CHƯƠNG I
Theo tôi, ta chẳng thể nào khắc họa nên những nhân vật hư cấu nếu chưa từng dành trọn tháng năm để quan sát và chiêm nghiệm con người, cũng như ta đâu thể nói được một ngôn ngữ khi chưa dốc lòng học hỏi. Bởi vẫn chưa đủ từng trải để có thể hư cấu nên điều gì, tôi đành bằng lòng với vai trò của một người kể chuyện. Kính mong quý độc giả hãy đặt niềm tin vào sự chân thực của những trang viết này, nơi mà mọi nhân vật, ngoại trừ nữ chính, đều vẫn đang còn sống. Những nhân chứng sống cho phần lớn các sự kiện mà tôi gom góp được hiện vẫn đang dạo bước khắp Paris; và nếu lời kể của tôi chưa đủ sức nặng, tôi hoàn toàn có thể cậy nhờ họ đứng ra bảo chứng. Hơn thế nữa, nhờ một cơ duyên kỳ lạ, tôi trở thành người duy nhất có thể chắp bút cho câu chuyện này, bởi chỉ mình tôi mới nắm giữ những mảnh ghép cuối cùng, mà nếu thiếu đi, câu chuyện sẽ chẳng thể nào vừa trọn vẹn lại vừa lôi cuốn.
Và đây là cách tôi đã tỏ tường ngọn ngành sự việc. Vào ngày 12 tháng 3 năm 1847, khi đang rảo bước trên phố Lafitte, tôi nhìn thấy một tấm áp phích lớn màu vàng, loan báo về một buổi đấu giá đồ nội thất và cổ vật. Buổi đấu giá tài sản của người chủ nhân quá cố đã được mở ra. Dù danh tính của người quá cố bị giấu kín, nhưng tấm cáo thị ghi rõ phiên đấu giá sẽ diễn ra tại số 9, phố d’Antin1, vào ngày 16, từ giữa trưa cho đến năm giờ chiều. Tấm áp phích cũng thông báo thêm rằng khách có thể đến xem phòng và đồ đạc trong hai ngày 13 và 14.
Vốn mang trong mình niềm say mê đồ cổ, tôi tự nhủ quyết không bỏ lỡ cơ duyên này. Nếu chẳng mua được món nào, thì ít ra tôi cũng được thỏa con mắt. Thế là ngay hôm sau, tôi tìm đến số 9, phố d’Antin.
Tuy trời hãy còn sớm, dòng người đổ về đã khá đông đúc, có cả nam thanh lẫn nữ tú. Những bậc phu nhân đài các ấy, khoác trên mình những tấm lụa cashmere mềm mại và nhung gấm kiêu sa, bước xuống từ những cỗ xe ngựa sang trọng đang chực chờ ngoài cửa, vẫn không giấu nổi ánh nhìn kinh ngạc và tràn đầy niềm ái mộ trước sự xa hoa phơi bày lộng lẫy trước mắt.
Tôi chẳng mất quá nhiều thời gian để nhìn thấu căn nguyên của sự ngỡ ngàng xen lẫn ngưỡng mộ ấy. Bởi lẽ, khi đưa mắt soi xét cẩn thận hơn một chút, tôi dễ dàng nhận ra mình đang đứng giữa tư dinh của một nàng kỹ nữ. Giờ đây, nếu có một chốn riêng tư mà các phu nhân thượng lưu thầm khao khát được dòm ngó (và hiển nhiên, có không ít quý bà danh giá đang hiện diện ở đây), thì đó chính là tổ ấm của những người đàn bà mà xe ngựa của họ vẫn hằng ngày vẩy bùn nhơ lên cỗ xe kiêu hãnh của chính các phu nhân. Những người đàn bà ấy, cũng giống như các bậc phu nhân đài các, chễm chệ ngay sát vách họ trong những lô ghế bọc nhung tại nhà hát Opéra và nhà hát Italiens2, phô trương khắp chốn Paris sự kiêu hãnh phù hoa từ sắc đẹp lộng lẫy, từ ánh kim cương chói lóa và cả từ những vụ bê bối chấn động của đời mình.
Thế nhưng, người phụ nữ ấy giờ đây đã không còn. Vì thế, ngay cả là những quý bà đoan chính nhất cũng có thể thản nhiên bước vào tận chốn khuê phòng của nàng. Cái chết đã thanh tẩy bầu không khí của chốn nhơ nhuốc mà lộng lẫy này. Và nếu cần một lời biện bạch, họ luôn có sẵn cái cớ hoàn hảo: họ chỉ đơn thuần đến dự một buổi đấu giá, vô tình bước vào mà chẳng mảy may hay biết chủ nhân là ai. Họ đã đọc tấm áp phích, họ chỉ muốn ngắm nghía những món đồ được rao bán và nhắm trước vài vật phẩm ưng ý. Còn điều gì trên đời lại tự nhiên hơn thế? Tuy nhiên, dù thế nào đi chăng nữa, giữa cơ man những món đồ tuyệt mỹ này, ánh mắt họ vẫn không ngừng mải miết kiếm tìm một chút dấu vết còn sót lại về cuộc đời của nàng kỹ nữ, một cuộc đời mang đầy những lời đồn thổi kỳ dị mà chắc hẳn họ đã từng nghe qua.
Đáng tiếc thay, bức màn bí ẩn đã mãi mãi khép lại cùng vị nữ thần kiều diễm ấy. Mặc cho bao nỗ lực dò xét, thứ họ khám phá ra chỉ là những vật dụng vô tri đang đợi chờ được định giá sau khi người chủ đã qua đời, chứ tuyệt nhiên chẳng còn vương lại chút bóng dáng nào của những thứ đã từng bị "rao bán" thuở nàng còn tại thế. Dẫu vậy, vẫn còn vô vàn báu vật đáng để vung tiền. Dàn nội thất thật là một kiệt tác; nào là những chiếc tủ và bàn chế tác từ gỗ hồng đào và gỗ buhl3 thượng hạng, những chiếc bình mạ vàng Sèvres4 tuyệt đẹp cùng đồ gốm sứ Trung Hoa quý giá, điểm xuyết những bức tượng nhỏ vùng Saxe5 lạ mắt; lụa satin, nhung gấm mềm mại, ren lưới mịn màng; quả thực chẳng thiếu một món gì trên cõi đời này.
Tôi thong thả dạo bước qua các gian phòng, lặng lẽ theo sau những quý bà hiếu kỳ. Họ vừa bước vào một căn phòng treo rèm Ba Tư, nhưng khi tôi toan bước theo, họ bỗng vội vã quay trở ra. Những nụ cười thoáng qua trên môi họ, dường như đang tự e thẹn với chính sự tò mò của mình. Điều đó càng khơi dậy niềm hiếu kỳ trong tôi. Khung cảnh mở ra trước mắt tôi là một phòng thay đồ với đủ mọi vật dụng trang điểm, nơi phơi bày đến cùng cực sự xa hoa của người thiếu nữ quá cố.
Trên chiếc bàn lớn đặt sát tường, rộng chừng một mét, dài tới hai mét, ánh sáng lấp lánh hắt lên từ những món báu vật của các thương hiệu danh tiếng Aucoc và Odiot6. Đó là một bộ sưu tập thật lộng lẫy. Trong hàng ngàn món đồ nhỏ nhặt mà thiết yếu cho việc trang điểm của một người đàn bà mang thân phận ấy, chẳng có thứ gì không được đúc bằng vàng hay bạc nguyên chất. Một gia tài như thế hẳn chỉ có thể được góp nhặt từng chút một, và chắc chắn rằng, không thể chỉ do một người tình duy nhất khởi đầu và tạo nên trọn vẹn.
Vốn chẳng hề ngỡ ngàng khi bước vào phòng thay đồ của một nàng kỹ nữ, tôi say sưa ngắm nghía từng chi tiết. Chợt, tôi nhận ra rằng, trên những món đồ được chạm trổ tuyệt mỹ kia là những chữ cái viết tắt cùng những chiếc vương miện hoàn toàn khác biệt7. Tôi ngắm nhìn hết món này đến món khác, mà lòng dâng lên một nỗi buồn man mác. Mỗi vật dụng dường như lại gợi lên một góc khuất của cuộc đời chìm nổi. Và rồi, tôi thầm nhủ rằng Chúa hẳn đã rủ lòng thương xót cô gái tội nghiệp này. Người không bắt nàng phải trả một cái giá như bao kẻ khác, mà lại ban cho nàng một đặc ân: được rời khỏi thế gian ngay giữa lúc nhan sắc và sự xa hoa đang ở độ rực rỡ nhất, trước khi tuổi già - cái chết đầu tiên của đời kỹ nữ - kịp ập tới.
Trên đời này, liệu còn điều gì bi đát hơn tuổi xế chiều của những thói xa hoa trụy lạc, nhất là khi chúng bám rễ vào cuộc đời của một người đàn bà? Bà ta chẳng còn vương lại chút phẩm giá nào, cũng chẳng khơi gợi nổi một tia hứng thú nơi người đời. Nỗi ân hận cứ giày vò khôn nguôi, không phải vì những lầm lạc đã qua, mà vì bao toan tính đổ vỡ, vì bao gia tài phung phí vô ích; đó có lẽ là một trong những điều đáng buồn nhất mà con người ta từng chứng kiến. Tôi từng biết một người đàn bà luống tuổi, thuở trước cũng từng mang thân làm nghề "mua vui". Mối dây duy nhất níu giữ bà ta với quá khứ vàng son là một cô con gái mang nhan sắc kiều diễm chẳng kém gì mẹ mình ngày trẻ. Sinh linh tội nghiệp ấy tên là Louise. Mẹ nàng chưa một lần thốt lên câu "Con là con của mẹ", ngoại trừ những lúc ép nàng dùng thân xác phụng dưỡng tuổi già của bà, y như cái cách bà ta từng nuôi sống tuổi trẻ của chính mình. Vì hết mực phục tùng mẹ, nàng vô thức dấn thân vào chốn phong trần, không một chút đam mê hay hân hoan vui thú, cứ như thể đó chỉ là một nghề nghiệp bình thường mà người ta dạy cho nàng vậy.
Cảnh sống trác táng bám theo từ sớm, cộng thêm thân thể mang bệnh tật triền miên, đã sớm dập tắt mọi ý niệm về cái thiện và cái ác trong tâm trí nàng - những nền tảng đạo đức mà có lẽ Đức Chúa Trời đã ban phát, nhưng chẳng một ai từng nghĩ đến việc nuôi dưỡng. Tôi sẽ mãi không quên hình bóng nàng, khi nàng lướt qua những đại lộ lộng lẫy gần như vào cùng một giờ mỗi ngày. Đi sát bên cạnh là người mẹ, giống như một người mẹ hiền từ đúng nghĩa đang ân cần dìu dắt con gái. Ngày ấy, tôi vẫn còn là một gã trai trẻ, sẵn sàng xuôi theo lối sống buông thả của thời đại. Thế nhưng, tôi vẫn nhớ như in nỗi khinh bỉ và sự ghê tởm trào dâng trong lòng khi chứng kiến màn hộ tống trơ trẽn ấy. Gương mặt nàng lại toát lên một vẻ trinh trắng không sao tả xiết, ẩn hiện trong nét ngây thơ và nỗi u sầu thê thiết. Nàng trông như chính hiện thân của Sự Cam Chịu.
Rồi một ngày nọ, nét mặt cô gái chợt bừng sáng. Giữa vũng bùn lầy nhơ nhuốc mà người mẹ vạch ra, dường như Chúa đoái thương vẫn chừa lại cho nàng một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi. Bởi cớ sao Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo ra con người nhỏ bé ấy, lại để nàng ra đi mà chẳng có lấy một nguồn an ủi giữa bao nỗi nhọc nhằn của trần thế? Thế là, ngày kia, nàng nhận ra mình sắp làm mẹ. Chút trinh bạch còn sót lại trong tâm hồn nàng như reo vui nhảy múa. Trái tim con người quả có những chốn nương náu thật diệu kỳ! Louise vội vã chạy đến báo tin vui cho mẹ. Thật đáng hổ thẹn khi phải thốt ra những lời này, nhưng chúng ta không ở đây để kể lể những câu chuyện tội lỗi mua vui; chúng ta đang kể lại những sự kiện có thật - những điều lẽ ra nên bị chôn vùi trong câm lặng, nếu ta không tin rằng đôi khi cần phải phơi bày nỗi tủi nhục của những con người bị kết án mà chẳng được lắng nghe, bị chà đạp mà chẳng hề được phán xét. Đáng hổ thẹn thay, người mẹ ấy đã lạnh lùng đáp lại rằng, tiền bạc của họ nuôi hai miệng ăn còn chẳng đủ, nói chi đến người thứ ba; rằng những đứa trẻ sinh ra trong cảnh này chỉ là thứ vô dụng, và thời gian ở cữ chỉ tổ làm phung phí những ngày tháng hái ra tiền.
Ngày hôm sau, một bà đỡ, mà ta chỉ cần biết mụ là bạn của mẹ nàng, đã tìm đến thăm Louise. Nàng nằm nghỉ trên giường suốt mấy ngày liền. Lúc tỉnh dậy, gương mặt nàng vốn đã xanh xao lại càng thêm nhợt nhạt, sinh lực cũng cạn kiệt hơn trước.
Ba tháng sau, một người đàn ông rủ lòng thương xót, cố gắng chạy chữa cho nàng, mong xoa dịu cả nỗi đau thể xác lẫn tinh thần. Nhưng cú sốc cuối cùng ấy quá đỗi tàn khốc, Louise đã trút hơi thở cuối cùng. Người mẹ thì vẫn còn sống; nhưng bà ta sống ra sao ư? Chắc chỉ có Chúa mới thấu tỏ.
Câu chuyện ấy bất chợt ùa về chiếm lấy tâm trí, trong lúc tôi mải mê ngắm nhìn những món đồ trang điểm bằng bạc. Hẳn là tôi đã chìm vào dòng suy tưởng ấy khá lâu, bởi khi bừng tỉnh, căn phòng đã vắng tanh, chẳng còn ai ngoài tôi và một người nhân viên trông coi. Ông ta đứng nép mình gần bậu cửa, ánh mắt cẩn trọng dõi theo từng cử chỉ của tôi, cốt chỉ để đoan chắc tôi không tiện tay giấu thứ gì vào túi.
Nhận ra mình đang làm người đàn ông nọ bất an, tôi liền chủ động bước tới. "Thưa ông," tôi cất tiếng hỏi, "ông có thể cho tôi biết tên người từng sống ở đây không?"
"Cô Marguerite Gautier."
Cái tên ấy tôi biết. Tôi cũng từng nhìn thấy mặt nàng.
"Sao cơ!" tôi thảng thốt kêu lên với người nhân viên; "Marguerite Gautier đã qua đời rồi sao?"
"Vâng, thưa ngài."
"Cô ấy mất khi nào vậy?"
"Tôi đoán chừng ba tuần trước."
"Vậy cớ sao người ta lại mở cửa cho khách vào xem phòng?"
"Các chủ nợ tin rằng làm thế sẽ đẩy giá đấu lên cao. Mọi người có thể tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những món đồ; ngài thấy đấy, điều đó sẽ kích thích họ vung tiền mua sắm."
"Vậy ra cô ấy mắc nợ ư?"
"Nợ ngập đầu, thưa ngài."
"Nhưng buổi đấu giá này liệu có thu đủ để thanh toán hết không?"
"Còn dư sức là đằng khác."
"Vậy thì ai sẽ nhận số tiền còn lại?"
"Gia đình cô ấy."
"Cô ấy mà cũng có gia đình sao?"
"Có vẻ là vậy."
"Cảm ơn ông."
Người nhân viên, giờ đã yên tâm về ý định của tôi, khẽ đưa tay chạm vành mũ chào, còn tôi cất bước rời đi.
"Thật là một cô gái tội nghiệp!" tôi thầm nhủ khi rảo bước quay về nhà, "nàng hẳn đã phải gánh chịu một cái chết thật lặng lẽ và buồn bã, bởi lẽ, trong cái thế giới của nàng, người ta chỉ có bè bạn khi bản thân còn khỏe mạnh rạng ngời." Và dù chẳng hề chủ đích, lòng tôi chợt dấy lên niềm xót thương vô hạn cho số phận của Marguerite Gautier.
Với nhiều người, thứ tình cảm ấy có vẻ thật phi lý, nhưng tận đáy lòng, tôi luôn dành một sự đồng cảm bao la cho những người phụ nữ mang thân phận như nàng, và tôi chẳng thấy mình cần phải phân trần hay tạ lỗi vì lòng trắc ẩn đó.
Có một bận nọ, trên đường đến Tòa thị chính xin cấp hộ chiếu, tôi bắt gặp ở con phố lân cận cảnh một cô gái khốn khổ đang bị hai viên cảnh sát áp giải. Chẳng rõ cơ sự ra sao, tôi chỉ thấy cô nức nở lệ nhòa, gục xuống ôm hôn đứa bé mới lọt lòng vài tháng tuổi mà cuộc bắt bớ này sắp chia cắt mẹ con. Kể từ cái ngày hôm ấy, tôi không bao giờ còn dám buông lời miệt thị hay dành cái nhìn khinh rẻ cho bất cứ người phụ nữ nào ngay từ cái nhìn đầu tiên.
-
Chaussée d'Antin là một khu phố sang trọng ở Paris thời bấy giờ, nơi tập trung dinh thự của giới thượng lưu mới nổi và cũng là nơi ở của những kỹ nữ danh tiếng nhất. ↩
-
Hai nhà hát danh giá bậc nhất Paris thế kỷ 19. ↩
-
Kỹ thuật khảm trang trí nội thất cực kỳ xa xỉ mang tên Boulle (hay Buhl), sử dụng đồi mồi, đồng thau và gỗ quý, do nghệ nhân hoàng gia Pháp André-Charles Boulle sáng tạo. ↩
-
Đồ gốm sứ Sèvres do nhà máy hoàng gia Pháp sản xuất, nổi tiếng khắp châu Âu về độ tinh xảo và vô cùng đắt đỏ, thời bấy giờ chỉ dành cho giới siêu giàu. ↩
-
Sứ Saxe (hay sứ Meissen) đến từ vùng Saxony (Đức), là loại sứ cứng đầu tiên được sản xuất tại châu Âu, được giới quý tộc săn lùng như những tác phẩm nghệ thuật quý giá. ↩
-
Hai nhà chế tác đồ bạc và kim hoàn danh giá bậc nhất nước Pháp thế kỷ 19, chuyên cung cấp trang sức và vật dụng xa xỉ cho hoàng gia và giới quý tộc. ↩
-
Trong xã hội châu Âu xưa, mỗi tước hiệu quý tộc (như bá tước, hầu tước, công tước...) đều có một biểu tượng vương miện và huy hiệu riêng. ↩
Chapter I
In my opinion, it is impossible to create characters until one has spent a long time in studying men, as it is impossible to speak a language until it has been seriously acquired. Not being old enough to invent, I content myself with narrating, and I beg the reader to assure himself of the truth of a story in which all the characters, with the exception of the heroine, are still alive. Eye-witnesses of the greater part of the facts which I have collected are to be found in Paris, and I might call upon them to confirm me if my testimony is not enough. And, thanks to a particular circumstance, I alone can write these things, for I alone am able to give the final details, without which it would have been impossible to make the story at once interesting and complete.
This is how these details came to my knowledge. On the 12th of March, 1847, I saw in the Rue Lafitte a great yellow placard announcing a sale of furniture and curiosities. The sale was to take place on account of the death of the owner. The owner’s name was not mentioned, but the sale was to be held at 9, Rue d’Antin, on the 16th, from 12 to 5. The placard further announced that the rooms and furniture could be seen on the 13th and 14th.
I have always been very fond of curiosities, and I made up my mind not to miss the occasion, if not of buying some, at all events of seeing them. Next day I called at 9, Rue d’Antin.
It was early in the day, and yet there were already a number of visitors, both men and women, and the women, though they were dressed in cashmere and velvet, and had their carriages waiting for them at the door, gazed with astonishment and admiration at the luxury which they saw before them.
I was not long in discovering the reason of this astonishment and admiration, for, having begun to examine things a little carefully, I discovered without difficulty that I was in the house of a kept woman. Now, if there is one thing which women in society would like to see (and there were society women there), it is the home of those women whose carriages splash their own carriages day by day, who, like them, side by side with them, have their boxes at the Opera and at the Italiens, and who parade in Paris the opulent insolence of their beauty, their diamonds, and their scandal.
This one was dead, so the most virtuous of women could enter even her bedroom. Death had purified the air of this abode of splendid foulness, and if more excuse were needed, they had the excuse that they had merely come to a sale, they knew not whose. They had read the placards, they wished to see what the placards had announced, and to make their choice beforehand. What could be more natural? Yet, all the same, in the midst of all these beautiful things, they could not help looking about for some traces of this courtesan’s life, of which they had heard, no doubt, strange enough stories.
Unfortunately the mystery had vanished with the goddess, and, for all their endeavours, they discovered only what was on sale since the owner’s decease, and nothing of what had been on sale during her lifetime. For the rest, there were plenty of things worth buying. The furniture was superb; there were rosewood and buhl cabinets and tables, Sevres and Chinese vases, Saxe statuettes, satin, velvet, lace; there was nothing lacking.
I sauntered through the rooms, following the inquisitive ladies of distinction. They entered a room with Persian hangings, and I was just going to enter in turn, when they came out again almost immediately, smiling, and as if ashamed of their own curiosity. I was all the more eager to see the room. It was the dressing-room, laid out with all the articles of toilet, in which the dead woman’s extravagance seemed to be seen at its height.
On a large table against the wall, a table three feet in width and six in length, glittered all the treasures of Aucoc and Odiot. It was a magnificent collection, and there was not one of those thousand little things so necessary to the toilet of a woman of the kind which was not in gold or silver. Such a collection could only have been got together little by little, and the same lover had certainly not begun and ended it.
Not being shocked at the sight of a kept woman’s dressing-room, I amused myself with examining every detail, and I discovered that these magnificently chiselled objects bore different initials and different coronets. I looked at one after another, each recalling a separate shame, and I said that God had been merciful to the poor child, in not having left her to pay the ordinary penalty, but rather to die in the midst of her beauty and luxury, before the coming of old age, the courtesan’s first death.
Is there anything sadder in the world than the old age of vice, especially in woman? She preserves no dignity, she inspires no interest. The everlasting repentance, not of the evil ways followed, but of the plans that have miscarried, the money that has been spent in vain, is as saddening a thing as one can well meet with. I knew an aged woman who had once been “gay,” whose only link with the past was a daughter almost as beautiful as she herself had been. This poor creature to whom her mother had never said, “You are my child,” except to bid her nourish her old age as she herself had nourished her youth, was called Louise, and, being obedient to her mother, she abandoned herself without volition, without passion, without pleasure, as she would have worked at any other profession that might have been taught her.
The constant sight of dissipation, precocious dissipation, in addition to her constant sickly state, had extinguished in her mind all the knowledge of good and evil that God had perhaps given her, but that no one had ever thought of developing. I shall always remember her, as she passed along the boulevards almost every day at the same hour, accompanied by her mother as assiduously as a real mother might have accompanied her daughter. I was very young then, and ready to accept for myself the easy morality of the age. I remember, however, the contempt and disgust which awoke in me at the sight of this scandalous chaperoning. Her face, too, was inexpressibly virginal in its expression of innocence and of melancholy suffering. She was like a figure of Resignation.
One day the girl’s face was transfigured. In the midst of all the debauches mapped out by her mother, it seemed to her as if God had left over for her one happiness. And why indeed should God, who had made her without strength, have left her without consolation, under the sorrowful burden of her life? One day, then, she realized that she was to have a child, and all that remained to her of chastity leaped for joy. The soul has strange refuges. Louise ran to tell the good news to her mother. It is a shameful thing to speak of, but we are not telling tales of pleasant sins; we are telling of true facts, which it would be better, no doubt, to pass over in silence, if we did not believe that it is needful from time to time to reveal the martyrdom of those who are condemned without hearing, scorned without judging; shameful it is, but this mother answered the daughter that they had already scarce enough for two, and would certainly not have enough for three; that such children are useless, and a lying-in is so much time lost.
Next day a midwife, of whom all we will say is that she was a friend of the mother, visited Louise, who remained in bed for a few days, and then got up paler and feebler than before.
Three months afterward a man took pity on her and tried to heal her, morally and physically; but the last shock had been too violent, and Louise died of it. The mother still lives; how? God knows.
This story returned to my mind while I looked at the silver toilet things, and a certain space of time must have elapsed during these reflections, for no one was left in the room but myself and an attendant, who, standing near the door, was carefully watching me to see that I did not pocket anything.
I went up to the man, to whom I was causing so much anxiety. “Sir,” I said, “can you tell me the name of the person who formerly lived here?”
“Mademoiselle Marguerite Gautier.”
I knew her by name and by sight.
“What!” I said to the attendant; “Marguerite Gautier is dead?”
“Yes, sir.”
“When did she die?”
“Three weeks ago, I believe.”
“And why are the rooms on view?”
“The creditors believe that it will send up the prices. People can see beforehand the effect of the things; you see that induces them to buy.”
“She was in debt, then?”
“To any extent, sir.”
“But the sale will cover it?”
“And more too.”
“Who will get what remains over?”
“Her family.”
“She had a family?”
“It seems so.”
“Thanks.”
The attendant, reassured as to my intentions, touched his hat, and I went out.
“Poor girl!” I said to myself as I returned home; “she must have had a sad death, for, in her world, one has friends only when one is perfectly well.” And in spite of myself I began to feel melancholy over the fate of Marguerite Gautier.
It will seem absurd to many people, but I have an unbounded sympathy for women of this kind, and I do not think it necessary to apologize for such sympathy.
One day, as I was going to the Prefecture for a passport, I saw in one of the neighbouring streets a poor girl who was being marched along by two policemen. I do not know what was the matter. All I know is that she was weeping bitterly as she kissed an infant only a few months old, from whom her arrest was to separate her. Since that day I have never dared to despise a woman at first sight.