Đã hiệu đính

LỜI ĐỀ TẶNG CỦA TÁC GIẢ

DÀNH TẶNG TẤT CẢ TRẺ EM
TRẺ VỀ TUỔI ĐỜI VÀ TRẺ TRONG TÂM HỒN
TÔI DÀNH TẶNG CÂU CHUYỆN NÀY

LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN IN THỨ MƯỜI

Có những người trong chúng ta giờ đã bước sang tuổi trung niên, đôi khi ngậm ngùi nhận ra mình chỉ tiếc nuối duy nhất một điều về quá khứ: ngày nay không còn những cuốn sách viết cho trẻ em sánh được với sách của ba mươi năm về trước. Tôi nói là viết cho trẻ em, bởi vì lối viết mới mang nặng tính tâm lý học về trẻ em - cứ như thể chúng là những viên thuốc bé xíu hay những mẫu vật được ấp nở theo một phương pháp khoa học đặc biệt nào đó - hiện nay lại cực kỳ thịnh hành. Ai từng thử đều biết, viết cho trẻ em khó hơn rất nhiều so với viết về chúng. Tôi tin chắc rằng, chỉ những ai mang trong mình góc nhìn và tâm hồn sâu sắc của một đứa trẻ mới có thể làm được điều đó. Đó là trường hợp của tác giả cuốn "The Little Duke" và "The Dove in the Eagle’s Nest", của "A Flatiron for a Farthing" và "The Story of a Short Life". Và trên hết, đó là tác giả của cuốn "Alice in Wonderland". Người lớn cứ tưởng họ có thể thành công bằng cách dùng ngôn ngữ trẻ con và nói giọng trịch thượng với những độc giả vô cùng khó tính này. Không gì có thể sai lầm hơn thế. Trí tưởng tượng của tác giả phải là trí tưởng tượng của một đứa trẻ, nhưng đồng thời phải giữ được sự nhất quán của một người trưởng thành. Lấy ví dụ, Nữ hoàng Trắng trong "Alice" hiện lên đúng như cách một đứa trẻ nhìn thấy bà, nhưng bà vẫn luôn giữ được cốt cách của chính mình qua tất cả những cuộc phiêu lưu đầy trắc trở. Chi tiết xuất thần về chú thỏ trắng cuống cuồng xỏ tay vào đôi găng trắng hoàn toàn là góc nhìn của một đứa trẻ, nhưng việc để chú thỏ trắng đóng vai trò người dẫn đường, mở đầu cho những cuộc phiêu lưu của Alice lại là cái nhìn sâu sắc của người trưởng thành.

Thiên tài vốn dĩ hiếm hoi, và không phải vì quá hoài niệm quá khứ, người ta vẫn có thể không ngần ngại khẳng định rằng: cho đến khi Hugh Lofting xuất hiện, những Miss Yonge, Mrs. Ewing, Mrs. Gatty và Lewis Carroll vẫn chưa tìm được người kế vị. Tôi vẫn nhớ như in niềm vui sướng cách đây sáu tháng khi tôi cầm lên tập "Dolittle" đầu tiên tại hiệu sách Hampshire ở Smith College, Northampton. Chỉ cần nhìn một bức tranh minh họa của ông Lofting là đã đủ thuyết phục tôi. Bức tranh tôi bắt gặp khi lần đầu mở sách ra là cảnh những chú khỉ vươn tay nối thành một dải cầu vắt ngang qua vực thẳm. Sau đó, tôi xem tiếp và phát hiện ra Bumpo đang tự đọc truyện cổ tích. Rồi tôi lại nhìn lần nữa và thấy bức tranh vẽ ngôi nhà của John Dolittle.

Nhưng chỉ hình ảnh thì chưa đủ. Vì hầu hết các nhà văn đều vẽ rất tệ, nên nếu ai đó tình cờ có tài vẽ phác thảo như ông Lofting thể hiện, người ta dễ dàng tin rằng văn phong của ông hẳn cũng ẩn chứa điều gì đó đặc biệt. Và quả thực là có. Chỉ cần đọc đoạn đầu tiên của cuốn sách - mở đầu thật tài tình bằng cụm từ "Ngày xửa ngày xưa" - bạn sẽ nhận ra ngay rằng ông Lofting tin vào câu chuyện của mình nhiều như cách ông muốn bạn tin vào nó. Đó là tố chất quan trọng hàng đầu của một người kể chuyện. Tiếp tục đọc, bạn sẽ phát hiện ra rằng ông có khả năng quan sát tinh tế để nắm bắt những chi tiết đắt giá. Có đứa trẻ tò mò nào có thể cưỡng lại được câu văn đầy hấp dẫn ở trang thứ hai của cuốn sách này:

“Ngoài bầy cá vàng bơi lội tung tăng trong chiếc ao nhỏ góc vườn, ông còn nuôi thỏ trong chạn thức ăn, giấu chuột bạch trong cây đàn piano, cho sóc ở nhờ trong tủ đựng chăn màn và nuôi một chú nhím dưới hầm rượu.”

Và rồi khi đọc thêm chút nữa, bạn sẽ khám phá ra rằng Bác sĩ không chỉ là một cái cớ để tác giả vẽ nên vô vàn những cuộc phiêu lưu kỳ thú, mà bản thân ông còn là một nhân vật độc đáo và sống động. Ông vô cùng tốt bụng và hào hiệp. Bất cứ ai từng viết truyện đều biết rằng xây dựng những nhân vật tốt bụng, rộng lượng sao cho thật thú vị là điều khó hơn nhiều so với việc tạo ra những kẻ xấu tính và nhỏ nhen. Nhưng Dolittle lại vô cùng thú vị. Không chỉ vì ông kỳ lạ, mà còn vì ông thông tuệ và luôn biết mình đang làm gì. Dù ở lứa tuổi nào, độc giả khi làm quen với ông sẽ lập tức cảm thấy rằng nếu mình gặp rắc rối, dù không nhất thiết phải là vấn đề y tế, mình sẽ đến tìm Dolittle và xin ông lời khuyên. Dolittle như thể bước ra từ trang sách để nắm lấy tay người đọc, và tôi có thể hình dung ông sẽ bước đi qua nhiều thế kỷ như một người thổi sáo Pied Piper với hàng ngàn trẻ em theo gót. Nhưng không chỉ có mình ông đáng yêu, sống động và chân thực, người tạo ra ông cũng đã thành công trong việc truyền cho tất cả những nhân vật khác trong sách sức sống mãnh liệt như thế.

Nhân hóa các loài động vật, khiến chúng nói năng và hành xử như con người thực sự là một việc vô cùng khó khăn. Lewis Carroll đã vượt qua trở ngại này một cách xuất sắc, nhưng tôi không chắc có ai sau ông cho đến thời Hugh Lofting thực sự làm được điều này; ngay cả trong một kiệt tác như "The Wind in the Willows" (Gió Qua Rặng Liễu), chúng ta cũng chưa hoàn toàn bị thuyết phục. Những người bạn của John Dolittle có sức thuyết phục bởi vì người tạo ra chúng không bao giờ ép chúng đánh mất bản ngã của mình. Ví dụ như Polynesia, cô ấy luôn là chính mình từ đầu đến cuối. Cô ấy thực sự quan tâm đến Bác sĩ, nhưng theo đúng cách của một loài chim, cô ấy luôn có một nơi nào đó để bay đi khi những cuộc hội ngộ với bạn bè đã kết thúc. Và khi ông Lofting sáng tạo ra những loài động vật kỳ ảo, ông đã thổi vào chúng một luồng sinh khí chân thực, tạo nên sức thuyết phục lạ thường. Bất cứ ai đã đọc cuốn sách này sẽ không thể nào không tin vào sự tồn tại của pushmi-pullyu. Vốn dĩ sinh vật này đã đủ chân thực ngay cả khi không có hình vẽ nào minh họa, nhưng bức tranh ở trang 153 đã đóng đinh sự hiện diện của nó vào tâm trí người đọc mãi mãi.

Thực sự cuốn sách này là một tác phẩm thiên tài, và như mọi tác phẩm thiên tài khác, thật khó để mổ xẻ những yếu tố làm nên nó. Ở đây có chất thơ, có sự tưởng tượng và tính hài hước, có một chút bi thương nhưng trên hết là hàng loạt những nhân vật sống động đến mức ai cũng tin là có thật, dù họ là những đứa trẻ bốn tuổi, những cụ già chín mươi hay những giám đốc ngân hàng thành đạt ở tuổi bốn mươi lăm. Tôi không biết ông Lofting đã làm điều đó như thế nào; tôi không nghĩ rằng chính ông ấy cũng biết. Nhưng dẫu sao thì kiệt tác ấy cũng đã hiện diện ở đây - tác phẩm kinh điển thực sự đầu tiên dành cho trẻ em kể từ thời "Alice".

Hugh Walpole.