CHƯƠNG XVI

Lẽ ra, tôi chỉ cần đôi dòng ngắn ngủi là đủ để kể cho anh nghe về thuở ban đầu của mối tình này. Nhưng tôi thiết nghĩ anh nên thấu tỏ từng bước ngoặt đã đưa hai trái tim xích lại gần nhau, để rồi tôi thì răm rắp thuận theo mọi ý nguyện của Marguerite, còn em thì chẳng thể nào sống thiếu tôi.

Tất cả bắt đầu vào cái ngày ngay sau đêm em ghé thăm tôi, cái ngày tôi gửi tặng em cuốn tiểu thuyết Manon Lescaut.

Từ khoảnh khắc ấy, nhận ra mình chẳng tài nào uốn nắn được lối sống của người tình, tôi đành tự tay nhào nặn lại cuộc đời mình. Hơn hết thảy, tôi trốn tránh mọi khoảng lặng, sợ hãi để bản thân có thời gian ngẫm ngợi về thực tại đầy cay đắng mà mình vừa gánh vác. Bởi lẽ, dẫu tôi cố tình chối bỏ, thứ thực tại ấy vẫn gieo vào lòng tôi một nỗi u sầu thăm thẳm. Thế rồi, chuỗi ngày vốn dĩ bình lặng êm trôi của tôi bỗng chốc cuốn vào vòng xoáy ồn ã và cuồng loạn. Anh đừng bao giờ ngây thơ tin rằng, dẫu tình yêu của một kỹ nữ có chân thành và vô tư đến mấy, nó lại chẳng đòi hỏi sự đánh đổi bằng tiền bạc. Thói kiêu kỳ thất thường của các nàng ngốn kém hơn mọi thứ trên đời: từ những đóa hoa kiêu sa, những lô ghế thượng hạng chốn kịch viện, những bữa tiệc tàn canh, cho đến những chuyến du ngoạn vùng thôn dã - những bổng lộc mà ta chẳng nỡ chối từ người mình trót đem lòng si mê.

Như tôi từng bộc bạch cùng anh, gia tài của tôi vốn chẳng có là bao. Cha tôi trước kia và cả bây giờ, vẫn đảm nhiệm chức quan thu thuế ở C. Nhờ tiếng thơm về lòng thanh liêm đức độ, ông mới xoay xở đủ khoản tiền cọc để an vị ở chốn quan trường.

Chức vụ ấy mang lại cho ông bốn mươi nghìn franc mỗi năm. Suốt mười năm tại vị, ông đã chắt chiu trả sạch nợ nần và còn dành dụm được chút của hồi môn cho em gái tôi. Trên thế gian này, hiếm ai trọng danh dự như cha tôi. Khi mẹ nhắm mắt xuôi tay, bà để lại khoản thừa kế sinh lợi sáu nghìn franc hằng năm. Đúng vào ngày nhậm chức, cha đã công bằng chia đôi số tiền ấy cho hai anh em tôi. Đến năm tôi tròn hai mươi mốt tuổi, ông chu cấp thêm năm nghìn franc mỗi năm, đinh ninh rằng với tám nghìn franc trong tay, tôi dư sức sống đàng hoàng giữa chốn Paris hoa lệ, miễn là tôi chịu khó gây dựng sự nghiệp trong ngành luật hay y học. Mang theo hoài bão, tôi đặt chân đến Paris, dùi mài kinh sử ngành luật, được kết nạp vào đoàn luật sư, để rồi cuối cùng - như bao gã trai trẻ xốc nổi khác - tôi vứt xó tấm bằng và thả mình trôi theo lối sống buông tuồng, cái bẫy ngọt ngào mà bất cứ ai cũng dễ dàng sa ngã chốn phồn hoa đô hội này.

Thuở ấy, tôi chi tiêu khá chừng mực. Có chăng là tôi nướng sạch thu nhập cả năm chỉ trong vòng tám tháng, rồi đành khăn gói về quê, nương tựa cha suốt bốn tháng hè. Nhờ thế, số tiền mười hai nghìn franc mỗi năm vẫn được bảo toàn nguyên vẹn, lại còn vớt vát được tiếng thơm là một đứa con ngoan. Ngoài chuyện đó ra, tôi chưa từng mang nợ ai lấy một xu.

Đấy là tình cảnh của tôi vào cái thuở vừa chớm quen Marguerite. Chắc anh cũng đoán được, dẫu tôi có muốn hay không, túi tiền của tôi cũng vơi đi chóng mặt. Tính khí Marguerite sáng nắng chiều mưa. Và cũng giống như bao người phụ nữ đồng cảnh ngộ, em chưa từng mảy may bận tâm đến những thú vui vặt vãnh lấp đầy cuộc sống, chẳng hề coi đó là những khoản chi tiêu xa xỉ. Bởi khao khát được quấn quýt bên tôi từng giây từng phút, em thường gửi thư từ sáng sớm, báo trước rằng tối nay em sẽ dùng bữa cùng tôi, nhưng không phải trong căn nhà tĩnh lặng, mà tại một nhà hàng sang trọng nào đó ở Paris hay vùng ngoại ô. Tôi sẽ đến đón em, hai đứa cùng thưởng thức bữa tối, sau đó ghé nhà hát, và chẳng thiếu những đêm tiệc tùng nán lại tới khuya. Cứ thế, mỗi đêm trôi qua, bóp tiền của tôi lại vơi đi bốn, năm đồng louis1. Vị chi mỗi tháng ngốn đến hai, ba nghìn franc. Chút thu nhập cỏn con đủ sống cho một năm giờ bị vắt kiệt chỉ trong ba tháng rưỡi, dồn tôi vào thế chân tường: hoặc là vay mượn gánh nợ, hoặc là dứt áo rời xa Marguerite. Nhưng tôi thà đánh đổi mọi thứ chứ không cam lòng đánh mất em.

Xin anh lượng thứ nếu tôi cứ mải mê dông dài chuyện vụn vặt. Nhưng rồi anh sẽ thấy, chính những tiểu tiết ấy là mầm mống gieo nên bao giông bão sau này. Những gì tôi đang dốc lòng kể cho anh là một câu chuyện chân thật và mộc mạc nhất. Tôi chỉ muốn lưu giữ lại sự trong trẻo của từng mảnh ký ức, đúng như cái cách mà mọi chuyện đã lặng lẽ xoay vần.

Ngay lúc đó, tôi lờ mờ nhận ra rằng: khi trên đời chẳng còn điều gì đủ sức khiến tôi lãng quên bóng hình người tình, tôi đành phải điên cuồng vơ vét để đắp đổi những khoản chi tiêu mà em đã vô tình kéo tôi vào. Hơn thế nữa, tình yêu rực cháy trong tôi có một sức mạnh điên đảo, khiến mỗi khoảnh khắc phải rời xa em, đối với tôi, dài tựa một thế kỷ. Tôi khao khát được thiêu rụi những giây phút xa cách ấy trong ngọn lửa của một thú vui cuồng loạn nào đó, khao khát được sống thật gấp gáp, thật vội vã, để tạm quên đi sự tồn tại của chính mình.

Thế là, mang theo chút vốn liếng ít ỏi, tôi vay mượn thêm năm, sáu nghìn franc, liều lĩnh lao đầu vào chốn đỏ đen. Kể từ ngày các sòng bài bị dẹp bỏ, nạn cờ bạc lại mọc lên như nấm sau mưa, len lỏi khắp mọi ngóc ngách. Thuở trước, thời còn sòng Frascati2, người ta vẫn mộng làm giàu; họ đánh cược bằng tiền tươi thóc thật, và dẫu trắng tay, họ vẫn tự huyễn hoặc bản thân bằng niềm an ủi rằng: "Biết đâu ván sau mình lại thắng". Còn thời nay, trừ phi bước chân vào các câu lạc bộ kín cổng cao tường với những quy tắc thanh toán khắt khe, thì bên ngoài kia, dẫu anh có trúng quả đậm, khả năng cao là số tiền ấy sẽ bốc hơi không tăm tích. Anh sẽ dễ dàng hiểu được nguyên cớ sâu xa. Sòng bạc thường là bến đỗ của những gã trai trẻ khát tiền, gia tài chẳng đủ để đắp đổi cho thói ăn chơi trác táng. Họ ném mình vào canh bạc, và kết cục chỉ có một; nếu chẳng may họ thắng, kẻ phải xì tiền lại chính là những kẻ đang gánh nợ ngập đầu vì ngựa xe và bao nuôi tình nhân, một sự thật xót xa cay đắng. Nợ nần chồng chất, những mối thâm giao chớm nở bên bàn cờ bạc rồi cũng tàn lụi trong những trận cãi vã nảy lửa, cuốn phăng cả mạng sống lẫn danh dự; và dẫu người ta có sống lương thiện đến mấy, cuối cùng vẫn bị bức tử bởi chính những kẻ mang danh "cực kỳ lương thiện", những kẻ có khuyết điểm duy nhất là không đào đâu ra hai trăm nghìn franc mỗi năm.

Thiết nghĩ, tôi chẳng cần phải dông dài với anh về những mánh lới lọc lừa chốn sòng bài, hay cái tin giật gân vào một sáng đẹp trời về những kẻ cao chạy xa bay và bản án trễ tràng dành cho chúng.

Tôi cứ thế đắm chìm vào lối sống phù phiếm, ồn ào và đầy cạm bẫy ấy, thứ lối sống mà trước kia chỉ thoáng nghĩ đến thôi cũng đủ khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Nhưng giờ đây, nó lại trở thành phương thuốc xoa dịu cần thiết cho tình yêu cuồng nhiệt tôi dành cho Marguerite. Ngoài con đường đó ra, tôi còn biết bấu víu vào đâu?

Những đêm không được kề cận em ở phố d’Antin, nếu phải vò võ một mình trong căn gác xép, tôi chắc chắn sẽ thức trắng. Sự ghen tuông điên cuồng sẽ giày vò tâm can, làm sục sôi dòng máu và thiêu đốt tâm trí tôi. Ngược lại, ma lực của vòng quay cờ bạc lại khéo léo đánh lạc hướng cơn sốt tình đang gặm nhấm trái tim, đẩy tôi vào một niềm đam mê mê muội mặc cho mọi sự kháng cự, cho đến khi kim đồng hồ nhích đến giờ tôi được chạy đến bên người tình. Giữa không khí ngột ngạt đó, tôi chợt nhận ra tình yêu của mình sâu đậm đến nhường nào. Tôi dứt khoát rời khỏi bàn bạc mà chẳng mảy may luyến tiếc, mặc kệ đang thắng hay thua. Lòng tôi trào dâng niềm thương hại cho những con bạc khát nước bị bỏ lại phía sau, bởi lẽ, họ không may mắn như tôi, họ chẳng thể tìm thấy niềm hạnh phúc viên mãn thực sự khi rời khỏi chốn đỏ đen này. Với đám đông ngoài kia, cờ bạc là hơi thở, là lẽ sống; còn với tôi, nó chỉ là phương thuốc giảm đau tạm thời. Hễ được giải thoát khỏi Marguerite, tôi sẽ lập tức dứt tuyệt với cờ bạc.

Nhờ vậy, giữa muôn trùng cám dỗ, tôi vẫn giữ được một cái đầu lạnh đáng kinh ngạc; tôi chỉ đánh mất những gì mình có thể gánh vác, và chỉ gom về những gì mình đủ sức buông bỏ.

Nói về những mặt khác, dường như vận may đang mỉm cười rạng rỡ với tôi. Không mang nợ nần ai một đồng cắc, tôi vung tiền gấp ba lần so với thời còn tránh xa sòng bạc. Thật khó lòng cưỡng lại sức hút của một cuộc sống trải đầy hoa hồng, một cuộc sống ban phát cho tôi quyền năng dễ dàng thỏa mãn hàng ngàn những sở thích đắt đỏ, thất thường của Marguerite. Về phần em, tình cảm em dành cho tôi vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu, thậm chí còn nồng nàn, đắm say hơn trước.

Như tôi đã tâm sự với anh, ban đầu tôi chỉ được phép nán lại bên em từ lúc nửa đêm đến khi tờ mờ sáng sáu giờ. Về sau, thỉnh thoảng em lại ưu ái mời tôi đến chung lô ghế ở nhà hát, rồi những bữa ăn tối riêng tư cũng dần đặn hơn. Có một buổi sáng, mặt trời lên cao tôi mới rời gót vào lúc tám giờ, và rồi đỉnh điểm là một ngày nọ, tôi lưu luyến không nỡ về cho đến tận mười hai giờ trưa.

Nhưng, điều khiến tôi kinh ngạc hơn cả sự lột xác về tinh thần, chính là sự thay đổi kỳ diệu về thể chất đang dần chớm nở ở Marguerite. Chính tay tôi đã ân cần chăm lo cho sức khỏe của em, và cô gái bé nhỏ tội nghiệp, thấu hiểu tấm chân tình ấy, đã ngoan ngoãn vâng lời như một cách để đền đáp. Không mấy khó khăn, tôi đã từng bước kéo em ra khỏi vũng lầy của những thói quen cũ. Vị bác sĩ riêng, người tôi đặc biệt cất công mời đến thăm khám cho em, đã căn dặn rằng chỉ có sự tĩnh dưỡng tuyệt đối mới hòng cứu vãn sinh mạng mỏng manh này. Thế là, thay vì những đêm tiệc tùng thác loạn và thức trắng đến suy kiệt, tôi đã thành công rèn cho em một chế độ sinh hoạt lành mạnh cùng giấc ngủ điều độ. Dẫu ban đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Marguerite dần tìm thấy niềm vui trong cuộc sống mới, thứ mà em đã sớm nhận ra những tác động tuyệt vời của nó. Em bắt đầu tận hưởng những buổi tối bình yên ở nhà. Hoặc những ngày đẹp trời, em khoác thêm chiếc khăn choàng, khép nép sau tấm mạng che mặt, và chúng tôi lại dạo bước, tựa như hai đứa trẻ ngây thơ, dưới những tán cây mờ sương của đại lộ Champs-Elysées. Khi màn đêm buông xuống, em trở về nhà với đôi chút mệt mỏi dễ chịu, lót dạ bữa tối nhẹ nhàng, rồi chìm vào giấc ngủ sau khi lắng nghe một bản nhạc êm ái hay đọc vài trang sách - những thú vui tao nhã mà trước đây em chưa từng màng tới. Những cơn ho xé ruột xé gan, thứ âm thanh từng như mũi dao đâm xuyên ngực tôi, giờ đây đã gần như biến mất hoàn toàn.

Khoảng sáu tuần trôi qua, gã bá tước kia đã bị tống khứ không thương tiếc. Giờ đây, chỉ còn vị công tước già là buộc tôi phải nhún nhường che giấu mối tình vụng trộm với Marguerite. Nhưng ngay cả ông ta cũng bị khéo léo xua đuổi mỗi khi tôi có mặt, bằng cái cớ muôn thuở rằng em đang say giấc nồng và đã dặn kỹ không ai được phép quấy rầy.

Thói quen hay nói đúng hơn là niềm khát khao được gặp tôi mà Marguerite giờ đây đã hình thành, vô tình mang lại một hệ quả tuyệt vời: nó buộc tôi phải dứt khoát rời bàn cờ bạc đúng vào cái thời khắc vàng son mà bất kỳ tay chơi lão luyện nào cũng chọn để dừng bước. Bù qua sớt lại, tôi ngỡ ngàng nhận ra mình đang nắm trong tay khoản tiền mười nghìn franc, một con số mà đối với gã trai nghèo như tôi lúc bấy giờ, dường như là một kho báu vô tận.

Lúc này, thời điểm mà tôi thường thu xếp về quê thăm cha và em gái đã đến, nhưng tôi lại chần chừ không đi; hai người họ liên tục gửi thư, tha thiết ngóng trông tôi trở về. Tôi đành viện cớ hồi đáp những bức thư ấy một cách chỉn chu nhất có thể, không ngừng trấn an rằng tôi vẫn đang sống rất tốt và tiền bạc dư dả. Tôi tự huyễn hoặc mình rằng hai tin vui ấy sẽ phần nào xoa dịu nỗi buồn của cha khi đứa con trai yêu quý lỡ hẹn chuyến thăm nhà thường niên.

Ngay lúc đó, vào một ngày mùa hè rực rỡ, Marguerite bị đánh thức bởi ánh nắng chan hòa khắp căn phòng. Em tung mình khỏi giường và háo hức hỏi liệu tôi có muốn đưa em về vùng thôn quê rong chơi trọn vẹn một ngày không.

Chúng tôi liền cho gọi chị Prudence. Cả ba cùng lên đường, ngay sau khi Marguerite đã cẩn thận dặn dò cô Nanine báo lại với lão công tước rằng, nhân một ngày đẹp trời, em đã tranh thủ dạo chơi chốn đồng quê cùng chị Duvernoy.

Không chỉ là một tấm bình phong cần thiết trước mặt lão công tước già, bản thân Prudence vốn dĩ đã là mẫu phụ nữ dường như sinh ra để dành cho những chuyến dã ngoại. Với tính khí hoạt bát chẳng lúc nào vơi cùng niềm say mê ăn uống vô tận, chị không bao giờ để những người đồng hành phải trải qua dù chỉ một khoảnh khắc nhàm chán. Chị tỏ ra vô cùng mãn nguyện khi tự tay gọi món trứng, anh đào, sữa tươi, thỏ hầm, và tất thảy những thức ngon truyền thống khác cho một bữa trưa chốn điền dã.

Bây giờ, chúng tôi chỉ còn mỗi việc là quyết định xem sẽ đi đâu. Và một lần nữa, lại là Prudence đứng ra tháo gỡ vướng mắc này.

"Các con có muốn tới một vùng quê đích thực không?" chị hỏi.

"Có ạ."

"Được rồi, vậy thì chúng ta hãy đến Bougival, thẳng tiến tới Point du Jour, ghé quán nhà bà góa Arnould. Cậu Armand này, hãy gọi một cỗ xe mui trần đi."

Chỉ một tiếng rưỡi sau, chúng tôi đã có mặt tại quán trọ của bà góa Arnould.

Có lẽ anh cũng biết quán trọ này, một nơi vốn là khách sạn vào những ngày trong tuần, nhưng lại hóa thành một khu vườn thưởng trà nhộn nhịp mỗi dịp Chủ nhật. Từ khu vườn nằm ngang tầm với một tầng lầu thông thường ấy, người ta có thể phóng tầm mắt bao quát một khung cảnh tuyệt mỹ. Phía bên trái, cầu máng Marly3 sừng sững khép lại đường chân trời; còn phía bên phải là bức tranh đồi núi trập trùng uốn lượn. Dòng sông vắt ngang qua chốn ấy dường như chẳng hề tuôn chảy, cứ trải dài như một dải lụa trắng xóa miên man giữa đồng bằng Gabillons và hòn đảo Croissy, được ru ngủ ngàn thu bởi những hàng bạch dương cao vút đang rung rinh trước gió cùng tiếng rì rào của những rặng liễu rủ. Xa hơn chút nữa, hiện lên rực rỡ dưới ánh mặt trời là những nếp nhà nhỏ nhắn tường trắng ngói đỏ, xen lẫn vài khu xưởng, mà từ khoảng cách này, chúng tựa như những nét điểm xuyết hoàn mỹ cho phong cảnh. Và xa tít tắp, là một Paris lẩn khuất trong màn sương mờ ảo! Quả đúng như lời Prudence đã hứa hẹn, đó đích thực là một vùng quê trọn vẹn, và, tôi cũng phải nói thêm rằng, đó đích thực là một bữa trưa tuyệt hảo.

Không chỉ vì lòng biết ơn trước những phút giây hạnh phúc mà nơi đây đã mang lại cho tôi, mà thực sự, Bougival, dẫu mang một cái tên nghe có phần thô kệch, lại là một trong những chốn mỹ lệ nhất mà con người ta có thể mường tượng ra. Tôi đã từng ngao du khá nhiều nơi, từng chiêm ngưỡng biết bao cảnh sắc hùng vĩ hơn thế, nhưng quả thực chẳng có nơi đâu lại duyên dáng và nên thơ như ngôi làng nhỏ bé này, cứ vui vẻ cuộn mình nép dưới chân ngọn đồi rợp bóng chở che.

Bà Arnould ân cần hỏi chúng tôi xem có muốn thuê một chiếc thuyền để dạo mát không, và Marguerite cùng Prudence vui vẻ nhận lời.

Người ta vẫn thường ví von chốn thôn quê với tình yêu, và quả thực họ đã đúng; chẳng có gì tô điểm cho nhan sắc của người phụ nữ ta yêu tuyệt vời hơn một bầu trời xanh ngắt, ngào ngạt hương hoa cỏ, làn gió hiu hiu cùng sự tĩnh lặng ươm nắng của những cánh đồng hay những cánh rừng thẳm. Dù có si tình đến nhường nào, dù có tự tin vào người ấy ra sao, hay dù quá khứ của nàng có đem lại cho ta bao nhiêu niềm tin vào tương lai đi chăng nữa, thì trong lòng ta vẫn luôn gợn lên đôi chút hờn ghen. Nếu anh từng nếm trải dư vị của tình yêu, hẳn anh cũng từng khao khát được mang người con gái mình muốn trọn đời gắn bó cất giấu khỏi thế gian này. Dường như, dẫu nàng có hững hờ với mọi thứ xung quanh đến mức nào, thì chỉ cần chạm mặt những gã đàn ông hay những cám dỗ khác, người phụ nữ ta yêu cũng sẽ phai nhạt đi đôi phần hương sắc và sự vẹn nguyên vốn có. Về phần mình, tôi lại càng thấm thía điều đó hơn ai hết. Tình yêu của tôi chẳng phải một mối tình bình dị; tôi đã yêu mãnh liệt như mọi khao khát trần tục có thể vươn tới, nhưng người tôi yêu lại là Marguerite Gautier. Điều đó đồng nghĩa với việc giữa chốn Paris hoa lệ, cứ mỗi bước chân đi, tôi lại có thể đụng mặt những gã đã từng, hoặc đang nhăm nhe trở thành nhân tình của em. Trong khi đó, ở chốn thôn quê thanh bình này, bao quanh bởi những gương mặt xa lạ chẳng đoái hoài gì đến chúng tôi, chỉ có hai đứa lẻ loi giữa thiên nhiên đang độ xuân thì-mùa của sự bao dung, cách biệt hoàn toàn khỏi những ồn ào huyên náo của phố thị, tôi mới có thể thu mình lại để giấu kín tình yêu của đời mình, để được yêu mà chẳng phải mang theo chút e dè hay sợ hãi.

Bóng dáng của nàng kỹ nữ xa hoa thuở nào cứ thế nhạt phai từng chút một. Giờ đây, đứng bên tôi chỉ là một người thiếu nữ trẻ trung và kiều diễm, người mà tôi đem lòng yêu say đắm, người cũng đáp lại tình tôi, và mang cái tên Marguerite. Quá khứ đã lùi vào dĩ vãng, còn tương lai cũng chẳng vương chút mây mù. Ánh nắng rực rỡ đậu trên bờ vai người tình của tôi, hệt như vầng hào quang ôm lấy một cô dâu đoan trang thanh khiết nhất. Chúng tôi cùng nhau dạo bước qua những chốn thơ mộng, những nơi tưởng chừng sinh ra chỉ để đánh thức những vần thơ của Lamartine4 hay cất lên những giai điệu êm ái của Scudo5. Marguerite diện một chiếc đầm trắng tinh khôi, em khoác tay tôi, rù rì bên tai tôi dưới vòm trời lấp lánh ánh sao những lời âu yếm em từng nói hôm qua. Và ở tít đằng xa kia, thế giới ngoài kia dẫu có xoay vần thế nào, cũng chẳng thể hắt cái bóng tối tăm của nó lên bức tranh rực rỡ của tuổi trẻ và tình yêu đôi lứa chúng tôi.

Đó là giấc mộng đẹp đẽ mà ánh nắng chói chang len lỏi qua từng tán lá đã mang đến cho tôi ngày hôm ấy. Ngả lưng trên thảm cỏ xanh nơi hòn đảo chúng tôi vừa cập bến, tôi mặc cho tâm trí mình thỏa sức phiêu diêu, trút bỏ mọi xiềng xích của trần tục để vươn tay hái lấy mọi hy vọng chợt lóe lên trên lối rẽ của cuộc đời.

Hơn thế nữa, từ chỗ tôi đứng, tôi có thể phóng tầm mắt về phía bờ bên kia, nơi ngự trị một nếp nhà hai tầng nhỏ nhắn xinh xắn, được ôm trọn bởi hàng rào hình bán nguyệt. Xuyên qua lớp rào thưa, ngay trước hiên nhà là một thảm cỏ xanh mướt, mềm mại tựa nhung lụa, và phía sau lưng là cả một khu rừng nhỏ giấu kín những lối mòn bí ẩn-nơi mà mỗi sớm mai, lớp rêu phong hẳn sẽ lại nhẹ nhàng xóa đi dấu chân của ngày hôm trước. Những khóm hoa leo cứ thế bám riết lấy lối vào của ngôi nhà vắng bóng người, leo miết lên tận tầng một như vươn mình tìm chút hơi ấm.

Tôi cứ mải miết ngắm nhìn ngôi nhà ấy lâu đến độ bắt đầu ngỡ như nó là của riêng mình, bởi nó là hiện thân quá đỗi hoàn mỹ cho giấc mơ tôi đang ôm ấp. Tôi mường tượng ra cảnh tôi và Marguerite sống ở đó, ban ngày ríu rít trong khu rừng nhỏ phủ kín sườn đồi, đêm xuống lại tựa lưng vào nhau trên thảm cỏ êm. Và tôi tự hỏi, liệu trên thế gian này, đã từng có sinh linh nào có thể chạm đến tận cùng của hạnh phúc như chúng tôi sẽ như thế chăng?

"Ngôi nhà đẹp quá!" Marguerite khẽ thốt lên với tôi, ánh mắt em nương theo cái nhìn và có lẽ là cả dòng suy tưởng miên man trong tôi.

"Ở đâu cơ?" Prudence tò mò hỏi.

"Ngay đằng kia kìa," Marguerite đáp, đưa tay chỉ về phía ngôi nhà chúng tôi vừa bận lòng để ý.

"Ôi, tuyệt quá!" Prudence trầm trồ. "Em có ưng nơi đó không?"

"Vô cùng ưng ý."

"Vậy thì, hãy bảo lão công tước thuê nó cho em; lão ta sẽ làm thế thôi, chị dám chắc đấy. Chị sẽ đánh tiếng lo liệu chuyện đó nếu em muốn."

Marguerite quay sang nhìn tôi, ánh mắt như muốn dò hỏi tâm ý. Những mộng tưởng êm đềm trong tôi phút chốc tan tành thành trăm mảnh trước lời Prudence vừa nói, ném tôi về lại với thực tại trần trụi và tàn nhẫn đến mức tôi vẫn còn chếnh choáng vì cú ngã bất thần ấy.

"Vâng, vâng, một ý kiến tuyệt vời đấy," tôi lắp bắp đáp lời, bờ môi mấp máy dẫu chẳng mường tượng nổi mình đang thốt ra điều gì.

"Được rồi, em sẽ tự tay thu xếp chuyện đó," Marguerite quả quyết, khẽ rút bàn tay mềm mại ra khỏi tay tôi và tự ý diễn giải câu nói hớ hênh ban nãy theo đúng ước muốn của em. "Chúng ta hãy qua đó xem thử người ta có cho thuê không nhé."

Ngôi nhà vẫn đang bỏ trống, mức giá cho thuê là hai nghìn franc.

"Anh sẽ cảm thấy hạnh phúc khi ở đây chứ?" em dịu dàng hỏi tôi.

"Liệu anh có chắc sẽ được đến đây chăng?" tôi ngập ngừng.

"Chứ em chôn vùi thanh xuân ở chốn này vì ai khác nữa, nếu không phải vì anh?"

"Vậy thì, Marguerite, hãy để anh tự đứng ra thuê nó đi em."

"Anh điên thật rồi; làm thế không những chẳng ích gì, mà còn mang lại rắc rối tày đình. Anh thừa hiểu em không có quyền nhận lấy một cơ ngơi nhường này từ bất kỳ ai ngoại trừ một người đàn ông chu cấp cơ mà. Cứ mặc em lo liệu, đồ trẻ con to xác của em, và xin anh đừng nói thêm gì nữa."

"Thế có nghĩa là," Prudence xen vào, "bất cứ khi nào rảnh rỗi dăm bữa nửa tháng, chị sẽ ghé qua đây và nán lại nghỉ ngơi cùng các con đấy nhé."

Chúng tôi rời khỏi ngôi nhà và bắt đầu quay trở về Paris, dọc đường đi không ngớt bàn tán về dự định mới mẻ này. Tôi ôm siết Marguerite trong vòng tay, và khi bước xuống khỏi chiếc xe ngựa, tôi đã bắt đầu buông lỏng lòng mình, nhìn nhận những toan tính sắp đặt của em bằng một ánh mắt vị tha và bớt phần khắt khe hơn.



  1. Đồng tiền vàng truyền thống của Pháp, trị giá bằng 20 franc. Dù lúc bấy giờ đã được thay thế bằng đồng franc, giới thượng lưu vẫn quen dùng 'louis' làm đơn vị tính toán trong các khoản chi tiêu lớn. 

  2. Một sòng bạc quy mô lớn và vô cùng xa hoa tại Paris dành cho giới thượng lưu, hoạt động rầm rộ cho đến khi các hình thức cờ bạc công khai bị cấm và đóng cửa vào năm 1837. 

  3. Hệ thống dẫn nước bằng đá đồ sộ (aqueduct) được xây dựng từ thế kỷ 17 dưới thời vua Louis XIV để cung cấp nước cho các đài phun nước tại lâu đài Versailles, là một công trình kiến trúc nổi tiếng ở ngoại ô Paris. 

  4. Alphonse de Lamartine (1790-1869), nhà thơ vĩ đại của trường phái lãng mạn Pháp, nổi tiếng với những vần thơ trữ tình, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và những tình yêu u buồn. 

  5. Paul Scudo (1806-1864), một nhà phê bình âm nhạc và nhà soạn nhạc người Pháp gốc Ý, tác giả của nhiều bài hát và giai điệu êm dịu rất được giới trẻ đương thời ưa chuộng.