CHƯƠNG XII

Vào lúc năm giờ sáng, khi ánh bình minh bắt đầu len lỏi qua rèm cửa, Marguerite khẽ nói với tôi: “Xin hãy thứ lỗi vì đành phải để anh về lúc này; nhưng em không còn cách nào khác. Sáng nào ngài công tước cũng tới đây; khi ngài bước vào, người ta sẽ bẩm rằng em vẫn còn say giấc, và rất có thể ngài sẽ nán lại chờ tới lúc em tỉnh dậy.”

Tôi nâng lấy gương mặt Marguerite bằng cả hai tay; suối tóc xõa tung của nàng nhẹ buông lơi; tôi âu yếm trao cho nàng một nụ hôn cuối, rồi cất lời: “Đến bao giờ anh mới được gặp lại em đây?”

“Nghe em này,” nàng dịu dàng đáp lời; “anh hãy lấy chiếc chìa khóa nhỏ mạ vàng trên bệ lò sưởi, mở cánh cửa kia ra; mang trả lại chìa khóa cho em rồi hãy về. Trong hôm nay, anh sẽ nhận được một bức thư kèm theo những điều em muốn gửi gắm, bởi anh thừa hiểu mình phải ngoan ngoãn vâng lời em mà.”

“Được thôi; nhưng lỡ anh cũng muốn cầu xin em một điều thì sao?”

“Điều gì cơ?”

“Hãy để anh giữ chiếc chìa khóa ấy.”

“Đó là đặc ân mà em chưa từng dành cho bất kỳ ai đâu.”

“Vậy thì, xin em hãy làm thế vì anh, bởi anh thề với em rằng anh không hề yêu em như cái cách những kẻ khác đã từng yêu em.”

“Thôi được rồi, anh cứ giữ lấy đi; nhưng rốt cuộc thì chiếc chìa khóa ấy có dùng được hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào em đấy.”

“Nghĩa là sao cơ?”

“Thì cánh cửa kia còn có then chốt cài bên trong cơ mà.”

“Em thật nhẫn tâm!”

“Rồi em sẽ sai người tháo bỏ chúng đi.”

“Vậy là, em cũng có yêu anh một chút, phải không?”

“Chính em cũng chẳng rõ cớ sự ra sao nữa, nhưng dường như là có! Giờ thì anh mau về đi; em buồn ngủ ríu cả mắt lại rồi.”

Tôi quyến luyến ôm trọn nàng trong vòng tay thêm vài giây nữa, rồi mới lưu luyến rời đi.

Đường phố vắng tênh, cả kinh thành tráng lệ vẫn đương chìm đắm trong giấc nồng. Một luồng không khí trong trẻo, dịu ngọt mơn man lướt qua những ngõ ngách, nơi mà chỉ vài giờ nữa thôi sẽ lại ồn ào, náo nhiệt bước chân người. Giờ phút này, tôi có cảm giác như thể thành phố đang say ngủ kia là đặc ân dành riêng cho mình tôi. Tôi cố lục lọi trong trí nhớ tên tuổi của những kẻ mà mình từng ghen tị vì hạnh phúc của họ; thế nhưng, chẳng có một ai làm tôi thấy họ hạnh phúc hơn tôi trong khoảnh khắc này.

Được một thiếu nữ ngây thơ trao gửi tình yêu, được làm người đầu tiên hé mở cho nàng bức màn bí ẩn diệu kỳ của ái tình, quả thực là một niềm hạnh phúc lớn lao; nhưng đó cũng lại là điều dung dị nhất trên thế gian. Chiếm lấy một trái tim chưa từng vương vấn bão dông chẳng khác nào bước vào một tòa thành không tường lũy, vắng bóng lính canh. Gia giáo, tình thâm, hay ý thức trách nhiệm dẫu có là những lính gác uy nghiêm đến mấy, cũng chẳng thể nào đủ sức ngăn cản một cô thiếu nữ mười sáu xuân xanh, nhất là khi bàn tay tạo hóa, mượn tiếng nói của người đàn ông nàng yêu, rỉ tai nàng những rung động đầu đời, càng trở nên mãnh liệt bởi vẻ ngoài vô ngần trong trẻo.

Người con gái càng đặt niềm tin vào cái thiện, nàng lại càng dễ xiêu lòng, dẫu không phải trước một người tình thì cũng là trước tình yêu. Bởi lẽ, khi tâm hồn vắng bóng sự hoài nghi, nàng lấy đâu ra sức mạnh để chối từ? Khơi dậy tình yêu nơi nàng là một chiến thắng mà bất kỳ gã thanh niên hai mươi lăm tuổi nào cũng có thể dễ dàng chạm tới. Cứ nhìn cái cách người ta trông nom và bao bọc các thiếu nữ mà xem! Những bức tường tu viện1 sừng sững dường như chẳng bao giờ là đủ cao, các bà mẹ làm gì có ổ khóa nào đủ độ vững chãi, và ngay cả tôn giáo cũng thiếu đi những bổn phận đủ sức trói buộc những chú chim non nớt, đáng yêu ấy vào chiếc lồng - một chiếc lồng thậm chí chẳng màng rải hoa lót ổ. Thế thì, làm sao họ không khao khát cái thế giới lộng lẫy bị giấu nhẹm đi kia, làm sao họ không thấy nó ngập tràn cám dỗ? Và tất yếu, họ sẽ dỏng tai lắng nghe giọng nói đầu tiên khẽ thì thầm những bí mật qua khe cửa sổ, sẵn sàng ban phước cho bàn tay đầu tiên dám vén lên một góc của bức màn huyền bí!

Nhưng để có được tình yêu đích thực từ một kỹ nữ2, đó lại là một chiến thắng cam go hơn gấp vạn lần. Nơi họ, thể xác đã vắt kiệt linh hồn, nhục dục đã thiêu rụi trái tim, và nếp sống buông thả đã làm chai sạn đi mọi xúc cảm. Họ sớm nằm lòng từng lời đường mật ta rót vào tai, tỏ tường mọi ngón đòn tán tỉnh ta dùng; họ bán đi chính thứ tình yêu mà mình vừa khơi gợi. Họ yêu vì nghề nghiệp, chứ chẳng màng đến bản năng. Những toan tính lõi đời bảo vệ họ còn kín kẽ hơn cả tấm khiên của mẹ cha hay chốn tu viện bọc lấy một trinh nữ. Họ tự nghĩ ra cái mỹ từ "tùy hứng" để che đậy cho một thứ tình cảm không màng danh lợi mà thỉnh thoảng họ tự cho phép mình buông lơi - như một trạm dừng chân, một cái cớ, hay một niềm an ủi. Họ chẳng khác nào những gã cho vay nặng lãi, tước đoạt cơ nghiệp của hàng ngàn người, rồi lại tự huyễn hoặc rằng mình đã chuộc hết bạo hành bằng một lần bố thí đồng vàng cho kẻ khốn cùng sắp chết đói, chẳng màng tiền lãi hay giấy biên nhận.

Đến khi Đức Chúa ban tình yêu cho một kỹ nữ, ân điển thoạt nhìn như một sự cứu rỗi ấy lại biến thành bản án nghiệt ngã vô phương chuộc lỗi đối với nàng. Khi một sinh linh gánh trên vai bao vết nhơ quá khứ bỗng bị cuốn vào vòng xoáy của một ái tình sâu thẳm, chân thành và không sao cưỡng lại nổi - thứ tình yêu mà nàng chưa từng dám tin mình đủ tư cách cảm nhận; khi nàng tự đáy lòng thốt lên lời yêu, gã đàn ông kia mới dễ dàng thống trị nàng làm sao! Anh ta hẳn sẽ thấy mình đầy quyền uy, cái quyền uy tàn nhẫn cho phép anh ta buông lời mỉa mai: Nhạc điệu tình yêu em đang hát cũng có khác gì những khúc hoan ca em từng xướng lên vì tiền đâu! Bọn họ biết tìm đâu ra bằng chứng để kêu oan? Hệt như đứa trẻ chăn cừu trong truyện ngụ ngôn3, cứ mãi bày trò hô hoán "Sói đến! Sói đến!" để trêu đùa những người nông dân chân lấm tay bùn; cho đến một ngày sói đến thật, cậu bé đành ngậm ngùi nộp mạng, vì chẳng còn ai đoái hoài tới tiếng kêu la đã đánh mất lòng tin. Số phận của những người phụ nữ bất hạnh ấy khi vướng vào tình yêu chân thực cũng bi đát như thế. Họ đã dối lừa quá nhiều, đến mức chẳng ai màng tin vào họ nữa; và rồi, giữa những giọt nước mắt ăn năn muộn màng, họ đành để mặc cho chính tình yêu của mình nuốt chửng.

Từ đó mới nảy nở những đức hy sinh tận hiến cao cả, những cuộc dứt áo rời bỏ thế tục đầy khắc khổ, mà vài người trong số họ đã tự mình lấy máu và nước mắt làm minh chứng.

Nhưng nếu người đàn ông khơi dậy thứ ái tình mang tính chất cứu rỗi ấy sở hữu một tâm hồn đủ bao dung để đón nhận nó mà chẳng nệ hà quá khứ; nếu anh ta dám gieo mình vào đại dương tình ái ấy, hay nói cách khác, anh ta yêu đúng như cái cách mình được yêu, thì gã si tình này dường như đã dốc cạn ly rượu của mọi cung bậc cảm xúc trần gian chỉ trong một lần tuống. Và sau một đoạn tình trường như thế, cánh cửa trái tim anh ta cũng vĩnh viễn khép lại với mọi hình bóng khác trên đời.

Tôi nào có nghĩ ngợi được sâu xa đến thế vào cái buổi bình minh trên đường trở về nhà. Những suy tưởng ấy có chăng chỉ là điềm báo mơ hồ về chuỗi bi kịch sắp đổ ập xuống đời tôi; và dẫu có yêu Marguerite cuồng si đến mấy, tôi cũng chẳng tài nào lường trước được những hệ lụy khôn lường. Mãi cho đến tận ngày hôm nay, tôi mới nhói lòng ngẫm lại. Giờ đây, khi mọi thứ đã vỡ vụn vô phương cứu vãn, những suy tư ấy mới tự khắc ùa về từ tàn tro của dĩ vãng.

Nhưng hãy quay lại với buổi ban đầu của mối tình ấy. Về đến nhà, lòng tôi dâng lên một niềm hân hoan tột độ. Hàng loạt rào cản do chính trí tưởng tượng của tôi dựng nên giữa Marguerite và mình nay đã hoàn toàn tan biến. Nàng giờ đây đã là của tôi. Cứ nghĩ tới vị trí của mình trong trái tim nàng, tới chiếc chìa khóa phòng nàng đang nằm gọn trong túi áo và quyền tự do sử dụng nó, tôi bỗng thấy vô cùng mãn nguyện với cuộc đời. Tôi đắc ý với bản thân, và thầm cảm tạ ơn Chúa đã từ bi ban phát cho tôi một phép màu như thế.

Thử tưởng tượng vào một ngày nọ, một chàng trai cất bước trên phố, sượt qua một người phụ nữ. Anh liếc nhìn nàng, ngoái đầu lại, rồi lại mải miết bước đi. Anh hoàn toàn xa lạ với người phụ nữ ấy; những niềm vui, nỗi buồn hay tình yêu của nàng, anh chẳng hề có lấy một phần can dự. Trong mắt nàng, anh vốn dĩ không tồn tại. Nếu anh buông lời trêu ghẹo, có lẽ nàng sẽ chỉ cười nhạo anh, hệt như cách Marguerite từng cười nhạo tôi. Rồi nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm lặng lẽ trôi. Đột nhiên, khi mỗi người mải miết bám theo định mệnh của riêng mình trên những ngã rẽ khác biệt, thì chính sự logic diệu kỳ của sự tình cờ lại xui khiến họ giáp mặt nhau. Người phụ nữ ấy trở thành nhân tình của người đàn ông và đem lòng yêu anh ta. Bằng cách nào ư? Tại sao lại thế? Kể từ giây phút đó, hai cá thể hòa làm một. Dù mới quen biết, họ ngỡ như đã thân thuộc tự muôn đời. Mọi thứ từng diễn ra trước đó đều bị xóa sạch khỏi tâm trí của hai kẻ đang say đắm trong tình yêu. Ai cũng phải thừa nhận rằng, đó quả là một sự tình cờ đầy kỳ lạ.

Về phần mình, tôi chẳng còn mường tượng nổi mình đã sống ra sao trước cái đêm định mệnh ấy. Toàn bộ tâm trí tôi bồng bềnh trong niềm hoan lạc mỗi khi nhớ lại từng lời thì thầm chúng tôi trao nhau ở đêm đầu tiên. Hoặc là Marguerite quá sành sỏi trong việc giăng bẫy tình, hoặc là ở nàng đã bùng lên một niềm say mê mãnh liệt, bất ngờ nảy nở từ nụ hôn đầu tiên-thứ cảm xúc thường rực cháy và rồi lụi tàn cũng nhanh như khi nó chớm nở.

Càng suy ngẫm, tôi càng quả quyết rằng Marguerite chẳng việc gì phải ngụy tạo một tình yêu mà nàng không hề cảm nhận. Tôi tự nhủ rằng phụ nữ có hai cách yêu, và cách này có thể là khởi nguồn cho cách kia: họ yêu bằng trái tim, hoặc bằng cảm giác. Thông thường, một người phụ nữ chấp nhận nhân tình chỉ để thỏa mãn những khao khát thể xác đơn thuần, nhưng rồi, nàng vô tình chạm đến sự mầu nhiệm của một tình yêu phi vật chất, để từ đó về sau chỉ sống trọn với trái tim mình. Cũng không hiếm khi, một thiếu nữ bước vào hôn nhân với khao khát tìm kiếm sự hòa hợp của những tình cảm thuần khiết, lại bất ngờ được khai mở bởi nhục dục-kết quả rực rỡ và mãnh liệt nhất của những ấn tượng trong ngần nơi tâm hồn.

Giữa miên man những dòng suy tưởng ấy, tôi chìm vào giấc ngủ. Rồi tôi bừng tỉnh bởi một bức thư từ Marguerite, với những dòng chữ ngắn gọn:

“Đây là lệnh của em: Tối nay tại rạp Vaudeville4.

“Hãy đến vào giờ giải lao thứ ba.”

Tôi cẩn thận cất bức thư vào ngăn kéo, cốt để lúc nào cũng có thể chạm tay vào mỗi khi lòng tôi dấy lên chút hoài nghi về tính chân thực của nó, như cái cách mà tôi vẫn thỉnh thoảng hay làm.

Nàng không bảo tôi đến thăm vào ban ngày, và tôi cũng chẳng dám đường đột bước tới. Thế nhưng, nỗi khao khát được nhìn thấy nàng trước buổi tối lại trào dâng mãnh liệt đến mức, tôi đã tự mình tìm đến đại lộ Champs-Élysées. Và ở đó, tôi lại thấy bóng dáng nàng thong dong dạo bước, hệt như ngày hôm qua.

Mới bảy giờ tối, tôi đã có mặt tại rạp Vaudeville. Quả thực, chưa bao giờ tôi đi xem kịch sớm đến thế. Các lô ghế5 dần được lấp đầy, chỉ còn chừa lại duy nhất một lô trống ngay sát sân khấu. Đến đầu màn ba, tôi bỗng nghe thấy tiếng mở cửa phát ra từ chính lô ghế mà mắt tôi vẫn luôn dán chặt vào nãy giờ. Rồi Marguerite bước ra. Nàng tiến thẳng lên phía trước, khẽ đảo mắt lướt quanh những hàng ghế, bắt gặp tôi, rồi trao cho tôi một ánh nhìn thay lời cảm tạ.

Đêm ấy, trông nàng đẹp tuyệt trần. Phải chăng tôi chính là nguyên nhân khiến nàng điểm trang lộng lẫy đến vậy? Phải chăng nàng đã yêu tôi đủ nhiều để tin rằng, vẻ kiều diễm của nàng sẽ càng nhân lên niềm hạnh phúc trong tôi? Tôi chẳng rõ nữa, nhưng nếu quả thực nàng có ý đó thì nàng đã thành công mỹ mãn. Bởi lẽ, ngay khoảnh khắc nàng xuất hiện, mọi ánh nhìn trong rạp đều bị hút chặt về phía nàng. Thậm chí, cả người diễn viên đang đứng trên sân khấu cũng phải ngoái lại nhìn, ngỡ ngàng không hiểu ai có thể khuấy động cả rạp hát chỉ bằng sự hiện diện của mình như thế.

Và ngẫm xem, tôi lại đang nắm giữ chiếc chìa khóa phòng của người phụ nữ tuyệt sắc ấy! Chỉ dăm ba giờ đồng hồ nữa thôi, nàng sẽ lại thuộc về tôi!

Người đời vẫn thường buông lời chê trách những gã đàn ông tự hất đổ đời mình vì những cô đào hát hay những kiều nữ được bao nuôi. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên hơn cả là tại sao người ta không vì họ mà phạm phải những rồ dại lớn gấp hai mươi lần như thế. Phải từng lăn lộn qua cuộc đời ấy, giống như tôi đã từng, thì mới thấu hiểu được những thói đỏm dáng cỏn con mà họ mang đến cho nhân tình mỗi ngày đã khắc sâu vào trái tim kẻ si tình đến nhường nào. Chẳng còn từ ngữ nào đắt giá hơn để diễn tả cái tình yêu mãnh liệt mà một người đàn ông có thể dâng hiến cho họ.

Prudence sau đó bước vào lô ghế, theo sau là một người đàn ông ngồi ở hàng ghế phía sau, mà tôi nhận ra ngay lập tức: Bá tước6 de G. Vừa thoáng thấy ông ta, một luồng khí lạnh đã chạy dọc qua trái tim tôi.

Chắc hẳn Marguerite đã nhận ra được sự xuất hiện của gã đàn ông này tác động đến tôi mạnh mẽ nhường nào. Nàng lại mỉm cười với tôi, rồi quay lưng hẳn về phía ngài bá tước, tỏ vẻ vô cùng chăm chú vào vở diễn. Đến khi màn thứ ba kết thúc để nghỉ giải lao, nàng chỉ quay lại buông hai tiếng ngắn gọn; ngài bá tước liền rời khỏi lô ghế. Ngay lập tức, Marguerite đưa mắt ra hiệu cho tôi tiến về phía nàng.

“Chào buổi tối,” nàng cất tiếng khi tôi vừa bước vào, khẽ chìa tay ra đón.

“Chào buổi tối,” tôi đáp lại, hướng về cả Marguerite và Prudence.

“Anh ngồi đi.”

“Nhưng tôi đang chiếm chỗ của người khác thì phải. Ngài Bá tước de G. không quay lại sao?”

“Có chứ; nhưng em vừa sai ông ta đi mua kẹo rồi, để chúng ta có thể trò chuyện riêng với nhau một lát. Bà Duvernoy đã biết rõ bí mật của chúng ta.”

“Đúng vậy, hai đứa ạ,” Prudence xen vào; “đừng lo sợ gì cả. Tôi sẽ không hé nửa lời đâu.”

“Đêm nay anh bị làm sao vậy?” Marguerite khẽ hỏi. Nàng đứng dậy, lùi về phía sau lô ghế và đặt một nụ hôn lên trán tôi.

“Anh thấy trong người không được khỏe lắm.”

“Thế thì anh nên đi ngủ đi,” nàng đáp trả bằng một điệu bộ châm biếm sắc sảo, vô cùng ăn khớp với nét thanh tú và hóm hỉnh trên gương mặt nàng.

“Ngủ ở đâu cơ?”

“Ở nhà anh chứ đâu.”

“Em thừa biết là anh sẽ chẳng tài nào chợp mắt nổi ở đó mà.”

“Vậy thì, anh đừng có đến đây để rồi lại mang cái điệu bộ hờn dỗi chỉ vì thấy một người đàn ông khác trong lô ghế của em nữa.”

“Không phải vì lý do đó đâu.”

“Chính là vì thế. Em đi guốc trong bụng anh rồi; và anh đã sai, vậy nên chúng ta đừng nhắc thêm về chuyện đó nữa. Anh sẽ về cùng Prudence sau khi buổi diễn kết thúc, và anh cứ đợi ở đó cho đến khi em gọi. Anh có hiểu không?”

“Anh hiểu.”

Làm sao tôi có thể không vâng lời nàng cơ chứ?

“Anh vẫn yêu em chứ?”

“Em còn phải hỏi câu đó sao?”

“Anh có nghĩ đến em không?”

“Trọn vẹn cả một ngày.”

“Anh có biết là em đang thực sự lo sợ rằng mình sẽ trở nên quá say đắm anh không? Cứ hỏi Prudence mà xem.”

“Ôi chao,” bà ta thốt lên, “thật đáng kinh ngạc!”

“Giờ thì anh phải quay lại chỗ ngồi của mình đi thôi. Ngài bá tước sắp quay lại rồi, và để ông ta thấy anh ở đây cũng chẳng mang lại lợi ích gì đâu.”

“Là vì em đâu có thích nhìn thấy mặt ông ta.”

“Không đâu; chẳng qua là nếu anh mở lời nói với em rằng anh muốn đến nhà hát Vaudeville tối nay, em cũng có thể dễ dàng kiếm cho anh một lô ghế hệt như cách ông ta đã làm.”

“Chỉ tiếc là, ông ta lại tự nguyện kiếm nó cho em mà chẳng cần em phải cất lời nhờ vả, đã thế ông ta còn rủ em đi cùng; anh thừa biết là em chẳng thể nào từ chối được. Tất cả những gì em có thể làm là viết thư báo trước cho anh biết em sẽ đi đâu, để anh có thể nhìn thấy em, và cũng bởi chính em rất khao khát được nhìn thấy anh; nhưng nếu đây là cách anh dùng để cảm ơn em, thì em sẽ coi đó là một bài học đắt giá.”

“Anh đã sai rồi; tha lỗi cho anh nhé.”

“Tốt rồi; giờ thì hãy ngoan ngoãn trở về chỗ của anh đi, và quan trọng nhất là, không được ghen tuông vớ vẩn gì nữa đấy.”

Nàng lại âu yếm hôn tôi thêm một lần nữa, rồi tôi mới luyến tiếc rời khỏi lô ghế. Dọc theo hành lang, tôi bắt gặp ngài bá tước đang rảo bước quay lại. Tôi lẳng lặng trở về chỗ ngồi của mình.

Xét cho cùng, sự hiện diện của Bá tước de G. trong lô ghế của Marguerite âu cũng là lẽ thường tình nhất trên đời. Ông ta từng là người tình của nàng, ông ta tặng nàng lô ghế ấy, rồi tháp tùng nàng đến nhà hát; mọi thứ đều diễn ra thật hiển nhiên, và nếu đã trót vương vấn một người tình như Marguerite, tôi buộc phải ép mình quen với lối sống phong lưu đó của nàng.

Dẫu tự nhủ lòng như thế, nỗi sầu muộn vẫn cứ bám riết lấy tôi trong suốt phần còn lại của đêm diễn. Tôi rời đi với cõi lòng trĩu nặng, bẽ bàng đưa mắt nhìn Prudence, gã bá tước và Marguerite bước lên cỗ xe ngựa đã chực chờ sẵn trước cửa.

Thế nhưng, chỉ mười lăm phút sau, tôi đã gõ cửa nhà Prudence. Bà ấy cũng vừa mới đặt chân về tới.



  1. Vào thế kỷ 19 tại Pháp, các tu viện (nữ tu viện) thường đóng vai trò là trường nội trú, nơi các gia đình khá giả gửi con gái vào để được giáo dục đạo đức tôn giáo nghiêm ngặt và bảo vệ khỏi những cám dỗ xã hội cho đến khi kết hôn. 

  2. Kỹ nữ (courtesan) trong bối cảnh xã hội Pháp thế kỷ 19 không chỉ là gái bán hoa thông thường, mà là những người phụ nữ có nhan sắc, giao thiệp rộng, được các quý tộc, tư sản giàu có bao nuôi. Họ có vị thế nhất định trong giới thượng lưu ngầm (demi-monde). 

  3. Điển tích từ truyện ngụ ngôn Aesop nổi tiếng 'Cậu bé chăn cừu và chó sói' (The Boy Who Cried Wolf), kể về một cậu bé hay nói dối kêu cứu để lừa dân làng, hậu quả là khi sói đến thật thì không ai tin cậu nữa. Tác giả mượn hình ảnh này để ám chỉ những kỹ nữ đã quen lừa dối trong tình trường. 

  4. Théâtre du Vaudeville là một nhà hát nổi tiếng tại Paris. Vào thế kỷ 19, đây là nơi trình diễn các vở kịch ngắn xen kẽ những bài hát nhẹ nhàng, đồng thời là địa điểm giao lưu, gặp gỡ quen thuộc của giới thượng lưu và những kỹ nữ (thường được các nhà bảo trợ thuê hẳn lô ghế riêng). 

  5. Trong các nhà hát cổ điển ở châu Âu, 'lô ghế' (box/loge) là những khu vực ghế ngồi được quây lại thành buồng riêng, thường nằm ở các tầng lửng dọc hai bên khán phòng. Chúng dành cho tầng lớp quý tộc hoặc người giàu có để thể hiện sự sang trọng, riêng tư. 

  6. Bá tước (Count/Comte) là một tước hiệu quý tộc châu Âu, xếp dưới Công tước và Hầu tước. Tương tự Công tước, tầng lớp này có sự giàu có và địa vị cao, thường xuyên chu cấp cho các kỹ nữ để thể hiện đẳng cấp.