻ đẹp nên thơ cùng vị trí đắc địa của nó đã lôi cuốn một số cư dân khá giả tìm đến, những người cất những biệt thự thấp thoáng ẩn mình giữa những cánh rừng bao quanh. Đám rừng ấy, theo cách gọi của dân địa phương, là phần rìa ngoài cùng của khu rừng Weald1 mênh mông - thảm cây cứ thưa dần, thưa dần cho đến lúc chạm vào những ngọn đồi đá vôi phía bắc. Vài ba cửa hàng nhỏ đã mọc lên để đáp ứng nhu cầu của một lượng dân cư ngày một tăng; và cứ thế, xem chừng Birlstone chẳng mấy chốc sẽ trở mình từ một ngôi làng cổ thành một thị trấn hiện đại. Nơi đây là trung tâm của cả một vùng nông thôn trải rộng, bởi Tunbridge Wells - điểm dân cư quan trọng gần nhất - nằm cách những mười hay mười hai dặm về phía đông, vượt qua biên giới hạt Kent.
Cách thị trấn chừng nửa dặm, nép mình trong một công viên cổ nức tiếng với những gốc sồi khổng lồ, là Trang viên Birlstone uy nghiêm. Một phần của tòa kiến trúc cổ này có niên đại từ cuộc Thập tự chinh đầu tiên - khi Hugo de Capus cho dựng một pháo đài ngay giữa trung tâm dinh thự trên mảnh đất mà Vua Đỏ2 đã ban cho ông. Công trình ấy bị hỏa hoạn thiêu rụi vào năm 1543, và một vài viên đá góc còn ám màu khói đen của nó đã được tận dụng lại, khi người ta dựng lên một ngôi nhà nông thôn bằng gạch trên chính tàn tích của lâu đài phong kiến, vào thời đại Jacobean3.
Trang viên, với lớp lớp mái hồi cùng những ô cửa kính nhỏ hình thoi, vẫn còn giữ được phần lớn nét mặt như thuở người thợ xây để lại hồi đầu thế kỷ mười bảy. Trong hai con hào từng một thời bảo vệ công trình tiền nhiệm mang đậm tính quân sự hơn, con hào bên ngoài đã được tháo cạn và nay phục vụ cho chức năng khiêm tốn hơn nhiều - một mảnh vườn trồng rau. Con hào bên trong thì vẫn còn đó, rộng đến bốn mươi foot, dù nay chỉ sâu vài foot, ôm trọn lấy toàn bộ ngôi nhà. Một dòng suối nhỏ đổ vào rồi lại chảy qua, nhờ vậy mà mặt nước - dẫu có đục - không bao giờ mang dáng dấp của một con mương tù đọng. Các ô cửa sổ tầng trệt chỉ cách mặt nước chưa đầy một foot.
Lối duy nhất để vào nhà là qua một chiếc cầu treo - dây xích và tời kéo của nó đã han rỉ, hỏng hóc từ lâu. Ấy vậy mà những người thuê Trang viên gần đây nhất, bằng thứ năng lượng đầy cá tính, đã cho sửa chữa lại, và chiếc cầu treo không chỉ có thể được kéo lên, mà thực sự còn được kéo lên mỗi tối và hạ xuống mỗi sáng. Nhờ khôi phục lại cái tục lệ từ thuở phong kiến xa xưa ấy, Trang viên đã hóa thành một hòn đảo trong màn đêm - một sự thật sẽ còn gây ảnh hưởng hết sức trực tiếp đến bí ẩn sắp sửa thu hút sự chú ý của toàn thể nước Anh.
Ngôi nhà đã bị bỏ không trong vài năm và đang đứng trước nguy cơ mục ruỗng thành một đống đổ nát đẹp mắt thì gia đình Douglas tìm đến tiếp quản. Họ chỉ có hai người - John Douglas và vợ ông. Douglas là một con người đáng chú ý, cả về nhân cách lẫn dáng vẻ bên ngoài. Về tuổi tác, có lẽ ông đã chạm ngưỡng năm mươi, với khuôn mặt góc cạnh, quai hàm bạnh ra, bộ ria mép hoa râm, cùng đôi mắt xám sắc sảo đến lạ thường. Dáng người ông gân guốc, tràn trề sinh lực, dường như chưa hề đánh mất chút sức mạnh hay sự nhanh nhẹn nào của thời trai trẻ. Ông vui vẻ, cởi mở với tất thảy mọi người, nhưng thái độ có phần phóng khoáng, suồng sã, khiến người ta có cảm giác rằng ông từng lăn lộn với cuộc đời ở những tầng lớp xã hội tại một chân trời xa xôi nào đó, thấp kém hơn nhiều so với cái xã hội thượng lưu của hạt Sussex này.
Dẫu sao đi nữa, dù bị những người hàng xóm có học thức hơn nhìn bằng ánh mắt pha chút tò mò lẫn e dè, ông cũng chẳng mấy chốc chiếm trọn được thiện cảm của dân làng. Ông hào phóng quyên góp cho mọi hoạt động của địa phương, tham dự các buổi hòa nhạc dành cho nam giới - smoking concerts4 - cùng những sự kiện khác của họ, và với chất giọng nam cao tuyệt vời, ông luôn sẵn lòng góp vui bằng một bài ca thật hay. Dường như ông có rất nhiều tiền - người ta đồn rằng đó là tiền kiếm được từ những mỏ vàng ở California - và qua lời kể của chính ông cũng như của vợ ông, ai cũng thấy rõ rằng ông đã từng dành một quãng đời mình trên đất Mỹ.
Ấn tượng tốt đẹp mà lòng hào phóng cùng phong thái bình dân của ông tạo ra lại càng thêm vững chắc nhờ cái danh tiếng hoàn toàn thản nhiên trước hiểm nguy. Dù là một tay cưỡi ngựa vụng về, ông vẫn không bỏ sót một cuộc săn nào, và bao phen chịu những cú ngã kinh hoàng chỉ vì quyết tâm đeo bám sát gót những kỵ sĩ cừ khôi nhất. Khi ngôi nhà xứ bốc cháy, ông đã thể hiện lòng gan dạ phi thường lúc liều mình quay trở lại tòa nhà để cứu vớt tài sản, sau khi đội cứu hỏa địa phương đã đầu hàng coi như vô vọng. Cứ thế, chỉ trong vòng năm năm, John Douglas xứ Trang viên đã tự tay dựng nên cho mình một thanh danh lẫy lừng nơi làng Birlstone.
Vợ ông cũng được những ai quen biết đều đem lòng yêu mến; dẫu vậy - theo đúng thói quen của người Anh - số người tìm đến thăm viếng một kẻ lạ mặt đến định cư trong hạt mà không có thư giới thiệu thật hiếm hoi. Điều này dường như cũng chẳng mấy bận tâm đối với bà, bởi bản tính bà vốn dè dặt, khép kín, và xét theo mọi biểu hiện bên ngoài, bà dường như toàn tâm toàn ý dành trọn cho chồng cùng những bổn phận gia đình. Người ta được biết bà là một quý bà người Anh đã gặp ông Douglas tại London, khi ấy ông đang là một người góa vợ. Bà là một phụ nữ xinh đẹp - cao ráo, ngăm đen, mảnh mai - và kém chồng đến gần hai mươi tuổi; một khoảng cách tuổi tác tưởng chừng không hề làm sứt mẻ chút nào sự viên mãn trong cuộc sống lứa đôi của họ.
Ấy thế nhưng, đôi lúc những người hiểu rõ họ nhất vẫn nhận thấy rằng niềm tin giữa hai người dường như chẳng mấy khi trọn vẹn, bởi người vợ hoặc là rất kín tiếng về quá khứ của chồng, hoặc - và điều này có vẻ hợp lý hơn - bà không hề được biết tường tận về nó. Một vài cặp mắt tinh ý cũng nhận ra, rồi bàn tán với nhau, rằng thỉnh thoảng nơi bà Douglas lại lộ ra những dấu hiệu căng thẳng thần kinh, và bà sẽ lộ rõ vẻ bồn chồn tột độ mỗi lần người chồng đi vắng về trễ một cách bất thường. Ở một vùng quê vắng lặng, nơi mọi lời đồn thổi đều được đón nhận nồng nhiệt, cái điểm yếu ấy của nữ chủ nhân Trang viên không sao thoát khỏi những con mắt soi mói; và nó lại càng hằn sâu vào ký ức mọi người, khi những sự kiện về sau đã khoác lên nó một ý nghĩa đặc biệt khôn lường.
Vẫn còn một nhân vật nữa từng hiện diện dưới mái nhà ấy - dẫu đúng là chỉ thỉnh thoảng ghé qua - nhưng chính sự có mặt của ông vào thời điểm xảy ra những sự việc kỳ lạ sắp được thuật lại dưới đây đã khiến tên tuổi ông trở nên nổi bật trước công chúng. Đó là Cecil James Barker, trú tại Hales Lodge, Hampstead.
Tấm thân cao lớn, dong dỏng của Cecil Barker đã trở thành một hình ảnh quen thuộc trên con phố chính của làng Birlstone; bởi ông là vị khách thường xuyên và luôn được chào đón nồng hậu nơi Trang viên. Ông lại càng được chú ý hơn vì là người bạn duy nhất trong cái quá khứ mịt mùng của ông Douglas từng lộ diện giữa khung cảnh nước Anh mới mẻ của ông. Barker vốn là người Anh chính gốc; nhưng qua chính những lời nhận xét của ông, rõ ràng là ông đã quen biết Douglas tại Mỹ từ trước và đã từng sống rất thân thiết với ông ở bên ấy. Ông có vẻ là người rất giàu có và người ta đồn rằng ông vẫn còn độc thân.
Về tuổi tác, ông kém Douglas một chút - nhiều nhất là bốn mươi lăm - một gã đàn ông cao lớn, ngay thẳng, ngực nở, với gương mặt cạo nhẵn nhụi của một tay đấm bốc, cặp lông mày đen dày và rậm, cùng đôi mắt đen đầy uy quyền, đến nỗi chỉ riêng ánh nhìn ấy thôi cũng đủ dọn đường cho ông vượt qua một đám đông thù địch, dù chẳng cần đến sự trợ giúp của đôi bàn tay vô cùng đắc lực kia. Ông chẳng ưa cưỡi ngựa cũng chẳng màng bắn súng; thay vào đó, ông dành những ngày của mình để dạo quanh ngôi làng cổ kính với điếu tẩu ngậm nơi môi, hoặc cùng chủ nhà lái xe chu du - hay khi chủ nhà vắng mặt, thì cùng bà chủ - qua khắp vùng nông thôn xinh đẹp. "Một quý ông dễ tính, rộng rãi," quản gia Ames nhận xét. "Nhưng, lạy Chúa! Tôi thà không phải là kẻ đứng chắn lối ngài Barker còn hơn!" Ông thân tình và gần gũi với Douglas; và ông cũng chẳng kém phần thân tình với vợ Douglas - một tình bạn mà đã không chỉ một lần, dường như đã làm dấy lên nơi người chồng nỗi bực dọc, đến độ ngay cả gia nhân cũng có thể nhận ra sự khó chịu ấy. Đó chính là con người thứ ba, kẻ như thể đã thuộc về gia đình khi thảm kịch ập đến.
Còn về những cư dân khác dưới mái nhà cổ, trong một gia đình lớn như vậy thì chỉ cần điểm qua: Ames, một người quản gia đạo mạo, đáng kính và đầy năng lực, cùng bà Allen, một phụ nữ đẫy đà, vui vẻ, người đã đỡ đần bà chủ trong một số công việc nội trợ. Sáu người hầu còn lại trong nhà không có liên quan gì đến những sự kiện xảy ra trong đêm ngày mùng 6 tháng Một.
Vào lúc mười một giờ bốn mươi lăm, hồi chuông báo động đầu tiên vang lên tại đồn cảnh sát nhỏ địa phương, nơi Trung sĩ Wilson thuộc Lực lượng Cảnh sát hạt Sussex đang trực. Cecil Barker, toàn thân run lên vì kích động, đã lao thẳng đến cửa đồn và giật chuông dữ dội. Hơi thở đứt quãng, ông thông báo một thảm kịch khủng khiếp vừa giáng xuống Trang viên: John Douglas đã bị sát hại. Nói xong, ông lập tức quày quả trở lại ngôi nhà; chỉ vài phút sau, viên trung sĩ cảnh sát đã bám theo gót, đặt chân đến hiện trường vụ án lúc quá mười hai giờ đêm đôi chút - sau khi đã kịp thực hiện những bước báo động nhanh chóng lên chính quyền hạt rằng một sự vụ hết sức nghiêm trọng đang diễn ra.
Vừa đến Trang viên, viên trung sĩ đã thấy chiếc cầu treo được hạ xuống, các ô cửa sổ đèn đuốc sáng trưng, và toàn bộ gia quyến chìm trong một cảnh tượng hỗn loạn, hoảng hốt tột cùng. Đám người hầu mặt mày trắng bệch túm tụm với nhau trong sảnh lớn; còn viên quản gia, nỗi sợ hãi khiến ông vò đầu bứt tai đứng chôn chân nơi ngưỡng cửa. Dường như chỉ có mỗi Cecil Barker là vẫn còn giữ được sự điềm tĩnh và làm chủ được cảm xúc của mình. Ông mở cánh cửa gần lối vào nhất, ra hiệu cho viên trung sĩ bước theo. Cũng đúng vào lúc ấy, bác sĩ Wood - một thầy thuốc đa khoa năng nổ và giàu năng lực của ngôi làng - sải bước tới nơi. Ba người đàn ông cùng sánh vai bước qua ngưỡng cửa căn phòng định mệnh; phía sau họ, viên quản gia kinh hoàng lẽo đẽo theo sát, rồi khép cánh cửa lại để che giấu cái cảnh tượng rùng rợn ấy khỏi những cặp mắt của đám hầu gái.
Người chết nằm ngửa, tứ chi dang rộng ngay giữa phòng. Ông chỉ khoác độc một chiếc áo choàng tắm màu hồng, hờ hững che lên bộ đồ ngủ bên trong. Đôi chân trần của ông xỏ trong đôi dép đi trong nhà lót thảm. Vị bác sĩ quỳ xuống bên cạnh thi thể rồi hướng cây đèn xách tay vốn đang đặt trên bàn xuống phía nạn nhân. Chỉ cần liếc qua một cái thôi, người thầy thuốc cũng đủ nhận ra rằng sự có mặt của mình nơi đây chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Những vết thương trên cơ thể người đàn ông ấy kinh hoàng đến mức vượt quá sức tưởng tượng. Nằm vắt ngang ngực ông là một loại vũ khí hết sức quái dị - một khẩu súng gập có nòng đã bị cưa cụt mất một foot tính từ phía trước cò. Rõ ràng nó đã được khai hỏa ở cự ly gần sát, và toàn bộ sức công phá đã dội thẳng vào mặt nạn nhân, khiến chiếc đầu gần như nát vụn. Cò súng được buộc dây chằng lại với nhau, khiến cú xả đạn đồng thời mang sức sát thương càng thêm tàn khốc.
Viên cảnh sát thôn quê hoàn toàn choáng váng, lúng túng trước trách nhiệm khổng lồ bỗng dưng từ đâu đổ ập xuống vai mình. “Chúng ta sẽ không chạm vào bất kỳ thứ gì cho đến khi cấp trên của tôi đến,” ông cất giọng, trầm hẳn xuống, đôi mắt kinh hoảng dán chặt vào cái đầu rùng rợn trước mặt.
“Từ nãy đến giờ chưa có gì bị đụng vào cả,” Cecil Barker nói. “Tôi đoan chắc với anh điều đó. Tất cả những gì anh thấy đều y nguyên như lúc tôi phát hiện ra.”
“Chuyện đó xảy ra khi nào?” Viên trung sĩ rút cuốn sổ tay ra.
“Đúng mười một giờ rưỡi. Tôi còn chưa kịp cởi đồ, đang ngồi bên lò sưởi trong phòng ngủ của mình thì nghe thấy tiếng nổ. Nó không vang to lắm - nghe như bị bóp nghẹt lại. Tôi lao thẳng xuống - tôi tin là mình đã có mặt trong phòng chưa đầy ba mươi giây sau đó.”
“Cửa có mở không?”
“Có, nó đang mở. Douglas tội nghiệp nằm đó, đúng như anh đang thấy. Ngọn nến phòng ngủ của ông ấy vẫn đang cháy trên bàn. Vài phút sau, chính tôi là người đã thắp chiếc đèn lên.”
“Ông có thấy ai không?”
“Không. Tôi nghe tiếng chân bà Douglas bước vội xuống cầu thang phía sau lưng, và tôi liền lao ra để ngăn không cho bà ấy nhìn thấy cái cảnh khủng khiếp này. Bà Allen, quản gia, đến ngay sau đó và dìu bà ấy đi. Rồi Ames chạy tới, và chúng tôi lại cùng nhau quay vào phòng một lần nữa.”
“Nhưng chắc chắn tôi có nghe nói rằng chiếc cầu treo được kéo lên suốt đêm cơ mà,” viên trung sĩ nói.
“Đúng vậy, nó đã được kéo lên cho đến khi chính tôi hạ nó xuống.”
“Thế thì làm sao một kẻ sát nhân có thể tẩu thoát được? Vô lý! Hẳn là ông Douglas đã tự sát.”
“Đó cũng là suy nghĩ đầu tiên của chúng tôi. Nhưng hãy nhìn đây này!” Barker vén tấm rèm sang một bên, để lộ ra cánh cửa sổ kính hình thoi dài đang mở toang hết cỡ. “Và nhìn cái này nữa này!” Ông hạ thấp chiếc đèn xuống, hắt ánh sáng lên một vệt máu nhòe nhoẹt hằn rõ hình dấu giày trên bậu cửa sổ gỗ. “Có kẻ đã đứng ở đây khi bước ra ngoài.”
“Ý ông là ai đó đã lội qua con hào?”
“Chính xác!”
“Nếu ông có mặt trong phòng chỉ trong vòng nửa phút sau khi tội ác xảy ra, thì vào đúng khoảnh khắc đó, hắn ta hẳn phải còn đang lóp ngóp dưới nước.”
“Tôi không chút nghi ngờ gì về điều đó. Lạy Chúa, giá mà lúc ấy tôi lao ngay ra phía cửa sổ! Nhưng tấm rèm đã che khuất nó mất rồi, như anh có thể thấy đấy, nên tôi chẳng hề nghĩ tới. Rồi tôi lại nghe tiếng chân bà Douglas vọng xuống, nên không thể để bà ấy bước vào phòng được. Như thế thì thật khủng khiếp quá.”
“Đã đủ khủng khiếp lắm rồi!” vị bác sĩ lên tiếng, ánh mắt lướt qua cái đầu vỡ toác cùng những dấu vết rùng rợn vương vãi xung quanh. “Tôi chưa từng thấy vết thương nào như thế này kể từ sau vụ tai nạn đường sắt ở Birlstone.”
“Thế nhưng, này ông,” viên trung sĩ cảnh sát lên tiếng, cái đầu chậm chạp, mộc mạc của người nhà quê vẫn đang miệt mài xoay quanh cánh cửa sổ đang mở. “Ông nói rất thuyết phục rằng một kẻ đã tẩu thoát bằng đường lội qua con hào, nhưng điều tôi muốn hỏi ông là: nếu cây cầu đã được kéo lên, thì ngay từ đầu, làm sao hắn có thể lọt vào được nhà cơ chứ?”
“À, đó mới chính là câu hỏi,” Barker đáp.
“Cầu được kéo lên lúc mấy giờ?” viên trung sĩ hỏi.
“Khoảng gần sáu giờ, thưa ngài,” Ames, viên quản gia, đáp.
“Tôi có nghe nói,” viên trung sĩ tiếp lời, “rằng cầu thường được kéo lên vào lúc mặt trời lặn. Vào thời điểm này trong năm thì lẽ ra phải là khoảng bốn rưỡi, chứ không phải sáu giờ.”
“Bà Douglas có khách đến dùng trà,” Ames giải thích. “Tôi không thể kéo cầu lên cho đến khi khách ra về. Sau đó, chính tôi đã tự tay quay tời để kéo nó lên.”
“Vậy thì sự việc diễn ra như thế này,” viên trung sĩ nói. “Nếu có kẻ nào đó từ bên ngoài đột nhập - nếu quả thực là có - thì hắn ắt hẳn đã phải bước qua cầu trước sáu giờ, và ẩn nấp đâu đó từ lúc ấy cho đến tận sau mười một giờ, khi ông Douglas bước vào phòng này.”
“Chính là như thế!” Barker xác nhận. “Đêm nào ông Douglas cũng đi một vòng quanh nhà lần cuối trước khi lên giường, để kiểm tra xem đèn đóm đã được tắt đúng cách hay chưa. Chính thói quen ấy đã dẫn ông ấy vào căn phòng này. Kẻ thủ ác đã chực sẵn và nổ súng vào ông ấy. Xong xuôi, hắn tẩu thoát qua cửa sổ, để lại khẩu súng phía sau. Đó là cách tôi tái hiện lại toàn bộ sự việc; bởi chẳng còn lời giải thích nào khác có thể dung hòa nổi với từng ấy dữ kiện.”
Viên trung sĩ cúi xuống nhặt một tấm thẻ nằm ngay bên cạnh thi thể trên sàn nhà. Trên mặt thẻ, hai chữ cái viết tắt V.V. được khắc nguệch ngoạc bằng mực, và ngay bên dưới là con số 341.
"Đây là cái gì?" viên cảnh sát cất tiếng hỏi, tay lật qua lật lại tấm thẻ.
Barker tò mò dán mắt vào nó. "Trước giờ tôi chưa từng để ý thấy thứ này," ông nói. "Hẳn là kẻ sát nhân đã bỏ lại."
"V.V.-341. Tôi không tài nào đoán ra nổi ý nghĩa của nó."
Viên trung sĩ cứ xoay đi xoay lại tấm thẻ trên những ngón tay thô kệch của mình. "V.V. nghĩa là gì? Có lẽ là chữ viết tắt tên ai đó. Bác sĩ Wood này, bác sĩ có gì ở đằng kia thế?"
Đó là một chiếc búa khá nặng, nằm trên tấm thảm ngay trước lò sưởi - một chiếc búa chắc chắn, đúng kiểu của thợ lành nghề. Cecil Barker chỉ tay về phía một hộp đinh đồng đặt trên bệ lò sưởi.
"Hôm qua ông Douglas có treo lại mấy bức tranh," ông giải thích. "Chính mắt tôi trông thấy ông ấy đứng trên chiếc ghế kia, gắn lại bức tranh lớn phía bên trên. Đó hẳn là lý do chiếc búa có mặt ở đây."
"Tốt nhất là ta nên đặt nó lại chỗ cũ trên tấm thảm, đúng vị trí chúng ta đã tìm thấy," viên trung sĩ nói, tay vò đầu bứt tai đầy lúng túng. "Phải cần đến những bộ óc tinh tường nhất của lực lượng may ra mới làm sáng tỏ nổi vụ này đến tận cùng. Tôi dám chắc nó sẽ trở thành một vụ án của London trước khi mọi chuyện khép lại." Ông giơ cao ngọn đèn xách tay và chầm chậm bước một vòng quanh căn phòng. Bỗng ông khựng lại. "Chà!" - viên cảnh sát kêu lên đầy phấn khích, tay kéo mạnh tấm rèm cửa sổ sang một bên. "Mấy tấm rèm này được kéo vào lúc mấy giờ?"
"Khi đèn được thắp lên," viên quản gia đáp. "Lúc đó vào khoảng hơn bốn giờ một chút."
"Vậy thì chắc chắn đã có kẻ lẩn trốn ở đây." Viên trung sĩ chĩa ngọn đèn xuống thấp. Ở góc tường, những dấu giày lấm bùn hiện lên rõ mồn một. "Tôi buộc phải nói rằng điều này ủng hộ cho giả thuyết của ông đấy, ông Barker ạ. Có vẻ như tên này đã lẻn vào nhà sau bốn giờ - khi rèm đã được kéo kín - và trước sáu giờ - khi cầu đã được kéo lên. Hắn chui vào đúng căn phòng này, bởi đây là căn phòng đầu tiên hắn nhìn thấy. Chẳng còn chỗ nào khác để ẩn nấp, thế là hắn chui tọt vào sau tấm rèm này. Mọi thứ xem ra khá rành mạch. Rất có thể ý định ban đầu của hắn chỉ là đột nhập trộm cắp; nhưng ông Douglas tình cờ bắt gặp, và thế là hắn ra tay sát hại rồi tẩu thoát."
"Đó cũng chính là suy nghĩ của tôi," Barker tán đồng. "Nhưng, tôi nói này, chẳng phải chúng ta đang phí phạm thời gian quý báu hay sao? Chẳng lẽ không nên lập tức xuất phát truy lùng khắp vùng, trước khi hắn kịp cao chạy xa bay?"
Viên trung sĩ trầm ngâm một lúc.
"Không có chuyến tàu nào trước sáu giờ sáng cả; vậy nên hắn không thể trốn thoát bằng đường sắt được. Còn nếu hắn đi bộ với đôi chân ướt sũng nước, khả năng cao là sẽ có người chú ý. Dù sao thì, chính bản thân tôi cũng không thể rời khỏi đây cho đến khi có người đến thay thế. Nhưng tôi nghĩ không ai trong số các vị nên rời đi, chí ít cho đến khi chúng ta nhìn rõ hơn tình cảnh hiện tại của tất cả mọi người ở đây."
Vị bác sĩ cầm ngọn đèn lên và cúi xuống xem xét tử thi với một sự chăm chú tột độ. "Thế còn dấu vết này là gì đây?" ông cất tiếng hỏi, giọng trầm ngâm. "Liệu nó có liên can gì đến tội ác này chăng?"
Cánh tay phải của người đã khuất thò ra khỏi chiếc áo choàng tắm, để lộ phần da thịt đến tận khuỷu. Khoảng giữa cẳng tay, trên nền da tái nhợt như mỡ lợn, nổi bật lên một ký hiệu màu nâu hết sức quái dị - một hình tam giác nằm gọn trong một vòng tròn - hằn lên sống động đến lạ thường.
"Đây không phải là hình xăm," vị bác sĩ nói, nheo mắt soi kỹ qua cặp kính. "Cả đời tôi chưa từng thấy thứ gì giống như vật này. Người đàn ông này đã bị đóng dấu, vào một thời điểm nào đó, y như người ta đóng dấu lên gia súc vậy. Ẩn ý đằng sau việc này là gì đây?"
"Tôi không dám vỗ ngực rằng mình hiểu được ý nghĩa của nó," Cecil Barker lên tiếng; "nhưng tôi đã nhìn thấy dấu này trên người Douglas không biết bao nhiêu lần suốt mười năm qua."
"Tôi cũng thế," người quản gia góp lời. "Đã bao lần lúc ông chủ xắn tay áo, tôi đều để ý đến đúng cái sẹo ấy. Tôi vẫn thường tự hỏi rốt cuộc đó là thứ gì."
"Vậy thì, dù sao đi nữa, nó cũng chẳng dính dáng gì đến vụ án," viên trung sĩ nói. "Nhưng vẫn đúng là một chuyện hết sức kỳ quái. Mọi thứ trong vụ này đều kỳ quái. Khoan, giờ lại có chuyện gì nữa?"
Người quản gia vừa thốt lên một tiếng kêu thất thanh và đang chỉ tay về phía bàn tay đang xòe ra của người chết.
"Chúng đã lấy mất chiếc nhẫn cưới của ông ấy!" lão ta thở hổn hển.
"Cái gì cơ!"
"Vâng, đúng như thế. Ông chủ lúc nào cũng đeo một chiếc nhẫn cưới bằng vàng trơn ở ngón út bàn tay trái. Bên trên nó là chiếc nhẫn dát cục vàng thô kia, còn chiếc nhẫn hình con rắn cuộn mình thì nằm ở ngón áp út. Cục vàng vẫn còn đây, và con rắn cũng còn đây, nhưng chiếc nhẫn cưới thì đã biến mất rồi."
"Ông ấy nói đúng," Barker xác nhận.
"Liệu ông có thực sự muốn nói với tôi," viên trung sĩ chậm rãi hỏi, "rằng chiếc nhẫn cưới lại nằm bên dưới chiếc nhẫn kia ư?"
"Luôn luôn là như thế!"
"Vậy thì kẻ sát nhân, hoặc bất kỳ kẻ nào đã ra tay, trước hết phải tháo chiếc nhẫn mà ông gọi là nhẫn cục vàng này ra, rồi lấy chiếc nhẫn cưới đi, và sau đó lại đeo chiếc nhẫn cục vàng trở vào đúng vị trí cũ."
"Chính xác là y như vậy!"
Viên cảnh sát thôn quê đáng kính khẽ lắc đầu. "Xem ra chúng ta giao vụ này về cho London càng sớm chừng nào thì càng hay chừng ấy," ông ta nói. "White Mason là một tay khôn ngoan lão luyện. Chưa từng có vụ án địa phương nào làm khó nổi White Mason. Chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ có mặt ở đây để tiếp sức cho chúng ta. Nhưng tôi đoán chừng, trước khi chúng ta khép lại được vụ này, chúng ta vẫn sẽ phải cầu viện đến London. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng chẳng thấy ngại ngùng gì mà không nói thẳng ra rằng: vụ này quá sức đối với hạng người như tôi rồi."
-
Weald là một vùng đất cổ nằm giữa North Downs và South Downs thuộc miền đông nam nước Anh, từng là một khu rừng hoang dã rộng lớn. Tên gọi 'Weald' bắt nguồn từ tiếng Anh cổ mang nghĩa là 'rừng' hoặc 'đất rừng'. ↩
-
Vua Đỏ (William Rufus hay William II), vị vua thứ hai của nước Anh thuộc vương triều Norman, trị vì từ năm 1087 đến 1100. Biệt danh 'Đỏ' xuất phát từ mái tóc và nước da hồng hào của ông. ↩
-
Thời đại Jacobean (1603-1625) là thời kỳ trị vì của vua James I của Anh (đồng thời là James VI của Scotland). Giai đoạn này đánh dấu những đặc trưng riêng biệt về kiến trúc, nghệ thuật trang trí và văn học, tiếp nối sau thời đại của Nữ hoàng Elizabeth. ↩
-
Smoking concerts là những buổi biểu diễn âm nhạc không chính thức phổ biến vào thời kỳ Victoria ở Anh. Đây là nơi những người đàn ông tụ tập để nghe nhạc, hút thuốc và trò chuyện, thường là những không gian giao lưu xã hội vắng bóng phụ nữ. ↩
Chapter III The Tragedy of Birlstone
Now for a moment I will ask leave to remove my own insignificant personality and to describe events which occurred before we arrived upon the scene by the light of knowledge which came to us afterwards. Only in this way can I make the reader appreciate the people concerned and the strange setting in which their fate was cast.
The village of Birlstone is a small and very ancient cluster of half-timbered cottages on the northern border of the county of Sussex. For centuries it had remained unchanged; but within the last few years its picturesque appearance and situation have attracted a number of well-to-do residents, whose villas peep out from the woods around. These woods are locally supposed to be the extreme fringe of the great Weald forest, which thins away until it reaches the northern chalk downs. A number of small shops have come into being to meet the wants of the increased population; so there seems some prospect that Birlstone may soon grow from an ancient village into a modern town. It is the centre for a considerable area of country, since Tunbridge Wells, the nearest place of importance, is ten or twelve miles to the eastward, over the borders of Kent.
About half a mile from the town, standing in an old park famous for its huge beech trees, is the ancient Manor House of Birlstone. Part of this venerable building dates back to the time of the first crusade, when Hugo de Capus built a fortalice in the centre of the estate, which had been granted to him by the Red King. This was destroyed by fire in 1543, and some of its smoke-blackened corner stones were used when, in Jacobean times, a brick country house rose upon the ruins of the feudal castle.
The Manor House, with its many gables and its small diamond-paned windows, was still much as the builder had left it in the early seventeenth century. Of the double moats which had guarded its more warlike predecessor, the outer had been allowed to dry up, and served the humble function of a kitchen garden. The inner one was still there, and lay forty feet in breadth, though now only a few feet in depth, round the whole house. A small stream fed it and continued beyond it, so that the sheet of water, though turbid, was never ditchlike or unhealthy. The ground floor windows were within a foot of the surface of the water.
The only approach to the house was over a drawbridge, the chains and windlass of which had long been rusted and broken. The latest tenants of the Manor House had, however, with characteristic energy, set this right, and the drawbridge was not only capable of being raised, but actually was raised every evening and lowered every morning. By thus renewing the custom of the old feudal days the Manor House was converted into an island during the night-a fact which had a very direct bearing upon the mystery which was soon to engage the attention of all England.
The house had been untenanted for some years and was threatening to moulder into a picturesque decay when the Douglases took possession of it. This family consisted of only two individuals-John Douglas and his wife. Douglas was a remarkable man, both in character and in person. In age he may have been about fifty, with a strong-jawed, rugged face, a grizzling moustache, peculiarly keen gray eyes, and a wiry, vigorous figure which had lost nothing of the strength and activity of youth. He was cheery and genial to all, but somewhat offhand in his manners, giving the impression that he had seen life in social strata on some far lower horizon than the county society of Sussex.
Yet, though looked at with some curiosity and reserve by his more cultivated neighbours, he soon acquired a great popularity among the villagers, subscribing handsomely to all local objects, and attending their smoking concerts and other functions, where, having a remarkably rich tenor voice, he was always ready to oblige with an excellent song. He appeared to have plenty of money, which was said to have been gained in the California gold fields, and it was clear from his own talk and that of his wife that he had spent a part of his life in America.
The good impression which had been produced by his generosity and by his democratic manners was increased by a reputation gained for utter indifference to danger. Though a wretched rider, he turned out at every meet, and took the most amazing falls in his determination to hold his own with the best. When the vicarage caught fire he distinguished himself also by the fearlessness with which he reentered the building to save property, after the local fire brigade had given it up as impossible. Thus it came about that John Douglas of the Manor House had within five years won himself quite a reputation in Birlstone.
His wife, too, was popular with those who had made her acquaintance; though, after the English fashion, the callers upon a stranger who settled in the county without introductions were few and far between. This mattered the less to her, as she was retiring by disposition, and very much absorbed, to all appearance, in her husband and her domestic duties. It was known that she was an English lady who had met Mr. Douglas in London, he being at that time a widower. She was a beautiful woman, tall, dark, and slender, some twenty years younger than her husband; a disparity which seemed in no wise to mar the contentment of their family life.
It was remarked sometimes, however, by those who knew them best, that the confidence between the two did not appear to be complete, since the wife was either very reticent about her husband’s past life, or else, as seemed more likely, was imperfectly informed about it. It had also been noted and commented upon by a few observant people that there were signs sometimes of some nerve-strain upon the part of Mrs. Douglas, and that she would display acute uneasiness if her absent husband should ever be particularly late in his return. On a quiet countryside, where all gossip is welcome, this weakness of the lady of the Manor House did not pass without remark, and it bulked larger upon people’s memory when the events arose which gave it a very special significance.
There was yet another individual whose residence under that roof was, it is true, only an intermittent one, but whose presence at the time of the strange happenings which will now be narrated brought his name prominently before the public. This was Cecil James Barker, of Hales Lodge, Hampstead.
Cecil Barker’s tall, loose-jointed figure was a familiar one in the main street of Birlstone village; for he was a frequent and welcome visitor at the Manor House. He was the more noticed as being the only friend of the past unknown life of Mr. Douglas who was ever seen in his new English surroundings. Barker was himself an undoubted Englishman; but by his remarks it was clear that he had first known Douglas in America and had there lived on intimate terms with him. He appeared to be a man of considerable wealth, and was reputed to be a bachelor.
In age he was rather younger than Douglas-forty-five at the most-a tall, straight, broad-chested fellow with a clean-shaved, prize-fighter face, thick, strong, black eyebrows, and a pair of masterful black eyes which might, even without the aid of his very capable hands, clear a way for him through a hostile crowd. He neither rode nor shot, but spent his days in wandering round the old village with his pipe in his mouth, or in driving with his host, or in his absence with his hostess, over the beautiful countryside. “An easy-going, free-handed gentleman,” said Ames, the butler. “But, my word! I had rather not be the man that crossed him!” He was cordial and intimate with Douglas, and he was no less friendly with his wife-a friendship which more than once seemed to cause some irritation to the husband, so that even the servants were able to perceive his annoyance. Such was the third person who was one of the family when the catastrophe occurred.
As to the other denizens of the old building, it will suffice out of a large household to mention the prim, respectable, and capable Ames, and Mrs. Allen, a buxom and cheerful person, who relieved the lady of some of her household cares. The other six servants in the house bear no relation to the events of the night of January 6th.
It was at eleven forty-five that the first alarm reached the small local police station, in charge of Sergeant Wilson of the Sussex Constabulary. Cecil Barker, much excited, had rushed up to the door and pealed furiously upon the bell. A terrible tragedy had occurred at the Manor House, and John Douglas had been murdered. That was the breathless burden of his message. He had hurried back to the house, followed within a few minutes by the police sergeant, who arrived at the scene of the crime a little after twelve o’clock, after taking prompt steps to warn the county authorities that something serious was afoot.
On reaching the Manor House, the sergeant had found the drawbridge down, the windows lighted up, and the whole household in a state of wild confusion and alarm. The white-faced servants were huddling together in the hall, with the frightened butler wringing his hands in the doorway. Only Cecil Barker seemed to be master of himself and his emotions; he had opened the door which was nearest to the entrance and he had beckoned to the sergeant to follow him. At that moment there arrived Dr. Wood, a brisk and capable general practitioner from the village. The three men entered the fatal room together, while the horror-stricken butler followed at their heels, closing the door behind him to shut out the terrible scene from the maid servants.
The dead man lay on his back, sprawling with outstretched limbs in the centre of the room. He was clad only in a pink dressing gown, which covered his night clothes. There were carpet slippers on his bare feet. The doctor knelt beside him and held down the hand lamp which had stood on the table. One glance at the victim was enough to show the healer that his presence could be dispensed with. The man had been horribly injured. Lying across his chest was a curious weapon, a shotgun with the barrel sawed off a foot in front of the triggers. It was clear that this had been fired at close range and that he had received the whole charge in the face, blowing his head almost to pieces. The triggers had been wired together, so as to make the simultaneous discharge more destructive.
The country policeman was unnerved and troubled by the tremendous responsibility which had come so suddenly upon him. “We will touch nothing until my superiors arrive,” he said in a hushed voice, staring in horror at the dreadful head.
“Nothing has been touched up to now,” said Cecil Barker. “I’ll answer for that. You see it all exactly as I found it.”
“When was that?” The sergeant had drawn out his notebook.
“It was just half-past eleven. I had not begun to undress, and I was sitting by the fire in my bedroom when I heard the report. It was not very loud-it seemed to be muffled. I rushed down-I don’t suppose it was thirty seconds before I was in the room.”
“Was the door open?”
“Yes, it was open. Poor Douglas was lying as you see him. His bedroom candle was burning on the table. It was I who lit the lamp some minutes afterward.”
“Did you see no one?”
“No. I heard Mrs. Douglas coming down the stair behind me, and I rushed out to prevent her from seeing this dreadful sight. Mrs. Allen, the housekeeper, came and took her away. Ames had arrived, and we ran back into the room once more.”
“But surely I have heard that the drawbridge is kept up all night.”
“Yes, it was up until I lowered it.”
“Then how could any murderer have got away? It is out of the question! Mr. Douglas must have shot himself.”
“That was our first idea. But see!” Barker drew aside the curtain, and showed that the long, diamond-paned window was open to its full extent. “And look at this!” He held the lamp down and illuminated a smudge of blood like the mark of a boot-sole upon the wooden sill. “Someone has stood there in getting out.”
“You mean that someone waded across the moat?”
“Exactly!”
“Then if you were in the room within half a minute of the crime, he must have been in the water at that very moment.”
“I have not a doubt of it. I wish to heaven that I had rushed to the window! But the curtain screened it, as you can see, and so it never occurred to me. Then I heard the step of Mrs. Douglas, and I could not let her enter the room. It would have been too horrible.”
“Horrible enough!” said the doctor, looking at the shattered head and the terrible marks which surrounded it. “I’ve never seen such injuries since the Birlstone railway smash.”
“But, I say,” remarked the police sergeant, whose slow, bucolic common sense was still pondering the open window. “It’s all very well your saying that a man escaped by wading this moat, but what I ask you is, how did he ever get into the house at all if the bridge was up?”
“Ah, that’s the question,” said Barker.
“At what o’clock was it raised?”
“It was nearly six o’clock,” said Ames, the butler.
“I’ve heard,” said the sergeant, “that it was usually raised at sunset. That would be nearer half-past four than six at this time of year.”
“Mrs. Douglas had visitors to tea,” said Ames. “I couldn’t raise it until they went. Then I wound it up myself.”
“Then it comes to this,” said the sergeant: “If anyone came from outside-if they did-they must have got in across the bridge before six and been in hiding ever since, until Mr. Douglas came into the room after eleven.”
“That is so! Mr. Douglas went round the house every night the last thing before he turned in to see that the lights were right. That brought him in here. The man was waiting and shot him. Then he got away through the window and left his gun behind him. That’s how I read it; for nothing else will fit the facts.”
The sergeant picked up a card which lay beside the dead man on the floor. The initials V.V. and under them the number 341 were rudely scrawled in ink upon it.
“What’s this?” he asked, holding it up.
Barker looked at it with curiosity. “I never noticed it before,” he said. “The murderer must have left it behind him.”
“V.V.-341. I can make no sense of that.”
The sergeant kept turning it over in his big fingers. “What’s V.V.? Somebody’s initials, maybe. What have you got there, Dr. Wood?”
It was a good-sized hammer which had been lying on the rug in front of the fireplace-a substantial, workmanlike hammer. Cecil Barker pointed to a box of brass-headed nails upon the mantelpiece.
“Mr. Douglas was altering the pictures yesterday,” he said. “I saw him myself, standing upon that chair and fixing the big picture above it. That accounts for the hammer.”
“We’d best put it back on the rug where we found it,” said the sergeant, scratching his puzzled head in his perplexity. “It will want the best brains in the force to get to the bottom of this thing. It will be a London job before it is finished.” He raised the hand lamp and walked slowly round the room. “Hullo!” he cried, excitedly, drawing the window curtain to one side. “What o’clock were those curtains drawn?”
“When the lamps were lit,” said the butler. “It would be shortly after four.”
“Someone had been hiding here, sure enough.” He held down the light, and the marks of muddy boots were very visible in the corner. “I’m bound to say this bears out your theory, Mr. Barker. It looks as if the man got into the house after four when the curtains were drawn, and before six when the bridge was raised. He slipped into this room, because it was the first that he saw. There was no other place where he could hide, so he popped in behind this curtain. That all seems clear enough. It is likely that his main idea was to burgle the house; but Mr. Douglas chanced to come upon him, so he murdered him and escaped.”
“That’s how I read it,” said Barker. “But, I say, aren’t we wasting precious time? Couldn’t we start out and scout the country before the fellow gets away?”
The sergeant considered for a moment.
“There are no trains before six in the morning; so he can’t get away by rail. If he goes by road with his legs all dripping, it’s odds that someone will notice him. Anyhow, I can’t leave here myself until I am relieved. But I think none of you should go until we see more clearly how we all stand.”
The doctor had taken the lamp and was narrowly scrutinizing the body. “What’s this mark?” he asked. “Could this have any connection with the crime?”
The dead man’s right arm was thrust out from his dressing gown, and exposed as high as the elbow. About halfway up the forearm was a curious brown design, a triangle inside a circle, standing out in vivid relief upon the lard-coloured skin.
“It’s not tattooed,” said the doctor, peering through his glasses. “I never saw anything like it. The man has been branded at some time as they brand cattle. What is the meaning of this?”
“I don’t profess to know the meaning of it,” said Cecil Barker; “but I have seen the mark on Douglas many times this last ten years.”
“And so have I,” said the butler. “Many a time when the master has rolled up his sleeves I have noticed that very mark. I’ve often wondered what it could be.”
“Then it has nothing to do with the crime, anyhow,” said the sergeant. “But it’s a rum thing all the same. Everything about this case is rum. Well, what is it now?”
The butler had given an exclamation of astonishment and was pointing at the dead man’s outstretched hand.
“They’ve taken his wedding ring!” he gasped.
“What!”
“Yes, indeed. Master always wore his plain gold wedding ring on the little finger of his left hand. That ring with the rough nugget on it was above it, and the twisted snake ring on the third finger. There’s the nugget and there’s the snake, but the wedding ring is gone.”
“He’s right,” said Barker.
“Do you tell me,” said the sergeant, “that the wedding ring was below the other?”
“Always!”
“Then the murderer, or whoever it was, first took off this ring you call the nugget ring, then the wedding ring, and afterwards put the nugget ring back again.”
“That is so!”
The worthy country policeman shook his head. “Seems to me the sooner we get London on to this case the better,” said he. “White Mason is a smart man. No local job has ever been too much for White Mason. It won’t be long now before he is here to help us. But I expect we’ll have to look to London before we are through. Anyhow, I’m not ashamed to say that it is a deal too thick for the likes of me.”