CHƯƠNG IX

"Chào buổi tối, Gaston thân mến," Marguerite nói với người bạn đi cùng tôi. "Gặp anh thật vui. Sao lúc nãy anh không tạt qua lô ghế của tôi ở nhà hát Variétés?"

"Tôi sợ làm thế sẽ thành ra kém duyên."

"Bạn bè cơ mà," Marguerite kéo dài giọng ở từ đó, như ngầm khẳng định với những người có mặt rằng dù cô chào đón anh thân thiết đến đâu, thì Gaston trước sau vẫn chỉ là một người bạn không hơn không kém, "đã là bạn bè thì lúc nào cũng được chào đón."

"Nếu vậy, cho phép tôi giới thiệu ngài Armand Duval nhé?"

"Tôi đã ủy thác việc đó cho chị Prudence rồi mà."

"Thưa cô," tôi lên tiếng, khẽ cúi chào và cố nặn ra vài thanh âm cho tử tế từ cổ họng, "về chuyện đó, thì tôi đã từng có vinh hạnh được làm quen với cô rồi."

Đôi mắt tuyệt đẹp của Marguerite khẽ chớp, dường như đang mải miết tìm kiếm trong miền ký ức, nhưng cô không thể nào, hoặc ít ra là làm ra vẻ không thể nào nhớ nổi.

"Thưa cô," tôi tiếp lời, "tôi lại thấy biết ơn vì cô đã quên mất lần gặp gỡ đầu tiên ấy, bởi khi đó hẳn là tôi trông ngớ ngẩn và phiền phức lắm. Hai năm trước, ở nhà hát Opera Comique1; lúc đó tôi đi cùng Ernest de --."

"À, tôi nhớ ra rồi," Marguerite bật cười. "Anh đâu có ngớ ngẩn; mà là do tính tôi hay nghịch ngợm, đến giờ vẫn thế, chỉ là có tém lại đôi chút. Vậy ra anh vẫn chưa tha lỗi cho tôi sao?"

Cô chìa tay ra, và tôi liền đặt một nụ hôn lên đó.

"Nói thật thì," cô nói tiếp, "tôi hay có thói quen xấu là thích làm khó người khác trong lần gặp đầu tiên. Rõ là ngớ ngẩn. Bác sĩ bảo đó là do tôi vốn thần kinh yếu, lại thêm ốm đau quặt quẹo mãi; cứ tin lời ông ấy đi."

"Nhưng trông cô vẫn nhuận sắc lắm mà."

"Ồ! Tôi vừa trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh đấy."

"Tôi biết chuyện đó."

"Ai nói cho anh nghe vậy?"

"Ai mà chẳng biết; thực ra tôi vẫn hay đến hỏi thăm bệnh tình của cô, và rất mừng khi nghe tin cô đã dần bình phục."

"Thế mà chẳng ai đưa danh thiếp của anh cho tôi cả."

"Bởi vì tôi đâu có để lại danh thiếp."

"Vậy ra người ngày nào cũng đến hỏi thăm tôi lúc ốm đau, mà tuyệt nhiên không xưng danh, chính là anh sao?"

"Vâng, là tôi."

"Thế thì anh không chỉ vị tha, mà còn quá đỗi cao thượng. Thưa ngài bá tước, ngài hẳn sẽ chẳng đời nào làm được như thế đâu," cô nói rồi quay sang phía ngài de N., sau khi đã kịp ném cho tôi một ánh nhìn - cái thứ ánh mắt mà phụ nữ vẫn thường dùng để thăm dò và đánh giá trọn vẹn một người đàn ông.

"Tôi mới quen nàng vỏn vẹn hai tháng nay," vị bá tước đáp lời.

"Còn ngài đây mới quen tôi có năm phút. Lúc nào ngài cũng thốt ra mấy lời thật nực cười."

Phụ nữ đúng là tàn nhẫn với những kẻ mà họ chẳng buồn để mắt tới. Vị bá tước đỏ mặt tía tai, cắn chặt môi.

Tôi thấy chạnh lòng thay cho ông ta, bởi vì dường như ông ta cũng đang yêu giống như tôi, và những lời mỉa mai phũ phàng của Marguerite hẳn đã cứa vào lòng ông ta một vết thương sâu hoắm, nhất là khi bị bẽ mặt trước hai người xa lạ.

"Lúc chúng tôi bước vào, cô đang chơi dương cầm dở," tôi vội lảng sang chuyện khác. "Liệu cô có phiền khi cứ coi tôi như một người quen cũ và đàn tiếp được không?"

"Ồ," cô vừa nói vừa ngả người xuống ghế sofa, khẽ ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, "Gaston thừa biết tiếng đàn của tôi thế nào rồi. Đàn cho ngài bá tước đây nghe thì không sao, chứ tôi nào dám bắt các anh phải chịu đựng cực hình đó."

"Nàng đang ưu ái tôi đấy sao?" ngài de N. mỉm cười, cố gượng gạo tỏ vẻ châm biếm nhưng thật tinh tế.

"Ngài đừng có vội trách tôi. Đó là sự ưu ái duy nhất ngài có được đấy." Rõ ràng định mệnh đã an bài người đàn ông tội nghiệp ấy chẳng thể hé môi thêm nửa lời. Ông ta ném cho Marguerite một ánh mắt cầu khẩn thảm thiết.

"Thế nào, chị Prudence," cô tiếp lời, "việc tôi nhờ chị đã xong xuôi chưa?"

"Xong rồi."

"Tốt. Lát nữa chị kể tôi nghe nhé. Chúng ta phải bàn lại chuyện này; đừng vội về khi tôi chưa kịp nói chuyện với chị đấy."

"Có lẽ chúng tôi đã làm phiền mọi người rồi," tôi nói, "và giờ thì khi chúng tôi, hay nói đúng hơn là tôi, đã có màn chào hỏi lần thứ hai để chuộc lại lỗi lầm lần đầu, đã đến lúc Gaston và tôi phải xin phép cáo từ."

"Không đâu. Tôi không có ý đuổi khéo các anh. Tôi muốn hai người nán lại cơ."

Vị bá tước rút từ trong túi áo ra một chiếc đồng hồ vô cùng thanh lịch để xem giờ. "Tôi phải đến câu lạc bộ đây," ông ta lên tiếng. Marguerite chẳng buồn đáp lại. Vị bá tước bèn rời khỏi chỗ đứng bên lò sưởi, chậm rãi tiến về phía cô và cất lời: "Tạm biệt nàng."

Marguerite uể oải đứng dậy. "Tạm biệt, ngài bá tước thân mến. Ngài đã đi rồi sao?"

"Vâng, tôi e rằng sự hiện diện của mình đang làm nàng thấy buồn chán."

"Hôm nay ngài cũng chẳng làm tôi chán hơn bất cứ ngày nào khác đâu. Vậy khi nào tôi lại được vinh hạnh đón tiếp ngài?"

"Bất cứ khi nào nàng cho phép."

"Vậy thì, tạm biệt ngài."

Thật lòng mà nói, sự lạnh nhạt ấy quả là tàn nhẫn. Nhưng may thay, vị bá tước lại là một người cực kỳ điềm đạm và am tường phép lịch sự. Ông ta chỉ nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên bàn tay mà Marguerite hững hờ đưa ra, rồi khẽ cúi chào chúng tôi trước khi bước ra ngoài.

Ngay khi bước qua ngưỡng cửa, ông ta liếc mắt nhìn Prudence. Đáp lại, bà chỉ khẽ nhún vai, tựa hồ muốn nói:

"Ngài còn mong chờ điều gì cơ chứ? Tôi đã làm tất cả những gì có thể rồi."

"Nanine!" Marguerite cất cao giọng gọi. "Em cầm đèn tiễn ngài bá tước ra cửa đi."

Chúng tôi nghe tiếng cửa mở ra rồi khép lại nặng nề.

"Cuối cùng thì," Marguerite reo lên vẻ đầy nhẹ nhõm khi quay lưng lại, "ông ta cũng chịu đi rồi! Người đàn ông đó thật biết cách làm tôi phát bực!"

"Cô bé ngoan của tôi," Prudence cất lời xoa dịu, "cô đối xử với ông ta như thế quả thật quá đáng. Ngài ấy thì lại vô cùng tốt bụng và tử tế với cô. Hãy nhìn chiếc đồng hồ tuyệt mỹ trên bệ lò sưởi mà ông ta vừa tặng cô kìa: tôi dám chắc món đồ ấy phải ngốn của ông ta ít nhất ba ngàn franc2 đấy."

Vừa dứt lời, bà Duvernoy liền mân mê lật qua lật lại chiếc đồng hồ kiêu hãnh nằm trên bệ lò sưởi, đôi mắt ánh lên niềm khao khát thèm thuồng.

"Chị à," Marguerite vừa đáp lời vừa thong thả ngồi xuống chiếc ghế dương cầm, "nếu tôi đặt những món quà ông ta tặng lên một bàn cân, và những lời tẻ nhạt ông ta rót vào tai tôi lên bàn cân còn lại, thì dường như ông ta đã mua lấy những chuyến viếng thăm của mình với một cái giá quá đỗi hời hĩnh."

"Gã si tình tội nghiệp đó đang say đắm cô đấy."

"Nếu tôi cứ phải dỏng tai lên lắng nghe hết thảy những kẻ trót đem lòng yêu tôi, thì e rằng tôi chẳng còn lấy một phút rảnh rang để mà ăn tối nữa."

Nàng bắt đầu lướt những ngón tay mềm mại trên phím vương cầm, rồi chợt quay sang chúng tôi, cất giọng:

"Các anh muốn dùng chút gì không? Còn tôi, tôi đang thèm một ly rượu punch."

"Phần tôi, có lẽ một chút thịt gà cũng ngon đấy," Prudence chen ngang. "Hay là chúng ta đi ăn tối nhỉ?"

"Đúng đấy, chúng ta đi ăn tối thôi," Gaston tán thành.

"Không, chúng ta sẽ dùng bữa ngay tại đây."

Nàng rung chuông. Nanine liền xuất hiện.

"Em đi gọi người mang chút đồ ăn tối đến đây nhé."

"Thưa cô, em phải gọi những món gì ạ?"

"Gì cũng được, nhưng phải thật nhanh, mang đến ngay lập tức."

Nanine vâng lệnh lui ra.

"Thế là xong," Marguerite reo lên, nhảy cẫng vui sướng như một đứa trẻ. "Chúng ta sẽ ăn tối. Cái lão bá tước ngốc nghếch ấy thật là một cơn ác mộng phiền toái!"

Càng ngắm nhìn nàng, tôi càng đắm chìm trong cơn say mê vô tận. Nàng sở hữu một vẻ đẹp thanh tú đến độ tuyệt trần. Thân hình mảnh dẻ ấy toát ra một thứ mị lực kỳ lạ, khiến tôi hoàn toàn chìm đắm trong sự chiêm ngưỡng không thốt nên lời.

Thật khó để diễn tả thành lời mớ cảm xúc đang cuộn trào trong tâm trí tôi lúc bấy giờ. Một lòng bao dung rộng lớn đối với số phận nàng dâng lên trong tôi, quyện lẫn cùng niềm ngưỡng mộ sâu sắc trước nhan sắc kiều diễm ấy. Cái cách nàng thản nhiên khước từ một gã thanh niên giàu có, sành sỏi, luôn sẵn sàng vung tiền vì mình, chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự vô tư lợi ở nàng. Và trong mắt tôi, điều đó dường như đã gột rửa mọi lỗi lầm từng vương trong quá khứ của nàng.

Tồn tại nơi người phụ nữ này một sự ngay thẳng đến chân thật. Người ta vẫn có thể nhận ra một nét ngây thơ thuần khiết nương náu ngay giữa chốn sa ngã mịt mù. Dáng đi vững chãi, thân hình mềm mại thanh tao, cánh mũi hồng hào khẽ phập phồng hé mở, cùng đôi mắt to thẳm sâu phảng phất sắc xanh, tất cả đều toát lên một bản ngã mãnh liệt, luôn tỏa ra thứ hương thơm nhục dục ngây ngất. Nàng tựa như những lọ nước hoa huyền bí phương Đông, dẫu có được đậy kín đến đâu vẫn vấn vương để lọt ra chút hương sắc say lòng người. Cuối cùng, dù đó chỉ là bản tính tự nhiên hay tàn dư của những cơn sốt, thỉnh thoảng trong ánh mắt nàng vẫn lóe lên những tia khát khao, hứa hẹn mở ra cả một cõi thiên đường cho kẻ nào may mắn được nàng trao gửi tình yêu. Thế nhưng, những kẻ từng say đắm Marguerite thì nhiều không đếm xuể, và những kẻ từng được nàng ban phát tình yêu cũng chẳng hề kém cạnh.

Ở người thiếu nữ này, ta như thấy đồng thời hiện hữu hình bóng của một người trinh nữ bị dòng đời xô đẩy phải bước chân vào chốn phong trần, và một nàng kỹ nữ mà chỉ cần một chút xê dịch của số phận, cũng có thể hóa thân thành một người trinh nữ thuần khiết và đáng yêu bậc nhất thế gian. Marguerite vẫn kiên cường giữ lại chút lòng kiêu hãnh và đức tính độc lập. Đó là hai thứ xúc cảm mà một khi bị tổn thương, có thể dễ dàng bị bóp méo thành sự hổ thẹn tủi nhục. Suốt khoảng thời gian đó, tôi chẳng cất nổi nửa lời; tâm hồn tôi dường như đã dồn trọn vào nhịp đập của trái tim, và trái tim tôi thì đã gửi gắm tất thảy vương vấn vào ánh mắt đắm say này.

"Vậy ra," nàng đột ngột cất lời, "chính anh là người đã đến hỏi thăm lúc tôi ốm sao?"

"Vâng."

"Anh có biết hành động đó tuyệt vời đến nhường nào không! Tôi phải cảm tạ anh thế nào cho phải đây?"

"Bằng cách cho phép tôi thỉnh thoảng được đến thăm cô."

"Tùy ý anh, từ năm đến sáu giờ chiều, và từ mười một đến mười hai giờ đêm. Nào, Gaston, anh hãy dạo bản Lời mời khiêu vũ (Invitation à la Valse)3 đi."

"Tại sao chứ?"

"Trước hết là để làm tôi vui, và sau đó là bởi tôi chẳng bao giờ tự mình đàn trọn vẹn được khúc nhạc đó."

"Em thấy khó ở đoạn nào?"

"Phần thứ ba, cái đoạn có mấy nốt thăng ấy."

Gaston đứng dậy, tiến đến bên cây dương cầm và bắt đầu dạo lên giai điệu tuyệt diệu của Weber, từ bản nhạc đang mở sẵn trước mặt.

Marguerite đặt một tay lên thành đàn, mắt dõi theo từng nốt nhạc, đôi môi ngân nga khe khẽ theo nhịp. Khi Gaston lướt phím đến đoạn mà nàng vừa nhắc tới, nàng cất cao giọng hát, những ngón tay thon dài lướt nhẹ dọc theo nóc cây đàn:

"Đô, rê, mi, đô, rê, fa, mi, rê; đấy chính là cái đoạn tôi chẳng tài nào đàn nổi. Chơi lại đi anh."

Gaston lướt phím dạo lại từ đầu. Kế đó, Marguerite lên tiếng:

"Bây giờ để tôi thử xem sao."

Nàng ngồi vào ghế và dạo phím; thế nhưng những ngón tay bướng bỉnh của nàng dường như luôn lóng ngóng trước một trong những nốt nhạc oái oăm đó.

"Thật không thể tin nổi phải không," nàng thốt lên, điệu bộ hệt như một đứa trẻ hờn dỗi, "khi tôi không sao đánh nổi đoạn nhạc cỏn con này? Các anh có tin là thỉnh thoảng tôi phải hì hục mất cả hai tiếng đồng hồ buổi sáng chỉ vì nó không? Thế mà khi nghĩ đến việc lão bá tước ngốc nghếch kia lại có thể đánh thuộc lòng, mà còn chơi điệu nghệ nữa chứ, tôi thực sự tin rằng chính điều đó mới làm tôi tức điên với ông ta." Rồi nàng lại thử dạo đàn thêm lần nữa, nhưng kết quả vẫn y như cũ.

"Quỷ tha ma bắt Weber, âm nhạc và cả cái cây đàn này đi!" nàng kêu lên, ném phăng bản nhạc về phía góc phòng. "Làm sao tôi có thể đánh tám nốt thăng liên tiếp được cơ chứ?" Nàng khoanh tay nhìn chúng tôi, giậm chân phụng phịu. Máu dồn lên ửng đỏ hai bầu má, và đôi môi nàng khẽ hé mở bật ra một tiếng ho khan.

"Thôi nào, thôi nào," Prudence, người vừa cởi mũ ra và đang vuốt lại nếp tóc trước chiếc gương, lên tiếng can ngăn, "cô làm thế chỉ tổ rước bực vào người và tự rước bệnh vào thân mà thôi. Tốt hơn hết là chúng ta hãy đi ăn tối đi; về phần tôi, tôi đang sắp chết đói đến nơi rồi đây này."

Marguerite giật chuông gọi người hầu, rồi lại ngồi xuống bên cây dương cầm và cất giọng ngân nga một khúc ca lẳng lơ, táo bạo. Nàng lướt phím đệm đàn cho bài hát ấy một cách trơn tru, dễ dàng. Gaston cũng rành rọt khúc hát này, thế là họ hòa giọng thành một màn song ca vô cùng ăn ý.

"Xin đừng hát những thứ tục tĩu đó nữa," tôi cất lời van nài Marguerite.

"Ồ, anh đàng hoàng quá nhỉ!" nàng thốt lên, mỉm cười rồi chìa tay về phía tôi. "Đây không phải là vì tôi, mà là vì anh đấy."

Marguerite làm một cử chỉ như ngầm muốn nói: "Ôi dào, tôi đã vứt bỏ sự đàng hoàng từ khuya rồi!" Đúng lúc đó, Nanine bước vào.

"Bữa tối đã dọn xong chưa?" Marguerite cất tiếng hỏi.

"Vâng, thưa cô, dọn lên ngay bây giờ đây ạ."

"Nhân tiện," Prudence cất tiếng bảo tôi, "cậu vẫn chưa dạo quanh ngắm nghía căn phòng này nhỉ; lại đây, tôi sẽ dẫn cậu đi một vòng." Chắc hẳn các bạn cũng đã biết, gian phòng khách ấy quả thực là một kiệt tác hoàn mỹ.

Marguerite sánh bước cùng chúng tôi một đỗi; rồi cô cất tiếng gọi Gaston, cùng anh rảo bước vào phòng ăn để xem chừng bữa tối đã được dọn sẵn hay chưa.

"Chà," Prudence thốt lên khi tình cờ để mắt tới một bức tượng nhỏ xuất xứ từ vùng Saxe4 đặt trên chiếc bàn con bên cạnh, "tôi không hề biết cô lại sở hữu quý ngài bé nhỏ này đấy."

"Bức tượng nào cơ?"

"Một cậu bé chăn cừu đang ôm lồng chim này."

"Chị cứ lấy đi, nếu chị thấy thích."

"Tôi sẽ không cướp nó khỏi tay cô đâu."

"Vốn dĩ tôi cũng định đem cho người hầu gái của mình. Tôi thấy nó thật gớm ghiếc; nhưng nếu chị ưng mắt thì cứ việc lấy đi."

Prudence dường như chỉ nhìn thấy món quà, chứ chẳng mảy may bận tâm đến thái độ của người cho. Bà thản nhiên đặt bức tượng nhỏ sang một bên, rồi dắt tôi bước vào phòng thay đồ. Tại đây, bà chỉ cho tôi xem hai bức chân dung thu nhỏ được treo sát cạnh nhau, rồi cất lời:

"Đó là bá tước de G., người từng đắm đuối Marguerite đến độ si mê; chính ông ta là người đã nâng bước đưa cô ấy gia nhập giới thượng lưu. Cậu có biết ông ta không?"

"Không. Thế còn người này thì sao?" tôi buột miệng hỏi, tay trỏ vào bức chân dung còn lại.

"Đó là tử tước de L. Cậu ta đã buộc phải lặn mất tăm."

"Tại sao lại như vậy?"

"Bởi lẽ cậu ta gần như đã trắng tay. Nếu cậu muốn biết sự tình, thì đó chính là một trong những kẻ từng trao khối tình si cho Marguerite."

"Và hẳn là cô ấy cũng đáp lại tấm tình của anh ta chứ?"

"Cô ấy là một cô gái vô cùng kỳ lạ, chẳng một ai có thể thấu hiểu nổi. Ngay cái đêm cậu ta dứt áo ra đi, cô ấy vẫn thản nhiên tới rạp hát như mọi bận, thế mà cô ấy lại rơi lệ khi cậu ta nói lời từ biệt."

Vừa lúc đó, Nanine xuất hiện báo rằng bữa tối đã dọn xong.

Khi chúng tôi bước vào phòng ăn, Marguerite đang tựa lưng vào tường, còn Gaston thì nắm lấy đôi bàn tay cô, thì thầm điều gì đó vào tai nàng.

"Anh điên rồi," Marguerite đáp lời. "Anh thừa biết là tôi không ưng anh mà. Quen nhau hai năm rồi mới đi tỏ tình với một người phụ nữ như tôi thì phỏng có ích gì. Giới kỹ nữ chúng tôi, một là ưng thuận ngay tắp lự, hai là chẳng bao giờ. Nào, thưa các quý ông, dùng bữa thôi!"

Nói rồi, nàng lách mình khỏi Gaston, sắp xếp cho anh ngồi bên tay phải nàng ở bàn ăn, còn tôi ngồi bên tay trái. Sau đó, nàng gọi Nanine:

"Trước khi em ngồi xuống, hãy dặn người dưới bếp không được mở cửa cho bất kỳ ai, dù có người bấm chuông nhé."

Mệnh lệnh ấy được ban ra vào lúc một giờ sáng.

Trong bữa tiệc, chúng tôi cười đùa và ăn uống thả phanh. Chẳng mấy chốc sự hân hoan đã lên đến tột đỉnh. Những lời lẽ vốn bị coi là kệch cỡm đối với một tầng lớp nhất định - những từ ngữ chỉ làm vẩn đục bờ môi kẻ thốt ra chúng - thỉnh thoảng lại vút lên giữa những tràng vỗ tay tán thưởng của Nanine, Prudence và cả Marguerite. Gaston tỏ ra vô cùng khoái trá; anh ta vốn là một kẻ tốt tính, nhưng lại sớm tiêm nhiễm thói hư tật xấu từ thuở thiếu thời. Trong một thoáng, tôi đã cố quên đi chính mình, ép buộc trái tim và tâm trí phải trở nên dửng dưng trước những gì đang diễn ra, cố hòa mình vào sự cuồng hoan ấy như nếm thử một món ăn trong bữa tiệc. Thế nhưng, dần dần tôi lại thu mình khỏi sự ồn ào. Ly rượu của tôi vẫn đầy ắp. Tôi cảm thấy lòng trĩu nặng một nỗi buồn man mác khi nhìn sinh linh hai mươi tuổi xinh đẹp kia nốc rượu, ăn nói bỗ bã như một gã phu khuân vác, và tiếng cười ả bật ra càng lớn mỗi khi trò đùa càng trở nên khả ố.

Tuy nhiên, sự huyên náo, lối ăn nói và cách nhậu nhẹt này ở những kẻ khác thường chỉ là hậu quả của việc giao du với phường bất hảo hay do thói hư tật xấu sinh ra, nhưng ở Marguerite, nó lại giống như một nhu cầu muốn lãng quên, một cơn sốt, một sự kích động thần kinh tột độ. Sau mỗi ly sâm panh, đôi má nàng lại hầm hập ửng đỏ như người đang sốt. Tiếng ho có vẻ mờ nhạt lúc đầu bữa tiệc, giờ đây lại dữ dội đến mức nàng phải ngả đầu vào lưng ghế, ôm chặt lấy ngực mỗi khi cơn ho ập đến. Lòng tôi đau thắt khi nghĩ đến những tổn thương mà một cơ thể mỏng manh như thế phải gánh chịu từ lối sống buông thả hàng ngày này. Rốt cuộc, điều tôi từng lo sợ và linh cảm cũng đã xảy ra. Về cuối bữa ăn, Marguerite bị hành hạ bởi một cơn ho kinh khủng nhất mà tôi từng chứng kiến từ lúc bước chân vào đây. Cảm giác như lồng ngực nàng đang bị xé toạc ra. Cô gái tội nghiệp đỏ bừng mặt, nhắm nghiền mắt vì đau đớn, vội vã đưa chiếc khăn ăn lên môi. Chiếc khăn in hằn một vệt máu đỏ tươi. Nàng bật dậy và chạy vội vào phòng thay đồ.

"Marguerite bị làm sao vậy?" Gaston ngơ ngác hỏi.

"Cô ấy cười nhiều quá nên khạc ra máu đấy mà. Ồ, chẳng có gì to tát đâu; ngày nào mà cô ấy chẳng bị như thế. Một lát nữa cô ấy sẽ quay lại thôi. Cứ để mặc cô ấy. Cô ấy thích được yên tĩnh hơn."

Tôi không thể ngồi yên thêm được nữa. Mặc kệ Prudence và Nanine đang sững sờ gọi với theo, tôi liền vùng dậy, lao đi tìm Marguerite.



  1. Opéra-Comique là một nhà hát danh tiếng tại Paris, chuyên trình diễn các vở kịch hát (thường có xen kẽ những đoạn đối thoại không hát). Cùng với nhà hát Variétés, các nhà hát lớn thời bấy giờ là tâm điểm giao lưu xã hội, nơi giới thượng lưu Pháp lui tới để thể hiện đẳng cấp và quan sát lẫn nhau. 

  2. Franc là đơn vị tiền tệ chính thức của Pháp thời bấy giờ. Vào giữa thế kỷ 19, mức thu nhập của một người lao động bình thường chỉ khoảng vài trăm franc mỗi năm. Số tiền ba ngàn franc tương đương với một gia tài nhỏ, cho thấy mức độ xa hoa và độ 'chịu chơi' của vị bá tước. 

  3. "Lời mời khiêu vũ" (tên tiếng Pháp: Invitation à la valse) là một tiểu phẩm dương cầm kinh điển do nhà soạn nhạc người Đức Carl Maria von Weber sáng tác năm 1819. Tác phẩm mang tính biểu tượng vì đã góp phần đưa điệu nhảy waltz (van-xơ) từ các vũ hội bình dân lên sân khấu âm nhạc hàn lâm sang trọng. 

  4. Saxe (hay Saxony) là một tiểu bang của Đức, danh tiếng lẫy lừng khắp châu Âu từ thế kỷ 18 với các sản phẩm gốm sứ thủ công tinh xảo (đặc biệt là đồ sứ Meissen). Trong bối cảnh thế kỷ 19, tượng sứ Saxe là món đồ trang trí vô cùng đắt đỏ, đại diện cho sự xa xỉ và đẳng cấp của giới thượng lưu.