CHƯƠNG IV. BÓNG TỐI

Lúc ba giờ sáng, nhận được lời triệu tập khẩn từ Trung sĩ Wilson ở Birlstone, thám tử trưởng xứ Sussex liền rời trụ sở, ngồi trên chiếc xe ngựa hai bánh nhẹ băng, phía sau là con tuấn mã phi hết nước kiệu, bọt mép sùi trắng. Qua chuyến tàu năm giờ bốn mươi sáng, ông đã gửi thông báo của mình về Scotland Yard, và đến mười hai giờ trưa ông có mặt tại ga Birlstone để đón chúng tôi. White Mason vốn là người ít lời, gương mặt cạo nhẵn hồng hào toát lên vẻ dễ mến trong bộ đồ vải tuýt1 rộng rãi, thân hình hơi đẫy đà, đôi chân vòng kiềng vững chãi đi đôi ghệt da2 - trông ông chẳng khác nào một tá điền thứ thiệt, một người gác rừng đã về hưu, hay bất cứ thân phận nào trên cõi đời này, ngoại trừ hình mẫu của một sĩ quan hình sự tỉnh lẻ đầy triển vọng.

“Một vụ án thực sự kinh hoàng, ngài MacDonald!” ông ta cứ nhắc đi nhắc lại. “Bọn nhà báo sẽ bu lại như ruồi ngay khi chúng đánh hơi được chuyện này. Tôi mong chúng ta kịp hoàn tất công việc trước khi chúng chúi mũi vào và làm nhiễu loạn hết mọi dấu vết. Tôi không tài nào nhớ nổi có vụ nào giống như thế này. Có một số chi tiết có lẽ sẽ quen thuộc với ngài, ngài Holmes, nếu tôi không nhầm. Và cả bác sĩ Watson nữa; bởi trước khi mọi chuyện kết thúc, các bác sĩ ắt sẽ có tiếng nói của mình. Phòng của các vị ở Westville Arms. Chẳng còn chỗ nào khác; nhưng tôi nghe nói chỗ ấy sạch sẽ và ổn. Người hầu sẽ mang hành lý của các vị đến. Xin mời đi lối này, thưa các vị.”

Vị thám tử xứ Sussex quả là một con người hối hả và vui tính. Trong vòng mười phút, tất cả chúng tôi đã yên vị chỗ ở của mình. Mười phút sau, chúng tôi đã ngồi trong phòng khách của quán trọ và được nghe bản tóm lược nhanh về những sự kiện đã được phác họa ở chương trước. MacDonald thỉnh thoảng ghi chép đôi dòng; trong khi Holmes ngồi trầm ngâm, gương mặt ánh lên vẻ thán phục pha lẫn ngạc nhiên và tôn kính - chính là cái cách một nhà thực vật học thường chiêm ngưỡng một đóa hoa hiếm có và quý giá.

“Đặc biệt!” ông thốt lên khi câu chuyện dần hé lộ, “hết sức đặc biệt! Tôi khó lòng nhớ lại bất kỳ vụ án nào mà các tình tiết lại kỳ lạ đến thế.”

“Tôi đã nghĩ ngài sẽ nói như vậy, ngài Holmes,” White Mason đáp trong niềm hân hoan tột độ. “Chúng tôi ở Sussex cũng rất bắt kịp thời đại đấy. Giờ tôi đã kể cho ngài tất cả mọi chuyện, cho đến lúc tôi tiếp quản từ Trung sĩ Wilson vào khoảng ba đến bốn giờ sáng nay. Lạy Chúa! Tôi đã bắt con ngựa già chạy thục mạng! Nhưng hóa ra tôi chẳng cần phải vội đến thế; bởi chẳng có việc gì khẩn cấp mà tôi có thể làm được. Trung sĩ Wilson đã nắm trọn mọi sự kiện. Tôi đã kiểm tra và xem xét chúng và có thể bổ sung thêm một vài chi tiết của riêng mình.”

“Đó là những gì?” Holmes háo hức hỏi.

“À, trước tiên tôi đã cho kiểm tra cái búa. Bác sĩ Wood có mặt ở đó để giúp tôi. Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu bạo lực nào trên nó. Tôi từng hy vọng rằng nếu ông Douglas tự vệ bằng búa, có thể ông ấy đã để lại dấu vết của mình trên người kẻ sát nhân trước khi đánh rơi nó trên tấm thảm. Nhưng không hề có vết bẩn nào.”

“Điều đó, tất nhiên, chẳng chứng minh được gì,” Thanh tra MacDonald nhận định. “Đã có không ít vụ giết người bằng búa mà trên búa chẳng để lại dấu tích nào.”

“Đúng vậy. Không có nghĩa là nó không được sử dụng. Nhưng lẽ ra có thể có vết bẩn, và điều đó hẳn đã giúp ích cho chúng ta. Tiếc là không có. Sau đó tôi kiểm tra khẩu súng. Đó là loại đạn ghém, và như Trung sĩ Wilson đã chỉ ra, các cò súng được nối với nhau bằng dây thép - thế nên nếu anh kéo cò phía sau, cả hai nòng đều khai hỏa. Kẻ nào bày ra trò này quả đã quyết tâm không bỏ lỡ cơ hội trúng đích. Khẩu súng bị cưa cụt, chỉ còn không quá hai feet - người ta có thể dễ dàng giấu nó dưới áo khoác. Tên đầy đủ của nhà sản xuất không còn; nhưng trên rãnh giữa hai nòng súng vẫn còn dòng chữ in P-E-N, phần còn lại của cái tên đã bị cưa đứt.”

“Một chữ P lớn với đường uốn lượn phía trên, chữ E và N nhỏ hơn?” Holmes hỏi.

“Chính xác.”

“Công ty Vũ khí Nhỏ Pennsylvania - hãng súng danh tiếng của Mỹ,” Holmes nói.

White Mason chăm chú nhìn bạn tôi, chẳng khác nào vị bác sĩ nhỏ miền quê nhìn lên chuyên gia đầu ngành ở Phố Harley3, người chỉ bằng một lời đã có thể hóa giải những rắc rối khiến ông ta bối rối bấy lâu.

“Điều đó rất hữu ích, ngài Holmes. Hẳn là ngài nói đúng. Tuyệt vời! Tuyệt vời! Có phải ngài lưu giữ tên của tất cả các nhà sản xuất súng trên thế giới trong trí nhớ của mình không?”

Holmes phẩy tay gạt chủ đề ấy sang một bên.

“Rõ ràng đó là một khẩu súng săn của Mỹ,” White Mason tiếp tục. “Tôi dường như có đọc được rằng súng săn cưa nòng là một loại vũ khí được sử dụng ở một số vùng của nước Mỹ. Gác lại cái tên trên nòng súng, ý tưởng ấy đã lóe lên trong đầu tôi. Vậy thì có bằng chứng cho thấy kẻ đã đột nhập vào nhà và giết chủ nhà là một người Mỹ.”

MacDonald lắc đầu. “Này anh bạn, anh đang đi quá nhanh đấy,” anh nói. “Tôi vẫn chưa nghe thấy bằng chứng nào xác nhận có bất kỳ kẻ lạ mặt nào từng bước chân vào ngôi nhà đó.”

“Cửa sổ mở toang, vết máu trên bệ cửa, tấm danh thiếp quái gở, dấu ủng ở góc phòng, khẩu súng!”

“Chẳng có gì trong những thứ đó mà lại không thể dàn dựng được. Ông Douglas là người Mỹ, hoặc đã sống lâu năm ở Mỹ. Ông Barker cũng vậy. Anh chẳng cần phải nhập khẩu một người Mỹ từ bên ngoài về để lý giải cho những hành vi mang dấu ấn Mỹ.”

“Ames, người quản gia-”

“Ông ta thì sao? Có đáng tin cậy không?”

“Mười năm hầu hạ ngài Charles Chandos - vững như bàn thạch. Ông ta đã ở với Douglas kể từ khi ông ấy tiếp quản Trang viên cách đây năm năm. Ông ta chưa bao giờ nhìn thấy một khẩu súng loại này trong nhà cả.”

“Khẩu súng được chế tạo nhằm che giấu. Chính vì thế mà các nòng súng mới bị cưa. Nó có thể nằm gọn trong bất kỳ chiếc hộp nào. Làm sao ông ta có thể thề rằng không có khẩu súng như vậy trong nhà?”

“Ừm, dù sao thì, ông ta chưa hề trông thấy một khẩu.”

MacDonald lắc lắc cái đầu người Scotland cứng cổ của mình. “Tôi vẫn chưa bị thuyết phục rằng đã từng có kẻ nào ở trong căn nhà đó,” anh nói. “Tôi yêu cầu anh cân nhắc” - giọng anh càng trở nên đặc sệt chất Aberdeen4 hơn khi anh đắm chìm vào lập luận của mình - “tôi yêu cầu anh cân nhắc xem mọi chuyện sẽ hàm ý điều gì nếu anh cho rằng khẩu súng này đã được mang vào nhà, và rằng tất cả những điều kỳ quặc đó đều do một kẻ từ bên ngoài gây ra. Ồ, anh bạn, điều đó thật không thể tưởng tượng nổi! Nó hoàn toàn đi ngược lại lẽ thường! Tôi xin trao điều này lại cho ông, ông Holmes, hãy đánh giá nó dựa trên những gì chúng ta đã nghe.”

“Nào, hãy trình bày quan điểm của anh đi, anh Mac,” Holmes nói với phong thái đầy tính phán quyết nhất của mình.

“Gã đàn ông đó không phải là một tên trộm, cứ cho là hắn đã từng tồn tại đi. Vụ chiếc nhẫn và tấm danh thiếp chỉ ra một vụ giết người có toan tính từ trước, vì một động cơ cá nhân nào đó. Rất tốt. Đây là một kẻ lẻn vào nhà với ý định giết người có chủ đích. Hắn biết - nếu hắn biết bất kỳ điều gì - rằng hắn sẽ gặp khó khăn trong việc tẩu thoát, bởi ngôi nhà bị bao vây bốn bề bởi nước. Hắn sẽ chọn thứ vũ khí nào? Ông sẽ nói là thứ vũ khí im lặng nhất trần đời. Nhờ đó hắn có thể hy vọng, sau khi gây án xong, sẽ nhanh chóng lẻn ra cửa sổ, lội qua con hào, rồi thong thả tẩu thoát. Điều đó có thể hiểu được. Nhưng liệu có thể hiểu được không, khi hắn lại chọn mang theo mình thứ vũ khí ồn ào nhất mà hắn có thể chọn, biết rõ rằng nó sẽ kéo toàn bộ người trong nhà ập đến hiện trường trong thời gian nhanh nhất, và khả năng cao nhất là hắn sẽ bị nhìn thấy trước khi kịp vượt qua con hào? Điều đó có đáng tin không, ông Holmes?”

“Chà, anh trình bày quan điểm rất thuyết phục đấy,” bạn tôi trầm ngâm đáp. “Nó chắc chắn cần một lời giải thích thỏa đáng. Tôi có thể hỏi, anh White Mason, liệu anh đã kiểm tra phía bên kia của con hào ngay tức thì để xem có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy kẻ đó đã trèo lên khỏi mặt nước không?”

“Không có dấu hiệu nào, ngài Holmes. Nhưng bờ bên kia là một gờ đá, nên cũng khó lòng mong đợi được điều đó.”

“Không hề có dấu vết hay vết tích nào sao?”

“Không có.”

“Ha! Liệu có tiện không, anh White Mason, nếu chúng ta đi xuống ngôi nhà ngay bây giờ? Có thể sẽ có một chi tiết nhỏ nào đó gợi mở thêm manh mối.”

“Tôi đã định đề xuất điều đó, ngài Holmes; nhưng tôi nghĩ tốt hơn hết là nên cho ngài nắm toàn bộ sự kiện trước khi chúng ta đi. Tôi đoán rằng nếu có điều gì đó thu hút ngài-” White Mason nhìn người thám tử nghiệp dư với ánh mắt dò xét.

“Tôi đã từng làm việc với ông Holmes trước đây,” Thanh tra MacDonald nói. “Ông ấy chơi đúng luật.”

“Dù sao thì, đó cũng là quan niệm của riêng tôi về luật chơi,” Holmes nói, kèm theo một nụ cười. “Tôi tham gia một vụ án là để trợ giúp cho các mục tiêu của công lý và cho công việc của cảnh sát. Nếu có lúc tôi tách mình ra khỏi lực lượng chính thức, thì đó là bởi họ đã tự tách mình ra khỏi tôi trước. Tôi chưa bao giờ có ý định ghi điểm bằng cái giá của họ. Đồng thời, anh White Mason, tôi đòi quyền được làm việc theo phương pháp của riêng mình và đưa ra kết quả vào thời điểm tôi chọn - trọn vẹn chứ không phải từng chặng một.”

“Tôi chắc chắn rằng chúng tôi rất vinh dự trước sự hiện diện của ngài và sẽ chỉ cho ngài tất cả những gì chúng tôi biết,” White Mason niềm nở đáp. “Đi thôi, bác sĩ Watson, và khi mọi chuyện ngã ngũ, tất cả chúng ta đều hy vọng sẽ có một chỗ đứng trong cuốn sách của ông.”

Chúng tôi sánh bước dọc theo con phố làng cổ kính, hai bên đường là hàng cây du được cắt tỉa gọn gàng. Ngay phía ngoài làng, hai cột đá cổ sừng sững vươn lên, bề mặt sần sùi ố màu thời gian, lốm đốm những mảng địa y, trên đỉnh mỗi cột là một hình thù đã mòn vẹt đến mức không còn nhận ra - nhưng hẳn đã từng là tượng sư tử chồm lên của dòng họ Capus xứ Birlstone. Một quãng đi bộ ngắn men theo lối xe chạy quanh co, với thảm cỏ và những tán sồi rợp bóng hai bên - cái vẻ thanh bình chỉ thấy ở miền thôn dã nước Anh. Rồi một khúc ngoặt đột ngột, và ngôi nhà hiện ra sừng sững trước mắt chúng tôi: dài và thấp, xây theo lối Jacobean5 bằng thứ gạch màu gan sẫm trầm mặc, phía trước là một khu vườn cổ với những hàng thủy tùng cắt tỉa đối xứng. Khi chúng tôi tiến lại gần, cây cầu kéo bằng gỗ và con hào rộng mênh mông hiện ra, mặt nước phẳng lặng lấp lánh như thủy ngân dưới ánh mặt trời mùa đông lạnh lẽo.

Ba thế kỷ đã lặng lẽ trôi qua trên mái Trang viên cổ kính này - những thế kỷ của sinh thành và hồi hương, của những vũ hội đồng quê và những cuộc tụ họp săn cáo6 rộn rã. Lạ thay, khi tuổi đời đã xế bóng, nó lại phải chứng kiến thứ công việc đen tối này phủ bóng u ám lên những bức tường từng rất mực tôn kính! Vậy mà, những mái nhà nhọn kỳ dị cùng những đường mái đưa ra cổ kính kia, xét cho cùng, lại là một lớp vỏ bọc hoàn hảo cho một âm mưu tàn khốc và ghê rợn. Khi tôi đưa mắt nhìn những ô cửa sổ lõm sâu hun hút cùng dải mặt tiền xám xỉn, rêu phong, lòng tôi chợt nghĩ: chẳng còn khung cảnh nào thích hợp hơn để làm nền cho một tấn bi kịch như thế này.

"Đó là cái cửa sổ," White Mason lên tiếng, chỉ tay. "Cái nằm ngay bên phải cầu kéo ấy. Nó vẫn mở toang hệt như lúc được phát hiện đêm qua."

"Trông khá hẹp để một người đàn ông có thể chui lọt."

"Ồ, dù sao thì cũng chẳng phải một gã béo mập gì. Chúng tôi không cần đến những suy luận của ngài để biết điều đó đâu, ngài Holmes ạ. Nhưng tôi cam đoan cả ngài lẫn tôi đều có thể lách qua dễ dàng."

Holmes bước tới mép hào, nhìn sang bờ bên kia. Rồi ông cúi xuống kiểm tra gờ đá và dải cỏ ven bờ.

"Tôi đã xem xét kỹ lưỡng rồi, ngài Holmes," White Mason nói. "Chẳng có gì ở đó cả - không một dấu hiệu nào cho thấy có người đã trèo lên bờ. Nhưng mà, tại sao hắn lại phải để lại dấu hiệu cơ chứ?"

"Chính xác. Tại sao hắn phải làm thế? Nước ở đây có luôn đục thế này không?"

"Thường thì màu này. Dòng suối mang theo đất sét."

"Sâu bao nhiêu?"

"Khoảng hai feet ở hai bên, ba feet ở giữa."

"Vậy là chúng ta có thể gạt bỏ mọi ý nghĩ về việc kẻ đó chết đuối khi băng qua."

"Không, một đứa trẻ cũng chẳng thể chết đuối trong đó."

Chúng tôi bước qua cầu kéo, và được đón tiếp bởi một người đàn ông gầy guộc, khô khẳng, nom thật kỳ dị - đó chính là Ames, người quản gia. Lão già tội nghiệp mặt cắt không còn giọt máu và toàn thân run lẩy bẩy vì cú sốc. Viên trung sĩ làng, một người cao lớn, dáng vẻ nghiêm trang và u sầu, vẫn đang túc trực gác trong căn phòng định mệnh. Vị bác sĩ đã rời đi.

"Có gì mới không, anh Wilson?" White Mason hỏi.

"Không, thưa ngài."

"Vậy thì anh có thể về nhà. Anh đã làm tròn bổn phận rồi. Chúng tôi sẽ gọi nếu cần. Người quản gia nên đợi ở bên ngoài thì hơn. Bảo ông ta báo với ông Cecil Barker, bà Douglas và bà quản gia rằng chúng tôi có thể muốn nói chuyện với họ sau. Còn bây giờ, thưa các vị, có lẽ các vị sẽ cho phép tôi trình bày những quan điểm mà tôi đã hình thành, rồi sau đó các vị sẽ tự mình rút ra kết luận riêng."

Tôi có ấn tượng khá mạnh với vị chuyên gia tỉnh lẻ này. Anh ta sở hữu một sự nắm bắt thực tế vững vàng cùng một bộ óc lạnh lùng, sáng suốt và đầy thực tiễn - những phẩm chất hứa hẹn sẽ đưa anh ta tiến xa trong sự nghiệp. Holmes chăm chú lắng nghe, không hề biểu lộ chút thiếu kiên nhẫn nào - cái thứ phản ứng mà những đại diện chính thức thường xuyên khơi dậy ở ông.

"Tự sát, hay là giết người - đó là câu hỏi đầu tiên của chúng ta, thưa các vị, có phải không ạ? Nếu là tự sát, thì chúng ta buộc phải tin rằng người đàn ông này bắt đầu bằng cách tháo chiếc nhẫn cưới của mình ra và đem giấu đi; rằng sau đó ông ta mặc áo choàng tắm đi xuống đây, giẫm bùn vào một góc sau tấm rèm để tạo ra ấn tượng rằng có ai đó đã phục sẵn, rồi mở tung cửa sổ, bôi máu lên-"

"Chúng ta chắc chắn có thể gạt bỏ giả thuyết đó," MacDonald ngắt lời.

"Tôi cũng nghĩ vậy. Tự sát là điều bất khả thi. Vậy thì một vụ giết người đã xảy ra. Điều chúng ta cần xác định là: thủ phạm đến từ bên ngoài, hay từ bên trong căn nhà này."

"Nào, hãy nghe lập luận của anh xem."

"Cả hai hướng đều có những khó khăn đáng kể, nhưng nhất định phải là một trong hai. Trước hết, ta hãy giả định rằng một người, hoặc một vài người nào đó trong nhà này đã thực hiện tội ác. Họ đã dụ người đàn ông này xuống đây vào thời điểm mọi thứ im ắng và chưa ai ngủ say. Rồi họ ra tay bằng thứ vũ khí kỳ lạ nhất và ồn ào nhất trên đời - như thể cố tình báo cho mọi người biết chuyện gì vừa xảy ra - một thứ vũ khí chưa từng ai thấy trong căn nhà này trước đó. Nghe không phải là một khởi đầu hợp lý cho lắm, đúng không?"

"Quả là không."

"Nào, thế nhé. Mọi người đều đồng ý rằng sau khi tiếng báo động vang lên, chỉ mất nhiều nhất là một phút trước khi toàn bộ những người trong nhà - không chỉ riêng ông Cecil Barker, dù ông ta tuyên bố mình là người đầu tiên, mà cả Ames và tất cả bọn họ - đều đã có mặt tại hiện trường. Liệu ngài có thể nói với tôi rằng, trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, kẻ thủ ác đã kịp tạo ra dấu chân trong góc phòng, mở tung cửa sổ, bôi máu lên bệ cửa, lột chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay người chết, và tất tần tật những thứ còn lại hay không? Thật là bất khả thi!"

"Anh trình bày rất rành mạch," Holmes nhận xét. "Tôi có khuynh hướng đồng ý với anh."

"Được rồi, vậy thì chúng ta bị đẩy lùi về giả thuyết rằng tội ác do một kẻ từ bên ngoài thực hiện. Chúng ta vẫn còn phải đối mặt với vài khó khăn lớn; nhưng ít ra chúng không còn là những điều bất khả thi nữa. Kẻ đó đã đột nhập vào nhà trong khoảng từ bốn rưỡi đến sáu giờ chiều - tức là giữa lúc chạng vạng tối và thời điểm cầu kéo được kéo lên. Khi ấy có vài vị khách ghé thăm, cửa vẫn mở; vậy nên chẳng có gì ngăn cản hắn. Hắn có thể là một tên trộm tầm thường, hoặc cũng có thể nuôi mối thù cá nhân nào đó với ông Douglas. Vì ông Douglas đã sống phần lớn cuộc đời mình bên Mỹ, và khẩu súng săn này xem chừng cũng là vũ khí của Mỹ, nên giả thuyết về mối thù cá nhân có vẻ xác đáng hơn. Hắn đã lẻn vào căn phòng này - bởi đây là căn phòng đầu tiên hắn gặp - và nấp sau tấm rèm. Hắn ở đó cho đến quá mười một giờ đêm. Vào lúc đó, ông Douglas bước vào phòng. Cuộc đối mặt - nếu có - chỉ kéo dài trong chốc lát; bởi bà Douglas khẳng định rằng chồng bà vừa rời khỏi bà chưa đầy vài phút thì bà đã nghe thấy tiếng súng."

"Cây nến cho thấy điều đó," Holmes nói.

"Chính xác. Cây nến - vốn là một cây nến mới, chưa cháy quá nửa inch. Ông ấy hẳn đã đặt nó xuống bàn trước khi bị tấn công; nếu không, dĩ nhiên nó đã rơi xuống khi ông ấy ngã. Điều này chứng tỏ ông ấy không bị tấn công ngay khoảnh khắc vừa bước chân vào phòng. Khi ông Barker đến, nến vẫn đang cháy còn đèn thì tắt."

"Mọi thứ đều đã quá rõ ràng rồi."

"Được rồi, giờ thì chúng ta có thể dựng lại toàn bộ diễn biến theo hướng đó. Ông Douglas bước vào phòng. Ông ấy đặt cây nến xuống. Một gã đàn ông từ sau tấm rèm lao ra. Hắn mang theo khẩu súng này. Hắn đòi chiếc nhẫn cưới - chỉ có Chúa mới biết lý do, nhưng sự việc hẳn phải diễn ra như thế. Ông Douglas đã trao nó cho hắn. Sau đó, hoặc bằng một cú bắn máu lạnh, hoặc trong lúc giằng co - Douglas có thể đã chộp lấy cái búa mà người ta tìm thấy trên tấm thảm - hắn đã bắn ông Douglas theo cái cách khủng khiếp ấy. Hắn đánh rơi khẩu súng, cùng với tấm thẻ kỳ lạ này - V.V. 341, bất kể nó mang ý nghĩa gì - rồi tẩu thoát qua cửa sổ, băng qua con hào, đúng vào lúc Cecil Barker đang phát hiện ra tội ác. Ngài thấy sao, ngài Holmes?"

"Rất thú vị, nhưng chỉ là hơi thiếu thuyết phục."

"Anh bạn ơi, thế thì hoàn toàn là chuyện vô nghĩa, trừ phi còn lý do nào đó tệ hại hơn nữa!" MacDonald kêu lên. "Ai đó đã giết người đàn ông này, và dù kẻ đó là ai đi nữa, tôi có thể chứng minh rành rành với ông rằng hắn ta lẽ ra phải ra tay theo một cách khác. Hắn định làm cái quái gì khi tự chặn đứng đường lui của chính mình như thế? Hắn định làm gì khi chọn một khẩu súng săn, trong khi sự im lặng mới là cơ hội tẩu thoát duy nhất của hắn? Nào, ông Holmes, đến lượt ông chỉ cho chúng tôi một hướng đi mới đi, vì ông vừa bảo rằng giả thuyết của anh White Mason chưa thuyết phục."

Holmes vẫn ngồi đó, chăm chú quan sát suốt cuộc tranh luận dài, không bỏ lỡ một từ nào, đôi mắt sắc lẹm của ông liếc qua liếc lại, vầng trán nhăn sâu vì suy tư.

“Tôi cần thêm vài dữ kiện trước khi liều mình đưa ra một giả thuyết, anh Mac,” Holmes nói, rồi quỳ xuống bên cạnh thi thể. “Lạy Chúa! Những vết thương này quả thực khủng khiếp. Làm ơn cho mời người quản gia vào đây một lát… Ông Ames, tôi được biết ông đã thường xuyên trông thấy dấu hiệu hết sức kỳ lạ này - một hình tam giác nằm gọn trong một vòng tròn, như bị đóng dấu lên - trên cẳng tay của ông Douglas?”

“Thường xuyên lắm, thưa ngài.”

“Ông chưa từng nghe ai phỏng đoán về ý nghĩa của nó ư?”

“Chưa, thưa ngài.”

“Hẳn là đau đớn tột cùng mới có thể hằn lại một vết như thế. Đây chắc chắn là vết bỏng. Này, ông Ames, tôi còn để ý thấy một miếng băng dán nhỏ ở góc hàm của ông Douglas. Khi ông ấy còn sống, ông có nhìn thấy miếng băng ấy không?”

“Có, thưa ngài, sáng hôm qua lúc cạo râu ông ấy lỡ tay tự cắt phải mình.”

“Trước đây, ông có từng thấy ông ấy tự cắt mình khi cạo râu lần nào chưa?”

“Rất lâu mới bị một lần, thưa ngài.”

“Đầy ẩn ý đây!” Holmes reo lên. “Dĩ nhiên, cũng có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng biết đâu nó lại hé lộ một nỗi bất an, cho thấy ông ấy có lý do để e sợ hiểm nguy. Hôm qua ông có nhận thấy điều gì khác thường trong thái độ của ông ấy không, ông Ames?”

“Tôi có để ý rằng ông chủ tỏ ra hơi bồn chồn và dễ bị kích động hơn, thưa ngài.”

“Ha! Vậy là cuộc tấn công có lẽ không hoàn toàn bất ngờ. Xem ra chúng ta đã tiến thêm được một bước rồi, nhỉ? Hay là anh muốn đích thân đặt câu hỏi, anh Mac?”

“Không, ông Holmes à, việc ấy nên để người tài hơn tôi lo liệu.”

“Thôi được, vậy thì chúng ta chuyển sang tấm thiệp này - V.V. 341. Bìa cứng thô ráp. Trong nhà ông có loại bìa nào như thế này không?”

“Tôi không nghĩ là có.”

Holmes bước tới bàn làm việc, chấm một chút mực từ mỗi lọ lên tờ giấy thấm. “Tấm thiệp này không được viết trong căn phòng này đâu,” ông nhận định; “đây là mực đen, còn nét chữ trên thiệp lại hơi ngả tía. Chữ được viết bằng một cây bút ngòi dày, trong khi mấy cây bút ở đây đều là ngòi mảnh. Không, tôi dám nói nó được viết ở một nơi khác. Ông có đoán ra điều gì từ dòng chữ đó không, ông Ames?”

“Không, thưa ngài, chẳng có gì hết.”

“Còn anh nghĩ sao, anh Mac?”

“Nó gợi cho tôi cảm giác về một hội kín nào đó; cũng giống như cái huy hiệu trên cẳng tay của ông ấy.”

“Tôi cũng nghĩ y như vậy,” White Mason nói.

“Được, vậy thì ta cứ tạm lấy đó làm giả thuyết làm việc, rồi xem những vướng mắc của chúng ta tan biến đến đâu. Một tên tay sai của một hội kín kiểu đó lẻn được vào nhà, mai phục chờ ông Douglas, rồi dùng chính khẩu súng này bắn nát đầu ông ta, và trốn thoát bằng cách lội qua con hào - sau khi để lại bên cạnh xác chết một tấm thiệp. Một tấm thiệp mà, khi báo chí nhắc đến, sẽ ngầm báo cho các thành viên khác trong hội biết rằng cuộc báo thù đã hoàn tất. Tất cả đều ăn khớp với nhau. Nhưng tại sao lại là khẩu súng này, giữa muôn vàn loại vũ khí khác?”

“Chính xác.”

“Và tại sao chiếc nhẫn lại biến mất?”

“Khá đúng.”

“Thế còn tại sao chưa có vụ bắt giữ nào? Giờ đã quá hai tiếng đồng hồ rồi. Tôi cho rằng từ lúc bình minh, mọi nhân viên cảnh sát trong vòng bốn mươi dặm đều đang ráo riết truy lùng một kẻ lạ mặt ướt sũng?”

“Đúng là như vậy, ngài Holmes.”

“Chà, trừ phi hắn có sẵn một cái hang nào đó gần đây, hoặc thủ sẵn quần áo để thay, chứ nếu không họ khó lòng mà lọt mất hắn. Ấy vậy mà, họ đã lọt mất hắn cho tới tận lúc này!” Holmes đã tiến đến bên khung cửa sổ và đang dùng kính lúp để soi xét vết máu trên bệ cửa. “Rõ ràng đây là dấu của một chiếc giày. Rộng một cách đáng chú ý; người ta sẽ bảo là bàn chân bẹt. Lạ thật, bởi lẽ, xét theo những dấu chân mờ nhạt mà ta có thể lần theo bên góc lầy bùn này, người ta lại ngỡ đó là một đế giày có dáng thon thả hơn. Dù sao thì những dấu vết ấy cũng quá mờ rồi. Còn cái gì đây, dưới gầm chiếc bàn phụ này?”

“Tạ tay của ông Douglas,” Ames đáp.

“Tạ tay - mà chỉ có một quả. Quả kia đâu rồi?”

“Tôi không biết, ngài Holmes. Có lẽ vốn dĩ chỉ có một quả. Nhiều tháng nay tôi không để ý đến chúng.”

“Một quả tạ tay -” Holmes trầm ngâm; nhưng dòng suy luận của ông bị cắt đứt bởi một tiếng gõ cửa sắc gọn.

Một người đàn ông cao lớn, nước da sạm màu nắng gió, toát lên vẻ tháo vát của kẻ từng trải, gương mặt cạo râu nhẵn nhụi thò đầu nhìn vào chúng tôi. Tôi chẳng mấy khó khăn để nhận ra đó chính là Cecil Barker - cái tên tôi đã được nghe nhắc đến trước đó. Cặp mắt vương vẻ hách dịch của anh ta lia nhanh từ gương mặt này sang gương mặt khác, ánh lên tia nhìn dò hỏi đầy sắc lạnh.

"Xin thứ lỗi vì đã đường đột cắt ngang buổi hội ý của các vị," anh ta cất tiếng, "nhưng tôi tin các vị nên nghe tin mới nhất."

"Một vụ bắt giữ ư?"

"Chưa được may mắn đến thế. Nhưng họ đã tìm ra chiếc xe đạp của gã rồi. Hắn đã bỏ lại chiếc xe đạp của mình. Mời các vị ra xem. Nó nằm cách cửa chính chưa đầy một trăm thước."

Chúng tôi bước ra và thấy khoảng ba, bốn người giữ ngựa cùng đám người rảnh rỗi đang tụ tập trên lối xe chạy, chăm chú xem xét một chiếc xe đạp vừa được lôi ra từ bụi cây thường xanh - nơi nó bị giấu kín. Đó là một chiếc Rudge-Whitworth7 đã qua tay nhiều chủ, lấm đầy bùn đất, trông như vừa trải qua một hành trình đáng kể. Trên yên xe có một chiếc túi đựng vài món lặt vặt - cờ lê, can dầu - nhưng tuyệt nhiên chẳng có lấy một manh mối nào hé lộ danh tính chủ nhân.

"Hẳn sẽ là một trợ lực to lớn cho phía cảnh sát," vị thanh tra lên tiếng, "nếu những món đồ thế này được đánh số và đăng ký đàng hoàng. Nhưng thôi, có sao ta phải biết ơn vậy. Nếu chưa thể truy ra hắn đã đi đâu, thì ít ra ta cũng có cơ may lần ra hắn đã từ đâu tới. Thế nhưng, có quỷ thần nào mách bảo nổi, điều gì đã khiến gã bỏ chiếc xe lại? Và làm sao hắn có thể trốn thoát khỏi thế giới này mà chẳng cần đến nó? Hình như vụ án này chẳng chịu hé ra lấy một tia sáng nào cho chúng ta soi đường cả, ngài Holmes ạ."

"Vậy ư?" Bạn tôi trầm ngâm đáp. "Tôi thì lại tự hỏi đấy!"



  1. Tweed (tuýt) là loại vải len thô, có kết cấu chặt chẽ, nguồn gốc từ Scotland. Vào thế kỷ 19 và đầu 20, trang phục bằng vải tweed rất phổ biến đối với nam giới Anh khi tham gia các hoạt động ngoài trời ở nông thôn. 

  2. Một loại bao bảo vệ cẳng chân từ mắt cá đến dưới đầu gối, thường làm bằng da, được mang trùm bên ngoài ống quần. Ở vùng nông thôn Anh thời đó, nó được dùng phổ biến để tránh bùn đất, bụi rậm khi đi lại hoặc cưỡi ngựa. 

  3. Harley Street là một con phố nổi tiếng ở London, từ thế kỷ 19 đã tập trung rất nhiều phòng khám tư nhân của các bác sĩ và chuyên gia y tế hàng đầu. Nhắc đến 'Phố Harley' là nhắc đến sự uy tín và đẳng cấp chuyên môn y học cao nhất tại Anh. 

  4. Aberdeen là một thành phố lớn ở đông bắc Scotland. 'Chất Aberdeen' ám chỉ chất giọng (accent) và phương ngữ đặc trưng của vùng này, có âm điệu nặng. Chi tiết này làm nổi bật gốc gác Scotland của Thanh tra MacDonald. 

  5. Phong cách kiến trúc Jacobean phát triển vào đầu thế kỷ 17 dưới thời Vua James I của Anh (1603-1625). Đặc trưng của nó là những ngôi nhà gạch lớn, mái nhọn nhiều đầu hồi, cửa sổ chia song và mang nét chuyển giao từ thời kỳ Phục hưng sang nghệ thuật Baroque. 

  6. Săn cáo (fox hunting) là một môn thể thao truyền thống và cũng là một phần văn hóa giao tế quan trọng của giới quý tộc, điền chủ ở các vùng nông thôn nước Anh thời xưa, thường tổ chức quy mô với sự tham gia của bầy chó săn và kỵ sĩ. 

  7. Một hãng sản xuất xe đạp và xe máy danh tiếng của Anh, thành lập năm 1894. Việc tác giả đề cập đến một thương hiệu xe đạp có thật giúp tăng tính chân thực về bối cảnh đời sống công nghiệp thời kỳ đầu thế kỷ 20.