CHƯƠNG XIV

Về đến nhà, tôi bắt đầu khóc nức nở như một đứa trẻ. Bất kỳ người đàn ông nào từng nếm trải nỗi đau bị phản bội, dù chỉ một lần, hẳn sẽ thấu hiểu tận cùng những gì tôi đang phải chịu đựng.

Trong cơn sục sôi của những quyết định dứt khoát-cái khoảnh khắc ta luôn ngỡ mình thừa sức mạnh để thực thi-tôi tự nhủ phải cắt đứt mối tình này ngay lập tức. Tôi nóng lòng mong trời chóng sáng để tức tốc lên đường trở về bên cha và em gái. Ít ra ở đó, tôi chắc chắn mình có được một tình yêu thương trọn vẹn, một tình yêu chẳng bao giờ biết đến sự dối lừa.

Tuy nhiên, tôi chẳng muốn ra đi mà không để lại cho Marguerite một lời giải thích. Chỉ những kẻ thực sự cạn tình mới nỡ rời bỏ nhân tình mà chẳng buồn để lại lấy một dòng. Tôi đã nháp đi nháp lại chừng hai chục bức thư trong đầu. Tôi đã vướng vào một người đàn bà cũng như bao kẻ khác cùng tầng lớp với nàng. Tôi đã quá huyễn hoặc bản thân bằng những mộng tưởng. Nàng ta đối xử với tôi như một cậu nam sinh ngờ nghệch, nàng lừa dối tôi bằng một vở kịch vụng về đến mức xúc phạm. Lòng kiêu hãnh trong tôi trỗi dậy. Tôi phải rời bỏ người đàn bà này mà không để nàng có lấy một chút hả hê khi biết rằng tôi đang đau khổ. Và đây là những gì tôi đã viết cho nàng, bằng những nét chữ nắn nót nhất, giữa những giọt nước mắt tủi hờn và đầy phẫn uất:

"MARGUERITE YÊU DẤU: Tôi hy vọng sự mệt mỏi ngày hôm qua của em không quá nghiêm trọng. Lúc mười một giờ đêm, tôi đã đến thăm em, nhưng lại được báo rằng em chưa về. Ngài de G. hẳn đã may mắn hơn, vì ông ta xuất hiện ngay sau đó, và đến tận bốn giờ sáng vẫn chưa rời đi.

"Xin em tha thứ cho vài giờ phút tẻ nhạt mà tôi đã mang đến cho em, và hãy tin rằng tôi sẽ không bao giờ quên những khoảnh khắc hạnh phúc mà em đã ban tặng.

"Lẽ ra hôm nay tôi nên đến thăm em, nhưng tôi dự định sẽ trở về nhà cha tôi.

"Tạm biệt em, Marguerite thân mến. Tôi không đủ giàu để yêu em như tôi muốn, cũng chẳng đủ nghèo để yêu em theo cách mà em mong. Vậy nên, chúng ta hãy quên đi. Em hãy quên một cái tên hẳn đã trở nên quá đỗi xa lạ, còn tôi, tôi sẽ quên đi một hạnh phúc đã trở nên bất khả thi.

"Tôi gửi lại em chiếc chìa khóa mà tôi chưa từng dùng đến; hẳn nó sẽ hữu ích cho em, nếu em thường xuyên ốm đau như ngày hôm qua."

Như bạn thấy đấy, tôi không thể kết thúc bức thư mà thiếu đi một chút mỉa mai xấc xược-chính điều đó đã tố cáo tôi còn yêu nàng đến nhường nào.

Tôi đọc đi đọc lại bức thư này cả chục lần; rồi ý nghĩ về nỗi đau mà nó sẽ gieo vào lòng Marguerite khiến tôi nguôi ngoai đôi chút. Tôi cố tự thuyết phục bản thân tin vào những cảm xúc đã bày tỏ trên trang giấy. Khi người hầu của tôi vào phòng lúc tám giờ, tôi đưa thư cho cậu ta và bảo mang đi ngay lập tức.

"Thưa ngài, tôi có cần đợi thư trả lời không ạ?" Joseph hỏi (người hầu của tôi, cũng như bao kẻ hầu người hạ khác, tên là Joseph).

"Nếu họ hỏi có cần trả lời không, cậu cứ bảo là không biết, rồi đợi."

Tôi tự huyễn hoặc mình với hy vọng rằng nàng sẽ hồi âm. Chúng ta quả là những sinh vật yếu đuối và thảm hại! Suốt khoảng thời gian Joseph đi vắng, tôi chìm trong trạng thái bồn chồn khôn tả. Có lúc, nhớ lại khoảnh khắc Marguerite đã dâng hiến cho mình, tôi tự hỏi lấy tư cách gì mà mình lại viết cho nàng một bức thư láo xược đến thế. Nàng hoàn toàn có thể vặn lại rằng, đâu phải ngài de G. đã thế chỗ tôi, mà chính tôi mới là kẻ thế chân ông ta-một kiểu ngụy biện cho phép bọn đàn bà lăng loàn có vô số nhân tình. Có lúc, tôi lại nhớ đến những lời thề non hẹn biển của nàng, rồi cố thuyết phục bản thân rằng bức thư của mình vẫn còn quá nương nhẹ. Rằng chẳng có ngôn từ nào đủ sức trừng phạt một người đàn bà dám mang một tình yêu như của tôi ra làm trò tiêu khiển. Rồi tôi lại nhủ thầm, thà đừng viết thư mà đến thẳng nhà gặp nàng thì hơn, lúc đó tôi sẽ có được niềm vui sướng khi nhìn thấy nàng rơi lệ. Cuối cùng, tôi tự hỏi nàng sẽ hồi âm thế nào; và tôi sẵn lòng tin vào bất cứ lời bào chữa nào mà nàng đưa ra.

Joseph trở về.

"Sao rồi?" Tôi cất giọng hỏi cậu ta.

"Thưa ngài," cậu ta khúm núm đáp lời, "phu nhân vẫn chưa trở dậy. Ngay khi phu nhân cất tiếng gọi người hầu, bức thư của ngài sẽ được đệ trình. Và nếu phu nhân có đôi lời hồi đáp, họ sẽ tức tốc sai người mang đến."

Cô ấy vẫn đang say giấc!

Đã hai mươi bận tôi toan sai người đi giành lại bức thư ấy, song mỗi bận như thế tôi lại cắn răng tự nhủ: "Biết đâu thư đã đến tay nàng mất rồi. Làm vậy thì khác nào phơi bày sự ân hận tột cùng vì đã lỡ trút hết nỗi lòng."

Giờ phút mà tôi đinh ninh nàng sẽ hồi âm càng đến gần, tôi lại càng dằn vặt vì những dòng chữ mình đã viết. Chiếc đồng hồ chậm rãi buông từng tiếng điểm mười giờ, mười một giờ, rồi mười hai giờ trưa. Đúng giữa trưa, tôi suýt bước đến chốn hẹn như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Suy cho cùng, tôi hoàn toàn bất lực trong việc tự tháo gỡ vòng lửa vô hình đang bóp nghẹt tâm can mình.

Và rồi, tâm trí tôi bắt đầu bám víu vào thứ niềm tin nhuốm màu mê tín của những kẻ mỏi mòn chờ đợi: rằng nếu tôi lẩn ra ngoài một chốc, khi quay về ắt sẽ thấy thư hồi đáp nằm sẵn trên bàn. Lấy cớ dùng bữa trưa, tôi rảo bước rời khỏi nhà.

Thay vì lui tới quán Café Foy1 nơi góc Đại lộ như mọi bận, tôi lại chủ ý vòng qua khu Palais Royal2 để tiện đường tạt ngang phố d’Antin. Hễ thấp thoáng thấy bóng dáng một người phụ nữ từ đằng xa, tôi lại chộn rộn vẽ ra viễn cảnh đó là Nanine đang hớt hải mang thư trả lời đến cho mình. Tôi rảo bước dọc con phố d’Antin mà tịnh không bắt gặp một người đưa tin nào. Đành ghé vào quán Very3 ở Palais Royal. Gã bồi bàn cứ thế dọn đồ ăn lên, hay nói đúng hơn là dọn ra bất cứ món gì gã thích, bởi tôi có thiết tha nuốt nổi một miếng nào đâu. Bất chấp những cố gắng gạt bỏ, ánh mắt tôi vẫn dán chặt vào chiếc đồng hồ treo tường. Cuối cùng, tôi vội vã quay về, đinh ninh mười mươi rằng sẽ nhìn thấy một phong thư nhỏ của Marguerite.

Bác gác cổng bảo chẳng nhận được gì. Tôi bấu víu chút hy vọng le lói nơi cậu người hầu. Nhưng cậu ta cũng đáp rằng tịnh không có ai lui tới kể từ khi tôi rời nhà.

Giá như Marguerite có ý định đáp lời tôi, thì hẳn nàng đã hồi âm từ lâu lắm rồi.

Ngay phút ấy, tôi bắt đầu cay đắng hối hận vì những lời lẽ chua chát trong bức thư. Giá như tôi giữ im lặng thì hơn, và chính sự vắng mặt của tôi ắt sẽ gieo vào lòng nàng nỗi hồ nghi. Chẳng thấy tôi đến chỗ hẹn, thế nào nàng cũng cất công gặng hỏi cơ sự, và chỉ chờ có vậy tôi mới trút cạn nỗi niềm. Nếu mọi chuyện diễn ra theo cách ấy, nàng sẽ buộc phải tự biện bạch, và một lời thanh minh từ nàng chính là điều tôi khao khát nhất lúc này. Tôi cay đắng nhận ra mình sẵn lòng tin vào bất cứ lý do nào nàng đưa ra, bởi dẫu có mộng mị thế nào, thì điều đó vẫn còn tốt đẹp chán so với việc phải lìa xa nàng mãi mãi.

Tới bước đường cùng, tôi lại tự huyễn hoặc mình rằng đích thân nàng sẽ đến tìm tôi; song từng canh giờ câm lặng trôi qua, bóng dáng nàng vẫn bặt tăm.

Quả thực Marguerite chẳng hề giống với bất kỳ người đàn bà nào khác, bởi trên đời này, có mấy ai nhận được một bức thư cạn tình như thế mà vẫn dửng dưng không một lời hồi đáp.

Lúc năm giờ, tôi hối hả đến đại lộ Champs-Élysées. "Nếu tình cờ chạm mặt," tôi tự nhủ, "mình sẽ khoác lên vẻ dửng dưng lạnh nhạt, để em tin rằng hình bóng em đã hoàn toàn phai mờ trong tâm trí tôi."

Vừa rẽ qua góc phố Royale, tôi chợt thấy em lướt qua trên chiếc xe ngựa. Sự hội ngộ quá đỗi bất ngờ khiến gương mặt tôi thoáng chốc tái nhợt. Chẳng rõ em có kịp nhận ra vẻ xúc động nơi tôi hay không; chỉ biết rằng bản thân đã bối rối đến mức trước mắt chỉ còn đọng lại ảo ảnh của chiếc xe ngựa ấy.

Tôi chẳng buồn tiến sâu thêm vào đại lộ Champs-Élysées nữa, mà lơ đãng đưa mắt lướt qua những tấm áp phích quảng cáo trước cửa các rạp hát, mong mỏi cướp lấy một cơ hội khác để được nhìn thấy em. Đêm nay có một buổi diễn ra mắt tại Palais Royal. Chắc mẩm Marguerite sẽ hiện diện ở đó, nên tôi đã có mặt tại rạp từ lúc bảy giờ. Các lô ghế lần lượt lấp kín người, nhưng bóng dáng Marguerite vẫn bặt tăm. Tôi đành rời khỏi Palais Royal, rảo bước qua tất cả những rạp hát mà em vẫn thường lui tới: Vaudeville, Variétés, cả Opéra Comique4. Song, em chẳng ở đâu cả.

Có lẽ bức thư của tôi đã khiến em quá đỗi rối bời nên chẳng còn thiết tha gì đến chuyện kịch trường; hoặc giả, em e ngại phải chạm mặt tôi và muốn né tránh một cuộc trò chuyện thẳng thắn. Lòng kiêu hãnh cất tiếng thì thầm bên tai tôi những ý nghĩ ấy dọc suốt các đại lộ, cho tới tận lúc tình cờ đụng độ Gaston. Cậu ấy buột miệng hỏi tôi đã đi đâu.

"Ở Palais Royal," tôi đáp.

"Còn tôi thì ở nhà hát Opéra," cậu ấy bảo; "tôi cứ đinh ninh sẽ gặp cậu ở đó cơ."

"Sao lại thế?"

"Vì Marguerite có mặt ở đó mà."

"À, cô ấy ở đó sao?"

"Đúng vậy."

"Một mình à?"

"Không, cùng một người phụ nữ khác."

"Chỉ vậy thôi sao?"

"Bá tước de G. có rẽ qua lô ghế của cô ấy một chốc; nhưng sau đó cô ấy đã rời đi cùng một vị công tước. Tôi cứ chờ cậu mãi, bởi lẽ có một ghế trống ngay cạnh tôi bị bỏ không suốt cả buổi tối, và tôi chắc mẩm rằng cậu đã đặt chỗ."

"Nhưng cớ sao tôi lại phải đến nơi Marguerite đến chứ?"

"Thì vì cậu là nhân tình của cô ấy, chắc chắn rồi!"

"Ai đã nói với cậu điều đó?"

"Prudence, người tôi vừa gặp hôm qua. Xin chúc mừng nhé, anh bạn thân mến; cô ấy là một nhân tình đầy quyến rũ, và chẳng phải ai cũng có được diễm phúc ấy đâu. Hãy giữ chặt lấy cô ấy; cô ấy sẽ mang lại cho cậu niềm hãnh diện đấy."

Vài lời lẽ chân tình, đơn giản của Gaston bỗng chốc chỉ ra cho tôi thấy sự nhạy cảm của bản thân mới nực cười làm sao. Giá như tối qua tôi sớm gặp được cậu ấy, và nghe những lời dốc lòng này, thì hẳn tôi đã chẳng hề chắp bút viết bức thư ngu xuẩn kia.

Tôi toan chạy đến chỗ Prudence, nhờ bà ấy nhắn nhe với Marguerite rằng tôi khao khát được trò chuyện; thế nhưng tôi lại lo sợ em sẽ trả đũa bằng cách cự tuyệt gặp mặt. Bởi vậy, tôi đành lầm lũi đi ngang qua phố d’Antin rồi quay trở về nhà. Thêm một lần nữa, tôi gặng hỏi người gác cổng xem liệu có phong thư nào gửi cho mình không. Vẫn hoàn toàn im bặt! Em đang chờ xem tôi sẽ có động thái gì tiếp theo, và liệu tôi có thu hồi lại bức thư ngày hôm nay hay không. Tôi tự nhủ như thế khi ngả lưng xuống giường; nhưng một khi thấy tôi chẳng viết gì, ắt hẳn ngày mai em sẽ hồi âm thôi.

Đêm ấy, tôi dằn vặt bản thân hơn bao giờ hết. Trằn trọc trong nỗi cô đơn rợn ngợp, tôi không tài nào chợp mắt nổi, mặc cho cơn bồn chồn và nỗi ghen tuông điên dại cấu xé tâm can. Giá như tôi cứ để mặc mọi sự thuận theo lẽ tự nhiên, thì giờ đây, tôi đã được cuộn mình trong vòng tay Marguerite. Tôi sẽ lại được lắng nghe những lời âu yếm xoa dịu cõi lòng mà mình mới chỉ vinh hạnh đón nhận vỏn vẹn hai lần, những lời thủ thỉ mà ngay lúc này đây, giữa bốn bề quạnh hiu, vẫn còn mơn man râm ran bên tai tôi.

Điều tồi tệ nhất trong tình cảnh này là những suy luận của tôi lại chĩa mũi dùi vào chính tôi; bởi lẽ, mọi dấu hiệu đều minh chứng rằng Marguerite đã đem lòng yêu tôi. Đầu tiên, cô ấy chủ động ngỏ lời muốn cùng tôi về một miền quê yên ả để nghỉ hè. Hơn thế nữa, cô ấy chẳng có lấy một lý do nào để chấp nhận làm nhân tình của tôi, khi mà số tiền cỏn con tôi có trong tay làm sao đủ để che chở, cung phụng cho những nhu cầu xa xỉ của cô ấy, chứ đừng nói đến những đòi hỏi vô lý khác. Vậy thì, ẩn sâu trong quyết định của cô ấy, hẳn chẳng có gì khác ngoài khao khát tìm thấy ở tôi một thứ tình cảm chân thành, một bến đỗ bình yên để nương náu sau những cuộc tình rặc mùi đổi chác mà cô ấy vẫn phải oằn mình chung sống. Thế mà, chỉ vào ngày thứ hai êm đềm bên nhau, tôi đã nhẫn tâm đạp đổ tia hy vọng mỏng manh ấy, dùng sự mỉa mai xấc xược để đáp đền cho tình yêu mà tôi đã may mắn thụ hưởng trọn vẹn trong hai đêm. Hành động của tôi không chỉ nực cười, mà còn hèn mạt và vô duyên đến tột độ. Tôi thậm chí còn chưa trao cho người phụ nữ ấy một đồng nào, vậy lấy tư cách gì mà hạch sách, bắt lỗi cô ấy? Mới chỉ hai ngày gắn bó đã vội vã quay lưng, chẳng phải tôi đang tự biến mình thành một kẻ ăn bám tình trường, một tên hèn mọn tháo chạy vì sợ phải thanh toán cho bữa tiệc ái tình đó sao? Thật nực cười! Tôi mới quen biết Marguerite được đúng ba mươi sáu giờ đồng hồ; mới đàng hoàng mang danh người tình của cô ấy vỏn vẹn hai mươi bốn giờ; và thay vì ngất ngây mãn nguyện vì cô ấy đã dâng hiến tất cả cho tôi, tôi lại tham lam muốn cô ấy phải thuộc về mình trọn vẹn. Tôi vô lý ép buộc cô ấy phải chặt đứt mọi mối dây dưa trong quá khứ - những mối quan hệ vốn là chiếc phao cứu sinh duy nhất đảm bảo cho cuộc sống tương lai của cô ấy. Tôi lấy quyền gì mà trách móc cô ấy đây? Chẳng có cái quyền nào cả. Rõ ràng cô ấy đã viết thư báo rằng mình bị ốm, trong khi hoàn toàn có thể tàn nhẫn phơi bày sự thật bằng cái vẻ thẳng thừng đáng sợ của những người đàn bà sành sỏi khác, rằng cô ấy phải đi hầu hạ một gã nhân tình. Thế nhưng, thay vì đặt niềm tin vào bức thư ấy, thay vì rảo bước đến bất kỳ con phố nào khác ở chốn Paris hoa lệ này ngoại trừ con phố d’Antin, thay vì tụ tập xả khuây cùng đám bạn bè để rồi sáng hôm sau đến đúng giờ hẹn, tôi lại tự khoác lên mình vai diễn Othello5 ghen tuông mù quáng. Tôi rình rập cô ấy, rồi tự huyễn hoặc bản thân rằng việc dứt tình không gặp gỡ sẽ là một đòn trừng phạt chí mạng. Nhưng sự thật thì ngược lại, hẳn cô ấy đang thở phào nhẹ nhõm vì đã cắt đuôi được một gã phiền phức. Hẳn cô ấy đang nhìn tôi như một kẻ ngốc nghếch đến thảm hại, và sự im lặng bấy lâu của cô ấy thậm chí còn chẳng màng đến sự oán giận; đó chỉ đơn thuần là sự khinh bỉ tột cùng.

Đáng lý ra, tôi có thể gửi tặng Marguerite một món quà giá trị để chẳng ai phải hoài nghi về sự hào phóng của mình, và để tôi được an ủi rằng mình đã sòng phẳng với cô ấy, như cái cách người ta vẫn làm với một người đàn bà được bao nuôi. Thế nhưng, tôi lại lo sợ. Tôi sợ rằng dẫu chỉ một chút vết tích mỏng manh của sự đổi chác cũng đủ sức chà đạp lên tình yêu mà cô ấy đã dành cho tôi, hay ít nhất là tình yêu mà tôi đang ôm ấp dành cho cô ấy. Và bởi vì thứ tình yêu này quá đỗi thiêng liêng, thuần khiết đến mức không thể dung thứ cho sự toan tính hay san sẻ, nó không thể được đong đếm bằng bất kỳ món quà vật chất nào, dẫu có đắt giá đến đâu, để trả giá cho niềm hạnh phúc tột đỉnh mà nó đã mang lại, dẫu niềm hạnh phúc ấy có ngắn ngủi, thoáng qua nhường nào.

Đó là những dòng suy nghĩ cứ cuộn trào, giằng xé trong tôi suốt cả một đêm dài, là những lời tạ lỗi mà từng giây từng phút trôi qua, tôi đều khao khát được lao đến và giãi bày cùng Marguerite. Bình minh ló dạng, nhưng tôi vẫn không thể khép nổi mi mắt. Toàn thân tôi nóng ran như đang phát sốt. Tâm trí tôi như tê liệt, chẳng thể chứa đựng điều gì khác ngoài hình bóng của Marguerite.

Như bạn có thể tưởng tượng, đã đến lúc tôi phải dứt khoát kết thúc mọi chuyện với người phụ nữ ấy, hoặc chấm dứt những dằn vặt của chính mình - dĩ nhiên là nếu nàng vẫn còn muốn gặp tôi. Nhưng bạn biết đấy, con người ta luôn chùn bước trước ranh giới của những quyết định định mệnh. Cứ giam mình mãi trong bốn bức tường thì không đành, mà đường hoàng gõ cửa nhà Marguerite thì tôi lại chẳng dám. Thế nên, tôi bèn đánh liều thử xích lại gần nàng thêm chút nữa, một phép thử mà tôi tự nhủ nếu thành công, thì tôi có thể biện minh rằng đó chỉ là một sự tình cờ.

Mới chín giờ sáng, tôi đã đi thẳng đến nhà Prudence. Thấy tôi đến vào một giờ lạ lùng như vậy, bà liền cất lời hỏi nguyên cớ. Chẳng dám thú nhận lòng mình, tôi đành kiếm cớ rằng mình ra ngoài sớm để giữ một chỗ trên chuyến xe ngựa về C., nơi cha tôi đang sống.

"Cậu thật may mắn," bà cất lời, "vì có thể rời bỏ Paris giữa những ngày tiết trời đẹp đẽ thế này."

Tôi đưa mắt dò xét Prudence, thầm tự hỏi liệu có phải bà đang cố tình buông lời giễu cợt, nhưng trên gương mặt bà chỉ tuyền một nét điềm nhiên.

"Thế cậu có định sang chào tạm biệt Marguerite không?" bà hỏi tiếp, vẻ mặt vẫn bình thản như trước.

"Không."

"Cậu làm thế là phải đấy."

"Bà cũng nghĩ vậy sao?"

"Đương nhiên rồi. Cậu đã dứt tình với cô ấy, vậy thì còn gặp lại nhau làm gì cơ chứ?"

"Bà đã biết mọi chuyện kết thúc rồi sao?"

"Cô ấy đã cho tôi xem bức thư của cậu."

"Vậy nàng đã nói gì?"

"Cô ấy bảo: 'Prudence thân mến, cậu học trò cưng của chị cư xử chẳng ra dáng một quý ông chút nào; những lời lẽ như thế, người ta chỉ nên để trong lòng chứ tuyệt nhiên không nên viết ra.'"

"Nàng đã nói câu đó với giọng điệu ra sao?"

"Cô ấy vừa nói vừa cười," Prudence chép miệng rồi nói thêm, "Cô ấy bảo: 'Cậu ta đến dùng bữa với em hai lần, thế mà lúc đi chẳng buồn ghé qua gửi lấy một lời chào.'"

Đó chính là kết cục cho bức thư đầy sự ghen tuông của tôi. Lòng kiêu hãnh của một kẻ đang yêu trong tôi vừa bị xát muối một cách thật tàn nhẫn.

"Tối qua nàng đã làm gì?"

"Cô ấy đi nhà hát opera."

"Chuyện đó thì tôi biết. Rồi sao nữa?"

"Cô ấy về dùng bữa tối ở nhà."

"Một mình ư?"

"Tôi đoán là với ngài bá tước de G."

Hóa ra, việc tôi dứt áo ra đi chẳng mảy may làm xáo trộn lấy một thói quen nào của nàng. Người đời vẫn thường vin vào những chuyện như thế này để khuyên nhủ bạn: "Hãy tránh xa người đàn bà đó ra, cô ta chẳng thèm bận tâm gì đến cậu đâu."

"Thà thế lại hóa hay, tôi rất mừng vì Marguerite chẳng phải phiền lòng vì tôi," tôi cố nặn ra một nụ cười gượng gạo.

"Cô ấy có lý do chính đáng để không phiền lòng. Cậu đã làm đúng bổn phận của mình. Cậu đã hành xử lý trí hơn cô ấy, bởi cô ấy đã thực lòng yêu cậu; cô ấy chẳng nói chuyện gì ngoài việc nhắc về cậu. Tôi cũng chẳng biết cô ấy còn có thể làm ra những chuyện rồ dại nào nữa."

"Nếu đã yêu tôi, tại sao nàng lại chẳng thèm hồi âm thư?"

"Bởi vì cô ấy nhận ra mình đã lầm lỡ khi trót để bản thân rung động trước cậu. Phụ nữ, đôi khi họ có thể nhắm mắt làm ngơ nếu cậu trót không chung thủy với tình yêu của họ; nhưng họ sẽ không bao giờ dung thứ cho kẻ dám chà đạp lên lòng tự ái của mình. Và một người đàn ông luôn làm tổn thương lòng kiêu hãnh của một người phụ nữ khi anh ta chỉ vừa mới trở thành nhân tình của nàng được vỏn vẹn hai ngày đã vội vàng ruồng bỏ nàng, bất kể vì bất cứ lý do gì. Tôi quá hiểu Marguerite; cô ấy thà chết chứ nhất quyết không chịu hồi âm."

"Vậy tôi còn có thể làm gì lúc này?"

"Chẳng làm gì cả. Cô ấy rồi sẽ quên cậu, và cậu cũng sẽ quên cô ấy, để rồi cả hai sẽ chẳng còn lời oán trách nào phải dành cho nhau."

"Nhưng ngộ nhỡ tôi viết thư cầu xin cô ấy tha thứ thì sao?"

"Đừng làm thế, vì cô ấy sẽ tha thứ cho cậu mất."

Tôi tưởng chừng như đã có thể chồm tới mà ôm choàng lấy cổ Prudence.

Mười lăm phút sau, tôi đã trở về phòng và vội vã viết cho Marguerite mấy dòng:

"Có một kẻ đang mang nỗi hối hận tột cùng vì bức thư ngày hôm qua, một kẻ sẽ rời khỏi Paris vào sáng mai nếu không nhận được sự thứ tha từ em, đang khao khát được biết đến khi nào anh ta mới có thể đặt trọn nỗi ăn năn dưới gót chân em.

"Khi nào anh ta mới được gặp riêng em? Bởi vì em biết đấy, những lời thú tội thường chỉ được thốt lên khi không có người làm chứng."

Tôi cẩn thận gấp lại những dòng chữ được viết theo kiểu văn xuôi đậm chất tình ca ấy rồi giao cho Joseph. Cậu ta đã mang thư tận tay trao cho Marguerite; cô ấy nhắn lại rằng sẽ gửi hồi âm sau.

Tôi chỉ đảo bước ra ngoài để dùng vội bữa tối, nhưng đợi mãi đến tận mười một giờ khuya vẫn bặt vô âm tín. Không thể tiếp tục chịu đựng thêm sự giày vò này nữa, tôi dứt khoát quyết định sẽ khởi hành vào ngày hôm sau. Kéo theo ý định đó, và cũng tin chắc rằng dẫu có lên giường thì mình cũng chẳng tài nào chợp mắt nổi, tôi liền bắt tay vào việc thu dọn hành lý.



  1. Một quán cà phê danh tiếng tại Paris thế kỷ 19, nằm trong khu Palais Royal, từng là nơi lui tới quen thuộc của giới thượng lưu và trí thức. 

  2. Cung điện lịch sử ở trung tâm Paris. Vào thế kỷ 19, khu vực này là một trung tâm giải trí sầm uất bậc nhất với các cửa hiệu xa xỉ, quán cà phê, nhà hàng và nhà hát. 

  3. Hay "Véry", một nhà hàng ẩm thực cao cấp và đắt đỏ vô cùng nổi tiếng nằm trong khu Palais Royal thời kỳ đó. 

  4. Những nhà hát danh tiếng tại Paris thế kỷ 19. Opéra Comique chuyên diễn nhạc kịch, trong khi Vaudeville và Variétés là nơi trình diễn các vở hài kịch nhẹ nhàng phục vụ tầng lớp tư sản. 

  5. Nhân vật chính trong vở bi kịch cùng tên của William Shakespeare. Othello là một vị tướng bị xúi giục đến mức ghen tuông mù quáng mà giết chết người vợ yêu quý. Ở đây tác giả mượn hình ảnh này để ám chỉ sự ghen tuông điên rồ, mất lý trí.