CHƯƠNG XXVI

Những gì xảy ra sau đêm định mệnh ấy, anh cũng rõ như em. Thế nhưng, có một điều anh không thể biết, và cũng chẳng thể ngờ tới, đó là những nỗi thống khổ mà em phải gánh chịu kể từ phút giây đôi mình xa cách.

Người ta đồn rằng cha anh đã đưa anh rời đi. Dẫu vậy, em vẫn tin chắc anh chẳng thể sống xa em quá lâu. Chính vì thế, khi tình cờ gặp lại anh ở đại lộ Champs-Elysées1, dẫu lòng có chút bối rối, em lại chẳng hề ngạc nhiên.

Và rồi, chuỗi ngày đen tối ấy bắt đầu. Cứ mỗi ngày trôi qua, anh lại giáng xuống đời em một lời lăng nhục mới. Thật lạ kỳ, em lại đón nhận tất thảy những điều ấy bằng một niềm hân hoan khó tả. Bởi lẽ, những đòn roi tinh thần đó không chỉ minh chứng rằng anh vẫn còn yêu em thiết tha, mà dường như anh càng đày đọa em bao nhiêu, thì hình bóng em sẽ càng trở nên cao cả bấy nhiêu trong mắt anh khi sự thật được phơi bày.

Xin anh đừng ngạc nhiên trước niềm hân hoan được làm người tử đạo của em, Armand ạ. Chính tình yêu anh trao đã mở rộng cánh cửa trái tim em, để em đón nhận những nhiệt huyết thanh cao nhất.

Dù vậy, em vốn chẳng đủ mạnh mẽ ngay từ thuở ban đầu.

Khoảng thời gian từ lúc em hiến tế đời mình vì anh cho đến ngày anh quay lại dường như dài đằng đẵng. Trong những tháng ngày tuyệt vọng ấy, em buộc phải tìm đến những thú vui hành xác hòng giữ mình khỏi hóa điên. Em thả mình vào vòng xoáy cuộc đời, cố tình biến bản thân thành kẻ đui mù, điếc lác trước mọi thứ xung quanh. Prudence hẳn đã kể anh nghe (có đúng thế không anh?) cái cách em lao như thiêu thân vào đủ mọi chốn tiệc tùng, những đêm dạ vũ và bao cuộc hoan lạc. Lúc ấy, em mang một thứ hy vọng điên rồ: rằng chính sự trụy lạc này sẽ sớm kết liễu đời em. Sức khỏe của em, tất yếu, cứ thế trượt dài. Đến khi em phải cậy nhờ bà Duvernoy đến cầu xin lòng thương hại nơi anh, thì cả thể xác lẫn tâm hồn em đều đã hoàn toàn kiệt quệ.

Em sẽ chẳng nhắc lại, Armand ạ, về sự đền đáp mà anh dành cho minh chứng tình yêu cuối cùng em trao anh. Em cũng không nhắc đến sự tàn nhẫn anh dùng để xua đuổi một người phụ nữ đã cận kề miệng hố tử thần, một kẻ dại khờ đã không thể cưỡng lại giọng nói của anh khi anh đòi hỏi một đêm ân ái, để rồi ảo tưởng trong chốc lát rằng mình có thể nối lại duyên xưa. Anh có quyền làm mọi điều anh đã làm, Armand. Bởi lẽ, chưa một ai từng phải trả một cái giá đắt đỏ đến thế cho một đêm ân ái cùng em!

Sau chuyện đó, em buông xuôi tất cả. Olympe đã thế chỗ em bên vòng tay bá tước de N., và nghe đâu cô ta còn kể cho ngài ấy nghe lý do em rời bỏ ngài. Bá tước de G. khi đó đang ở London. Ngài vốn thuộc tuýp đàn ông coi chuyện mây mưa với những kẻ như em chỉ là thú tiêu khiển qua đường. Thế nên, ngài vẫn có thể làm bạn với phụ nữ mà không hề hằn học, bởi ngài chưa từng biết ghen tuông. Hơn nữa, ngài cũng là một trong những nhà quý phái vĩ đại - những kẻ chỉ hé mở một góc trái tim, nhưng lại sẵn sàng dốc cạn hầu bao vì chúng em. Chẳng hiểu sao, hình bóng ngài lại hiện lên đầu tiên trong tâm trí em lúc ấy. Thế là em cất bước sang London tìm ngài. Ngài đón tiếp em vô cùng ân cần, nhưng ngài lại đang trót dan díu với một phu nhân thuộc tầng lớp thượng lưu nơi xứ người, nên ngài sợ rước họa vào thân nếu bị bắt gặp đi cùng em. Ngài bèn giới thiệu em với đám bạn bè của mình. Họ đã mở tiệc thết đãi em, để rồi kết thúc buổi tiệc, một gã trong số đó đã đưa em về nhà hắn.

Em còn biết làm gì khác đây, hỡi người bạn của em? Nếu em tự kết liễu đời mình, điều đó sẽ giáng một nỗi ân hận không đáng có lên cuộc đời anh - một cuộc đời vốn dĩ sinh ra để tận hưởng hạnh phúc. Hơn nữa, khi cái chết đã kề sát bên cổ, việc tự sát liệu có còn ý nghĩa gì chăng?

Kể từ đó, em hóa thành một cái xác không hồn, một món đồ vô tri vô giác. Em cứ sống lây lất, mòn mỏi như một cỗ máy. Cho đến ngày quay lại Paris, em cất công dò hỏi tin tức về anh, thì mới hay tin anh đã rời đi trên một chuyến viễn du dài ngày. Giữa cuộc đời này, chẳng còn gì níu giữ bước chân em nữa. Sự tồn tại của em lại quay về cái vạch xuất phát như hai năm về trước, khi em chưa từng quen anh. Em đã nỗ lực giành lại vị công tước già, nhưng rốt cuộc lại xúc phạm ngài quá đỗi nặng nề. Người già thường thiếu kiên nhẫn, có lẽ vì họ thấu hiểu quỹ thời gian của mình chẳng còn bao nhiêu. Rồi em cứ thế yếu dần đi. Em trở nên xanh xao, sầu thảm và tiều tụy hơn bao giờ hết. Lũ đàn ông mua hương bán phấn luôn soi xét kỹ món hàng trước khi ngã giá. Mà ở Paris hoa lệ này, thiếu gì những bóng hồng rực rỡ và đẫy đà hơn em. Cứ thế, người đời dần lãng quên em. Đó là tất cả những tấn bi kịch đã diễn ra cho đến tận ngày hôm qua.

Bây giờ thì em đã ốm nặng lắm rồi. Em phải viết thư xin vị công tước chu cấp chút đỉnh, vì trong tay chẳng còn lấy một đồng, trong khi đám chủ nợ đã đánh hơi thấy, chúng lùng sục em cùng những xấp hóa đơn với một sự kiên trì nhẫn tâm tột độ. Liệu vị công tước có đoái hoài hồi âm không? Tại sao anh không ở lại Paris, Armand? Giá như anh đến thăm em, sự hiện diện của anh chắc chắn sẽ xoa dịu tâm hồn em.

Ngày 20 tháng 12.

Thời tiết thật khắc nghiệt; tuyết rơi không ngừng, và em thì trơ trọi cô đơn. Em bị những cơn sốt hành hạ li bì suốt ba ngày qua, yếu đến mức chẳng thể gượng viết cho anh lấy một chữ. Chẳng có tin tức gì cả, anh yêu; mỗi ngày trôi qua em đều bấu víu vào một hy vọng mỏng manh về một lá thư từ anh, nhưng nó đã không đến, và chắc chắn, sẽ vĩnh viễn không bao giờ đến. Chỉ có đàn ông mới có đủ sự sắt đá để không bao giờ thứ tha. Vị công tước cũng bặt vô âm tín.

Prudence lại mang những món đồ của em đi cầm cố.

Em ho ra máu liên miên. Ôi, hẳn anh sẽ xót thương em biết bao nếu anh nhìn thấy bộ dạng em lúc này. Anh thật diễm phúc khi được nương mình dưới một bầu trời ấm áp, chứ không phải như em, đang phải gánh chịu cả một mùa đông băng giá đè nặng lên lồng ngực yếu ớt. Hôm nay em đã gắng gượng trở dậy một lát, khẽ vén bức rèm cửa sổ nhìn ra ngoài, ngắm nhìn nhịp sống Paris hối hả lướt qua bên dưới, cái thế giới mà giờ đây em đã hoàn toàn dứt tuyệt. Em thoáng thấy vài gương mặt quen thuộc xẹt qua vội vã, cười nói hân hoan và vô lo. Chẳng một ai mảy may ngước nhìn lên ô cửa sổ của em. Tuy vậy, vẫn có vài gã thanh niên ghé lại hỏi thăm. Hồi tưởng lại, đã từng có một lần em đổ bệnh, và anh, dù khi ấy chưa hề quen biết em, dù chẳng nhận được gì từ em ngoài thái độ xấc xược trong cái ngày đầu tiên chúng ta gặp gỡ, anh vẫn kiên nhẫn đến hỏi han mỗi ngày. Chúng ta đã đi cùng nhau trọn sáu tháng trời. Em đã trút cạn cho anh tất thảy tình yêu mà trái tim một người phụ nữ có thể ấp ủ và dâng hiến, vậy mà giờ đây anh đang ở tít chốn xa xăm, buông lời nguyền rủa em, bỏ mặc em không lấy một lời an ủi. Nhưng em vẫn một mực tin rằng, hẳn là do một sự tình cờ trớ trêu nào đó mới khiến anh nỡ rời xa em, bởi nếu lúc này anh đang ở Paris, anh sẽ chẳng bao giờ nỡ rời khỏi giường bệnh của em.

Ngày 25 tháng 12.

Vị bác sĩ đã ân cần căn dặn em không được viết mỗi ngày. Và quả thực, những dòng ký ức ùa về chỉ làm cơn sốt trong em thêm phần dữ dội. Thế nhưng, ngày hôm qua em đã nhận được một bức thư mang lại cho em nguồn an ủi lớn lao, không hẳn vì sự giúp đỡ vật chất mà nó mang đến, mà chính bởi những lời lẽ đầy trắc ẩn được nắn nót bên trong. Vì lẽ đó, hôm nay em lại có thêm chút sức tàn để viết cho anh. Bức thư ấy là của cha anh, và đây là những dòng ngài đã viết:

"THƯA PHU NHÂN: Tôi vừa hay tin bà đang lâm trọng bệnh. Giả như tôi đang có mặt tại Paris, đích thân tôi sẽ đến thăm hỏi bà; nếu con trai tôi ở đây, tôi cũng sẽ sai nó đến; nhưng tiếc thay tôi không thể rời khỏi C., và Armand thì đang ở cách đây những sáu, bảy trăm dặm xa xôi. Vậy xin bà cho phép tôi, thưa phu nhân, được gửi đến bà đôi dòng thư này, chỉ để giãi bày sự đau xót nhường nào trong lòng tôi khi nghe tin bà ốm, và mong bà thấu hiểu cho tâm nguyện chân thành của tôi cầu mong bà sớm ngày bình phục.

"Một trong những người bạn tâm giao của tôi, ông H., sẽ đến thăm bà; hy vọng bà sẽ vui lòng tiếp đón ông ấy. Tôi đã ủy thác cho ông ấy một sứ mệnh, mà lòng tôi đang mỏi mòn chờ đợi kết quả.

"Xin hãy tin tôi, thưa phu nhân,

"Người bạn chân thành nhất của bà."

Đó là bức thư mà ngài đã gửi cho em. Cha anh mang một trái tim thật vô ngần cao cả; hãy yêu thương ngài ấy thật nhiều, hỡi người bạn yêu dấu của em, bởi thế gian này hiếm có người đàn ông nào xứng đáng được nhận tình yêu thương đến thế. Chỉ một tờ giấy mong manh mang chữ ký của ngài đã xoa dịu nỗi đau trong em hơn mọi phương thuốc thần diệu của vị bác sĩ tài năng kia.

Sáng nay ông H. đã đến. Trông ông ấy vô cùng bối rối trước sứ mệnh tế nhị mà ông Duval đã giao phó. Thực ra, ông ấy đến để trao tận tay em ba ngàn franc từ cha anh. Thoạt đầu em đã định chối từ, nhưng ông H. ân cần nói rằng sự khước từ ấy sẽ làm ông Duval phiền lòng, bởi ngài đã ủy thác cho ông trao số tiền này cho em ngay lúc này, và sẽ chu cấp bất cứ thứ gì em cần đến sau này. Cuối cùng, em đã nhận lấy, bởi lẽ, một món quà đến từ cha anh thì không thể nào bị xem là một sự bố thí phũ phàng. Nếu như em đã không còn trên cõi đời này khi anh trở về, xin anh hãy cho cha anh xem những dòng em đã viết về ngài, và hãy nói với ngài rằng trong khoảnh khắc viết nên những lời này, người phụ nữ khốn khổ từng được ngài rủ lòng thương xót gửi cho một bức thư ủi an đã rơi những giọt nước mắt biết ơn sâu sắc và thành tâm cầu xin Đức Chúa ban phước lành cho ngài.

Ngày 4 tháng 1.

Em vừa trải qua những tháng ngày kinh hoàng nhất. Em chưa từng mường tượng nổi thể xác con người lại có thể oằn mình chịu đựng ngần ấy nỗi đớn đau. Ôi, phần đời xa hoa tội lỗi của em trong quá khứ! Giờ đây, em đang phải trả giá đắt gấp ngàn lần cho nó.

Đêm nào cũng có người túc trực bên giường bệnh; em gần như chẳng thể thở được nữa. Chút tàn hơi của sự tồn tại đáng thương này đang bị xé lẻ giữa những cơn mê sảng triền miên và những tràng ho khốc liệt.

Phòng ăn giờ đây ngập tràn bánh kẹo và đủ thứ quà cáp mà bạn bè mang đến. Vài người trong số họ, em dám chắc, vẫn hoài mong rằng một ngày nào đó em sẽ lại trở thành nhân tình của họ. Giá như họ có thể tận mắt chứng kiến bạo bệnh đã tàn phá hình hài em đến nhường nào, hẳn họ sẽ kinh hãi mà bỏ chạy không dám ngoái nhìn.

Prudence thì đang mượn hoa kính Phật, lấy ngay những món quà người ta tặng em để làm quà năm mới cho bà ta.

Tuyết ngoài trời đang tan dần, và bác sĩ bảo em có thể ra ngoài một chút trong vài ngày tới nếu tiết trời đẹp đẽ này vẫn còn nán lại.

Ngày 8 tháng 1.

Hôm qua, em đã dạo chơi trên chiếc xe ngựa. Tiết trời đẹp biết bao. Khắp đại lộ Champs-Élysées đông nghịt người qua lại. Cảnh sắc hệt như nụ cười e ấp đón chào mùa xuân chớm nở, không khí tựa hồ một ngày hội lớn bủa vây lấy em. Trước kia, em đâu hề hay biết rằng chỉ một tia nắng mỏng manh lại có thể ủ ấp ngần ấy niềm vui, bao nỗi ngọt ngào và sự ủi an đến vậy.

Em gần như đã hội ngộ tất thảy những người quen cũ. Ai nấy đều hoan hỉ, mải miết đắm chìm trong thú vui riêng. Có biết bao kẻ đang say trong hạnh phúc mà chẳng hề hay biết mình đang hạnh phúc! Olympe cũng kiêu hãnh lướt qua em trên cỗ xe ngựa lộng lẫy do ngài de N. ban tặng. Cô ta cố tình buông ánh nhìn đầy miệt thị hòng sỉ nhục em. Nhưng cô ta nào biết, tâm thế của em giờ đây đã bỏ xa những tị hiềm trần tục ấy đến nhường nào. Một chàng thanh niên tử tế, người quen cũ của em, tiến đến hỏi xem em có muốn dùng bữa tối cùng anh ta và một người bạn không. Anh ta bộc bạch rằng người bạn kia đang nóng lòng khao khát được làm quen với em. Đáp lại, em chỉ nở nụ cười buồn bã, khẽ chìa ra bàn tay đang hầm hập cơn sốt. Từ trước tới nay, em chưa từng thấy ai lộ vẻ sững sờ kinh ngạc đến thế.

Bốn giờ chiều, em trở về nhà. Em bỗng thấy thèm ăn lạ thường trong bữa tối. Chuyến dạo chơi đã xoa dịu đi chút ít những mệt nhoài. Giá như em có thể bình phục! Chứng kiến nhịp sống cuộn trào và niềm hân hoan của những người xung quanh, lòng khao khát sống trong em bỗng trỗi dậy mãnh liệt biết bao. Thế mà, chỉ mới đêm qua thôi, giữa màn đêm tĩnh mịch của tâm hồn và bóng tối u uất nơi căn phòng bệnh, kẻ này chỉ mong sao cái chết mau chóng buông xuống cho xong kiếp đoạ đày!

Ngày 10 tháng 1.

Ảo vọng bình phục rốt cuộc cũng chỉ là một giấc mơ tàn. Em lại phải nằm liệt giường, phủ trên mình những miếng cao dán nóng rát. Nếu bây giờ em đem rao bán cái thể xác từng được người ta trả giá cao ngất ngưởng thuở nào, chẳng hay hôm nay, họ sẽ ném lại cho em bao nhiêu đồng bạc lẻ?

Hẳn là chúng ta đã trót phạm phải một tội lỗi tàn độc nào đó trước khi kịp chào đời. Hoặc nếu không, ắt hẳn chúng ta sẽ vô vàn viên mãn khi nhắm mắt xuôi tay. Phải chăng vì lẽ đó, Chúa trời đành bắt cõi nhân sinh này phải oằn mình gánh chịu mọi cực hình của sự đền tội, cùng mọi bi ai của một kiếp đọa đày.

Ngày 12 tháng 1.

Em mê man trong cơn bạo bệnh.

Hôm qua, ngài de N. có gửi cho em chút tiền. Em chẳng màng giữ lại, cũng nhất quyết không nhận bất cứ thứ gì từ gã đàn ông đó. Chính vì ngài ta mà giờ đây anh không thể ở bên em.

Ôi, những tháng ngày tươi đẹp nhường ấy ở Bougival! Giờ chúng đã phiêu dạt về đâu?

Nếu em có thể bước ra khỏi căn phòng này mà vẫn còn giữ được chút hơi tàn, em sẽ thực hiện một chuyến hành hương về lại ngôi nhà chung của đôi ta, và em sẽ chẳng bao giờ rời đi nữa cho tới tận lúc trút hơi thở cuối cùng.

Có ai biết được, liệu ngày mai em còn đủ sức để viết cho anh nữa không?

Ngày 25 tháng 1.

Đã mười một đêm ròng em chẳng thể chợp mắt. Cơn ngạt thở cứ hành hạ từng cơn. Mỗi một khoảnh khắc trôi qua, em đều ngỡ như cái chết đã kề cận. Bác sĩ đã cấm em đụng đến giấy bút. Nhưng Julie Duprat, người bạn vẫn luôn túc trực chăm sóc em, đã mềm lòng để em nán lại viết cho anh những dòng ngắn ngủi này. Anh sẽ không trở về trước khi em nhắm mắt xuôi tay sao? Phải chăng mọi thứ giữa chúng ta đã vĩnh viễn khép lại? Dường như chỉ cần anh đến, em sẽ khỏe lại. Nhưng giờ khỏe lại thì còn ích gì cơ chứ?

Ngày 28 tháng 1.

Sáng nay, em bị đánh thức bởi một trận huyên náo. Julie, người vẫn thường ngủ lại trong phòng em, tất tả chạy vội ra phòng ăn. Em loáng thoáng nghe thấy những giọng đàn ông thô lỗ, và tiếng Julie cự cãi với họ trong tuyệt vọng. Cuối cùng, cô ấy quay vào với đôi mắt lưng tròng.

Họ đến để tịch thu tài sản của em. Em đành bảo cô ấy cứ mặc kệ họ, cứ để cho cái thứ mà người ta gọi là công lý ấy được thực thi. Tên thừa phát lại2 sỗ sàng bước vào phòng em, chiếc mũ vẫn câng câng trên đầu. Hắn thản nhiên lục lọi các ngăn kéo, ghi chép lại mọi thứ hắn thấy, dường như chẳng mảy may bận tâm đến chuyện đang có một người phụ nữ hấp hối nằm ngay trên chiếc giường mà may thay, chút khoan hồng sót lại của luật pháp đã chừa lại cho em.

Trước khi đi, hắn còn buông lời rằng em có thể kháng cáo trong vòng chín ngày, rồi hắn để lại một gã đàn ông ngồi đó canh chừng. Lạy Chúa! Chuyện gì sẽ giáng xuống đời em đây? Cảnh tượng kinh khủng ấy càng khiến bệnh tình em thêm phần trầm trọng. Bà Prudence nằng nặc đòi đi xin tiền vị bạn cũ của cha anh, nhưng em nhất quyết chối từ.

Sáng nay em nhận được thư anh. Lá thư ấy đến ngay lúc em khao khát nó nhất. Liệu những dòng hồi âm này của em có đến tay anh kịp lúc? Liệu anh có bao giờ còn được gặp lại em nữa không? Hôm nay quả là một ngày hạnh phúc, nó khiến em quên đi sạch sành sanh những chuỗi ngày đọa đày suốt sáu tuần qua. Em thấy trong người dường như cũng khá hơn, dẫu cho một nỗi sầu muộn vẫn cứ bám riết lấy em trong lúc viết thư hồi đáp cho anh.

Suy cho cùng, trên đời làm gì có ai phải gánh chịu bất hạnh mãi.

Khi em mơ tưởng rằng biết đâu mình sẽ không chết, biết đâu anh sẽ trở về, và em sẽ lại được ngắm nhìn mùa xuân đâm chồi nảy lộc, được anh yêu thương thêm lần nữa, và chúng ta sẽ lại cùng nhau bắt đầu cuộc sống êm đềm như năm ngoái!

Nhưng em thật ngốc nghếch làm sao! Tay em giờ đây khó mà cầm nổi cây bút để viết cho anh về cái giấc mộng viển vông, hão huyền ấy của trái tim mình.

Dẫu cho ngày mai có ra sao, em vẫn luôn yêu anh tha thiết, Armand à. Có lẽ em đã lìa đời từ lâu rồi, nếu không nhờ ký ức về tình yêu của anh không ngừng nâng đỡ, và nhờ cả chút hy vọng dẫu mỏng manh rằng sẽ lại được thấy anh hiển hiện ngay bên cạnh em lần nữa.

Ngày 4 tháng 2.

Bá tước de G. đã trở về. Người tình của ngài đã phụ bạc ngài. Ngài u sầu lắm; ngài đã từng rất yêu cô ta. Ngài tìm đến để trút bầu tâm sự với em. Tội nghiệp ngài, tài chính hiện giờ của ngài cũng khá chật vật; vậy mà ngài vẫn rộng lượng thanh toán hết cho tên thừa phát lại và tống khứ cái gã canh chừng đáng ghét kia đi.

Em đã tâm sự với ngài về anh, và ngài hứa sẽ kể cho anh nghe về em. Em dường như đã quên khuấy mất việc mình từng là nhân tình của ngài, và ngài cũng tinh tế muốn em gạt bỏ đi ký ức ấy. Ngài quả là một người bạn tốt.

Hôm qua, vị công tước già cho người đến hỏi han, rồi sáng nay đích thân ngài đã đến thăm em. Em cũng chẳng rõ làm thế nào mà một ông lão như ngài lại có thể sống dai dẳng đến vậy. Ngài túc trực bên em suốt ba giờ đồng hồ nhưng chẳng thốt ra quá hai mươi từ. Hai giọt lệ già nua lăn dài nơi khóe mắt ngài khi chứng kiến thân hình em giờ đây gầy guộc, tiều tụy đến nhường nào. Hẳn là ký ức về cái chết của cô con gái vắn số lại ùa về, bóp nghẹt trái tim ngài. Ngài như phải chứng kiến đứa con gái ấy lìa đời thêm một lần nữa. Lưng ngài còng rạp xuống, đầu cúi gầm, đôi môi trễ nải, còn ánh mắt thì trống rỗng, vô hồn. Tuổi già bủa vây cùng nỗi đau buồn đè nặng gấp bội lên cái cơ thể rệu rã ấy. Ngài không một lời trách cứ em. Nhưng sâu thẳm bên trong, ngài dường như lại âm thầm mãn nguyện khi thấy bệnh tật đã tàn phá em đến thế này. Ngài có vẻ tự mãn vì mình vẫn còn trụ vững, trong khi em, dẫu đang đương độ thanh xuân, lại bị quật ngã bởi bao đớn đau chất chồng.

Tiết trời u ám lại kéo đến. Chẳng còn lấy một ai đến thăm em nữa. Chỉ có Julie là cố gắng túc trực bên cạnh em nhiều nhất có thể. Còn bà Prudence, vì em không còn đủ sức chu cấp cho bà ta rủng rỉnh như trước, đã bắt đầu viện hết cớ này đến cớ khác để lảng tránh.

Bây giờ, khi cái chết đã kề cận đến nhường này - bất chấp những lời động viên an ủi của các bác sĩ, mà việc có đến vài bác sĩ hội chẩn cũng đủ chứng tỏ bệnh tình em đang ngày một nguy kịch - em gần như ân hận vì đã vâng lời cha anh. Nếu sớm biết rằng em chỉ chiếm đoạt của anh vỏn vẹn một năm tương lai, thì hẳn em đã chẳng thể cưỡng lại cái khát khao được gắn bó trọn vẹn năm tháng ấy bên anh. Để rồi ít nhất, lúc lâm chung, em cũng có một người tri kỷ nắm lấy tay mình. Sự thật là, nếu năm nay chúng ta được sống bên nhau, thì em đã không phải lìa đời sớm đến thế.

Nhưng thôi, đành xin vâng theo thánh ý Chúa!

Ngày 5 tháng 2.

Ôi, hãy đến, xin anh hãy đến, Armand! Em đau đớn đến kinh hoàng; lạy Chúa, em sắp chết rồi! Hôm qua, nỗi đau đớn giày vò khiến em chỉ muốn trốn chạy khỏi căn nhà này, muốn tìm đến bất cứ nơi đâu để cố vượt qua buổi tối, cái buổi tối tưởng chừng sẽ lại lê thê đằng đẵng như đêm trước đó. Vị công tước già đã ghé thăm em vào ban sáng. Và dường như, khi phải nhìn thấy một ông lão đã bị Thần Chết lãng quên, em lại càng cảm thấy cái chết của chính mình đang ập đến nhanh hơn.

Mặc cho cơn sốt hầm hập đang thiêu đốt tâm can, em vẫn nằng nặc bắt mọi người mặc quần áo cho em và đưa đến nhà hát Vaudeville3. Cậu Julie đã điểm chút phấn hồng lên má em, bởi nếu không, trông em sẽ chẳng khác nào một cái xác không hồn. Em ngồi đúng trong lô ghế nơi em từng trao cho anh lời hẹn ước đầu tiên. Suốt buổi diễn hôm ấy, ánh mắt em không phút nào rời khỏi hàng ghế đầu mà ngày đó anh từng ngồi, mặc cho lúc bấy giờ đang có một gã nhà quê nào đó chễm chệ ở đấy, cười hô hố trước từng câu thoại ngớ ngẩn của đám diễn viên. Khi được đưa về đến nhà, em tưởng như mình đã chết đi một nửa. Cả đêm em ho rũ rượi và khạc ra máu. Hôm nay em đã chẳng thể cất nổi lời, cánh tay cũng nặng trĩu tưởng chừng không nhúc nhích được nữa. Chúa ơi! Chúa ơi! Em sắp chết rồi! Em vốn đã lường trước được điều này, nhưng em vẫn không tài nào quen nổi với ý nghĩ rằng mình sẽ phải hứng chịu thêm nhiều đớn đau hơn những gì đang cào xé em lúc này, và nếu như...

Sau đoạn này, có vài dòng chữ do Marguerite cố gắng nắn nót viết nhưng đã mờ nhòa không thể đọc nổi. Những dòng tiếp theo đây được viết bởi Julie Duprat.

Ngày 18 tháng 2.

THƯA ANH ARMAND,

Kể từ cái ngày Marguerite một mực đòi đến nhà hát, bệnh tình của cô ấy ngày càng trở nên trầm trọng. Giọng nói đã hoàn toàn tắt lịm, và giờ đây, ngay cả tay chân cô ấy cũng chẳng còn mảy may cử động được nữa.

Thật không bút nào tả xiết những nỗi đớn đau mà người bạn đáng thương của chúng ta đang gánh chịu. Vốn chẳng quen với những cảnh tượng xót xa nhường này, tôi luôn sống trong một nỗi kinh hoàng thường trực.

Giá như có anh ở đây lúc này! Cô ấy gần như chìm trong những cơn mê sảng triền miên. Thế nhưng, dù là lúc mê man hay khi tỉnh táo, cái tên duy nhất bật thốt trên đôi môi ấy-mỗi khi cô còn gom đủ tàn hơi để cất lời-luôn luôn là tên anh.

Bác sĩ nói với tôi rằng cô ấy chẳng còn bám trụ được bao lâu nữa. Từ khi Marguerite đổ bệnh nặng, vị công tước già biệt tăm biệt tích. Ông từng thổ lộ với bác sĩ rằng cảnh tượng bi thương này thật quá sức chịu đựng đối với một người mang tuổi xế chiều như ông.

Bà Duvernoy thì đang cư xử thật tệ bạc làm sao. Người đàn bà ấy-kẻ từng đinh ninh rằng có thể bòn rút thêm chút tiền mọn từ Marguerite, người mà bà ta gần như sống tầm gửi hoàn toàn-đã trót mang những món nợ chẳng thể nào vãn hồi. Và rồi, khi nhận ra người hàng xóm đáng thương không còn chút giá trị lợi dụng nào nữa, bà ta thậm chí chẳng thèm đoái hoài cất bước đến thăm. Mọi người đều đang nhẫn tâm ruồng rẫy cô ấy. Bá tước de G., vì bị hối thúc bởi nợ nần, đành phải quay về London. Trước lúc rời đi, ngài đã gửi lại cho chúng tôi chút tiền mọn; ngài đã dốc hết sức mình, nhưng những gã chủ nợ đã quay lại để tịch biên đồ đạc. Bọn họ giờ đây chỉ chực chờ cô ấy trút hơi thở cuối cùng để bán tháo đi tất thảy.

Tôi đã định gom góp chút tài sản ít ỏi còn lại của mình để ngăn cản sự tàn nhẫn ấy, nhưng tên thừa phát lại gạt đi, bảo rằng dẫu có làm vậy cũng tốn công vô ích, bởi những đợt tịch thu khác sẽ lại nối tiếp nhau ập đến. Vì đằng nào cô ấy cũng phải lìa xa cõi đời này, thôi thì thà cứ để mọi thứ đội nón ra đi, còn hơn là cố công gìn giữ cho một gia đình mà cô chưa từng màng tới chuyện trùng phùng, những kẻ cũng chẳng mảy may đoái hoài đến sự tồn tại của cô. Anh sẽ chẳng thể nào mường tượng nổi cảnh người con gái tội nghiệp ấy đang héo mòn từng ngày trong tận cùng bi đát giữa chốn vàng son tàn lụi này đâu. Hôm qua, chúng tôi đã cạn kiệt đến đồng xu cuối cùng. Bát đĩa, đồ trang sức, những chiếc khăn choàng, mọi thứ đều đã lần lượt đội nón ra đi; phần còn lại cũng bị đem bán hoặc niêm phong. Marguerite vẫn nhận thức được mọi chuyện đang diễn ra xung quanh, nỗi đau đớn giày vò cô cả về thể xác, tâm trí lẫn trái tim. Những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn rơi trên đôi gò má gầy gò, xanh xao đến mức-nếu anh có thể nhìn thấy cô ngay lúc này-anh sẽ chẳng tài nào nhận ra khuôn mặt kiều diễm của người con gái anh từng yêu say đắm. Cô ấy đã bắt tôi thề sẽ viết thư cho anh khi bản thân không còn đủ sức cầm bút nữa, và lúc này đây, tôi đang viết ngay trước mặt cô ấy. Đôi mắt cô hướng về phía tôi, nhưng ánh nhìn ấy đã chẳng còn thấy tôi nữa; một bức màn tử thần đang chầm chậm phủ mờ nhãn quan. Thế nhưng, trên môi cô vẫn đọng lại một nụ cười, và tôi dám chắc rằng, trọn vẹn tâm trí cùng linh hồn cô ấy giờ đây đều thuộc về anh.

Mỗi bận cánh cửa hé mở, đôi mắt cô lại rực sáng lên những tia hy vọng, ngỡ rằng anh sắp bước vào. Rồi khi nhận ra người đến chẳng phải là anh, gương mặt ấy lại chìm nghỉm trong vẻ bi thương não nuột, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa, và đôi gò má lại ửng lên những ráng đỏ hoang hoải.

Nửa đêm, ngày 19 tháng 2.

Hôm nay thật là một ngày nhuốm màu tang tóc, anh Armand tội nghiệp của tôi! Sáng nay, Marguerite lên cơn ngạt thở; bác sĩ đã phải trích máu cho cô, và giọng nói mới thoi thóp trở lại được đôi chút. Bác sĩ khẩn khoản khuyên cô nên gặp một vị linh mục. Cô ấy khẽ khàng đáp "Được," và chính ông đã đích thân đi mời một cha xứ từ nhà thờ Saint Roch tới.

Trong lúc chờ đợi, Marguerite vẫy tôi đến bên giường, bảo tôi mở chiếc tủ ra. Cô chỉ tay vào một chiếc mũ điểm xuyết nón và một dải áo lót dài phủ đầy ren trắng, rồi thều thào qua hơi thở đứt quãng:

"Mình sẽ chết ngay sau khi xưng tội. Lúc ấy, cậu hãy mặc cho mình những thứ này nhé; đó là sự đỏng đảnh cuối cùng của một kẻ sắp từ giã cõi đời."

Rồi cô ôm chầm lấy tôi, nước mắt giàn giụa, thổn thức:

"Mình có thể nói được, nhưng mỗi lời thốt ra lại khiến mình ngạt thở; mình đang nghẹt thở đây. Cho mình chút không khí với!"

Tôi bật khóc nức nở, vội vã mở tung cửa sổ. Vài phút sau, vị linh mục bước vào. Tôi tiến lại gần cha; khi nhận ra mình đang bước chân vào chốn nào, dường như cha e ngại sẽ chẳng được tiếp đón tử tế.

"Xin cha cứ tự nhiên bước vào," tôi cất lời đon đả.

Cha lưu lại trong phòng một khoảng thời gian rất đỗi ngắn ngủi. Khi bước ra, cha từ tốn nói với tôi:

"Con bé đã sống như một kẻ tội lỗi, nhưng nó sẽ ra đi như một con chiên ngoan đạo."

Vài phút sau, cha quay lại cùng với một cậu bé hát thánh ca nâng cao cây thánh giá, và một người giữ áo nến đi trước họ, tay rung hồi chuông báo hiệu Chúa đang ngự đến rước linh hồn người hấp hối.

Cả ba người họ từ tốn bước vào căn phòng ngủ-nơi từng chứng kiến biết bao lời đường mật dị thường-giờ đây đã hóa thành một thánh đường tĩnh mặc và thiêng liêng.

Tôi quỳ phục xuống sàn. Chẳng rõ ấn tượng về những gì đang phơi bày trước mắt sẽ hằn sâu trong tôi bao lâu, nhưng tôi tin chắc rằng, cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay, sẽ chẳng có bất cứ điều gì trên cõi đời này có thể để lại trong tôi một niềm xúc động mãnh liệt đến vậy.

Vị linh mục xức dầu thánh4 lên bàn chân, bàn tay và vầng trán người phụ nữ đang hấp hối. Cha rầm rì tụng niệm một lời cầu nguyện ngắn, và thế là Marguerite đã sẵn sàng cho chuyến hành trình về cõi thiên đàng-nơi mà tôi không mảy may nghi ngờ rằng cô sẽ cập bến, nếu Chúa thấu tỏ những gian truân kiếp này và sự thánh thiện vương vấn trong cái chết của cô.

Kể từ giây phút ấy, cô không thốt thêm nửa lời hay động đậy mảy may. Đã hai mươi lần tôi ngỡ cô đã trút hơi thở cuối cùng, nếu không nghe thấy tiếng thở dốc đứt đoạn đầy đau đớn.

5 giờ chiều, ngày 20 tháng 2.

Mọi chuyện đã kết thúc rồi.

Marguerite chìm vào cơn hấp hối cuối cùng vào khoảng hai giờ chiều nay. Nếu đong đếm bằng những tiếng gào thét xé lòng mà cô thốt ra, có lẽ chưa từng có một vị thánh tử đạo nào phải chịu đựng sự tra tấn nhường ấy. Hai hay ba lần gì đó, cô ngồi bật dậy trên giường, hệt như muốn dùng chút sức tàn để níu giữ lấy mạng sống đang không ngừng trôi tuột về phía Chúa.

Cũng chừng ấy lần, cô thảng thốt gọi tên anh; rồi mọi thứ chìm vào một cõi tĩnh lặng miên viễn. Cô ngã vật xuống giường, vắt kiệt sức lực. Những giọt lệ câm lặng rịn ra từ khóe mi, và cô ấy đã nhẹ nhàng ra đi.

Tôi bước đến bên cô; khẽ gọi tên, và khi chẳng còn thanh âm nào đáp lại, tôi vuốt mắt cho cô rồi đặt một nụ hôn lên vầng trán lạnh lẽo.

Marguerite tội nghiệp, yêu dấu của tôi, giá như tôi là một người phụ nữ thánh thiện, để nụ hôn này có thể tiến cử cô trước Đức Chúa trời.

Sau đó, tôi mặc cho cô những bộ y phục đúng như lời trăng trối. Tôi đi tìm vị linh mục ở nhà thờ Saint Roch, thắp cho cô hai ngọn nến, và quỳ cầu nguyện trong nhà thờ suốt một giờ đồng hồ.

Tôi đã đem số tiền ít ỏi cô để lại phân phát cho những người nghèo khổ.

Tôi chẳng am tường nhiều về tôn giáo, nhưng tôi có niềm tin mãnh liệt rằng Chúa sẽ thấu hiểu những giọt nước mắt chân thật của tôi, những lời cầu nguyện nhiệt thành, sự bố thí thật tâm, và rằng Người sẽ rủ lòng xót thương xót người con gái phải chịu cảnh hương tiêu ngọc vẫn, người mà chỉ có duy nhất tôi vuốt mắt và liệm vào tấm khăn tang lạnh lẽo.

Ngày 22 tháng 2.

Lễ tang đã diễn ra vào hôm nay. Rất nhiều người quen của Marguerite đã tề tựu tại nhà thờ. Vài người trong số họ đã rơi những giọt nước mắt thực sự. Thế nhưng, khi cỗ quan tài bắt đầu chuyển bánh hướng về nghĩa trang Montmartre, chỉ có đúng hai người đàn ông cất bước theo sau: Bá tước de G., người đã tức tốc lặn lội từ London trở về, và vị công tước già nua-người phải vịn vào hai gã tùy tùng mới mong đứng vững.

Tôi viết cho anh những dòng chi tiết này từ chính căn nhà của cô ấy, giữa những giọt nước mắt tủi hờn và dưới ngọn đèn vàng vọt leo lét buồn bã. Bên cạnh tôi là bữa tối mà tôi chẳng tài nào đụng đũa-thứ mà Nanine đã dọn ra, bởi tôi chưa có hạt nào vào bụng suốt hai mươi tư giờ qua.

Cuộc đời tôi chẳng thể dung chứa những ấn tượng bi thương này lâu dài được, bởi số phận tôi chẳng thuộc về tôi, cũng hệt như số phận của Marguerite chưa bao giờ thuộc về chính cô ấy vậy. Đó là lý do tôi phải ghi chép lại mọi chi tiết ngay tại chốn này, trong nỗi sợ hãi tột cùng rằng: nếu vạn nhất có một khoảng thời gian đằng đẵng trôi qua từ lúc này cho đến lúc anh trở về, tôi sẽ chẳng thể nào thuật lại cho anh với trọn vẹn sự chính xác và u sầu đến thế.



  1. Đại lộ nổi tiếng và sầm uất bậc nhất ở Paris, biểu tượng của sự phồn hoa, nơi giới thượng lưu Pháp thế kỷ 19 thường xuyên lui tới dạo chơi. 

  2. Một chức danh tư pháp thời xưa ở Pháp, có thẩm quyền thi hành án, tống đạt giấy tờ và thực hiện việc tịch thu tài sản để siết nợ. 

  3. Một nhà hát lịch sử ở Paris, chuyên trình diễn các vở kịch hài nhẹ nhàng xen lẫn âm nhạc, là tụ điểm giải trí phổ biến của giới thượng lưu thời bấy giờ. 

  4. Nghi thức trong đạo Công giáo (Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân), dùng dầu thánh bôi lên người bệnh nặng để ban ơn nâng đỡ tâm hồn và tha thứ tội lỗi trước khi qua đời.