CHƯƠNG VII
Những căn bệnh như của anh Armand thường có một điểm may mắn: chúng hoặc tước đoạt sinh mệnh người ta ngay lập tức, hoặc sẽ rút lui rất nhanh. Nửa tháng sau những sự việc tôi vừa kể, anh Armand đã bước vào giai đoạn hồi phục, và chúng tôi cũng trở thành những người bạn tâm giao. Trong suốt những ngày anh bạo bệnh, tôi hầu như túc trực không rời nửa bước.
Mùa xuân đương độ rực rỡ với muôn hoa khoe sắc và ríu rít tiếng chim ca; cánh cửa sổ phòng bạn tôi mở ra khu vườn căng tràn nhựa sống, thổi vào hồn anh một luồng sinh khí tươi mới. Bác sĩ đã cho phép anh rời giường, thế là chúng tôi thường ngồi hàn huyên bên bậu cửa sổ lộng gió, vào lúc mặt trời rực rỡ nhất, từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Tôi cẩn trọng không đả động đến cô Marguerite, e sợ cái tên ấy sẽ khơi dậy những ký ức bi thương đang ẩn giấu dưới vẻ điềm tĩnh bề ngoài của người bệnh. Nhưng trái lại, anh Armand dường như lại tìm thấy niềm vui khi nhắc về cô, không phải với đôi mắt đẫm lệ như thuở trước, mà bằng một nụ cười êm đềm khiến tôi hoàn toàn yên tâm về trạng thái tinh thần của anh.
Tôi chợt nhận ra, kể từ lần cuối anh viếng nghĩa trang và cảnh tượng đau lòng khơi mào cho cơn khủng hoảng dữ dội ấy, nỗi bi ai dường như đã bị cơn bạo bệnh đè bẹp, và cái chết của cô Marguerite không còn ám ảnh tâm trí anh như trước nữa. Một niềm an ủi tĩnh tại nào đó đã nảy nở từ niềm tin vững chắc trong anh lúc này. Và để xua đi bức tranh u ám vẫn thường chập chờn trước mắt, anh trôi về miền ký ức hạnh phúc của mối tình với cô Marguerite, dường như đã quyết tâm cự tuyệt mọi ý nghĩ nào khác.
Cơ thể anh đã kiệt quệ sau những cơn sốt triền miên và cả những đợt chạy chữa, chẳng còn đủ sức chịu đựng bất kỳ cảm xúc bạo liệt nào thêm nữa. Giữa lúc ấy, niềm hân hoan ngập tràn của mùa xuân vây quanh đã vô thức dẫn dắt tâm trí anh hướng về những hình ảnh tươi sáng. Anh kiên quyết giấu kín tình trạng thập tử nhất sinh của mình với gia đình, đến mức khi anh đã bình phục, cha anh vẫn chẳng mảy may hay biết con trai mình từng bước qua cửa tử.
Một buổi chiều nọ, chúng tôi ngồi nán lại bên cửa sổ muộn hơn thường lệ. Tiết trời êm ả lạ thường, và mặt trời đang lịm dần vào giấc ngủ giữa ánh hoàng hôn rực rỡ sắc vàng pha lẫn xanh biếc. Dẫu đang ở giữa lòng Paris, nhưng màn lá biếc bao quanh dường như đã giăng một bức màn cách ly chúng tôi khỏi thế giới phàm tục bên ngoài; cuộc hàn huyên của chúng tôi chỉ đôi lúc bị ngắt quãng bởi tiếng xe cộ lướt qua.
"Cũng vào tầm này trong năm, trong một buổi tối êm đềm hệt thế này, tôi đã gặp Marguerite lần đầu tiên," anh Armand cất lời, dường như đang lắng nghe những tâm tư của chính mình hơn là bận tâm đến những gì tôi đang nói. Tôi giữ im lặng. Lát sau, anh quay sang tôi và bảo:
"Tôi phải kể cho anh nghe toàn bộ câu chuyện; rồi anh sẽ viết nó thành một cuốn sách; hẳn sẽ chẳng ai tin đâu, nhưng biết đâu làm vậy lại là một điều thú vị."
"Anh cứ từ từ rồi kể tôi nghe sau nhé, anh bạn của tôi," tôi khuyên nhủ; "anh vẫn chưa đủ khỏe đâu."
"Tối nay trời êm ấm quá, vả lại tôi cũng đã ăn xong phần gà của mình rồi," anh mỉm cười đáp lời tôi; "tôi chẳng còn sốt, chúng ta cũng không bận bịu gì, tôi sẽ kể cho anh nghe ngay bây giờ."
"Nếu anh thực lòng muốn thế, tôi xin lắng nghe."
Và dưới đây là những gì anh đã giãi bày, một câu chuyện cảm động mà tôi gần như chẳng thay đổi dù chỉ một từ.
Phải (anh Armand nói tiếp, ngả đầu tựa ra lưng ghế), phải, đó đúng là một buổi tối hệt như đêm nay. Tôi đã dành trọn cả ngày ở miền quê cùng một người bạn, cậu Gaston R-. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi trở về Paris. Chẳng biết làm gì cho khuây khỏa, hai đứa bèn rủ nhau đến nhà hát Variétés1. Trong giờ giải lao, khi dạo bước ngoài hành lang, có một người phụ nữ dáng dong dỏng cao lướt qua chúng tôi, người mà bạn tôi đã khẽ cúi chào.
"Cậu vừa chào ai thế?" tôi cất tiếng hỏi.
"Cô Marguerite Gautier," cậu ấy đáp.
"Trông cô ấy thay đổi quá, thảo nào tôi nhìn không ra," tôi buột miệng, với một nỗi niềm khắc khoải mà anh sẽ sớm thấu hiểu.
"Cô ấy đang ốm nặng; e rằng cô gái tội nghiệp ấy chẳng còn sống được bao lâu nữa."
Những lời ấy, đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in, ngỡ như mới thoảng qua bên tai ngày hôm qua vậy.
Tôi phải thú thật với anh, anh bạn ạ, rằng suốt hai năm trường, hình bóng người thiếu nữ ấy luôn gieo vào lòng tôi một ấn tượng lạ lùng mỗi bận tình cờ chạm mặt. Chẳng hiểu vì cớ gì, mặt tôi cứ tái nhợt đi, còn tim thì đập liên hồi. Tôi có một người bạn chuyên nghiên cứu về các bộ môn khoa học huyền bí, hẳn cậu ta sẽ gọi thứ xúc cảm tôi đang trải qua là "sự tương hợp của những luồng khí". Nhưng với tôi, tôi chỉ biết duy nhất một điều rằng định mệnh đã an bài cho tôi phải lòng cô Marguerite, và tôi đã linh cảm được điều đó từ trước.
Quả thực, cô ấy đã để lại trong tôi một dấu ấn sâu đậm đến mức đám bạn tôi cũng nhận ra. Bọn họ tỏ ra vô cùng thích thú khi biết được người cướp mất hồn tôi là ai.
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nàng là ở quảng trường Place de la Bourse2, ngay phía ngoài tiệm Susse3. Một chiếc xe ngựa mui trần đỗ xịch lại, và một người phụ nữ trong bộ đầm trắng bước xuống. Một tiếng xì xào ngưỡng mộ vang lên đón chào nàng ngay khi nàng vừa bước qua bậu cửa. Còn tôi, đôi chân tôi như bị chôn chặt xuống đất từ khoảnh khắc nàng bước vào cho tới tận lúc nàng rời đi. Qua ô cửa kính, tôi có thể ngắm nhìn nàng đang mải mê lựa chọn những món đồ ưng ý. Lẽ ra tôi đã có thể bước vào trong, nhưng tôi lại chẳng đủ can đảm. Tôi chưa hề biết nàng là ai, tôi chỉ e sợ rằng nếu nàng đoán được ý đồ của tôi, nàng sẽ cảm thấy bị mạo phạm. Dẫu vậy, tôi cũng chẳng dám mong mình sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng nàng lần nữa.
Nàng ăn vận thật đài các làm sao; khoác trên mình chiếc váy muslin với những tầng bèo nhún kiêu sa, hờ hững một dải khăn choàng Ấn Độ4 điểm xuyết những đóa hoa thêu bằng vàng và lụa ở bốn góc. Nàng đội chiếc mũ rơm duyên dáng, đeo một chiếc vòng tay đơn giản, cùng một sợi dây chuyền vàng bản to - kiểu trang sức mới chớm thịnh hành lúc bấy giờ.
Nàng bước lên xe và khuất dạng. Một người bán hàng đứng nấn ná ở cửa tiệm, đưa mắt nhìn theo cỗ xe của vị khách hàng thanh lịch. Tôi đánh bạo bước lại gần và hỏi tên của quý cô ấy.
"Cô Marguerite Gautier," anh ta đáp lời. Tôi chẳng dám hỏi thêm địa chỉ của nàng, chỉ biết lẳng lặng rảo bước rời đi.
Ký ức về ảo ảnh ấy - vâng, đó thực sự là một ảo ảnh - cứ vương vấn mãi chẳng chịu buông tha tâm trí tôi, không giống như vô vàn những bóng hồng tôi từng bắt gặp. Và rồi, tôi đã cất công tìm kiếm khắp nơi bóng dáng của người phụ nữ mặc váy trắng mang vẻ đẹp vương giả ấy.
Vài ngày sau, tại nhà hát Opéra Comique5 diễn ra một buổi biểu diễn lớn. Người đầu tiên lọt vào tầm mắt tôi, ngồi trong một căn buồng lô6, không ai khác chính là cô Marguerite Gautier.
Người bạn đi cùng tôi cũng lập tức nhận ra cô. Nhắc đến tên cô, cậu ta bảo: "Cậu nhìn cô gái xinh đẹp kia kìa."
Vừa hay lúc đó, Marguerite đưa ống nhòm lướt về phía chúng tôi. Nhận ra bạn tôi, cô mỉm cười rồi vẫy tay ra hiệu gọi cậu ấy đến.
"Tôi sang chào cô ấy một tiếng nhé," cậu ấy nói, "rồi sẽ quay lại ngay."
Tôi buột miệng cảm thán: "Ôi, đúng là một gã may mắn!"
"Sao vậy?"
"Vì được đến gặp người phụ nữ ấy."
"Cậu yêu cô ta rồi à?"
"Không," tôi vội đáp, mặt bất chợt đỏ bừng vì chẳng biết phải nói sao cho phải, "nhưng tôi rất muốn được làm quen với cô ấy."
"Thế thì đi cùng tôi. Tôi sẽ giới thiệu cậu."
"Cậu cứ hỏi xem cô ấy có cho phép không đã."
"Trời ạ, cớ gì phải câu nệ với cô ta cơ chứ; đi nào."
Câu nói của cậu bạn khiến tôi có chút bàng hoàng bối rối. Tôi chợt lo sợ sẽ phải bẽ bàng nhận ra rằng Marguerite chẳng hề xứng đáng với những xúc cảm thiêng liêng tôi đang ấp ủ dành cho cô.
Tôi chợt nhớ tới cuốn Am Rauchen của Alphonse Karr7, kể về một gã đàn ông nọ, vào một buổi tối, trót mê đắm mà bước theo gót một kiều nữ vô cùng thanh lịch. Gã đã yêu nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên trước nhan sắc kiều diễm ấy. Gã cảm thấy chỉ cần được đặt môi lên bàn tay nàng thôi, gã sẽ có sức mạnh để cáng đáng muôn ngàn gian khó, có ý chí để chinh phục mọi chông gai, và có lòng can đảm để vươn tới mọi đích đến. Gã thậm chí còn chẳng dám đánh mắt nhìn trộm cổ chân thon thả mà nàng vô tình để lộ khi khẽ nhấc tà váy lên tránh vũng lầy. Thế nhưng, giữa lúc gã đang thả hồn miên man về những kỳ tích mình sẽ làm để đoạt được trái tim người đẹp, thì nàng chợt dừng bước nơi góc phố và cất lời hỏi xem gã có muốn về nhà cùng nàng không. Vậy là gã quay lưng, lẳng lặng băng qua đường và mang theo nỗi buồn bã ủ ê đi thẳng về nhà.
Hồi tưởng lại câu chuyện đó, và với khao khát được nếm trải khổ đau vì người phụ nữ này, tôi lại đâm ra lo sợ. Tôi sợ cô ấy sẽ dễ dàng chấp nhận tôi, trao ngay cho tôi thứ mà tôi cam tâm đánh đổi bằng những tháng ngày mỏi mòn chờ đợi hay một sự hy sinh to lớn. Đàn ông chúng tôi vốn dĩ được sinh ra như thế đấy! May mắn thay, trí tưởng tượng đã ban phát quá nhiều chất thơ cho các giác quan, để những dục vọng thể xác phải chịu nhượng bộ trước những giấc mộng của tâm hồn. Giả như có ai đó bảo tôi: "Đêm nay anh sẽ có được nàng và ngày mai anh phải chết", tôi sẽ gật đầu ưng thuận. Nhưng nếu người ta bảo: "Anh có thể làm nhân tình của nàng chỉ với mười bảng Anh", tôi sẽ dứt khoát chối từ. Và tôi sẽ bật khóc nức nở như một đứa trẻ vừa choàng tỉnh giấc, ngậm ngùi nhìn tòa lâu đài nguy nga trong mơ tan thành mây khói.
Dẫu vậy, khát khao được biết cô ấy trong tôi vẫn cháy bỏng; bởi đó là cách duy nhất để tôi tự thông suốt cõi lòng mình. Thế nên, tôi khăng khăng bảo bạn mình phải xin được sự cho phép của cô trước khi giới thiệu. Rồi tôi cứ đi tới đi lui ngoài hành lang, tự nhủ thầm rằng chỉ một chốc nữa thôi khi cô ấy nhìn thấy mình, tôi sẽ chẳng biết giấu mặt vào đâu. Thậm chí tôi còn cố gắng (ôi, cái sự trẻ con tuyệt diệu của tình yêu!) chắp nối sẵn trong đầu những lời hoa mỹ sẽ nói cùng cô.
Lát sau, bạn tôi quay lại. "Cô ấy đang đợi chúng ta kìa," cậu ấy bảo.
"Cô ấy ở một mình à?" tôi dè dặt hỏi.
"Có cả một người phụ nữ khác nữa."
"Không có người đàn ông nào sao?"
"Không có."
"Vậy thì đi thôi."
Nhưng bạn tôi lại sải bước về phía cửa nhà hát.
"Đâu phải đường đó," tôi thắc mắc.
"Chúng ta phải đi mua ít kẹo đã. Cô ấy nhờ tôi đi mua."
Chúng tôi bước vào một tiệm bánh kẹo nằm trong khu passage de l’Opéra8. Trong lòng tôi chỉ muốn mua phăng cả cửa tiệm cho cô. Đang lúc tôi đưa mắt dáo dác nhìn quanh xem nên chọn loại nào cho xứng, thì bạn tôi lại gọi ngay một cân nho khô bọc đường.
"Cậu có chắc là cô ấy thích loại này không?"
"Cô ấy chẳng bao giờ ăn loại nào khác đâu; ai mà chả biết chuyện đó."
"À này," cậu ấy nói tiếp khi chúng tôi vừa bước ra khỏi cửa hàng, "cậu có biết tôi sắp giới thiệu cậu với kiểu phụ nữ nào không đấy? Đừng có huyễn hoặc đó là một vị nữ công tước đài các nhé. Đó chỉ đơn giản là một người phụ nữ được bao nuôi bằng rất nhiều tiền, anh bạn thân mến ạ. Cứ tự nhiên đi, đừng có ngại ngùng, nghĩ gì trong đầu thì cứ thế mà nói."
"Được... được thôi," tôi ấp úng, cất bước đi theo cậu ấy, thầm nhủ với lòng rằng rồi mình sẽ sớm tự chữa khỏi căn bệnh si tình hão huyền này.
Khi tôi bước vào phòng lô, cô Marguerite đang bật cười ngặt nghẽo. Phải chi lúc đó trông cô có nét muộn phiền, có lẽ tôi đã bớt lúng túng hơn. Bạn tôi lên tiếng giới thiệu; cô Marguerite chỉ khẽ gật đầu đáp lễ, rồi hỏi gọn lỏn: "Kẹo của tôi đâu?"
"Đây."
Lúc đón lấy túi kẹo, cô đưa mắt nhìn tôi chằm chằm. Tôi vội cụp mắt xuống, hai má bất giác đỏ bừng.
Cô nghiêng mình sang người phụ nữ ngồi cạnh, thì thầm điều gì đó vào tai cô ta khiến cả hai cùng bật cười. Hiển nhiên, tôi chính là ngọn nguồn cho sự cợt nhả ấy, và nỗi bối rối trong tôi lại càng thêm trĩu nặng. Thuở ấy, tôi đang cặp kè cùng một cô nhân tình bé nhỏ, một tâm hồn đa cảm và tha thiết yêu thương, những lá thư vương nét u hoài cùng thứ tình cảm ướt át của nàng luôn mang đến cho tôi một niềm vui sướng dịu dàng. Giờ đây, qua chính những gì mình đang nếm trải, tôi mới thấu hiểu được những nỗi đau mà bản thân hẳn đã gieo rắc vào lòng nàng. Trong năm phút ngắn ngủi ấy, tôi chợt thấy mình yêu nàng hơn bất kỳ người phụ nữ nào từng được yêu trên cõi đời này.
Cô Marguerite thản nhiên nhấm nháp món nho khô tẩm đường, chẳng buồn đoái hoài đến tôi nữa. Anh bạn tôi không nỡ để tôi cứ mãi kẹt trong tình cảnh trớ trêu ấy, bèn lên tiếng:
"Cô Marguerite," cậu ấy nói, "xin cô đừng lấy làm lạ nếu anh Duval cứ nín lặng mãi thế: cô đã lấn át anh ấy đến độ chẳng còn tìm được từ nào để thốt lên nữa rồi."
"Ngược lại thì có, tôi dám chắc anh ta đi cùng cậu chỉ vì sợ cậu sẽ buồn chán đến chết nếu phải đến đây một mình."
"Nếu quả thực là vậy," tôi đáp lời, "thì tôi đã chẳng nài nỉ cậu Ernest xin phép cô để được giới thiệu với cô rồi."
"Có lẽ làm thế cũng chỉ để trì hoãn thời khắc định mệnh chăng."
Dẫu người ta có mù mờ đến mấy về thế giới của những người phụ nữ như cô Marguerite, thì cũng chẳng ai lại không biết đến cái thú vui thích trêu chọc và buông lời sắc sảo với những người họ mới gặp mặt lần đầu của các nàng. Không nghi ngờ gì nữa, đó là cách họ tự đền bù cho những nỗi nhục nhã ê chề mà họ ngày ngày phải cắn răng chịu đựng từ những kẻ vẫn thường lui tới.
Để đáp trả họ một cách thanh lịch, người ta đòi hỏi phải có một sự tinh tế khéo léo nhất định, mà tôi thì nào đã có cơ hội lĩnh hội nghệ thuật ấy; hơn nữa, chính vầng hào quang mà tôi tự tô vẽ nên quanh hình bóng cô Marguerite lại càng khiến những lời nhạo báng của cô mang sức sát thương lớn hơn. Bất cứ điều gì toát ra từ cô, tôi đều không thể dửng dưng phớt lờ. Tôi đứng phắt dậy, cất lời bằng một âm sắc lạ lẫm mà chính tôi cũng chẳng thể nào làm chủ được:
"Nếu đó là những gì cô nghĩ về tôi, thưa cô, thì tôi đành xin cô lượng thứ cho sự đường đột của mình, và xin cáo từ cùng lời cam đoan rằng chuyện này sẽ không bao giờ lặp lại nữa."
Nói đoạn, tôi cúi chào rồi quay gót bước khỏi phòng lô. Cánh cửa vừa khép lại sau lưng, tôi đã lập tức nghe thấy tràng cười thứ ba nổ ra. Ngay lúc đó, kẻ nào vô phúc huých cùi chỏ vào tôi hẳn sẽ chuốc lấy một kết cục chẳng mấy tốt đẹp.
Tôi lững thững quay về chỗ ngồi. Tiếng chuông báo hiệu giờ kéo màn đã điểm vang lên. Ernest cũng vừa vặn trở lại vị trí bên cạnh tôi.
"Cậu vừa hành xử cái kiểu gì thế!" cậu ấy trách móc ngay khi vừa thả mình xuống ghế. "Người ta sẽ tưởng cậu mất trí rồi đấy."
"Cô Marguerite đã nói gì sau khi tôi rời đi?"
"Cô ấy chỉ cười, bảo rằng chưa từng thấy kẻ nào nực cười đến vậy. Nhưng cậu cũng đừng xem đó là một cơ hội đã tuột khỏi tầm tay; đơn giản là đừng ban cho những người phụ nữ kiểu ấy cái vinh hạnh được cậu đoái hoài tới. Bọn họ nào biết đến phép tắc hay sự nhã nhặn là gì. Giống hệt như khi cậu xức loại nước hoa hảo hạng cho một con chó vậy-nó sẽ chỉ thấy mùi hôi hám, rồi lại chạy đi lăn lộn ngoài rãnh bùn dơ dáy mà thôi."
"Thì rốt cuộc, mấy chuyện đó có can dự gì đến tôi đâu?" tôi đáp, cố gắng khoác lên mình vẻ dửng dưng. "Tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại người phụ nữ ấy nữa. Và nếu như trước kia, khi chưa từng giáp mặt, tôi đã có đôi chút để tâm đến cô ấy, thì giờ đây, khi đã thấu rõ con người đó, mọi thứ đã hoàn toàn đổi khác rồi."
"Xì! Tôi chưa bi quan đến mức tưởng tượng ra cảnh một ngày nào đó phải chứng kiến cậu chôn chân ở góc phòng lô của cô ấy, rồi nghe thiên hạ đồn đại rằng cậu đang tự hủy hoại cuộc đời mình vì người phụ nữ đó đâu. Mà dù sao đi nữa, cậu nói cũng phải, cô ấy chẳng được giáo dục đến nơi đến chốn; nhưng dẫu vậy, cô ấy vẫn thừa sức trở thành một nhân tình đầy mị lực."
Thật may mắn, ngay lúc đó bức màn nhung của sân khấu từ từ kéo lên, buộc cậu bạn tôi phải im bặt. Kể từ giây phút ấy, tôi hoàn toàn chẳng thể nhớ nổi người ta đang diễn vở kịch gì trên sân khấu. Tất cả những gì còn sót lại trong tâm trí tôi, chỉ là những khoảnh khắc tôi vô thức ngước mắt nhìn về phía căn phòng lô mà tôi vừa vội vã rời đi, để rồi thấy những gương mặt khách khứa xa lạ cứ liên tục đến rồi đi, thay phiên nhau không ngớt.
Tôi khó lòng dứt được hình bóng cô Marguerite ra khỏi tâm trí. Một luồng cảm xúc khác lạ đã hoàn toàn chiếm lấy tôi. Dường như tôi cảm thấy mình cần phải xóa tan đi sự ngạo mạn châm chọc của cô ấy, và cả sự ngớ ngẩn của chính mình; tôi tự nhủ rằng, cho dù có phải tiêu đến đồng xu cuối cùng, tôi cũng phải có được cô ấy, phải giành lại đặc quyền được sánh bước bên nàng - cái vị trí mà tôi đã từ bỏ quá đỗi vội vàng.
Buổi biểu diễn còn chưa vãn, cô Marguerite cùng người bạn của mình đã rời khỏi phòng lô. Tôi liền bật dậy khỏi ghế.
"Cậu định đi à?" Ernest hỏi.
"Ừ."
"Sao vậy?"
Ngay lúc đó, cậu ấy đưa mắt nhìn sang và thấy căn phòng lô đã trống trơn.
"Đi đi, đi đi," cậu ấy giục, "chúc may mắn nhé, hay đúng hơn là mong cậu sẽ gặp may mắn hơn ban nãy."
Tôi vội vã bước ra ngoài.
Tôi chợt nghe thấy tiếng váy lụa sột soạt cùng tiếng trò chuyện văng vẳng trên cầu thang. Tôi nép mình sang một bên, và cố không để bị phát hiện, tôi lặng ngắm hai người phụ nữ lướt qua mình, sánh bước cùng họ là hai gã thanh niên. Ở lối vào nhà hát, một người hầu đã đứng đợi sẵn để đón họ.
"Bảo người đánh xe cứ đợi ở cửa quán Café Anglais9 nhé," cô Marguerite căn dặn. "Chúng ta sẽ đi bộ đến đó."
Vài phút sau, từ ngoài phố nhìn lên, tôi thấy cô Marguerite đang đứng bên cửa sổ của một trong những căn phòng lộng lẫy nhất nhà hàng, hững hờ bứt từng cánh hoa trà trong bó hoa của mình thả rơi lả tả. Một trong hai gã đàn ông đang nhoài người qua vai cô, thầm thì những lời lả lơi vào tai nàng. Tôi bèn chọn một chỗ ngồi ở nhà hàng Maison-d'or10, ngay căn phòng trên lầu một, và dán chặt mắt vào khung cửa sổ ấy không rời dù chỉ một giây. Mãi đến tận một giờ sáng, cô Marguerite mới bước lên xe ngựa cùng ba người bạn. Tôi liền vẫy một chiếc xe ngựa kéo khác bám theo họ. Cỗ xe dừng lại trước số 9, phố Rue d'Antin11. Cô Marguerite bước xuống và đi vào nhà một mình. Đó chắc hẳn chỉ là một sự tình cờ, nhưng chính sự tình cờ ấy lại khiến lòng tôi ngập tràn niềm vui sướng khôn tả.
Kể từ dạo đó, tôi thường xuyên bắt gặp cô Marguerite, khi thì ở nhà hát, lúc lại trên đại lộ Champs-Elysées12. Vẫn luôn là dáng vẻ vui tươi rạng rỡ ấy ở cô, và vẫn luôn là những đợt sóng cảm xúc mãnh liệt ấy cuộn trào trong tôi.
Thế rồi, ròng rã nửa tháng trời trôi qua mà tôi chẳng hề chạm mặt nàng. Tình cờ gặp lại cậu Gaston, tôi bèn dò hỏi tung tích của nàng.
"Cô gái tội nghiệp, cô ấy đang ốm rất nặng," cậu ấy đáp lời.
"Cô ấy làm sao vậy?"
"Bị lao phổi, mà thứ nếp sống buông thả hiện tại lại chẳng mảy may giúp ích gì cho việc chữa trị cả. Cô ấy đã nằm liệt giường rồi; và có lẽ, cái chết đã cận kề."
Trái tim con người quả là một thứ thật kỳ lạ; tôi gần như trào dâng một niềm vui sướng khó tả khi nghe hung tin ấy.
Kể từ dạo đó, ngày nào tôi cũng ghé qua hỏi thăm tình hình của nàng, nhưng tuyệt nhiên không để lại tên tuổi hay danh thiếp. Rồi tôi nghe người ta kháo nhau rằng nàng đang dần hồi phục và đã dời đến thị trấn Bagnères13 để tĩnh dưỡng.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, những ấn tượng ngày nào, nếu không muốn nói là cả những ký ức, cũng dần phai nhạt trong tâm trí tôi. Tôi vùi mình vào những chuyến đi; những cuộc tình chóng vánh, những thói quen mới cùng guồng quay công việc đã choán hết mọi tâm tư, gạt đi những suy nghĩ khác. Để rồi, mỗi khi hồi tưởng lại cuộc phiêu lưu si tình ấy, tôi chỉ xem nó như một bồng bột si mê mà bất kỳ ai cũng thường vướng phải khi còn quá trẻ, một thứ tình cảm mà người ta sẽ dễ dàng bật cười chế nhạo ngay sau đó.
Dẫu vậy, tôi cũng chẳng lấy gì làm hãnh diện về việc rũ bỏ ký ức của mình, bởi lẽ tôi đã hoàn toàn bặt vô âm tín về cô Marguerite. Và, như tôi đã kể với anh đấy, khi nàng lướt qua tôi nơi hành lang nhà hát Variétés, tôi đã chẳng hề nhận ra nàng. Việc nàng có buông mạng che mặt là sự thật; nhưng giá như nàng che mặt vào hai năm về trước, thì tôi cũng chẳng cần phải tận mắt nhìn thấy dung nhan mới có thể nhận ra nàng: tôi hẳn đã nhận ra nàng bằng trực giác. Dẫu vậy, lồng ngực tôi vẫn bắt đầu đập loạn nhịp khi biết người thiếu phụ ấy chính là nàng. Hai năm trời đằng đẵng đã trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi gặp nàng, vậy mà mọi thứ tưởng chừng như là thành quả của sự xa cách ấy đều bỗng chốc tan biến thành mây khói, chỉ bởi một cái chạm khẽ vào tà váy của nàng.
-
Théâtre des Variétés là một nhà hát nổi tiếng tại Paris, Pháp, được khánh thành vào đầu thế kỷ 19. Nơi đây thường trình diễn các vở kịch nhẹ nhàng, hài kịch và thu hút giới thượng lưu cũng như giới văn nghệ sĩ đương thời. ↩
-
Quảng trường ở trung tâm Paris, nơi đặt trụ sở Sàn giao dịch Chứng khoán Paris (Bourse de Paris). Đây từng là một khu vực sầm uất và tập trung nhiều cửa hiệu sang trọng vào thế kỷ 19. ↩
-
Susse Frères là một trong những cửa hàng nổi tiếng và lâu đời nhất ở Paris vào thế kỷ 19, chuyên bày bán các món đồ nghệ thuật, đồ đồng, và văn phòng phẩm cao cấp dành cho giới thượng lưu. ↩
-
Vào thế kỷ 19 tại châu Âu, những chiếc khăn choàng đắt tiền (như khăn lông cừu cashmere) nhập khẩu từ Ấn Độ là món đồ thời trang vô cùng xa xỉ, tượng trưng cho sự giàu có và địa vị xã hội cao của người mặc. ↩
-
Nhà hát Quốc gia Opéra-Comique tại Paris, được thành lập từ thế kỷ 18. Khác với Opera truyền thống, các vở diễn ở đây thường có xen kẽ những đoạn thoại kịch không hát, là một điểm đến văn hóa quen thuộc của giới trung lưu và thượng lưu. ↩
-
Từ gốc tiếng Pháp là 'loge', chỉ khu vực ghế ngồi được quây kín thành phòng nhỏ riêng biệt trên tầng cao hoặc hai bên cánh gà của nhà hát, dành cho tầng lớp quý tộc hoặc người giàu có để đảm bảo sự riêng tư và thể hiện đẳng cấp. ↩
-
Alphonse Karr (1808-1890) là một nhà báo, nhà văn người Pháp nổi tiếng thế kỷ 19. Cuốn sách 'Am Rauchen' (Dưới làn khói thuốc) tập hợp những suy ngẫm, triết lý lãng mạn và đôi khi châm biếm về tình yêu và xã hội. ↩
-
Một khu hành lang thương mại có mái che nổi tiếng ở Paris (Passage de l'Opéra), tập trung nhiều cửa tiệm sang trọng, quán cà phê và là nơi giới thượng lưu thường dạo bước, mua sắm vào thế kỷ 19. ↩
-
Một nhà hàng cực kỳ danh tiếng và đắt đỏ bậc nhất Paris thế kỷ 19, nằm trên đại lộ Boulevard des Italiens. Nơi đây là điểm tụ tập quen thuộc của giới quý tộc, người nổi tiếng và giới ăn chơi thời bấy giờ. ↩
-
La Maison d'Or (Ngôi nhà Vàng) là một nhà hàng vô cùng sang trọng ở Paris thế kỷ 19, nổi tiếng với giới thượng lưu bởi kiến trúc lộng lẫy và ẩm thực xa hoa, nằm đối diện với Café Anglais. ↩
-
Một con phố nằm ở khu vực trung tâm sầm uất của Paris, nơi có nhiều dinh thự và căn hộ đắt tiền dành cho giới nhà giàu vào thế kỷ 19. ↩
-
Đại lộ lớn và nổi tiếng nhất của thủ đô Paris, Pháp. Từ thế kỷ 19, đây đã là nơi giới thượng lưu thường xuyên dạo chơi, đi xe ngựa để khoe sự phô trương và đẳng cấp. ↩
-
Bagnères là những thị trấn nghỉ dưỡng nằm ở vùng núi Pyrenees, miền nam nước Pháp. Nơi đây nổi tiếng với các suối khoáng nóng, thường được giới nhà giàu thế kỷ 19 tìm đến để an dưỡng và chữa bệnh (đặc biệt là bệnh lao). ↩
Chapter VII
Illnesses like Armand’s have one fortunate thing about them: they either kill outright or are very soon overcome. A fortnight after the events which I have just related Armand was convalescent, and we had already become great friends. During the whole course of his illness I had hardly left his side.
Spring was profuse in its flowers, its leaves, its birds, its songs; and my friend’s window opened gaily upon his garden, from which a reviving breath of health seemed to come to him. The doctor had allowed him to get up, and we often sat talking at the open window, at the hour when the sun is at its height, from twelve to two. I was careful not to refer to Marguerite, fearing lest the name should awaken sad recollections hidden under the apparent calm of the invalid; but Armand, on the contrary, seemed to delight in speaking of her, not as formerly, with tears in his eyes, but with a sweet smile which reassured me as to the state of his mind.
I had noticed that ever since his last visit to the cemetery, and the sight which had brought on so violent a crisis, sorrow seemed to have been overcome by sickness, and Marguerite’s death no longer appeared to him under its former aspect. A kind of consolation had sprung from the certainty of which he was now fully persuaded, and in order to banish the sombre picture which often presented itself to him, he returned upon the happy recollections of his liaison with Marguerite, and seemed resolved to think of nothing else.
The body was too much weakened by the attack of fever, and even by the process of its cure, to permit him any violent emotions, and the universal joy of spring which wrapped him round carried his thoughts instinctively to images of joy. He had always obstinately refused to tell his family of the danger which he had been in, and when he was well again his father did not even know that he had been ill.
One evening we had sat at the window later than usual; the weather had been superb, and the sun sank to sleep in a twilight dazzling with gold and azure. Though we were in Paris, the verdure which surrounded us seemed to shut us off from the world, and our conversation was only now and again disturbed by the sound of a passing vehicle.
“It was about this time of the year, on the evening of a day like this, that I first met Marguerite,” said Armand to me, as if he were listening to his own thoughts rather than to what I was saying. I did not answer. Then turning toward me, he said:
“I must tell you the whole story; you will make a book out of it; no one will believe it, but it will perhaps be interesting to do.”
“You will tell me all about it later on, my friend,” I said to him; “you are not strong enough yet.”
“It is a warm evening, I have eaten my ration of chicken,” he said to me, smiling; “I have no fever, we have nothing to do, I will tell it to you now.”
“Since you really wish it, I will listen.”
This is what he told me, and I have scarcely changed a word of the touching story.
Yes (Armand went on, letting his head sink back on the chair), yes, it was just such an evening as this. I had spent the day in the country with one of my friends, Gaston R-. We returned to Paris in the evening, and not knowing what to do we went to the Variétés. We went out during one of the entr’actes, and a tall woman passed us in the corridor, to whom my friend bowed.
“Whom are you bowing to?” I asked.
“Marguerite Gautier,” he said.
“She seems much changed, for I did not recognise her,” I said, with an emotion that you will soon understand.
“She has been ill; the poor girl won’t last long.”
I remember the words as if they had been spoken to me yesterday.
I must tell you, my friend, that for two years the sight of this girl had made a strange impression on me whenever I came across her. Without knowing why, I turned pale and my heart beat violently. I have a friend who studies the occult sciences, and he would call what I experienced “the affinity of fluids”; as for me, I only know that I was fated to fall in love with Marguerite, and that I foresaw it.
It is certainly the fact that she made a very definite impression upon me, that many of my friends had noticed it and that they had been much amused when they saw who it was that made this impression upon me.
The first time I ever saw her was in the Place de la Bourse, outside Susse’s; an open carriage was stationed there, and a woman dressed in white got down from it. A murmur of admiration greeted her as she entered the shop. As for me, I was rivetted to the spot from the moment she went in till the moment when she came out again. I could see her through the shop windows selecting what she had come to buy. I might have gone in, but I dared not. I did not know who she was, and I was afraid lest she should guess why I had come in and be offended. Nevertheless, I did not think I should ever see her again.
She was elegantly dressed; she wore a muslin dress with many flounces, an Indian shawl embroidered at the corners with gold and silk flowers, a straw hat, a single bracelet, and a heavy gold chain, such as was just then beginning to be the fashion.
She returned to her carriage and drove away. One of the shopmen stood at the door looking after his elegant customer’s carriage. I went up to him and asked him what was the lady’s name.
“Mademoiselle Marguerite Gautier,” he replied. I dared not ask him for her address, and went on my way.
The recollection of this vision, for it was really a vision, would not leave my mind like so many visions I had seen, and I looked everywhere for this royally beautiful woman in white.
A few days later there was a great performance at the Opera Comique. The first person I saw in one of the boxes was Marguerite Gautier.
The young man whom I was with recognised her immediately, for he said to me, mentioning her name: “Look at that pretty girl.”
At that moment Marguerite turned her opera-glass in our direction and, seeing my friend, smiled and beckoned to him to come to her.
“I will go and say ‘How do you do?’ to her,” he said, “and will be back in a moment.”
“I could not help saying ‘Happy man!’”
“Why?”
“To go and see that woman.”
“Are you in love with her?”
“No,” I said, flushing, for I really did not know what to say; “but I should very much like to know her.”
“Come with me. I will introduce you.”
“Ask her if you may.”
“Really, there is no need to be particular with her; come.”
What he said troubled me. I feared to discover that Marguerite was not worthy of the sentiment which I felt for her.
In a book of Alphonse Karr entitled Am Rauchen, there is a man who one evening follows a very elegant woman, with whom he had fallen in love with at first sight on account of her beauty. Only to kiss her hand he felt that he had the strength to undertake anything, the will to conquer anything, the courage to achieve anything. He scarcely dares glance at the trim ankle which she shows as she holds her dress out of the mud. While he is dreaming of all that he would do to possess this woman, she stops at the corner of the street and asks if he will come home with her. He turns his head, crosses the street, and goes sadly back to his own house.
I recalled the story, and, having longed to suffer for this woman, I was afraid that she would accept me too promptly and give me at once what I fain would have purchased by long waiting or some great sacrifice. We men are built like that, and it is very fortunate that the imagination lends so much poetry to the senses, and that the desires of the body make thus such concession to the dreams of the soul. If anyone had said to me, You shall have this woman to-night and be killed tomorrow, I would have accepted. If anyone had said to me, you can be her lover for ten pounds, I would have refused. I would have cried like a child who sees the castle he has been dreaming about vanish away as he awakens from sleep.
All the same, I wished to know her; it was my only means of making up my mind about her. I therefore said to my friend that I insisted on having her permission to be introduced to her, and I wandered to and fro in the corridors, saying to myself that in a moment’s time she was going to see me, and that I should not know which way to look. I tried (sublime childishness of love!) to string together the words I should say to her.
A moment after my friend returned. “She is expecting us,” he said.
“Is she alone?” I asked.
“With another woman.”
“There are no men?”
“No.”
“Come, then.”
My friend went toward the door of the theatre.
“That is not the way,” I said.
“We must go and get some sweets. She asked me for some.”
We went into a confectioner’s in the passage de l’Opera. I would have bought the whole shop, and I was looking about to see what sweets to choose, when my friend asked for a pound of raisins glaces.
“Do you know if she likes them?”
“She eats no other kind of sweets; everybody knows it.
“Ah,” he went on when we had left the shop, “do you know what kind of woman it is that I am going to introduce you to? Don’t imagine it is a duchess. It is simply a kept woman, very much kept, my dear fellow; don’t be shy, say anything that comes into your head.”
“Yes, yes,” I stammered, and I followed him, saying to myself that I should soon cure myself of my passion.
When I entered the box Marguerite was in fits of laughter. I would rather that she had been sad. My friend introduced me; Marguerite gave me a little nod, and said, “And my sweets?”
“Here they are.”
She looked at me as she took them. I dropped my eyes and blushed.
She leaned across to her neighbour and said something in her ear, at which both laughed. Evidently I was the cause of their mirth, and my embarrassment increased. At that time I had as mistress a very affectionate and sentimental little person, whose sentiment and whose melancholy letters amused me greatly. I realized the pain I must have given her by what I now experienced, and for five minutes I loved her as no woman was ever loved.
Marguerite ate her raisins glaces without taking any more notice of me. The friend who had introduced me did not wish to let me remain in so ridiculous a position.
“Marguerite,” he said, “you must not be surprised if M. Duval says nothing: you overwhelm him to such a degree that he can not find a word to say.”
“I should say, on the contrary, that he has only come with you because it would have bored you to come here by yourself.”
“If that were true,” I said, “I should not have begged Ernest to ask your permission to introduce me.”
“Perhaps that was only in order to put off the fatal moment.”
However little one may have known women like Marguerite, one can not but know the delight they take in pretending to be witty and in teasing the people whom they meet for the first time. It is no doubt a return for the humiliations which they often have to submit to on the part of those whom they see every day.
To answer them properly, one requires a certain knack, and I had not had the opportunity of acquiring it; besides, the idea that I had formed of Marguerite accentuated the effects of her mockery. Nothing that came from her was indifferent to me. I rose to my feet, saying in an altered voice, which I could not entirely control:
“If that is what you think of me, madame, I have only to ask your pardon for my indiscretion, and to take leave of you with the assurance that it shall not occur again.”
Thereupon I bowed and quitted the box. I had scarcely closed the door when I heard a third peal of laughter. It would not have been well for anybody who had elbowed me at that moment.
I returned to my seat. The signal for raising the curtain was given. Ernest came back to his place beside me.
“What a way you behaved!” he said, as he sat down. “They will think you are mad.”
“What did Marguerite say after I had gone?”
“She laughed, and said she had never seen anyone so funny. But don’t look upon it as a lost chance; only do not do these women the honour of taking them seriously. They do not know what politeness and ceremony are. It is as if you were to offer perfumes to dogs-they would think it smelled bad, and go and roll in the gutter.”
“After all, what does it matter to me?” I said, affecting to speak in a nonchalant way. “I shall never see this woman again, and if I liked her before meeting her, it is quite different now that I know her.”
“Bah! I don’t despair of seeing you one day at the back of her box, and of hearing that you are ruining yourself for her. However, you are right, she hasn’t been well brought up; but she would be a charming mistress to have.”
Happily, the curtain rose and my friend was silent. I could not possibly tell you what they were acting. All that I remember is that from time to time I raised my eyes to the box I had quitted so abruptly, and that the faces of fresh visitors succeeded one another all the time.
I was far from having given up thinking about Marguerite. Another feeling had taken possession of me. It seemed to me that I had her insult and my absurdity to wipe out; I said to myself that if I spent every penny I had, I would win her and win my right to the place I had abandoned so quickly.
Before the performance was over Marguerite and her friend left the box. I rose from my seat.
“Are you going?” said Ernest.
“Yes.”
“Why?”
At that moment he saw that the box was empty.
“Go, go,” he said, “and good luck, or rather better luck.”
I went out.
I heard the rustle of dresses, the sound of voices, on the staircase. I stood aside, and, without being seen, saw the two women pass me, accompanied by two young men. At the entrance to the theatre they were met by a footman.
“Tell the coachman to wait at the door of the Café Anglais,” said Marguerite. “We will walk there.”
A few minutes afterward I saw Marguerite from the street at a window of one of the large rooms of the restaurant, pulling the camellias of her bouquet to pieces, one by one. One of the two men was leaning over her shoulder and whispering in her ear. I took up my position at the Maison-d’or, in one of the first-floor rooms, and did not lose sight of the window for an instant. At one in the morning Marguerite got into her carriage with her three friends. I took a cab and followed them. The carriage stopped at No. 9, Rue d’Antin. Marguerite got out and went in alone. It was no doubt a mere chance, but the chance filled me with delight.
From that time forward, I often met Marguerite at the theatre or in the Champs-Elysées. Always there was the same gaiety in her, the same emotion in me.
At last a fortnight passed without my meeting her. I met Gaston and asked after her.
“Poor girl, she is very ill,” he answered.
“What is the matter?”
“She is consumptive, and the sort of life she leads isn’t exactly the thing to cure her. She has taken to her bed; she is dying.”
The heart is a strange thing; I was almost glad at hearing it.
Every day I went to ask after her, without leaving my name or my card. I heard she was convalescent and had gone to Bagnères.
Time went by, the impression, if not the memory, faded gradually from my mind. I travelled; love affairs, habits, work, took the place of other thoughts, and when I recalled this adventure I looked upon it as one of those passions which one has when one is very young, and laughs at soon afterward.
For the rest, it was no credit to me to have got the better of this recollection, for I had completely lost sight of Marguerite, and, as I told you, when she passed me in the corridor of the Variétés, I did not recognise her. She was veiled, it is true; but, veiled though she might have been two years earlier, I should not have needed to see her in order to recognise her: I should have known her intuitively. All the same, my heart began to beat when I knew that it was she; and the two years that had passed since I saw her, and what had seemed to be the results of that separation, vanished in smoke at the mere touch of her dress.