CHƯƠNG II. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA JONATHAN HARKER-tiếp theo
Ngày 5 tháng 5.-Hẳn là tôi đã ngủ thiếp đi, vì nếu hoàn toàn tỉnh táo, chắc chắn tôi đã nhận ra mình đang tiến tới một nơi phi thường đến vậy. Trong bóng tối, khoảng sân trước mặt trông có vẻ mênh mông, và có lẽ những lối đi tăm tối khuất nẻo dưới các vòm cửa đá khổng lồ đã khiến nó trông rộng lớn hơn thực tế. Tôi vẫn chưa có dịp ngắm nhìn nơi này dưới ánh sáng ban ngày.
Ngay khi cỗ xe ngựa dừng lại, người xà ích liền nhảy xuống, đưa tay ra đỡ tôi bước xuống. Một lần nữa, tôi lại phải kinh ngạc trước sức mạnh phi thường của anh ta. Bàn tay anh ta rắn chắc như một chiếc êtô bằng thép, tựa hồ có thể bóp nát tay tôi nếu anh ta muốn. Kế đó, anh ta nhấc đồ đạc của tôi xuống, đặt cạnh nơi tôi đang đứng, sát bên một cánh cửa lớn cũ kỹ. Cánh cửa được đóng những chiếc đinh sắt to bản, nằm sâu trong một lối vào được xây bằng đá tảng nhô ra. Dưới thứ ánh sáng lờ mờ, tôi vẫn có thể nhận ra những nét chạm trổ đá công phu, dẫu thời gian và mưa gió đã bào mòn chúng đi nhiều. Trong lúc tôi còn đang đứng đó, người xà ích đã thoắt nhảy lên ghế lái, giật mạnh dây cương; bầy ngựa chồm lên, và rồi cả chiếc xe lẫn người lái vụt biến mất vào một trong những lối đi tăm tối.
Tôi đứng lặng người tại chỗ, chẳng biết phải làm gì tiếp theo. Tuyệt nhiên không có dấu hiệu nào của chuông hay tay gõ cửa; còn giọng nói của tôi thì khó lòng mà lọt qua nổi những bức tường đá cau có cùng những ô cửa sổ tối tăm kia. Khoảng thời gian chờ đợi dường như kéo dài vô tận, và tôi cảm nhận rõ rệt những mối hoài nghi cùng nỗi sợ hãi đang dồn dập ập tới. Rốt cuộc tôi đã đến một nơi như thế nào, và đang đứng giữa những con người ra sao đây? Chuyến phiêu lưu đầy rùng rợn mà tôi vừa dấn thân vào rốt cuộc là thứ gì? Phải chăng đây chỉ là chuyện thường tình trong đời một viên thư ký luật sư, được cử đi giải quyết thủ tục mua một điền trang ở London cho một vị khách nước ngoài? Thư ký luật sư ư! Mina hẳn sẽ chẳng thích từ đó đâu. Luật sư mới phải-bởi ngay trước lúc rời London, tôi đã nhận được tin mình vượt qua kỳ thi; và giờ đây, tôi đã là một luật sư thực thụ! Tôi bắt đầu dụi mắt, rồi nhéo mình một cái để xem bản thân có đang tỉnh táo hay không. Tất cả những thứ này dường như chỉ là một cơn ác mộng kinh hoàng, và tôi cứ ngỡ mình sẽ chợt choàng tỉnh, thấy bản thân đang ở nhà với ánh bình minh le lói qua khung cửa sổ, giống như cảm giác tôi vẫn thường trải qua vào những buổi sáng sau một ngày làm việc kiệt sức. Nhưng da thịt tôi đã nhói lên vì cái nhéo, và đôi mắt tôi thì không hề bị đánh lừa. Tôi thực sự đang thức, và đang đứng giữa dãy núi Carpathian hoang vu. Tất cả những gì tôi có thể làm lúc này chỉ là kiên nhẫn đợi chờ ánh sáng của buổi sớm mai.
Ngay khi vừa quyết định như vậy, tôi bỗng nghe thấy tiếng bước chân nặng nề vang lên từ phía sau cánh cửa lớn, rồi thấp thoáng qua những khe hở là một luồng ánh sáng đang tiến lại gần. Tiếp theo đó là tiếng xích sắt lách cách, rồi tiếng loong coong của những chốt cửa lớn đang được kéo ra. Một chiếc chìa khóa vặn xoay cùng tiếng rít chói tai của ổ khóa đã lâu ngày không được sử dụng, và cánh cửa khổng lồ chậm rãi mở tung.
Bên trong là một người đàn ông cao tuổi. Ngoại trừ hàng ria mép dài trắng toát, gương mặt ngài được cạo nhẵn nhụi. Ngài vận trang phục đen tuyền từ đầu đến chân, không lấy một chút màu sắc nào điểm xuyết. Trên tay, ngài nâng một chiếc đèn bạc cổ lỗ; ngọn lửa bên trong cứ thế bập bùng cháy mà không cần đến chụp đèn hay ống khói, hắt ra những chiếc bóng dài rung rinh, lập lòe trong luồng gió lùa qua cánh cửa đang mở. Bằng một cử chỉ vô cùng trang nhã, ông lão đưa tay phải ra hiệu cho tôi bước vào. Ngài cất lời bằng thứ tiếng Anh chuẩn xác, nhưng lại mang một âm điệu thật kỳ lạ:-
“Chào mừng anh đến với ngôi nhà của tôi! Hãy bước vào tự do và theo ý muốn của anh!” Ngài không hề có động thái bước tới đón tôi, mà chỉ đứng sừng sững tựa một bức tượng, dường như chính cử chỉ chào đón ấy đã tạc ngài thành đá. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc tôi vừa bước qua bậu cửa, ngài bỗng bất thần bước tới, vươn tay ra nắm chặt lấy tay tôi với một lực mạnh đến mức khiến tôi phải nhăn mặt. Cảm giác ấy lại càng thêm phần rợn ngợp khi bàn tay ngài lạnh buốt như băng-giống hệt như bàn tay của một kẻ đã chết hơn là một người đang sống. Ngài lại cất giọng:-
“Chào mừng anh đến với ngôi nhà của tôi. Cứ tự nhiên nhé. Hãy bình an bước vào; và mong anh để lại đôi chút niềm hạnh phúc mà anh mang tới!” Sức mạnh từ cái bắt tay ấy giống hệt như những gì tôi từng cảm nhận ở người xà ích giấu mặt kia, đến nỗi trong một tích tắc, tôi đã ngờ vực không biết liệu người đang đứng trước mặt mình có phải chính là anh ta hay không; vì vậy, để chắc chắn, tôi ướm hỏi:-
“Bá tước Dracula phải không ạ?” Ngài cúi chào một cách đầy tao nhã và đáp lời:-
“Tôi là Dracula; và tôi chào mừng anh, anh Harker, đến với ngôi nhà của tôi. Vào đi; gió đêm lạnh buốt, và anh hẳn đang cần đồ ăn thức uống cùng một chỗ nghỉ ngơi.” Vừa nói, ngài vừa đặt chiếc đèn lên một giá đỡ trên tường, rồi bước ra ngoài xách hành lý của tôi; ngài đã mang nó vào trước cả khi tôi kịp lên tiếng can ngăn. Tôi vội vã từ chối, nhưng ngài vẫn một mực khăng khăng:-
“Không, thưa anh, anh là khách của tôi cơ mà. Đã muộn rồi, và người hầu của tôi lại không có mặt ở đây. Hãy để tôi tự tay chăm lo cho sự thoải mái của anh.” Ngài dứt khoát xách đồ đạc của tôi đi dọc theo hành lang, rảo bước lên một chiếc cầu thang xoắn ốc lớn, rồi tiếp tục men theo một hành lang rộng thênh thang khác, nơi những bước chân của chúng tôi vang lên nặng nề, nện xuống sàn đá lạnh lẽo. Cuối cùng, ngài đẩy tung một cánh cửa nặng trĩu. Tôi vô cùng mừng rỡ khi thấy bên trong là một căn phòng sáng sủa. Một bàn ăn đã được dọn sẵn cho bữa tối, và trên chiếc lò sưởi khổng lồ, một đống củi lớn vừa được tiếp thêm đang bốc cháy rực rỡ.
Bá tước dừng bước, đặt túi xách của tôi xuống, đóng cửa lại, rồi băng qua phòng để mở một cánh cửa khác dẫn vào căn phòng hình bát giác nhỏ xíu. Nơi đó dường như không có bất kỳ ô cửa sổ nào, chỉ được thắp sáng bằng một ngọn đèn đơn độc. Bước qua căn phòng ấy, ngài lại mở thêm một cánh cửa nữa rồi ra hiệu cho tôi bước vào. Đó quả là một cảnh tượng ấm áp; bởi đây là một phòng ngủ rộng rãi, ngập tràn ánh sáng và được sưởi ấm bằng một đống lửa củi khác,-những thanh củi hẳn cũng vừa mới được thêm vào, vì lớp trên cùng vẫn còn tươi mới-phát ra những tiếng nổ lép bép, ầm ầm vang dội qua ống khói rộng thênh thang. Đích thân Bá tước đã đặt hành lý của tôi vào trong, rồi lùi lại và dặn dò trước khi khép cửa:-
“Sau chuyến đi dài, hẳn anh sẽ cần gột rửa bụi đường để thấy sảng khoái hơn. Tôi tin rằng anh sẽ tìm thấy mọi thứ mình cần ở đây. Khi nào đã sẵn sàng, hãy bước sang căn phòng kia, bữa tối của anh đã được dọn sẵn rồi.”
Ánh sáng rực rỡ, hơi ấm lan tỏa cùng lời chào đón đầy nhã nhặn của vị Bá tước dường như đã xua tan mọi nỗi hoài nghi và sợ hãi trong tôi. Khi tâm trí đã bình tĩnh trở lại, tôi mới nhận ra mình đang đói cồn cào; vậy nên, sau khi tắm rửa vội vàng, tôi liền bước sang căn phòng bên cạnh.
Bữa tối đã được dọn sẵn trên bàn. Vị chủ nhà của tôi đang đứng tựa vào phần thành lò sưởi bằng đá. Ngài duyên dáng vẫy tay về phía bàn ăn và cất giọng:-
“Tôi xin anh, hãy ngồi xuống và dùng bữa cho ngon miệng. Mong anh lượng thứ vì tôi không thể dùng bữa cùng anh; tôi đã ăn tối rồi, và tôi không có thói quen ăn khuya.”
Tôi trao cho ngài bức thư niêm phong mà ngài Hawkins đã ủy thác. Ngài mở thư và chăm chú đọc với vẻ mặt trang nghiêm; sau đó, ngài nở một nụ cười đầy quyến rũ rồi đưa lại cho tôi xem. Ít nhất cũng có một đoạn trong bức thư mang lại cho tôi niềm vui sướng.
“Tôi rất tiếc vì căn bệnh gút thường xuyên tái phát đã tuyệt đối cấm tôi đi lại trong một thời gian tới; nhưng tôi rất vui mừng khi có thể cử đến một người thay thế đủ tư cách, một người mà tôi hoàn toàn tin tưởng. Anh ấy là một thanh niên trẻ trung, tràn đầy năng lượng, có tài năng theo cách riêng của mình, và sở hữu một bản tính vô cùng trung thành. Anh ấy kín đáo, trầm tĩnh và đã trưởng thành rất nhiều trong thời gian phụng sự tôi. Anh ấy sẽ sẵn lòng phục vụ ngài bất cứ khi nào ngài cần trong suốt thời gian lưu lại, và sẽ nhất nhất tuân theo chỉ thị của ngài trong mọi việc.”
Chính Bá tước đã tự tay bước tới mở nắp đậy món ăn, và tôi liền thưởng thức ngay món gà quay hảo hạng. Cùng với một chút pho mát, salad và hai ly rượu Tokay lâu năm, đó là toàn bộ bữa tối của tôi. Trong lúc tôi dùng bữa, Bá tước đã hỏi tôi rất nhiều về chuyến hành trình, và tôi cũng kể cho ngài nghe tường tận mọi điều mình đã trải qua.
Lúc này, khi đã ăn xong, thể theo ý muốn của chủ nhà, tôi kéo một chiếc ghế tới gần đống lửa và bắt đầu nhả khói với điếu xì gà mà ngài mời, ngài cũng cáo lỗi rằng bản thân không hút thuốc. Giờ đây, tôi mới có cơ hội quan sát ngài kỹ hơn, và nhận ra ngài sở hữu một diện mạo vô cùng đặc biệt.
Khuôn mặt ngài toát lên một vẻ góc cạnh, vô cùng sắc sảo-hệt như một con chim ưng, với sống mũi mỏng, nhô cao và hai lỗ mũi cong lên một cách kỳ lạ; vầng trán ngài dô cao, tóc mọc lưa thưa quanh thái dương nhưng lại rậm rạp ở những phần khác. Đôi lông mày của ngài cực kỳ rậm rạp, tưởng chừng như giao nhau ngay trên sống mũi, với lớp lông cuộn lại dày đặc. Đôi môi ngài, theo những gì tôi có thể quan sát được bên dưới hàng ria mép xum xuê, trông rất cứng cỏi và có phần tàn nhẫn, hàm răng trắng ởn, nhọn hoắt đến kỳ lạ; chúng nhô ra khỏi đôi môi mang sắc đỏ rực rỡ đến khó tin, minh chứng cho một sức sống mãnh liệt hiếm thấy ở một người trạc tuổi ngài. Về phần còn lại, đôi tai ngài nhợt nhạt với phần chóp cực kỳ nhọn; cằm rộng và đầy vẻ uy quyền, đôi má dẫu gầy gò nhưng vẫn rất săn chắc. Ấn tượng bao trùm lên tất cả là một sự nhợt nhạt khác thường.
Cho đến lúc này, tôi chỉ mới chú ý đến mu bàn tay của ngài khi ngài đặt chúng lên đầu gối dưới ánh lửa, chúng có vẻ khá trắng trẻo và thanh tú; nhưng giờ đây, khi được nhìn ở cự ly gần, tôi không thể không nhận ra rằng chúng lại khá thô ráp-bàn tay to bản với những ngón tay mập mạp. Lạ lùng thay, giữa lòng bàn tay ngài lại có những sợi lông mọc lên. Móng tay ngài dài, thanh mảnh và được cắt nhọn hoắt. Khi Bá tước vươn người qua chỗ tôi và vô tình chạm tay vào tôi, tôi đã không thể kìm được một cơn rùng mình ớn lạnh. Có thể là do hơi thở của ngài quá nặng mùi, nhưng một cảm giác buồn nôn kinh khủng chợt ập đến, dẫu có cố gắng đến mấy tôi cũng không tài nào che giấu nổi. Bá tước dường như cũng nhận ra điều đó, ngài liền lùi lại; với một nụ cười nhăn nhở, để lộ ra hàm răng nhô sắc nhọn, ngài ngồi lại xuống chiếc ghế bên lò sưởi. Cả hai chúng tôi chìm vào im lặng một lúc lâu; khi tôi phóng tầm mắt ra ngoài cửa sổ, tôi đã thấy những tia sáng mờ ảo đầu tiên của buổi bình minh đang rạng. Vạn vật dường như đang chìm trong một sự tĩnh lặng đến gai người; nhưng khi lắng tai nghe, tôi chợt nhận ra tiếng tru tréo của bầy sói đang vẳng lên từ dưới thung lũng sâu. Đôi mắt Bá tước bỗng lóe sáng, ngài cất lời:-
“Hãy lắng nghe chúng kìa-những đứa con của bóng đêm. Khúc nhạc chúng tạo ra mới tuyệt diệu làm sao!” Có lẽ vì nhận thấy vẻ mặt đầy bỡ ngỡ của tôi, ngài bèn nói thêm:-
“À, thưa anh, những người sống ở chốn phồn hoa đô hội như các anh khó lòng mà thấu cảm được tâm hồn của một kẻ thợ săn đâu.” Sau đó ngài đứng dậy và nói tiếp:-
“Nhưng chắc hẳn anh đã mệt rồi. Phòng ngủ của anh đã sẵn sàng, ngày mai anh cứ việc ngủ nướng tùy thích. Tôi phải đi vắng cho đến tận chiều; vậy nên hãy ngủ thật ngon và có những giấc mơ đẹp nhé!” Bằng một cái cúi chào nhã nhặn, ngài tự tay mở cánh cửa phòng bát giác cho tôi, và tôi cất bước vào phòng ngủ của mình....
Tôi đang chìm đắm trong một biển những điều kỳ lạ. Tôi hoài nghi; tôi sợ hãi; tâm trí tôi quẩn quanh với những ý nghĩ kỳ quái, những điều mà tôi chẳng dám thổ lộ với chính linh hồn mình. Cầu xin Chúa hãy che chở cho tôi, dẫu chỉ vì những người mà tôi hằng yêu dấu!
Ngày 7 tháng 5.-Lại một buổi sáng tinh sương nữa bắt đầu, nhưng tôi đã có trọn vẹn hăm bốn giờ qua để nghỉ ngơi và phục hồi sinh lực. Tôi say giấc đến tận trưa và tự mình tỉnh dậy. Sau khi mặc quần áo, tôi bước sang gian phòng nơi chúng tôi đã dùng bữa tối hôm trước. Một bữa điểm tâm nguội đã được dọn sẵn, chỉ có bình cà phê được giữ ấm trên lò sưởi. Trên bàn là một tấm thiệp với dòng chữ:-
"Tôi phải đi vắng một thời gian. Đừng đợi tôi.-D."
Tôi liền ngồi xuống thưởng thức bữa ăn thật ngon miệng. Dùng bữa xong, tôi đảo mắt tìm một chiếc chuông để gọi người hầu đến dọn dẹp, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Thật là một sự thiếu hụt kỳ quặc trong một tòa lâu đài phô bày sự giàu có tột bậc như thế này. Bộ đồ ăn rặt một màu vàng ròng, được chạm trổ tinh xảo đến mức hẳn phải đáng giá cả một gia tài. Rèm cửa, nệm bọc, ghế sô pha và màn treo quanh giường tôi đều dệt từ những thước lụa là gấm vóc lộng lẫy và đắt đỏ nhất. Chắc chắn chúng từng tiêu tốn những khoản tiền khổng lồ vào thời điểm được tạo ra hàng thế kỷ trước, dẫu nay vẫn vẹn nguyên như mới. Tôi từng chiêm ngưỡng những món đồ tương tự ở cung điện Hampton Court, nhưng chúng đều đã sờn rách và bị rệp nhậy cắn thủng lỗ chỗ. Thế nhưng, điều kỳ lạ nhất là không một căn phòng nào có nổi một chiếc gương. Ngay cả trên bàn trang điểm của tôi cũng vắng bóng món đồ quen thuộc ấy, buộc tôi phải lôi chiếc gương cạo râu bé xíu trong túi hành lý ra mới có thể sửa soạn râu tóc. Tôi cũng chẳng hề mường tượng ra bóng dáng của bất kỳ người hầu nào, và lâu đài thì tĩnh mịch đến rợn người, ngoại trừ tiếng chó sói tru vẳng lại từ xa.
Một lúc sau khi dọn bụng-tôi cũng chẳng rõ đó là bữa sáng hay bữa tối, bởi đồng hồ đã điểm sáu giờ chiều-tôi bèn ngó nghiêng tìm chút gì đó để đọc. Tôi không muốn tự tiện đi dạo quanh lâu đài khi chưa xin phép Bá tước. Căn phòng này hoàn toàn vắng bóng sách báo hay thậm chí là giấy bút; thế là tôi thử mở một cánh cửa khác và may mắn tìm thấy một căn phòng trông giống như thư viện. Cánh cửa đối diện phòng tôi thì đã bị khóa chặt.
Bước vào thư viện, tôi vô cùng mừng rỡ khi bắt gặp vô vàn sách tiếng Anh. Những dãy kệ gỗ trĩu nặng dưới sức nặng của vô số đầu sách, cùng các tập tạp chí và báo chí được đóng gáy cẩn thận. Trên chiếc bàn lớn giữa phòng ngổn ngang đủ loại ấn phẩm tiếng Anh, dẫu chẳng có tờ nào mới xuất bản dạo gần đây. Sách vở thì trải dài trên mọi lĩnh vực-từ lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế, cho đến thực vật học, địa chất học và luật pháp. Đáng chú ý là tất cả đều viết về nước Anh, xoay quanh cuộc sống, phong tục và những tập quán của quê hương tôi. Thậm chí còn có cả những tài liệu tra cứu như Danh bạ London, các cuốn sách "Đỏ" và "Xanh"1, Niên giám Whitaker, Danh sách Lục quân và Hải quân, và-điều khiến tôi bỗng thấy ấm lòng đến lạ-Danh sách Luật sư.
Giữa lúc tôi đang mải mê lật giở những trang sách, cánh cửa khẽ mở và Bá tước bước vào. Ngài cất tiếng chào tôi bằng sự nồng hậu thường thấy, ân cần hỏi han xem tôi có một đêm ngon giấc hay không. Rồi ngài chậm rãi tiếp lời:-
"Tôi rất vui vì anh đã tự tìm được đường đến đây. Tôi tin chắc căn phòng này cất giấu nhiều thứ sẽ khơi gợi sự hứng thú nơi anh. Những người bạn đồng hành này,"-ngài khẽ đặt tay lên vài cuốn sách-"đã bầu bạn cùng tôi, mang đến cho tôi biết bao niềm vui trong suốt những năm qua, kể từ ngày tôi nhen nhóm ý định đặt chân đến London. Thông qua chúng, tôi đã làm quen với nước Anh vĩ đại của anh; và một khi đã hiểu về nước Anh, ta không thể không trót lòng yêu mến nó. Tôi luôn khao khát được dạo bước trên những con phố nhộn nhịp của London tráng lệ, được hòa mình vào dòng chảy hối hả của nhân loại, để chia sẻ nhịp đập sự sống, những biến thiên, cả sự lụi tàn, và muôn vàn sắc thái làm nên linh hồn thành phố. Nhưng chao ôi! Cho đến tận bây giờ, tôi mới chỉ làm quen với ngôn ngữ của anh qua sách vở. Chính nhờ anh, người bạn của tôi, mà tôi hy vọng mình có thể thực sự cất tiếng nói bằng ngôn ngữ ấy."
"Nhưng thưa Bá tước," tôi đáp lời, "ngài vốn đã am tường và giao tiếp bằng tiếng Anh vô cùng trôi chảy rồi mà!"
Ngài nghiêm trang cúi đầu.
"Cảm ơn anh, anh bạn, vì những lời ngợi khen có phần quá ưu ái. Nhưng e rằng tôi mới chỉ chập chững những bước đầu tiên trên chặng đường dài phía trước. Quả thực, tôi nắm vững ngữ pháp và từ vựng, nhưng tôi vẫn chưa thực sự thấu hiểu cái hồn trong cách nhả chữ của người Anh."
"Ngài quá lời rồi," tôi chân thành nói, "ngài nói thực sự rất xuất sắc."
"Chưa đâu," ngài khẽ lắc đầu. "Tôi biết rõ rằng, nếu tôi cứ thế thả bộ và trò chuyện giữa London của anh, ai ai cũng sẽ dễ dàng nhận ra tôi chỉ là một kẻ ngoại quốc. Với tôi, thế vẫn chưa đủ. Ở vùng đất này, tôi là một nhà quý tộc; tôi là một boyar2; dân chúng đều biết đến danh xưng của tôi, và tôi là một vị chúa tể. Nhưng một kẻ lạ mặt lưu lạc đến xứ người thì chẳng là cái thá gì cả; chẳng ai biết đến hắn-và không biết đồng nghĩa với việc chẳng bận tâm. Tôi sẽ chỉ thỏa mãn khi có thể hòa lẫn vào đám đông, để không một ánh mắt nào phải khựng lại khi thấy tôi bước qua, hay những lời xì xầm phải cất lên khi nghe tôi nói: 'Ha, ha! Lại một gã dị hợm phương xa!'. Tôi đã nắm quyền cai trị quá lâu, đến mức bản năng làm chủ đã ngấm vào huyết quản-hoặc ít nhất, tôi không cho phép bất cứ ai vượt quyền mình. Anh đến đây không đơn thuần mang tư cách đại diện cho người bạn Peter Hawkins ở Exeter của tôi, để bàn giao cho tôi mọi giấy tờ về điền trang mới tại London. Tôi tin rằng anh sẽ còn lưu lại đây cùng tôi thêm một thời gian, để qua những cuộc đàm đạo, tôi có thể thẩm thấu được ngữ điệu tiếng Anh chuẩn xác; và tôi muốn anh hãy sửa lưng tôi ngay khi tôi vướng phải một lỗi dù là nhỏ nhất trong cách diễn đạt. Tôi lấy làm tiếc vì hôm nay đã vắng bóng quá lâu; nhưng tôi tin anh sẽ rộng lượng bỏ qua cho một kẻ đang gánh trên vai quá nhiều trọng trách."
Dĩ nhiên, tôi bày tỏ sự sẵn lòng của mình bằng mọi lời lẽ chân thành nhất, và nhân tiện xin phép được sử dụng thư viện bất cứ lúc nào tôi muốn. Ngài mỉm cười: "Tất nhiên rồi," và tiếp lời:-
"Anh có thể tự do khám phá mọi ngóc ngách trong lâu đài, ngoại trừ những nơi có cánh cửa khóa chặt. Mà chắc chắn anh cũng chẳng muốn bước vào những chốn ấy làm gì. Mọi sự bài trí đều có nguyên do của nó, và nếu anh nhìn đời qua lăng kính của tôi, lĩnh hội những kiến thức của tôi, có lẽ anh sẽ thấu hiểu mọi bề."
Tôi gật đầu đồng tình, tin chắc rằng ngài nói đúng, rồi ngài lại thủng thẳng:-
"Chúng ta đang ở Transylvania; và Transylvania tuyệt nhiên không phải là nước Anh. Lối sống của chúng tôi khác biệt hoàn toàn với các anh, và hẳn sẽ có nhiều điều khiến anh bỡ ngỡ. Mà này, dựa trên những gì anh đã kể về chặng đường vừa qua, hẳn anh cũng đã phần nào nếm trải những hiện tượng kỳ dị ở xứ sở này rồi."
Câu nói ấy đã khơi mào cho hàng loạt những cuộc mạn đàm. Vì nhận ra ngài có nhã hứng muốn duy trì cuộc trò chuyện, tôi bèn thả phanh đặt ra vô số câu hỏi về những sự kiện tôi vừa trải qua hay những hiện tượng lọt vào tầm mắt mình. Đôi khi, ngài khéo léo lảng tránh, hoặc đánh trống lảng bằng cách vờ như không hiểu; nhưng tựu trung lại, ngài vẫn đáp lời tôi một cách rất cởi mở. Càng lúc tôi càng trở nên bạo dĩ hơn, bèn đem những chuyện kỳ quái đêm qua ra dò hỏi ngài, chẳng hạn như tại sao gã xà ích lại lao đến những nơi xuất hiện ngọn lửa xanh ma quái.
Ngài từ tốn giải thích rằng dân gian vẫn râm ran truyền tai nhau về một đêm đặc biệt trong năm-chính là đêm qua, khoảnh khắc mà mọi ác linh được ban cho sức mạnh vô song không gì cản nổi-một ngọn lửa xanh lè sẽ bốc lên từ bất cứ nơi nào cất giấu kho báu bí mật.
"Rằng kho báu đó đã được chôn vùi," ngài tiếp tục dệt nên câu chuyện, "dưới lòng vùng đất anh đi qua đêm trước, là điều gần như không phải bàn cãi; bởi lẽ đó là chiến địa đẫm máu suốt nhiều thế kỷ giữa người Wallachia, người Saxon và người Thổ Nhĩ Kỳ. Chà, hầu như chẳng có lấy một tấc đất nào trên khắp dải sơn hà này lại không được tưới tắm bằng máu tươi của con người, dù là những người ái quốc xả thân vì nghĩa lớn hay lũ xâm lược hung tàn. Trở về thuở xa xưa đầy biến động, khi quân Áo và quân Hungary kéo đến đông như kiến cỏ, những người yêu nước đã kiên cường nghênh chiến-cả đàn ông lẫn đàn bà, từ người già đến trẻ nhỏ. Họ kiên nhẫn mai phục trên những mỏm đá chênh vênh nơi cửa đèo, chực chờ kẻ địch để rồi giáng xuống đầu chúng những trận lở tuyết nhân tạo tàn khốc. Ngay cả khi lũ giặc ngoại xâm giành được chiến thắng, chúng cũng chẳng vơ vét được gì nhiều, bởi vạn vật quý giá đều đã được đất mẹ bao dung ôm vào lòng che chở."
"Nhưng cớ sao," tôi thắc mắc, "kho báu ấy có thể nằm im lìm suốt một thời gian dài đến vậy, khi những dấu hiệu chỉ đường đã quá mồn một với những ai chịu cất công tìm kiếm?"
Bá tước nhếch mép cười, và khi đôi môi ngài nhếch lên để lộ ra phần nướu, những chiếc răng nanh nhọn hoắt, dài ngoẵng vô tình phơi bày một cách gớm ghiếc; ngài cất giọng:-
"Bởi vì đám nông phu thực chất chỉ là lũ hèn nhát và ngu muội! Những ngọn lửa đó chỉ lóe sáng duy nhất một đêm; và trong đêm ấy, chẳng một gã đàn ông nào ở xứ này đủ to gan bước chân ra khỏi ngưỡng cửa trừ phi bị ép buộc. Và thưa anh, ngay cả khi hắn bạo gan làm thế, hắn cũng chẳng biết phải làm gì tiếp theo. Ngay cả gã xà ích mà anh vừa kể, người đã cẩn thận làm dấu tại nơi ngọn lửa bùng lên, cũng sẽ hoang mang chẳng biết tìm nơi nao mà lần vào ban ngày, dù cho đó là dấu vết do chính tay gã đánh dấu đi chăng nữa. Ngay cả anh, tôi dám chắc, cũng đâu có mảy may hy vọng tìm lại được những nơi chốn ấy?"
"Ngài nói chí phải," tôi thừa nhận. "Chính bản thân tôi cũng mù tịt chẳng biết phải tìm chúng ở đâu." Thế rồi, chúng tôi để câu chuyện trôi dạt sang những chủ đề khác.
"Nào," cuối cùng ngài lên tiếng, "hãy kể tôi nghe về London và về cơ ngơi mà anh đã tậu cho tôi đi."
Kèm theo một lời xin lỗi vì sự sơ ý của mình, tôi lui vào phòng riêng để lôi mớ giấy tờ từ trong túi xách ra. Đương lúc tôi đang lúi húi sắp xếp chúng cho ngăn nắp, tiếng lách cách của bát đĩa sứ và đồ bạc vẳng đến từ căn phòng bên cạnh. Khi bước ngang qua, tôi ngạc nhiên nhận thấy bàn ăn đã được dọn dẹp sạch bong và những ngọn đèn đã được thắp sáng trưng, bởi lúc này màn đêm đã buông xuống đen kịt. Đèn đóm cũng rực sáng trong phòng học hoặc thư viện, và tôi bắt gặp Bá tước đang ngả mình trên ghế sô pha, nhàn nhã lật giở một cuốn Cẩm nang Bradshaw3 của Anh, như thể đó là thứ thú vị nhất trần đời. Khi tôi bước vào, ngài nhanh chóng dọn dẹp sách vở và giấy tờ trên bàn; và hai chúng tôi bắt đầu săm soi các bản phác thảo kiến trúc, các khế ước, văn tự và đủ mọi con số phức tạp. Ngài tỏ ra đặc biệt lưu tâm đến mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất, liên tục ném vào tôi vô vàn câu hỏi về tòa dinh thự cùng cảnh quan xung quanh. Hiển nhiên ngài đã dày công nghiên cứu mọi thông tin có thể về khu vực này từ trước, bởi một sự thật rành rành là rốt cuộc ngài còn tỏ tường về nó hơn cả tôi. Khi tôi thốt lên lời thán phục về điều đó, ngài điềm đạm trả lời:-
"Chà, nhưng anh bạn của tôi ơi, tôi lại không cần phải thế sao? Khi đến nơi xứ lạ đó tôi sẽ thân cô thế cô, và người bạn Harker Jonathan của tôi-ồ không, thứ lỗi cho tôi, tôi lại nhiễm cái thói quen đặt họ lên trước của quê nhà rồi-người bạn Jonathan Harker của tôi sẽ không có mặt ở đó để uốn nắn và kề vai sát cánh giúp đỡ tôi. Anh ấy sẽ ở tít Exeter, cách xa hàng dặm trường, có lẽ đang cắm mặt vào đống giấy tờ luật pháp cùng một người bạn khác của tôi, Peter Hawkins. Mọi sự là thế đấy!"
Chúng tôi đào sâu vào các thủ tục giấy tờ mua bán điền trang ở Purfleet. Sau khi trình bày cặn kẽ mọi vấn đề và lấy được chữ ký của ngài lên các giấy tờ cần thiết, tôi cẩn thận viết một lá thư đính kèm để sẵn sàng gửi về cho ông Hawkins. Lúc này, ngài mới tò mò hỏi cơ duyên nào xui khiến tôi tình cờ tìm ra một chốn bồng lai thích hợp đến vậy. Tôi bèn đọc lại cho ngài nghe những dòng ghi chép mà tôi đã cẩn thận ghi lại vào thời điểm đó, những dòng mà tôi xin phép được chép lại ngay dưới đây:-
"Tại Purfleet, len lỏi trên một con lộ phụ, tôi tình cờ bắt gặp một cơ ngơi hội tụ đủ những yêu cầu khắt khe của ngài, với một tấm biển thông báo cũ nát rách bươm đang rao bán. Điền trang được bao bọc bởi một bức tường đá khổng lồ, sừng sững những nét kiến trúc cổ xưa, dựng nên từ những khối đá tảng nặng nề, dường như đã bị lãng quên trong suốt nhiều năm trời mà chẳng hề được tu sửa. Cánh cổng gỗ sồi cọc cạch khóa chặt, điểm xuyết những thanh sắt hoen rỉ và bị thời gian tàn phá thảm hại.
"Điền trang ấy mang cái tên Carfax, chắc chắn là một cách nói lái đi từ nguyên bản cổ Quatre Face, bởi tòa dinh thự quay mặt ra bốn hướng tương ứng với bốn phương chính của la bàn. Toàn bộ cơ ngơi trải rộng trên diện tích chừng hai mươi mẫu Anh, được che chắn kiên cố bởi bức tường đá vững chãi mà tôi vừa nhắc tới. Cây cối mọc um tùm, dệt nên những khoảng tối u tịch, và có một chiếc ao, hay đúng hơn là một cái hồ nhỏ sâu thẳm, âm u. Dường như nó được mạch nước ngầm từ một số con suối nuôi dưỡng, bởi làn nước trong vắt, tuôn trào thành một dòng chảy khá lớn. Dinh thự cực kỳ bề thế, và tôi đồ rằng nó mang hơi hướng của thời Trung cổ. Một phần công trình được xây dựng bằng những bức tường đá dày cộp, chỉ lơ thơ vài ô cửa sổ trổ tít trên cao và bị bịt kín bởi những chấn song sắt nặng nề. Lối kiến trúc này gợi liên tưởng đến một phần của tòa pháo đài, và đặc biệt, nó nằm sát vách một nhà nguyện hay nhà thờ cổ. Tôi không thể thâm nhập vào bên trong vì thiếu đi chiếc chìa khóa mở cánh cửa nối liền dinh thự với nhà nguyện, nhưng tôi đã dùng máy ảnh kodak chụp lại cảnh quan nơi này từ nhiều góc độ. Tòa nhà có vẻ đã được cơi nới thêm, nhưng cấu trúc lại khá chắp vá, và tôi chỉ có thể áng chừng diện tích phần đất mà nó chiếm giữ, chắc chắn là không hề nhỏ. Khu vực lân cận khá thưa thớt, chỉ lác đác vài mái nhà, nổi bật trong số đó là một công trình đồ sộ vừa được xây cất và cải tạo thành một trại thương điên tư nhân. Tuy nhiên, từ bên trong khuôn viên điền trang, người ta hoàn toàn không thể nhìn thấy nó."
Khi tôi vừa dứt lời, ngài bèn cất giọng:-
"Tôi rất hài lòng khi biết nó mang vẻ đẹp cổ kính và sở hữu không gian rộng lớn. Bản thân tôi vốn mang dòng máu của một gia tộc lâu đời, và việc phải sống trong một ngôi nhà mới toanh ắt hẳn sẽ bóp nghẹt tôi mất. Một ngôi nhà không thể khơi gợi cảm giác thân thuộc chỉ trong một sớm một chiều; và rốt cuộc, phải mất bao nhiêu ngày tháng mới bồi đắp nên một thế kỷ chứ? Tôi cũng rất ưng ý với sự hiện diện của nhà nguyện cổ. Những nhà quý tộc Transylvania chúng tôi hiếm khi cam tâm để xương cốt của mình nằm lẫn lộn với những vong linh thấp hèn tầm thường. Tôi chẳng màng tìm kiếm những thú vui phù phiếm hay những tràng cười sảng khoái, cũng chẳng thiết tha vẻ đẹp rực rỡ của ánh nắng chói chang hay làn nước lấp lánh, những thứ vốn chỉ dành để mua vui cho những tâm hồn tươi trẻ. Tuổi trẻ của tôi đã lùi vào dĩ vãng; và trái tim tôi, trải qua bao năm tháng héo mòn khóc thương những người đã khuất, cũng đã chai sạn trước những tiếng cười. Hơn thế nữa, những bức tường lâu đài của tôi nay đã hoang tàn đổ nát; một màn đêm thăm thẳm ngự trị, và gió lạnh không ngừng rít gào qua từng lỗ châu mai và những khung cửa sổ vỡ nát. Tôi phải lòng bóng tối và những màn sương mờ ảo, chỉ khao khát được cô độc gặm nhấm những suy tư của riêng mình mỗi khi có thể."
Chẳng hiểu sao, từng lời ngài thốt ra lại hoàn toàn trái ngược với ánh mắt ngài, hay cũng có thể do những đường nét trên khuôn mặt đã vô tình biến nụ cười của ngài trở nên độc ác và lạnh lùng đến rợn gáy.
Ngay sau đó, ngài cáo lỗi rồi rời đi, không quên dặn dò tôi cất gọn toàn bộ giấy tờ. Trong lúc ngài vắng mặt, tôi bèn lôi vài cuốn sách quanh đó ra giết thời gian. Một trong số đó là cuốn tập bản đồ, và tôi ngạc nhiên khi thấy nó tự động mở ra ở trang bản đồ nước Anh, với những nếp gấp hằn rõ như thể trang này đã được người ta lật mở và nghiền ngẫm vô số lần. Nhìn kỹ hơn, tôi phát hiện ra những vòng tròn nhỏ được cẩn thận khoanh đỏ ở vài địa điểm nhất định. Khi căng mắt ra xem xét những dấu vết này, tôi nhận thấy một vòng tròn khoanh vùng khu vực phía đông London, chắc chắn là vị trí điền trang mới của ngài; hai vòng tròn còn lại đánh dấu Exeter và Whitby trên dải bờ biển Yorkshire.
Độ một tiếng sau, Bá tước mới quay lại. "Aha!" ngài thốt lên; "anh vẫn mải mê với đống sách vở này sao? Tốt lắm! Nhưng anh cũng không nên vắt kiệt sức mình như thế. Đi nào; tôi vừa được báo rằng bữa tối của anh đã được dọn lên rồi."
Ngài thân tình khoác tay tôi, dẫn tôi sang gian phòng bên cạnh. Một bữa tối thịnh soạn đã được bày biện tươm tất trên bàn. Bá tước lại một lần nữa cáo lỗi, viện cớ ngài đã dùng bữa bên ngoài trong lúc vắng nhà. Dù vậy, ngài vẫn ngồi lại cạnh tôi hệt như đêm hôm trước, và say sưa đàm đạo trong suốt bữa ăn. Sau khi bụng đã no căng, tôi châm điếu thuốc như lệ thường, và Bá tước vẫn nán lại bầu bạn. Ngài trò chuyện và liên tục đặt câu hỏi về mọi chủ đề trên trời dưới bể, từ giờ này sang giờ khác. Tôi cảm nhận được đêm đã về khuya lắm rồi, nhưng tôi không dám hó hé nửa lời, bởi tôi tự thấy mình có nghĩa vụ phải chiều chuộng mọi sở thích của vị chủ nhà hiếu khách này. Cơn buồn ngủ hoàn toàn biến mất, bởi giấc ngủ dài đẫy giấc hôm qua đã nạp đầy năng lượng cho tôi; nhưng tôi vẫn không thể ngăn cản một cơn ớn lạnh kỳ lạ rùng mình chạy dọc sống lưng khi bình minh bắt đầu rục rịch ló rạng. Nó mang đến một cảm giác mơ hồ, giống như khoảnh khắc thủy triều đang rẽ sóng đổi ngôi. Người bản xứ vẫn thường kháo nhau rằng những kẻ hấp hối hay trút hơi thở cuối cùng vào đúng khoảnh khắc giao thời giữa đêm và ngày hoặc lúc thủy triều xoay chuyển; bất cứ ai đang trong cơn mỏi mệt, lại bị cầm chân ở một nơi chốn như thế này, từng nếm trải sự biến đổi đột ngột của bầu không khí, hẳn sẽ dễ dàng tin vào những truyền thuyết ấy. Đột nhiên, tiếng gáy the thé bất thường của một con gà trống xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, trong trẻo của buổi sớm mai; Bá tước Dracula bất ngờ bật dậy khỏi ghế, nói:-
"Chà, lại là buổi sáng mất rồi! Tôi quả là một kẻ vô tâm vô phế khi giữ chân anh thức khuya đến tận giờ này. Có lẽ anh phải làm cho những câu chuyện về vùng đất Anh tươi đẹp của tôi bớt phần hấp dẫn đi thôi, kẻo tôi lại đắm chìm trong đó mà quên bẵng đi thời gian đang vùn vụt thoi đưa," ngài vừa nói vừa trao cho tôi một cái cúi chào đầy tao nhã, rồi thoắt cái đã biến mất dạng.
Tôi lủi thủi trở về phòng riêng và vươn tay kéo rèm cửa, nhưng quang cảnh bên ngoài chẳng có lấy một điều gì đáng chú ý. Khung cửa sổ phòng tôi chỉ hướng thẳng ra khoảng sân trong tĩnh mịch. Tất cả những gì tôi có thể thu vào tầm mắt chỉ là một sắc xám ấm áp của bầu trời đang nhạt dần, nhường chỗ cho ánh bình minh hửng sáng. Chẳng màng bận tâm thêm, tôi buông rèm xuống, rồi ngồi lầm lũi viết lại những dòng nhật ký về một ngày vừa qua.
Ngày 8 tháng 5.-Khi viết những dòng này, tôi bắt đầu lo sợ rằng mình đang trở nên quá dông dài. Thế nhưng, tôi lại cảm thấy mừng vì đã đi sâu vào mọi chi tiết ngay từ đầu, bởi có điều gì đó quá đỗi kỳ dị về nơi này. Vạn vật xung quanh đều gieo vào lòng tôi một nỗi bất an không thể rũ bỏ. Tôi chỉ ước mình được an toàn thoát khỏi chốn này, hoặc giá như tôi chưa từng đặt chân đến đây. Có lẽ, nếp sống kỳ quái chỉ hoạt động về đêm này đang vắt kiệt tinh thần tôi. Nhưng nếu chỉ có thế thì tốt biết mấy! Nếu có ai đó để bầu bạn, tôi hẳn đã chịu đựng được. Nhưng nơi này tuyệt nhiên vắng bóng người. Tôi chỉ có mỗi Bá tước để trò chuyện, và ngài... Ôi, tôi e rằng mình là linh hồn sống duy nhất còn sót lại ở chốn này. Cứ để tôi đối mặt với sự thật trần trụi nhất; điều đó sẽ giúp tôi vững vàng, ngăn trí tưởng tượng vuột khỏi tầm kiểm soát. Bằng không, tôi sẽ hoàn toàn gục ngã. Vậy nên, hãy để tôi nói ngay về hoàn cảnh thực tại của mình-hoặc ít nhất là những gì tôi cảm nhận được.
Tôi chỉ chợp mắt được vài tiếng. Cảm thấy không thể ngủ thêm, tôi bèn thức dậy. Tôi treo chiếc gương nhỏ cạnh cửa sổ và bắt đầu cạo râu. Đột nhiên, tôi cảm thấy một bàn tay đặt lên vai mình, kéo theo giọng nói của Bá tước vang lên: “Chào buổi sáng.” Tôi giật nảy mình. Thật kinh ngạc là tôi không hề nhìn thấy ngài bước vào, dù hình ảnh phản chiếu trong gương đã bao quát toàn bộ căn phòng phía sau lưng. Cú giật mình khiến tôi tự cắt vào cằm, nhưng lúc ấy tôi chẳng màng bận tâm. Sau khi đáp lời Bá tước, tôi quay lại nhìn vào gương để xem mình đã nhìn sót thứ gì. Lần này, không thể có sự nhầm lẫn nào nữa. Người đàn ông đó đứng ngay sát bên tôi, tôi có thể nhìn thấy ngài rõ mồn một qua vai mình. Thế nhưng, trong gương không hề phản chiếu bất cứ hình bóng nào của ngài! Toàn bộ căn phòng phía sau tôi hiện lên rõ nét, tuyệt nhiên không có bóng dáng ai khác ngoài chính tôi. Điều này thật đáng sợ. Cùng với vô số những sự kiện kỳ lạ trước đó, nó càng làm dâng trào cảm giác bất an mơ hồ luôn đeo bám tôi mỗi khi ở gần Bá tước. Đúng lúc đó, tôi nhận ra vết cắt đã rỉ máu, từng giọt đỏ thẫm chảy ròng ròng xuống cằm. Tôi đặt dao cạo xuống, xoay người lại tìm miếng băng cá nhân. Ngay khi Bá tước nhìn thấy khuôn mặt tôi, đôi mắt ngài chợt rực lên một thứ cuồng nộ hung ác quỷ dị. Ngài chồm tới, chộp lấy cổ họng tôi. Tôi hốt hoảng lùi lại, vô tình để tay ngài chạm vào chuỗi hạt đeo cây thánh giá trước ngực. Đột nhiên, thái độ của ngài thay đổi ngay tắp lự. Cơn thịnh nộ biến mất nhanh đến mức tôi khó lòng tin rằng nó vừa mới hiện diện.
“Cẩn thận,” ngài nói, “hãy cẩn thận với việc tự làm mình bị thương. Ở xứ sở này, điều đó nguy hiểm hơn anh nghĩ đấy.” Sau đó, ngài chộp lấy chiếc gương cạo râu và gầm gừ: “Và đây chính là thứ rác rưởi đã gây ra phiền toái này. Nó chỉ là món đồ rẻ mạt dung túng cho thói phù phiếm của con người. Vứt nó đi!” Bằng một cú giật từ bàn tay mạnh mẽ khủng khiếp, ngài mở tung cánh cửa sổ nặng trĩu rồi ném thẳng chiếc gương ra ngoài. Nó rơi xuống những tảng đá dưới sân trong sâu thẳm, vỡ tan tành thành hàng ngàn mảnh vụn. Xong xuôi, ngài quay gót rời đi không một lời từ biệt. Thật phiền toái! Bây giờ tôi chẳng biết phải cạo râu thế nào, trừ phi dùng vỏ đồng hồ hoặc soi vào đáy hộp cạo râu, may mắn thay nó lại được làm bằng kim loại.
Khi tôi bước vào phòng ăn, bữa sáng đã được dọn sẵn, nhưng Bá tước lại vắng bóng. Vậy là tôi đành dùng bữa một mình. Có một điều lạ lùng là cho đến tận lúc này, tôi chưa từng thấy Bá tước ăn uống bất cứ thứ gì. Ngài ắt hẳn là một con người vô cùng kỳ dị! Sau bữa sáng, tôi quyết định dạo quanh khám phá lâu đài đôi chút. Đi dọc theo cầu thang, tôi tìm thấy một căn phòng trổ cửa sổ về hướng Nam. Từ vị trí này, tôi có thể thu trọn vào tầm mắt một khung cảnh thật sự tráng lệ. Lâu đài tọa lạc ngay bên mép một vách núi cheo leo đáng sợ. Nếu ném một hòn đá từ cửa sổ này, nó sẽ rơi tự do hàng ngàn thước mà chẳng hề chạm vào bất cứ vật cản nào! Xa xa, trải ngút tầm mắt là một vùng ngọn cây xanh mướt, thỉnh thoảng lại bị xẻ dọc bởi một hẻm núi sâu hoắm. Điểm xuyết giữa khung cảnh ấy là những dòng sông tựa như các sợi chỉ bạc, uốn lượn luồn lách qua những hẻm núi sâu thẳm giữa đại ngàn.
Thế nhưng, tôi chẳng còn tâm trí đâu mà họa lại vẻ đẹp ấy. Bởi lẽ, trong lúc phóng tầm mắt ngắm nhìn quang cảnh, tôi chợt phát hiện ra một sự thật kinh hoàng: cửa, những cánh cửa đóng kín ở khắp mọi nơi, và tất cả đều bị khóa chặt, chốt kỹ. Chẳng có lấy một lối thoát nào khả dĩ, ngoại trừ những ô cửa sổ nằm chót vót trên các bức tường thành.
Lâu đài này thực chất là một nhà tù, và tôi chính là một kẻ tù nhân!
-
Ở Anh thời Victoria, "sách Xanh" (Blue books) là các báo cáo và tài liệu thống kê của chính phủ hoặc nghị viện, còn "sách Đỏ" (Red books) là danh bạ liệt kê thông tin về giới quý tộc và quan chức. Dracula đọc chúng để tìm hiểu hệ thống quyền lực và cấu trúc xã hội nước Anh. ↩
-
Tước hiệu của tầng lớp quý tộc bậc cao ở khu vực Đông Âu (như Nga, Romania, Bulgaria) thời phong kiến, chỉ đứng sau hoàng gia. Việc xưng là boyar cho thấy quyền lực tuyệt đối của Dracula tại vùng đất của ông. ↩
-
Cuốn cẩm nang tổng hợp lịch trình tàu hỏa và thông tin du lịch vô cùng phổ biến ở nước Anh thế kỷ 19. Việc Dracula coi một cuốn lịch trình tàu hỏa khô khan là "thứ thú vị nhất trần đời" cho thấy ông ta đang tính toán cực kỳ tỉ mỉ cho kế hoạch xâm nhập nước Anh. ↩
CHAPTER II JONATHAN HARKER’S JOURNAL-continued
5 May.-I must have been asleep, for certainly if I had been fully awake I must have noticed the approach of such a remarkable place. In the gloom the courtyard looked of considerable size, and as several dark ways led from it under great round arches, it perhaps seemed bigger than it really is. I have not yet been able to see it by daylight.
When the calèche stopped, the driver jumped down and held out his hand to assist me to alight. Again I could not but notice his prodigious strength. His hand actually seemed like a steel vice that could have crushed mine if he had chosen. Then he took out my traps, and placed them on the ground beside me as I stood close to a great door, old and studded with large iron nails, and set in a projecting doorway of massive stone. I could see even in the dim light that the stone was massively carved, but that the carving had been much worn by time and weather. As I stood, the driver jumped again into his seat and shook the reins; the horses started forward, and trap and all disappeared down one of the dark openings.
I stood in silence where I was, for I did not know what to do. Of bell or knocker there was no sign; through these frowning walls and dark window openings it was not likely that my voice could penetrate. The time I waited seemed endless, and I felt doubts and fears crowding upon me. What sort of place had I come to, and among what kind of people? What sort of grim adventure was it on which I had embarked? Was this a customary incident in the life of a solicitor’s clerk sent out to explain the purchase of a London estate to a foreigner? Solicitor’s clerk! Mina would not like that. Solicitor-for just before leaving London I got word that my examination was successful; and I am now a full-blown solicitor! I began to rub my eyes and pinch myself to see if I were awake. It all seemed like a horrible nightmare to me, and I expected that I should suddenly awake, and find myself at home, with the dawn struggling in through the windows, as I had now and again felt in the morning after a day of overwork. But my flesh answered the pinching test, and my eyes were not to be deceived. I was indeed awake and among the Carpathians. All I could do now was to be patient, and to wait the coming of the morning.
Just as I had come to this conclusion I heard a heavy step approaching behind the great door, and saw through the chinks the gleam of a coming light. Then there was the sound of rattling chains and the clanking of massive bolts drawn back. A key was turned with the loud grating noise of long disuse, and the great door swung back.
Within, stood a tall old man, clean shaven save for a long white moustache, and clad in black from head to foot, without a single speck of colour about him anywhere. He held in his hand an antique silver lamp, in which the flame burned without chimney or globe of any kind, throwing long quivering shadows as it flickered in the draught of the open door. The old man motioned me in with his right hand with a courtly gesture, saying in excellent English, but with a strange intonation:-
“Welcome to my house! Enter freely and of your own will!” He made no motion of stepping to meet me, but stood like a statue, as though his gesture of welcome had fixed him into stone. The instant, however, that I had stepped over the threshold, he moved impulsively forward, and holding out his hand grasped mine with a strength which made me wince, an effect which was not lessened by the fact that it seemed as cold as ice-more like the hand of a dead than a living man. Again he said:-
“Welcome to my house. Come freely. Go safely; and leave something of the happiness you bring!” The strength of the handshake was so much akin to that which I had noticed in the driver, whose face I had not seen, that for a moment I doubted if it were not the same person to whom I was speaking; so to make sure, I said interrogatively:-
“Count Dracula?” He bowed in a courtly way as he replied:-
“I am Dracula; and I bid you welcome, Mr. Harker, to my house. Come in; the night air is chill, and you must need to eat and rest.” As he was speaking, he put the lamp on a bracket on the wall, and stepping out, took my luggage; he had carried it in before I could forestall him. I protested but he insisted:-
“Nay, sir, you are my guest. It is late, and my people are not available. Let me see to your comfort myself.” He insisted on carrying my traps along the passage, and then up a great winding stair, and along another great passage, on whose stone floor our steps rang heavily. At the end of this he threw open a heavy door, and I rejoiced to see within a well-lit room in which a table was spread for supper, and on whose mighty hearth a great fire of logs, freshly replenished, flamed and flared.
The Count halted, putting down my bags, closed the door, and crossing the room, opened another door, which led into a small octagonal room lit by a single lamp, and seemingly without a window of any sort. Passing through this, he opened another door, and motioned me to enter. It was a welcome sight; for here was a great bedroom well lighted and warmed with another log fire,-also added to but lately, for the top logs were fresh-which sent a hollow roar up the wide chimney. The Count himself left my luggage inside and withdrew, saying, before he closed the door:-
“You will need, after your journey, to refresh yourself by making your toilet. I trust you will find all you wish. When you are ready, come into the other room, where you will find your supper prepared.”
The light and warmth and the Count’s courteous welcome seemed to have dissipated all my doubts and fears. Having then reached my normal state, I discovered that I was half famished with hunger; so making a hasty toilet, I went into the other room.
I found supper already laid out. My host, who stood on one side of the great fireplace, leaning against the stonework, made a graceful wave of his hand to the table, and said:-
“I pray you, be seated and sup how you please. You will, I trust, excuse me that I do not join you; but I have dined already, and I do not sup.”
I handed to him the sealed letter which Mr. Hawkins had entrusted to me. He opened it and read it gravely; then, with a charming smile, he handed it to me to read. One passage of it, at least, gave me a thrill of pleasure.
“I must regret that an attack of gout, from which malady I am a constant sufferer, forbids absolutely any travelling on my part for some time to come; but I am happy to say I can send a sufficient substitute, one in whom I have every possible confidence. He is a young man, full of energy and talent in his own way, and of a very faithful disposition. He is discreet and silent, and has grown into manhood in my service. He shall be ready to attend on you when you will during his stay, and shall take your instructions in all matters.”
The Count himself came forward and took off the cover of a dish, and I fell to at once on an excellent roast chicken. This, with some cheese and a salad and a bottle of old Tokay, of which I had two glasses, was my supper. During the time I was eating it the Count asked me many questions as to my journey, and I told him by degrees all I had experienced.
By this time I had finished my supper, and by my host’s desire had drawn up a chair by the fire and begun to smoke a cigar which he offered me, at the same time excusing himself that he did not smoke. I had now an opportunity of observing him, and found him of a very marked physiognomy.
His face was a strong-a very strong-aquiline, with high bridge of the thin nose and peculiarly arched nostrils; with lofty domed forehead, and hair growing scantily round the temples but profusely elsewhere. His eyebrows were very massive, almost meeting over the nose, and with bushy hair that seemed to curl in its own profusion. The mouth, so far as I could see it under the heavy moustache, was fixed and rather cruel-looking, with peculiarly sharp white teeth; these protruded over the lips, whose remarkable ruddiness showed astonishing vitality in a man of his years. For the rest, his ears were pale, and at the tops extremely pointed; the chin was broad and strong, and the cheeks firm though thin. The general effect was one of extraordinary pallor.
Hitherto I had noticed the backs of his hands as they lay on his knees in the firelight, and they had seemed rather white and fine; but seeing them now close to me, I could not but notice that they were rather coarse-broad, with squat fingers. Strange to say, there were hairs in the centre of the palm. The nails were long and fine, and cut to a sharp point. As the Count leaned over me and his hands touched me, I could not repress a shudder. It may have been that his breath was rank, but a horrible feeling of nausea came over me, which, do what I would, I could not conceal. The Count, evidently noticing it, drew back; and with a grim sort of smile, which showed more than he had yet done his protuberant teeth, sat himself down again on his own side of the fireplace. We were both silent for a while; and as I looked towards the window I saw the first dim streak of the coming dawn. There seemed a strange stillness over everything; but as I listened I heard as if from down below in the valley the howling of many wolves. The Count’s eyes gleamed, and he said:-
“Listen to them-the children of the night. What music they make!” Seeing, I suppose, some expression in my face strange to him, he added:-
“Ah, sir, you dwellers in the city cannot enter into the feelings of the hunter.” Then he rose and said:-
“But you must be tired. Your bedroom is all ready, and to-morrow you shall sleep as late as you will. I have to be away till the afternoon; so sleep well and dream well!” With a courteous bow, he opened for me himself the door to the octagonal room, and I entered my bedroom....
I am all in a sea of wonders. I doubt; I fear; I think strange things, which I dare not confess to my own soul. God keep me, if only for the sake of those dear to me!
7 May.-It is again early morning, but I have rested and enjoyed the last twenty-four hours. I slept till late in the day, and awoke of my own accord. When I had dressed myself I went into the room where we had supped, and found a cold breakfast laid out, with coffee kept hot by the pot being placed on the hearth. There was a card on the table, on which was written:-
“I have to be absent for a while. Do not wait for me.-D.” I set to and enjoyed a hearty meal. When I had done, I looked for a bell, so that I might let the servants know I had finished; but I could not find one. There are certainly odd deficiencies in the house, considering the extraordinary evidences of wealth which are round me. The table service is of gold, and so beautifully wrought that it must be of immense value. The curtains and upholstery of the chairs and sofas and the hangings of my bed are of the costliest and most beautiful fabrics, and must have been of fabulous value when they were made, for they are centuries old, though in excellent order. I saw something like them in Hampton Court, but there they were worn and frayed and moth-eaten. But still in none of the rooms is there a mirror. There is not even a toilet glass on my table, and I had to get the little shaving glass from my bag before I could either shave or brush my hair. I have not yet seen a servant anywhere, or heard a sound near the castle except the howling of wolves. Some time after I had finished my meal-I do not know whether to call it breakfast or dinner, for it was between five and six o’clock when I had it-I looked about for something to read, for I did not like to go about the castle until I had asked the Count’s permission. There was absolutely nothing in the room, book, newspaper, or even writing materials; so I opened another door in the room and found a sort of library. The door opposite mine I tried, but found it locked.
In the library I found, to my great delight, a vast number of English books, whole shelves full of them, and bound volumes of magazines and newspapers. A table in the centre was littered with English magazines and newspapers, though none of them were of very recent date. The books were of the most varied kind-history, geography, politics, political economy, botany, geology, law-all relating to England and English life and customs and manners. There were even such books of reference as the London Directory, the “Red” and “Blue” books, Whitaker’s Almanac, the Army and Navy Lists, and-it somehow gladdened my heart to see it-the Law List.
Whilst I was looking at the books, the door opened, and the Count entered. He saluted me in a hearty way, and hoped that I had had a good night’s rest. Then he went on:-
“I am glad you found your way in here, for I am sure there is much that will interest you. These companions”-and he laid his hand on some of the books-“have been good friends to me, and for some years past, ever since I had the idea of going to London, have given me many, many hours of pleasure. Through them I have come to know your great England; and to know her is to love her. I long to go through the crowded streets of your mighty London, to be in the midst of the whirl and rush of humanity, to share its life, its change, its death, and all that makes it what it is. But alas! as yet I only know your tongue through books. To you, my friend, I look that I know it to speak.”
“But, Count,” I said, “you know and speak English thoroughly!” He bowed gravely.
“I thank you, my friend, for your all too-flattering estimate, but yet I fear that I am but a little way on the road I would travel. True, I know the grammar and the words, but yet I know not how to speak them.”
“Indeed,” I said, “you speak excellently.”
“Not so,” he answered. “Well, I know that, did I move and speak in your London, none there are who would not know me for a stranger. That is not enough for me. Here I am noble; I am boyar; the common people know me, and I am master. But a stranger in a strange land, he is no one; men know him not-and to know not is to care not for. I am content if I am like the rest, so that no man stops if he see me, or pause in his speaking if he hear my words, ‘Ha, ha! a stranger!’ I have been so long master that I would be master still-or at least that none other should be master of me. You come to me not alone as agent of my friend Peter Hawkins, of Exeter, to tell me all about my new estate in London. You shall, I trust, rest here with me awhile, so that by our talking I may learn the English intonation; and I would that you tell me when I make error, even of the smallest, in my speaking. I am sorry that I had to be away so long to-day; but you will, I know, forgive one who has so many important affairs in hand.”
Of course I said all I could about being willing, and asked if I might come into that room when I chose. He answered: “Yes, certainly,” and added:-
“You may go anywhere you wish in the castle, except where the doors are locked, where of course you will not wish to go. There is reason that all things are as they are, and did you see with my eyes and know with my knowledge, you would perhaps better understand.” I said I was sure of this, and then he went on:-
“We are in Transylvania; and Transylvania is not England. Our ways are not your ways, and there shall be to you many strange things. Nay, from what you have told me of your experiences already, you know something of what strange things there may be.”
This led to much conversation; and as it was evident that he wanted to talk, if only for talking’s sake, I asked him many questions regarding things that had already happened to me or come within my notice. Sometimes he sheered off the subject, or turned the conversation by pretending not to understand; but generally he answered all I asked most frankly. Then as time went on, and I had got somewhat bolder, I asked him of some of the strange things of the preceding night, as, for instance, why the coachman went to the places where he had seen the blue flames. He then explained to me that it was commonly believed that on a certain night of the year-last night, in fact, when all evil spirits are supposed to have unchecked sway-a blue flame is seen over any place where treasure has been concealed. “That treasure has been hidden,” he went on, “in the region through which you came last night, there can be but little doubt; for it was the ground fought over for centuries by the Wallachian, the Saxon, and the Turk. Why, there is hardly a foot of soil in all this region that has not been enriched by the blood of men, patriots or invaders. In old days there were stirring times, when the Austrian and the Hungarian came up in hordes, and the patriots went out to meet them-men and women, the aged and the children too-and waited their coming on the rocks above the passes, that they might sweep destruction on them with their artificial avalanches. When the invader was triumphant he found but little, for whatever there was had been sheltered in the friendly soil.”
“But how,” said I, “can it have remained so long undiscovered, when there is a sure index to it if men will but take the trouble to look?” The Count smiled, and as his lips ran back over his gums, the long, sharp, canine teeth showed out strangely; he answered:-
“Because your peasant is at heart a coward and a fool! Those flames only appear on one night; and on that night no man of this land will, if he can help it, stir without his doors. And, dear sir, even if he did he would not know what to do. Why, even the peasant that you tell me of who marked the place of the flame would not know where to look in daylight even for his own work. Even you would not, I dare be sworn, be able to find these places again?”
“There you are right,” I said. “I know no more than the dead where even to look for them.” Then we drifted into other matters.
“Come,” he said at last, “tell me of London and of the house which you have procured for me.” With an apology for my remissness, I went into my own room to get the papers from my bag. Whilst I was placing them in order I heard a rattling of china and silver in the next room, and as I passed through, noticed that the table had been cleared and the lamp lit, for it was by this time deep into the dark. The lamps were also lit in the study or library, and I found the Count lying on the sofa, reading, of all things in the world, an English Bradshaw’s Guide. When I came in he cleared the books and papers from the table; and with him I went into plans and deeds and figures of all sorts. He was interested in everything, and asked me a myriad questions about the place and its surroundings. He clearly had studied beforehand all he could get on the subject of the neighbourhood, for he evidently at the end knew very much more than I did. When I remarked this, he answered:-
“Well, but, my friend, is it not needful that I should? When I go there I shall be all alone, and my friend Harker Jonathan-nay, pardon me, I fall into my country’s habit of putting your patronymic first-my friend Jonathan Harker will not be by my side to correct and aid me. He will be in Exeter, miles away, probably working at papers of the law with my other friend, Peter Hawkins. So!”
We went thoroughly into the business of the purchase of the estate at Purfleet. When I had told him the facts and got his signature to the necessary papers, and had written a letter with them ready to post to Mr. Hawkins, he began to ask me how I had come across so suitable a place. I read to him the notes which I had made at the time, and which I inscribe here:-
“At Purfleet, on a by-road, I came across just such a place as seemed to be required, and where was displayed a dilapidated notice that the place was for sale. It is surrounded by a high wall, of ancient structure, built of heavy stones, and has not been repaired for a large number of years. The closed gates are of heavy old oak and iron, all eaten with rust.
“The estate is called Carfax, no doubt a corruption of the old Quatre Face, as the house is four-sided, agreeing with the cardinal points of the compass. It contains in all some twenty acres, quite surrounded by the solid stone wall above mentioned. There are many trees on it, which make it in places gloomy, and there is a deep, dark-looking pond or small lake, evidently fed by some springs, as the water is clear and flows away in a fair-sized stream. The house is very large and of all periods back, I should say, to mediæval times, for one part is of stone immensely thick, with only a few windows high up and heavily barred with iron. It looks like part of a keep, and is close to an old chapel or church. I could not enter it, as I had not the key of the door leading to it from the house, but I have taken with my kodak views of it from various points. The house has been added to, but in a very straggling way, and I can only guess at the amount of ground it covers, which must be very great. There are but few houses close at hand, one being a very large house only recently added to and formed into a private lunatic asylum. It is not, however, visible from the grounds.”
When I had finished, he said:-
“I am glad that it is old and big. I myself am of an old family, and to live in a new house would kill me. A house cannot be made habitable in a day; and, after all, how few days go to make up a century. I rejoice also that there is a chapel of old times. We Transylvanian nobles love not to think that our bones may lie amongst the common dead. I seek not gaiety nor mirth, not the bright voluptuousness of much sunshine and sparkling waters which please the young and gay. I am no longer young; and my heart, through weary years of mourning over the dead, is not attuned to mirth. Moreover, the walls of my castle are broken; the shadows are many, and the wind breathes cold through the broken battlements and casements. I love the shade and the shadow, and would be alone with my thoughts when I may.” Somehow his words and his look did not seem to accord, or else it was that his cast of face made his smile look malignant and saturnine.
Presently, with an excuse, he left me, asking me to put all my papers together. He was some little time away, and I began to look at some of the books around me. One was an atlas, which I found opened naturally at England, as if that map had been much used. On looking at it I found in certain places little rings marked, and on examining these I noticed that one was near London on the east side, manifestly where his new estate was situated; the other two were Exeter, and Whitby on the Yorkshire coast.
It was the better part of an hour when the Count returned. “Aha!” he said; “still at your books? Good! But you must not work always. Come; I am informed that your supper is ready.” He took my arm, and we went into the next room, where I found an excellent supper ready on the table. The Count again excused himself, as he had dined out on his being away from home. But he sat as on the previous night, and chatted whilst I ate. After supper I smoked, as on the last evening, and the Count stayed with me, chatting and asking questions on every conceivable subject, hour after hour. I felt that it was getting very late indeed, but I did not say anything, for I felt under obligation to meet my host’s wishes in every way. I was not sleepy, as the long sleep yesterday had fortified me; but I could not help experiencing that chill which comes over one at the coming of the dawn, which is like, in its way, the turn of the tide. They say that people who are near death die generally at the change to the dawn or at the turn of the tide; any one who has when tired, and tied as it were to his post, experienced this change in the atmosphere can well believe it. All at once we heard the crow of a cock coming up with preternatural shrillness through the clear morning air; Count Dracula, jumping to his feet, said:-
“Why, there is the morning again! How remiss I am to let you stay up so long. You must make your conversation regarding my dear new country of England less interesting, so that I may not forget how time flies by us,” and, with a courtly bow, he quickly left me.
I went into my own room and drew the curtains, but there was little to notice; my window opened into the courtyard, all I could see was the warm grey of quickening sky. So I pulled the curtains again, and have written of this day.
8 May.-I began to fear as I wrote in this book that I was getting too diffuse; but now I am glad that I went into detail from the first, for there is something so strange about this place and all in it that I cannot but feel uneasy. I wish I were safe out of it, or that I had never come. It may be that this strange night-existence is telling on me; but would that that were all! If there were any one to talk to I could bear it, but there is no one. I have only the Count to speak with, and he!-I fear I am myself the only living soul within the place. Let me be prosaic so far as facts can be; it will help me to bear up, and imagination must not run riot with me. If it does I am lost. Let me say at once how I stand-or seem to.
I only slept a few hours when I went to bed, and feeling that I could not sleep any more, got up. I had hung my shaving glass by the window, and was just beginning to shave. Suddenly I felt a hand on my shoulder, and heard the Count’s voice saying to me, “Good-morning.” I started, for it amazed me that I had not seen him, since the reflection of the glass covered the whole room behind me. In starting I had cut myself slightly, but did not notice it at the moment. Having answered the Count’s salutation, I turned to the glass again to see how I had been mistaken. This time there could be no error, for the man was close to me, and I could see him over my shoulder. But there was no reflection of him in the mirror! The whole room behind me was displayed; but there was no sign of a man in it, except myself. This was startling, and, coming on the top of so many strange things, was beginning to increase that vague feeling of uneasiness which I always have when the Count is near; but at the instant I saw that the cut had bled a little, and the blood was trickling over my chin. I laid down the razor, turning as I did so half round to look for some sticking plaster. When the Count saw my face, his eyes blazed with a sort of demoniac fury, and he suddenly made a grab at my throat. I drew away, and his hand touched the string of beads which held the crucifix. It made an instant change in him, for the fury passed so quickly that I could hardly believe that it was ever there.
“Take care,” he said, “take care how you cut yourself. It is more dangerous than you think in this country.” Then seizing the shaving glass, he went on: “And this is the wretched thing that has done the mischief. It is a foul bauble of man’s vanity. Away with it!” and opening the heavy window with one wrench of his terrible hand, he flung out the glass, which was shattered into a thousand pieces on the stones of the courtyard far below. Then he withdrew without a word. It is very annoying, for I do not see how I am to shave, unless in my watch-case or the bottom of the shaving-pot, which is fortunately of metal.
When I went into the dining-room, breakfast was prepared; but I could not find the Count anywhere. So I breakfasted alone. It is strange that as yet I have not seen the Count eat or drink. He must be a very peculiar man! After breakfast I did a little exploring in the castle. I went out on the stairs, and found a room looking towards the South. The view was magnificent, and from where I stood there was every opportunity of seeing it. The castle is on the very edge of a terrible precipice. A stone falling from the window would fall a thousand feet without touching anything! As far as the eye can reach is a sea of green tree tops, with occasionally a deep rift where there is a chasm. Here and there are silver threads where the rivers wind in deep gorges through the forests.
But I am not in heart to describe beauty, for when I had seen the view I explored further; doors, doors, doors everywhere, and all locked and bolted. In no place save from the windows in the castle walls is there an available exit.
The castle is a veritable prison, and I am a prisoner!