CHƯƠNG III
Một giờ chiều ngày mười sáu, tôi tìm đến phố d'Antin1. Ngay từ ngoài ngưỡng cửa, tiếng rao the thé của người bán đấu giá đã dội vào tai. Căn phòng chật nêm người. Có thể thấy ở đây đủ mọi gương mặt khét tiếng của lối sống phong lưu phù phiếm nhất, nay đang phải hứng chịu những ánh nhìn dò xét lén lút từ các phu nhân đài các. Chẳng qua, các quý bà này mượn cớ đến dự buổi đấu giá để được tận mắt chiêm ngưỡng những người phụ nữ mà lẽ thường họ chẳng bao giờ có dịp chạm mặt, những bóng hồng mà tự sâu thẳm tâm can, họ lại thầm ghen tị bởi những thú vui dục vọng phóng túng. Nữ tước F. khẽ huých tay cô A., một trong những hiện thân đáng buồn nhất của giới kỹ nữ đương thời; Hầu tước T. chần chừ trước một món nội thất đang bị bà D. - người đàn bà ngoại tình thanh lịch và tai tiếng nhất thời đại chúng ta - không ngừng đẩy giá lên cao. Công tước Y., người mà giới thượng lưu Madrid vẫn đồn thổi là đang vung tay quá trán ở Paris, còn tại Paris thì lại bị xì xào là đang ném tiền qua cửa sổ ở Madrid, dẫu thực tế ngài chưa bao giờ tiêu lạm vào khoản thu nhập kếch xù của mình. Lúc này đây, ngài đang mải mê trò chuyện cùng bà M., một trong những giai nhân có tài kể chuyện duyên dáng nhất của chúng ta, người thi thoảng vẫn tự tay chắp bút ghi lại những lời mình nói rồi ký tên dưới những trang viết ấy. Cùng lúc, vị công tước còn bận trao đổi những ánh nhìn lả lơi đầy thân mật với bà de N., đóa hoa kiều diễm của đại lộ Champs-Élysées. Người đàn bà này hầu như lúc nào cũng thướt tha trong những bộ váy màu hồng hay xanh lam, và luôn tự tay điều khiển cỗ xe song mã đen tuyền vạm vỡ mà Tony đã bán cho nàng với giá mười ngàn franc - khoản tiền mà nàng đã thanh toán theo cách thức rất riêng của mình. Cuối cùng là cô R., người đàn bà mà chỉ nhờ tài năng thiên bẩm, đã tự tay kiếm được số tiền gấp đôi của hồi môn của các tiểu thư quyền quý, và gấp ba lần những gì kẻ khác vơ vét được từ các cuộc tình đẫm nước mắt. Bất chấp thời tiết buốt giá, cô cũng đã đến đây để mua sắm, và giữa đám đông nhung lụa này, cô nào phải là người ít được chú ý nhất.
Chúng tôi hoàn toàn có thể liệt kê thêm những cái tên viết tắt của vô số người khác nữa, những kẻ đang bất ngờ thấy mình đứng chung trong một căn phòng, và hẳn cũng không giấu nổi sự ngỡ ngàng khi chạm trán nhau ở chốn này. Nhưng chúng tôi e rằng sẽ làm quý độc giả thấy nhàm chán. Chúng tôi chỉ muốn nói thêm rằng, dường như ai nấy đều đang chìm trong một bầu không khí vô cùng hoan hỉ. Rất nhiều người có mặt ở đây từng quen biết người phụ nữ quá cố, thế nhưng họ lại tỏ ra bàng quan, như thể đã gạt bỏ sự thật nghiệt ngã ấy ra khỏi tâm trí từ lâu. Những tràng cười lớn thi nhau vang lên; những viên chức điều hành đấu giá gào thét đến lạc cả giọng; đám lái buôn ngồi ken đặc trên các băng ghế sát bàn đấu giá cố gắng lập lại trật tự trong vô vọng, chỉ hòng giải quyết cho xong xuôi những mánh lới làm ăn của họ. Chắc hẳn chưa từng có một buổi tụ họp nào lại huyên náo và ồn ào đến thế.
Tôi lặng lẽ luồn lách qua đám đông hỗn tạp ấy, cõi lòng chợt quặn thắt xót xa khi nhớ lại rằng, sinh linh khốn khổ đang bị đem bán từng món đồ để gán nợ kia, đã trút hơi thở cuối cùng ngay tại căn phòng kế bên. Vốn dĩ đến đây cốt để quan sát chứ chẳng màng chuyện mua bán, tôi chú tâm ngắm nghía những gương mặt của đám người đấu giá. Tôi nhận ra họ rạng rỡ hẳn lên vì hỉ hả mỗi khi một món đồ nào đó được gõ búa với mức giá vượt xa mong đợi. Những con người khoác lớp vỏ tử tế ấy, những kẻ đã từng bòn rút trục lợi từ thân phận kỹ nữ của nàng, những kẻ đã vắt kiệt nàng không chừa lại lấy một cắc, những kẻ đã đày đọa những khoảnh khắc cuối đời của nàng bằng đủ loại trát hầu tòa... Và giờ đây, khi nàng đã nằm xuống, họ lại xúm xít đến để gặt hái ngay lập tức những quả ngọt từ sự toan tính đê hèn, để thu về tiền lãi từ những khoản vay mượn nhuốc nhơ của mình! Người xưa quả thực đã thấu suốt hồng trần biết bao, khi quyết định chỉ tôn thờ chung một vị Thần cho cả phường thương nhân lẫn lũ cướp cạn!
Váy vóc, những chiếc khăn choàng cashmere mềm mại cùng vô số đồ trang sức đắt giá nối đuôi nhau được bán đi với tốc độ chóng mặt. Chẳng có món nào lọt vào mắt xanh của tôi, thế nên tôi vẫn kiên nhẫn nán lại chờ đợi. Bất chợt, tiếng xướng giá vang lên:
"Một cuốn sách, gáy đóng tuyệt đẹp, mép giấy mạ vàng, tựa đề Manon Lescaut2. Có dòng thủ bút trên trang đầu. Mười franc."
"Mười hai," một giọng nói cất lên phá vỡ khoảng không im lặng kéo dài khá lâu trước đó.
"Mười lăm," tôi lên tiếng.
Vì cớ gì ư? Chính tôi cũng chẳng rõ. Có lẽ là vì những dòng thủ bút bí ẩn kia đã khơi dậy sự tò mò nơi tôi.
"Mười lăm," người điều hành phiên đấu giá dõng dạc nhắc lại.
"Ba mươi," người đàn ông đầu tiên ngã giá cất lời, giọng điệu nhuốm vẻ thách thức bất cứ kẻ nào dám cả gan tranh giành với ngài.
Cuộc đấu giá giờ đây đã thực sự biến thành một cuộc chiến. "Ba mươi lăm," tôi dõng dạc đáp trả bằng chính tông giọng quả quyết ấy.
"Bốn mươi."
"Năm mươi."
"Sáu mươi."
"Một trăm."
Lời xướng giá ngất ngưởng ấy quả nhiên thu hút được mọi sự chú ý. Một sự im lặng sững sờ lập tức bao trùm lấy căn phòng, và mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía tôi, tựa hồ đang dò xét xem kẻ cố chấp vung tiền giành giật một cuốn sách đến cùng rốt cuộc là hạng người nào.
Sự kiên định toát ra từ tiếng hô chốt giá của tôi dường như đã đánh bại được đối thủ. Ngài ấy quyết định buông xuôi, bởi tiếp tục giằng co cũng vô ích, kết quả duy nhất chỉ là buộc tôi phải trả cái giá đắt gấp cả chục lần giá trị thực sự của cuốn sách. Khẽ cúi chào, ngài nói với vẻ điềm đạm và nhã nhặn, dẫu cho sự nhượng bộ này có đôi chút muộn màng:
"Tôi xin nhường ngài."
Chẳng còn ai ngã giá thêm nữa, cuốn sách nghiễm nhiên được giao cho tôi.
E sợ lòng kiêu hãnh lại mù quáng trỗi dậy một lần nữa, kéo theo những màn vung tay quá trán mà chiếc hầu bao xẹp lép của tôi khó lòng gánh vác nổi, tôi bèn ghi lại tên mình, yêu cầu cất riêng cuốn sách sang một bên rồi lặng lẽ bước ra ngoài. Tôi cam đoan rằng hành động vừa rồi đã để lại một nỗi băn khoăn không nhỏ cho những người chứng kiến sự việc này. Hẳn họ vẫn đang thầm thắc mắc, tự hỏi tôi có mục đích gì khi sẵn lòng ném ra một trăm franc chỉ để rước về một cuốn sách mà mình hoàn toàn có thể tìm mua ở bất cứ đâu với giá mười, hay nhiều nhất cũng chỉ mười lăm franc.
Độ một giờ sau, tôi sai người đến lấy món đồ vừa đấu giá được. Nơi trang lót, hiện lên qua những nét mực thanh thoát, hoa mỹ, là lời đề tặng của người gửi. Dòng đề tựa chỉ vỏn vẹn mấy chữ sau:
Manon gửi Marguerite.
Lòng khiêm nhường.
Bên dưới là chữ ký của Armand Duval.
Chữ "Lòng khiêm nhường" ấy mang ẩn ý gì? Phải chăng dưới góc nhìn của anh ta, chàng Armand Duval nọ, nàng Manon hẳn sẽ nhận ra ở Marguerite một người vượt trội hơn mình, xét về những thói hư tật xấu hay về độ sâu đậm của tình cảm? Cách lý giải thứ hai xem chừng hợp lý hơn cả. Bởi lẽ, nếu hiểu theo cách đầu tiên thì đó quả là một sự xỉ nhục trơ trẽn đến mức Marguerite, dẫu có tự đánh giá bản thân ra sao đi nữa, cũng tuyệt nhiên chẳng bao giờ chịu chấp nhận.
Tôi lại bước ra ngoài, bẵng đi chẳng mảy may nghĩ đến cuốn sách nữa, mãi cho tới tận đêm khuya, lúc tôi chuẩn bị buông mình vào giấc ngủ.
Manon Lescaut quả là một câu chuyện thấm đẫm bi thương. Dẫu đã nằm lòng từng chi tiết, nhưng mỗi khi vô tình bắt gặp tựa sách ấy, một nỗi xót xa thân thuộc lại trào dâng thôi thúc tôi lật mở những trang giấy. Và thế là, lần thứ một trăm, tôi lại hòa mình vào nhịp đập thổn thức của nữ chính dưới ngòi bút tu viện trưởng Prévost3. Giờ đây, hình bóng nàng hiện lên sống động đến mức tôi ngỡ như mình đã từng thực sự quen biết nàng. Chính sự tương đồng giữa Manon và Marguerite lại càng khơi dậy trong tôi một niềm khắc khoải lạ kỳ khi đọc lại cuốn sách này. Sự khoan dung ban đầu trong tôi dần chuyển hóa thành một niềm thương xót vô ngần, gần như một thứ tình cảm chan chứa dành cho cô gái tội nghiệp mà nhờ nàng, tôi mới có được cuốn sách trên tay. Manon đã gục ngã giữa sa mạc hoang vu, đó là sự thật, nhưng dẫu sao nàng vẫn nhắm mắt xuôi tay trong vòng tay của người đàn ông đã yêu nàng bằng tất cả sinh mệnh; người mà khi thân xác nàng lạnh lẽo, đã tự tay đào cho nàng một nấm mồ, tưới đẫm lớp đất nghèo nàn bằng những giọt lệ nhòa và chôn vùi luôn cả trái tim mình nơi đáy huyệt. Còn Marguerite, một người con gái cũng mang nhiều lầm lỗi như Manon, và có lẽ cũng đã ăn năn hối cải như nàng, lại trút hơi thở cuối cùng trên một chiếc giường xa hoa lộng lẫy - chiếc giường của quá khứ vang bóng một thời, như tôi từng được tận mắt chứng kiến. Thế nhưng, tận sâu thẳm, nàng lại chết mòn giữa chốn sa mạc của tâm hồn, một sa mạc còn cằn cỗi, bao la và tàn khốc hơn vạn lần cái sa mạc nơi Manon yên giấc ngàn thu.
Thực tế phũ phàng thay, như tôi từng dò hỏi từ vài người bạn hiểu rõ những ngày tháng cuối đời của Marguerite, nàng chẳng có lấy một người bạn tri kỷ nào kề cận bên giường bệnh. Suốt hai tháng trời ròng rã, nàng đã phải gặm nhấm nỗi cô độc trong cơn hấp hối kéo dài đầy đớn đau.
Từ số phận của Manon và Marguerite, tâm trí tôi cứ miên man nghĩ về những bóng hồng tôi từng quen biết, những người mà tôi vẫn thấy họ cất tiếng hát vui ca dọc theo con đường dẫn lối đến một cái chết thê lương tương tự. Hỡi ôi, những tâm hồn đáng thương! Dẫu cho việc đem lòng yêu họ là điều ngang trái, thì chẳng lẽ trao cho họ một chút xót thương cũng là sai trái hay sao? Ta xót xa cho kẻ mù lòa chưa từng được ngắm nhìn vạt nắng ban mai, thương cảm cho người điếc chẳng bao giờ nghe được bản hòa ca của tạo hóa, và đau lòng thay cho người câm cả đời không thể tìm thấy thanh âm để giãi bày tiếng lòng. Vậy mà, núp bóng dưới lớp áo choàng giả tạo của sự hổ thẹn đoan trang, ta lại từ chối rủ lòng thương trước sự mù lòa của trái tim, sự điếc lác của tâm hồn, và sự câm lặng của lương tâm. Chính những khuyết tật u tối ấy đã đẩy những sinh linh bị đày đọa đánh mất chính mình. Trớ trêu thay, những khiếm khuyết đó khiến nàng, dẫu cho tâm chẳng hề mong muốn, vẫn đành bất lực trước ánh sáng của cái thiện, chẳng thể lắng nghe lời răn dạy của Chúa trời, và không làm sao cất lên được thứ ngôn ngữ thuần khiết của tình yêu và đức tin.
Hugo đã viết Marion Delorme4, Musset đã viết Bernerette5, Alexandre Dumas đã viết Fernande6; những bậc tư tưởng và các thi nhân ở mọi thời đại đều từng dành cho những kiếp kỹ nữ niềm thương xót vô ngần. Đôi khi, có những bậc vĩ nhân còn giúp họ làm lại cuộc đời, trao cho họ tình yêu và thậm chí là cả một danh phận. Nếu tôi cứ khăng khăng nhấn mạnh điều này, ấy là bởi tôi biết, trong số những độc giả mới bắt đầu lật mở tác phẩm của tôi, hẳn nhiều người sẽ sẵn sàng ném đi cuốn sách mà họ sợ rằng trong đó sẽ chứa đựng những lời biện hộ cho thói hư tật xấu và kiếp sống phong trần; vả chăng, tuổi đời còn quá trẻ của tác giả chắc chắn sẽ càng làm tăng thêm mối e ngại ấy. Xin hãy cho phép tôi thức tỉnh những ai đang ôm ấp suy nghĩ đó, và cầu mong họ hãy tiếp tục lật dở những trang sách này, miễn là chẳng có gì khác ngoài nỗi sợ kia đang ngăn cản họ.
Tôi chỉ đơn thuần ôm ấp một niềm tin mãnh liệt vào một chân lý: Đối với những người phụ nữ chưa từng được dạy dỗ thế nào là lẽ phải, Đấng Tối Cao hầu như luôn hé mở cho họ hai con đường để tìm về nẻo thiện, đó là con đường của khổ đau và con đường của tình yêu. Đó là những nẻo đường rải đầy chông gai; những ai dấn bước trên con đường ấy đều phải lê bước với đôi bàn chân rỉ máu và đôi bàn tay cào xé. Nhưng bù lại, họ cũng rũ bỏ được những cám dỗ nhơ nhuốc vướng trên những mũi gai nhọn dọc đường, để rồi khi chạm đến đích cuối của cuộc hành trình, họ hiện diện trong một sự trần trụi nhưng chẳng hề đáng thẹn trước ánh nhìn của Chúa.
Bất cứ ai hội ngộ những lữ khách quả cảm ấy, xin hãy dang tay cứu giúp họ, và hãy kể lại cho mọi người nghe về cuộc gặp gỡ đó, bởi làm như vậy chính là đang soi đường dẫn lối. Vấn đề không phải là cứ cắm hai tấm biển báo ngay tại ngưỡng cửa cuộc đời, một tấm ghi "Con Đường Đúng", tấm kia ghi "Con Đường Sai", rồi bảo những kẻ vừa bước đến rằng: "Hãy chọn đi." Điều người ta thực sự cần làm, tựa như Đức Jesus, là chỉ ra những lối mòn dẫn từ ngả đường thứ hai quay về ngả đường thứ nhất, dành cho những tâm hồn dễ bị lầm đường lạc bước; và điều thiết yếu là điểm khởi đầu của những nẻo đường này không được quá đớn đau, hay tỏ ra quá khó nhọc để vượt qua.
Đạo Cơ Đốc truyền lại cho chúng ta dụ ngôn tuyệt diệu về Đứa con hoang đàng7, cốt để răn dạy thế nhân bài học về lòng bao dung và sự vị tha. Chúa Jesus vốn chan chứa tình yêu thương dành cho những tâm hồn tứa máu vì dục vọng con người; Người thích tự tay băng bó những thương tích ấy, và tìm thấy ngay trong chính nỗi đau đớn tận cùng phương thuốc diệu kỳ để chữa lành cho họ. Bởi thế, Người mới phán cùng nàng Magdalene8: "Con sẽ được ân xá nhiều, bởi con đã yêu thương quá đỗi," một sự tha thứ cao cả chỉ có thể bắt nguồn từ một đức tin thiện mỹ.
Tại sao chúng ta lại khắc nghiệt hơn cả Chúa Jesus? Tại sao chúng ta cứ ngoan cố bám víu vào mớ định kiến thế tục - thứ vỏ bọc mà những kẻ yếu hèn khoác lên mình hòng tự huyễn hoặc về sức mạnh bản thân - để rồi nhẫn tâm ruồng bỏ những tâm hồn đang không ngừng rỉ máu, hệt như cái cách mà thế gian này vẫn luôn tàn nhẫn quay lưng? Tựa như việc chích lấy máu độc để cứu người bệnh, thì chính những vết thương đẫm lệ kia cũng đủ sức gột rửa mọi lầm lỗi trong quá khứ, giá mà có một bàn tay ấm áp chìa ra xoa dịu, dìu dắt họ bước vào tháng ngày hồi sinh của con tim.
Tôi đang cất lời cùng những người đồng thế hệ với mình, những người đã may mắn vượt qua thời kỳ mà những học thuyết của ngài de Voltaire9 còn hiện hữu. Tôi nói với những ai, cũng giống như tôi, nhận ra rằng trong mười lăm năm qua, nhân loại đã tiến một bước dài táo bạo trên con đường khai sáng. Ranh giới giữa thiện và ác nay đã tỏ tường; đức tin được định hình lại, và sự tôn kính dành cho những điều thiêng liêng đã quay về. Dẫu thế gian chưa thể lập tức hóa thành chốn thiên đường, thì ít nhất nó cũng đã trở nên tốt đẹp hơn. Mọi nỗ lực của những bậc trí giả đều hướng về một đích đến, và mọi ý chí kiên cường đều gắn với một nguyên lý duy nhất: Hãy sống thiện lương, sống nhiệt huyết, và sống chân thành! Cái ác suy cho cùng chỉ là sự phù phiếm hư vinh; hãy cưu mang trong lòng niềm kiêu hãnh của cái thiện, và trên hết, đừng bao giờ buông xuôi trong tuyệt vọng. Xin đừng buông lời khinh khi một người phụ nữ chỉ vì cô ấy không phải là mẹ, là chị, là người hầu hay vợ của ai đó. Xin đừng quẩn quanh sự tôn trọng chỉ nơi ngưỡng cửa gia đình, hay thu hẹp lòng bao dung vào sự vị kỷ hẹp hòi. Bởi vì "trên thiên đường sẽ ngập tràn hoan hỉ để chào đón một tội nhân biết ăn năn, hơn là vì chín mươi chín người công chính chẳng cần đến sự hối cải". Vậy nên, hãy mang niềm hân hoan ấy dâng lên thiên đường, rồi thiên đường sẽ đền đáp cho chúng ta bằng tất cả vốn lẫn lời. Giữa dòng đời dâu bể, xin hãy dang tay trao gửi chút bố thí của lòng vị tha cho những linh hồn lầm lỡ bị dục vọng trần thế cuốn đi, những con người vẫn đang khao khát một phép màu cứu rỗi. Giống như lời các cụ bà vẫn thường dặn dò khi trao cho bạn một phương thuốc dân gian: dẫu chẳng ích gì, thì chí ít cũng chẳng hại ai đâu.
Hẳn sẽ là một sự táo bạo khi tôi cố chắt lọc những triết lý lớn lao ấy từ một câu chuyện mọn mằn thế này. Thế nhưng, tôi lại luôn tin rằng mọi sự vĩ đại đều ẩn mình trong những điều nhỏ bé. Một đứa trẻ tuy nhỏ nhoi, lại mang mầm mống của cả một con người vóc vạc; bộ não dẫu chật hẹp, lại ươm mầm cho những tư duy bao la; con mắt chỉ là một điểm bé xíu xiu, lại có thể ôm trọn cả những khoảng không vô tận.
-
Tức phố Chaussée d'Antin, một con phố sầm uất và sang trọng bậc nhất ở Paris vào thế kỷ 19, nơi tập trung dinh thự của giới thượng lưu và những kỹ nữ cao cấp. ↩
-
Tiểu thuyết kinh điển của văn học Pháp xuất bản năm 1731. Tác phẩm kể về mối tình bi thảm giữa một chàng thanh niên quý tộc và nàng kỹ nữ Manon Lescaut, có rất nhiều nét tương đồng với thân phận và cuộc đời của nữ chính Marguerite trong truyện này. ↩
-
Antoine François Prévost (1697-1763), thường được gọi là Abbé Prévost (tu viện trưởng Prévost), là một nhà văn, tiểu thuyết gia người Pháp, tác giả của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Manon Lescaut. ↩
-
Tên một vở kịch nổi tiếng của đại văn hào Victor Hugo xuất bản năm 1829, lấy cảm hứng từ cuộc đời thực của Marion Delorme - một kỹ nữ danh tiếng ở Pháp thế kỷ 17. ↩
-
Nhân vật nữ chính trong tác phẩm truyện ngắn 'Frédéric et Bernerette' (1838) của nhà thơ, nhà văn Pháp Alfred de Musset, kể về số phận bi đát của một cô gái giang hồ. ↩
-
Tiểu thuyết 'Fernande' xuất bản năm 1844 của đại văn hào Alexandre Dumas (cha), kể về cuộc đời và những góc khuất đầy bi kịch của một người phụ nữ thuộc thế giới kỹ nữ. ↩
-
Một dụ ngôn nổi tiếng trong Kinh Thánh, kể về người con trai đòi chia gia tài, đi chơi bời phung phí đến mức nghèo đói rồi mới hối hận quay về và vẫn được người cha dang tay tha thứ. Câu chuyện tượng trưng cho lòng bao dung vô bờ bến của Thiên Chúa đối với những tội nhân biết ăn năn hối cải. ↩
-
Mary Magdalene (Maria Ma-đa-lê-na), một người phụ nữ được Chúa Jesus cứu giúp. Trong truyền thống Công giáo phương Tây nhiều thế kỷ, bà thường được đồng nhất với một người phụ nữ tội lỗi (kỹ nữ) đã biết ăn năn hối cải và xức dầu thơm lên chân Chúa. ↩
-
François-Marie Arouet, bút danh Voltaire (1694-1778), là một nhà văn, triết gia lỗi lạc của phong trào Khai sáng Pháp. Ông nổi tiếng với những tư tưởng tự do, hoài nghi tôn giáo và đả kích mạnh mẽ sự bảo thủ của Giáo hội thời bấy giờ. ↩
Chapter III
At one o’clock on the 16th I went to the Rue d’Antin. The voice of the auctioneer could be heard from the outer door. The rooms were crowded with people. There were all the celebrities of the most elegant impropriety, furtively examined by certain great ladies who had again seized the opportunity of the sale in order to be able to see, close at hand, women whom they might never have another occasion of meeting, and whom they envied perhaps in secret for their easy pleasures. The Duchess of F. elbowed Mlle. A., one of the most melancholy examples of our modern courtesan; the Marquis de T. hesitated over a piece of furniture the price of which was being run high by Mme. D., the most elegant and famous adulteress of our time; the Duke of Y., who in Madrid is supposed to be ruining himself in Paris, and in Paris to be ruining himself in Madrid, and who, as a matter of fact, never even reaches the limit of his income, talked with Mme. M., one of our wittiest story-tellers, who from time to time writes what she says and signs what she writes, while at the same time he exchanged confidential glances with Mme. de N., a fair ornament of the Champs-Elysées, almost always dressed in pink or blue, and driving two big black horses which Tony had sold her for 10,000 francs, and for which she had paid, after her fashion; finally, Mlle. R., who makes by her mere talent twice what the women of the world make by their dot and three times as much as the others make by their amours, had come, in spite of the cold, to make some purchases, and was not the least looked at among the crowd.
We might cite the initials of many more of those who found themselves, not without some mutual surprise, side by side in one room. But we fear to weary the reader. We will only add that everyone was in the highest spirits, and that many of those present had known the dead woman, and seemed quite oblivious of the fact. There was a sound of loud laughter; the auctioneers shouted at the top of their voices; the dealers who had filled the benches in front of the auction table tried in vain to obtain silence, in order to transact their business in peace. Never was there a noisier or a more varied gathering.
I slipped quietly into the midst of this tumult, sad to think of when one remembered that the poor creature whose goods were being sold to pay her debts had died in the next room. Having come rather to examine than to buy, I watched the faces of the auctioneers, noticing how they beamed with delight whenever anything reached a price beyond their expectations. Honest creatures, who had speculated upon this woman’s prostitution, who had gained their hundred per cent out of her, who had plagued with their writs the last moments of her life, and who came now after her death to gather in at once the fruits of their dishonourable calculations and the interest on their shameful credit! How wise were the ancients in having only one God for traders and robbers!
Dresses, cashmeres, jewels, were sold with incredible rapidity. There was nothing that I cared for, and I still waited. All at once I heard: “A volume, beautifully bound, gilt-edged, entitled Manon Lescaut. There is something written on the first page. Ten francs.”
“Twelve,” said a voice after a longish silence.
“Fifteen,” I said.
Why? I did not know. Doubtless for the something written.
“Fifteen,” repeated the auctioneer.
“Thirty,” said the first bidder in a tone which seemed to defy further competition.
It had now become a struggle. “Thirty-five,” I cried in the same tone.
“Forty.”
“Fifty.”
“Sixty.”
“A hundred.”
If I had wished to make a sensation I should certainly have succeeded, for a profound silence had ensued, and people gazed at me as if to see what sort of a person it was, who seemed to be so determined to possess the volume.
The accent which I had given to my last word seemed to convince my adversary; he preferred to abandon a conflict which could only have resulted in making me pay ten times its price for the volume, and, bowing, he said very gracefully, though indeed a little late:
“I give way, sir.”
Nothing more being offered, the book was assigned to me.
As I was afraid of some new fit of obstinacy, which my amour propre might have sustained somewhat better than my purse, I wrote down my name, had the book put on one side, and went out. I must have given considerable food for reflection to the witnesses of this scene, who would no doubt ask themselves what my purpose could have been in paying a hundred francs for a book which I could have had anywhere for ten, or, at the outside, fifteen.
An hour after, I sent for my purchase. On the first page was written in ink, in an elegant hand, an inscription on the part of the giver. It consisted of these words:
Manon to Marguerite.
Humility.
It was signed Armand Duval.
What was the meaning of the word Humility? Was Manon to recognise in Marguerite, in the opinion of M. Armand Duval, her superior in vice or in affection? The second interpretation seemed the more probable, for the first would have been an impertinent piece of plain speaking which Marguerite, whatever her opinion of herself, would never have accepted.
I went out again, and thought no more of the book until at night, when I was going to bed.
Manon Lescaut is a touching story. I know every detail of it, and yet whenever I come across the volume the same sympathy always draws me to it; I open it, and for the hundredth time I live over again with the heroine of the Abbé Prévost. Now this heroine is so true to life that I feel as if I had known her; and thus the sort of comparison between her and Marguerite gave me an unusual inclination to read it, and my indulgence passed into pity, almost into a kind of love for the poor girl to whom I owed the volume. Manon died in the desert, it is true, but in the arms of the man who loved her with the whole energy of his soul; who, when she was dead, dug a grave for her, and watered it with his tears, and buried his heart in it; while Marguerite, a sinner like Manon, and perhaps converted like her, had died in a sumptuous bed (it seemed, after what I had seen, the bed of her past), but in that desert of the heart, a more barren, a vaster, a more pitiless desert than that in which Manon had found her last resting-place.
Marguerite, in fact, as I had found from some friends who knew of the last circumstances of her life, had not a single real friend by her bedside during the two months of her long and painful agony.
Then from Manon and Marguerite my mind wandered to those whom I knew, and whom I saw singing along the way which led to just such another death. Poor souls! if it is not right to love them, is it not well to pity them? You pity the blind man who has never seen the daylight, the deaf who has never heard the harmonies of nature, the dumb who has never found a voice for his soul, and, under a false cloak of shame, you will not pity this blindness of heart, this deafness of soul, this dumbness of conscience, which sets the poor afflicted creature beside herself and makes her, in spite of herself, incapable of seeing what is good, of hearing the Lord, and of speaking the pure language of love and faith.
Hugo has written Marion Delorme, Musset has written Bernerette, Alexandre Dumas has written Fernande, the thinkers and poets of all time have brought to the courtesan the offering of their pity, and at times a great man has rehabilitated them with his love and even with his name. If I insist on this point, it is because many among those who have begun to read me will be ready to throw down a book in which they will fear to find an apology for vice and prostitution; and the author’s age will do something, no doubt, to increase this fear. Let me undeceive those who think thus, and let them go on reading, if nothing but such a fear hinders them.
I am quite simply convinced of a certain principle, which is: For the woman whose education has not taught her what is right, God almost always opens two ways which lead thither the ways of sorrow and of love. They are hard; those who walk in them walk with bleeding feet and torn hands, but they also leave the trappings of vice upon the thorns of the wayside, and reach the journey’s end in a nakedness which is not shameful in the sight of the Lord.
Those who meet these bold travellers ought to succour them, and to tell all that they have met them, for in so doing they point out the way. It is not a question of setting at the outset of life two sign-posts, one bearing the inscription “The Right Way,” the other the inscription “The Wrong Way,” and of saying to those who come there, “Choose.” One must needs, like Christ, point out the ways which lead from the second road to the first, to those who have been easily led astray; and it is needful that the beginning of these ways should not be too painful nor appear too impenetrable.
Here is Christianity with its marvellous parable of the Prodigal Son to teach us indulgence and pardon. Jesus was full of love for souls wounded by the passions of men; he loved to bind up their wounds and to find in those very wounds the balm which should heal them. Thus he said to the Magdalen: “Much shall be forgiven thee because thou hast loved much,” a sublimity of pardon which can only have called forth a sublime faith.
Why do we make ourselves more strict than Christ? Why, holding obstinately to the opinions of the world, which hardens itself in order that it may be thought strong, do we reject, as it rejects, souls bleeding at wounds by which, like a sick man’s bad blood, the evil of their past may be healed, if only a friendly hand is stretched out to lave them and set them in the convalescence of the heart?
It is to my own generation that I speak, to those for whom the theories of M. de Voltaire happily exist no longer, to those who, like myself, realize that humanity, for these last fifteen years, has been in one of its most audacious moments of expansion. The science of good and evil is acquired forever; faith is refashioned, respect for sacred things has returned to us, and if the world has not all at once become good, it has at least become better. The efforts of every intelligent man tend in the same direction, and every strong will is harnessed to the same principle: Be good, be young, be true! Evil is nothing but vanity, let us have the pride of good, and above all let us never despair. Do not let us despise the woman who is neither mother, sister, maid, nor wife. Do not let us limit esteem to the family nor indulgence to egoism. Since “there is more joy in heaven over one sinner that repenteth than over ninety and nine just persons that need no repentance,” let us give joy to heaven. Heaven will render it back to us with usury. Let us leave on our way the alms of pardon for those whom earthly desires have driven astray, whom a divine hope shall perhaps save, and, as old women say when they offer you some homely remedy of their own, if it does no good it will do no harm.
Doubtless it must seem a bold thing to attempt to deduce these grand results out of the meagre subject that I deal with; but I am one of those who believe that all is in little. The child is small, and he includes the man; the brain is narrow, and it harbours thought; the eye is but a point, and it covers leagues.