CHƯƠNG III. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA JONATHAN HARKER-tiếp theo

Khi nhận ra mình đã trở thành một kẻ tù đày, một nỗi hoang mang điên dại bỗng trào dâng trong tôi. Tôi lao lên lao xuống những bậc cầu thang, thử vặn mọi cánh cửa, ghé mắt nhìn qua mọi ô cửa sổ mà mình có thể tìm thấy. Nhưng rồi, sự bất lực đến tuyệt vọng nhanh chóng lấn át mọi cảm xúc khác. Giờ đây, khi ngẫm lại sau vài giờ đồng hồ, tôi thiết nghĩ lúc ấy mình hẳn đã hóa điên, bởi cung cách hành xử của tôi chẳng khác nào một con chuột sa bẫy. Vậy nhưng, khi đã thấu rõ được sự bất lực của mình, tôi bèn ngồi xuống thật lặng lẽ-một sự lặng lẽ chưa từng có trong đời-và bắt đầu đắn đo xem bước đi tiếp theo nào là khôn ngoan nhất. Tôi vẫn đang trăn trở, và cho tới tận lúc này, những luồng suy tính ấy vẫn chưa dẫn tới một quyết sách nào sáng tỏ. Có chăng, tôi chỉ dám chắc chắn một điều: để Bá tước dò được những ý nghĩ trong đầu tôi lúc này chẳng mang lại lợi lộc gì. Ngài thừa biết tôi đang bị giam cầm; và vì chính ngài là kẻ chủ mưu, với những toan tính thâm sâu nào đó, ngài sẽ chỉ giăng thêm những lời dối trá nếu tôi ngây thơ bộc bạch sự thật. Theo như tôi thấy, lối thoát duy nhất lúc này là phải chôn giấu những gì mình biết cùng nỗi sợ hãi tột độ vào sâu thẳm cõi lòng, đồng thời luôn phải căng mắt ra mà canh chừng. Tôi biết, hoặc là tôi đang tự huyễn hoặc bản thân như một đứa trẻ bởi chính nỗi sợ của mình, hoặc là tôi đang kẹt trong một tình thế vô phương cứu chữa. Nếu rơi vào vế sau, tôi cần, và sẽ cần, huy động toàn bộ trí óc của mình để tìm đường sống sót.

Tôi vừa đi tới kết luận này thì chợt nghe tiếng cửa lớn bên dưới đóng ập lại, biết rằng Bá tước đã trở về. Ngài không vào ngay thư viện, nên tôi rón rén lẻn về phòng mình, và bàng hoàng thấy ngài đang tự tay dọn giường cho tôi. Thật kỳ lạ, nhưng điều đó càng củng cố thêm mối hoài nghi tôi vẫn giữ từ đầu-rằng chẳng có mống người hầu nào trong cái lâu đài này cả. Lát sau, khi ngó qua khe bản lề cửa và bắt gặp ngài đang đích thân bày bàn ăn, tôi đã hoàn toàn đoan chắc về điều đó. Bởi nếu một vị quý tộc phải tự tay làm tất cả những công việc lặt vặt này, thì đó là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy chẳng còn ai khác để sai bảo. Phát hiện này khiến tôi lạnh toát cả người, vì nếu lâu đài không còn ai khác, thì chính Bá tước là kẻ đã đánh xe ngựa đưa tôi đến đây. Một ý nghĩ thật kinh khủng! Nếu quả đúng như vậy, thì việc ngài có thể điều khiển cả một bầy sói chỉ bằng một cái giơ tay câm lặng rốt cuộc có ý nghĩa gì? Tại sao tất cả những người dân ở Bistritz và trên chuyến xe ngựa lại mang một nỗi khiếp đảm tột cùng khi nhắc đến tôi? Việc họ trao cho tôi cây thánh giá, củ tỏi, cành hồng dại, cành thanh lương trà rốt cuộc mang ẩn ý gì? Nguyện xin Chúa ban phước cho người phụ nữ đôn hậu, vô cùng đôn hậu đã quàng cây thánh giá này quanh cổ tôi! Nhờ có nó mà mỗi khi chạm vào, tôi lại tìm thấy niềm an ủi và sức mạnh. Thật kỳ lạ khi một vật mà tôi từng được dạy phải nhìn bằng ánh mắt ác cảm, bị coi như một hình tượng sùng bái mù quáng, giờ đây lại hóa thành chỗ dựa duy nhất trong những giờ phút cô độc và hoạn nạn. Phải chăng có một sức mạnh mầu nhiệm nào đó ẩn chứa trong chính bản chất của nó, hay nó chỉ là một phương tiện hữu hình, giúp truyền tải những ký ức về sự cảm thông và niềm an ủi? Một lúc nào đó, nếu có cơ hội, tôi nhất định phải nghiền ngẫm vấn đề này để tìm ra câu trả lời. Còn lúc này, tôi phải vắt óc tìm hiểu mọi thứ có thể về Bá tước Dracula, bởi đó có thể là chiếc chìa khóa giúp tôi gỡ rối. Tối nay ngài có thể sẽ bộc bạch về bản thân mình, nếu tôi khéo léo lái câu chuyện theo hướng đó. Dẫu vậy, tôi phải hết sức cẩn trọng để không đánh thức sự nghi ngờ trong ngài.

Nửa đêm.-Tôi đã có một cuộc đàm đạo dài với Bá tước. Khi tôi dò hỏi đôi chút về lịch sử Transylvania, ngài trở nên vô cùng say sưa với chủ đề này. Lúc ngài say sưa kể về những sự kiện và con người, đặc biệt là những trận huyết chiến, ngài nói với phong thái như thể chính mình đã từng hiện diện ở mọi chiến trường đó. Rồi ngài lý giải điều này bằng cách nói rằng, đối với một boyar1, niềm tự hào về dòng tộc và cái tên cũng chính là niềm tự hào của cá nhân ngài, vinh quang của họ là vinh quang của ngài, và vận mệnh của họ cũng là vận mệnh của ngài. Mỗi khi nhắc về dòng dõi, ngài luôn xưng "chúng tôi", dùng ngôi thứ nhiều với vẻ uy quyền của một bậc đế vương. Tôi ước gì mình có thể ghi chép lại chính xác từng lời ngài thốt ra, bởi với tôi, câu chuyện ấy mang sức hút đến lạ kỳ. Nó như ôm trọn cả một chiều dài lịch sử của vùng đất này. Ngài càng nói càng thêm phần kích động, bước đi không ngừng quanh phòng, tay vuốt bộ ria mép trắng muốt khổng lồ, tay kia nắm chặt bất cứ thứ gì chạm tới, như thể muốn nghiền nát chúng bằng một sức mạnh nguyên thủy. Có một đoạn ngài nói mà tôi sẽ cố gắng ghi lại sát nghĩa nhất có thể; bởi nó mang đậm màu sắc của một câu chuyện sử thi về giống nòi của ngài:-

"Người Szekelys2 chúng tôi có quyền kiêu hãnh, bởi trong huyết quản chúng tôi cuộn chảy dòng máu của vô vàn chủng tộc dũng mãnh, những kẻ đã chiến đấu như bầy sư tử để giành quyền thống trị. Tại đây, giữa vòng xoáy của các dòng giống châu Âu, bộ lạc Ugric đã mang từ Iceland xuống tinh thần chiến binh mà thần Thor và Wodin3 ban tặng. Tinh thần ấy, những chiến binh Berserker4 của họ đã phô diễn bằng sự tàn khốc kinh hoàng trên khắp các bờ biển châu Âu, đúng vậy, vươn tới cả châu Á và châu Phi, cho đến tận khi các dân tộc phải kinh hãi ngỡ rằng bầy người sói đã giáng trần. Cũng tại đây, khi đặt chân tới, họ đã bắt gặp người Hun, những kẻ mang theo cơn thịnh nộ chiến tranh quét qua mặt đất như một ngọn lửa cuồng nộ, khiến những kẻ hấp hối phải tin rằng trong huyết quản của họ là dòng máu của những phù thủy già cỗi bị trục xuất khỏi Scythia, từng giao phối với quỷ dữ chốn sa mạc. Lũ ngốc, cả một lũ ngốc! Thử hỏi có con quỷ hay mụ phù thủy nào vĩ đại sánh ngang Attila5, kẻ mà dòng máu vẫn đang cuộn chảy trong những huyết quản này không?" Ngài giơ cao hai tay vạm vỡ lên. "Có gì lạ đâu khi chúng tôi là một nòi giống sinh ra để chinh phục; khi chúng tôi kiêu hãnh ngẩng cao đầu; khi người Magyar, người Lombard, người Avar, người Bulgar, hay người Thổ xua hàng vạn quân tràn xuống biên cương, chúng tôi đã giáng cho chúng những đòn chí mạng? Có gì lạ đâu khi Arpad cùng các quân đoàn của ông càn quét qua đất mẹ Hungary, ông đã thấy chúng tôi đứng sừng sững ở đây ngay khi vừa chạm tới biên giới; và công cuộc chinh phục Honfoglalas6 đã được hoàn thiện ngay tại nơi này? Và khi cơn đại hồng thủy của người Hungary cuộn trào về phương đông, người Szekelys đã được những người Magyar chiến thắng tôn vinh làm thân tộc. Trong suốt nhiều thế kỷ, chúng tôi được giao phó trọng trách trấn giữ vùng biên ải giáp ranh đất Thổ Nhĩ Kỳ; đúng vậy, và hơn thế nữa, sứ mệnh gác kiếm vùng biên cương ấy chưa bao giờ ngơi nghỉ, bởi như lời người Thổ vẫn nói, 'nước có thể ngủ, nhưng kẻ thù thì không bao giờ nhắm mắt'. Xuyên suốt Bốn Quốc Gia, thử hỏi có ai hân hoan đón nhận 'thanh kiếm đẫm máu' hơn chúng tôi, hay trước tiếng kèn xung trận, có ai tập hợp dưới ngọn cờ của Đức Vua nhanh hơn chúng tôi? Nỗi nhục nhã ê chề của quốc gia tôi đã được gột rửa từ bao giờ, cái nỗi nhục ở Cassova, khi ngọn cờ của Wallach và Magyar phải cúi đầu trước vầng trăng khuyết7? Là ai, nếu không phải một người mang dòng máu của chính tôi, với tư cách là một Voivode8, đã vượt sông Danube và đánh tan tác quân Thổ ngay trên lãnh địa của chúng? Đó đích thực là một Dracula! Thật khốn nạn thay khi gã anh em hèn mạt của ông, lúc ông ngã xuống, lại đem bán đứng dân tộc mình cho quân Thổ, mang ách nô lệ tủi nhục tròng lên cổ họ! Thật ra, há chẳng phải chính vị Dracula này đã truyền lửa cho một hậu duệ khác của dòng tộc, người mà ở thời đại sau đã năm lần bảy lượt dẫn dắt đội quân của mình vượt con sông lớn tiến sâu vào đất Thổ; người mà dù bị đánh bật ra, vẫn hiên ngang quay trở lại, hết lần này đến lần khác, dẫu ông phải đơn độc rời khỏi chiến trường đẫm máu nơi đội quân của mình đang bị tàn sát, bởi ông thấu hiểu rằng chỉ một mình ông mới có thể đoạt lấy chiến thắng cuối cùng! Người đời nói rằng ông chỉ mưu cầu lợi ích cho bản thân. Hừm! Bọn nông dân cày cuốc sẽ làm được trò trống gì nếu thiếu đi một vị thủ lĩnh? Chiến tranh sẽ đi về đâu nếu không có một khối óc và một trái tim để dẫn dắt? Lại nữa, sau trận Mohács, khi chúng tôi gột bỏ ách thống trị của người Hungary, những người mang dòng máu Dracula chúng tôi đã đứng trong hàng ngũ những thủ lĩnh kiệt xuất nhất của họ, bởi tinh thần của chúng tôi quyết không cam chịu kiếp sống thiếu tự do. À, bạn trẻ, người Szekelys-và những người mang họ Dracula với dòng máu trào sôi từ trái tim, trí óc và thanh kiếm của họ-hoàn toàn có quyền kiêu hãnh về một bề dày lịch sử mà những kẻ phất lên nhanh chóng như nhà Hapsburg hay nhà Romanoff9 có mơ cũng chẳng bao giờ chạm tới. Những tháng ngày huy hoàng của chiến tranh đã lùi xa. Máu đã trở thành một thứ quá đỗi xa xỉ trong những tháng ngày hòa bình đáng hổ thẹn này; và vinh quang của những nòi giống vĩ đại giờ đây chỉ còn như một dĩ vãng đã được kể xong."

Lúc này trời đã rạng sáng, và chúng tôi lui về nghỉ ngơi. (Ghi chú, cuốn nhật ký này dường như có nét tương đồng với phần mở đầu của câu chuyện "Nghìn lẻ một đêm", bởi mọi thứ đều phải ngưng bặt lúc tiếng gà gáy cất lên-hoặc cũng giống như bóng ma cha của Hamlet10 vậy.)

12 Tháng Năm.-Hãy để tôi bắt đầu bằng những sự thật-những sự thật trần trụi, chuẩn xác, được minh chứng rõ ràng qua sách vở và những con số không thể chối cãi. Tôi không được phép để chúng lẫn lộn với những trải nghiệm cá nhân, vốn chỉ dựa trên quan sát chủ quan hay những ký ức nhạt nhòa của chính mình. Tối qua, khi Bá tước rời khỏi phòng, ngài bắt đầu bằng hàng loạt câu hỏi xoay quanh các vấn đề pháp lý và phương thức vận hành doanh nghiệp. Tôi đã dành cả một ngày mỏi mệt vùi đầu vào đống sách vở, cốt chỉ để giữ cho tâm trí khỏi trống rỗng, và vô tình xem lại vài vụ việc từng thụ lý tại Lincoln’s Inn11. Rõ ràng có một chủ ý giấu kín sau những câu hỏi của Bá tước, thế nên tôi sẽ cố gắng ghi chép lại mọi thứ theo đúng trình tự. Biết đâu, vào một lúc nào đó, mớ kiến thức này sẽ trở thành chiếc phao cứu sinh cho tôi.

Đầu tiên, ngài hỏi liệu một người ở Anh có thể thuê hai hay nhiều luật sư cùng lúc không. Tôi đáp rằng ngài có thể thuê cả tá nếu muốn, nhưng việc để nhiều hơn một luật sư cùng tham gia vào một giao dịch e là điều kém khôn ngoan. Bởi lẽ, ở cùng một thời điểm chỉ có một người đứng ra đại diện, và việc thay đổi giữa chừng chắc chắn sẽ gây bất lợi cho lợi ích của ngài. Bá tước có vẻ thấu hiểu cặn kẽ, rồi ngài tiếp tục dò hỏi về những khó khăn thực tế nếu chỉ định một người phụ trách giao dịch ngân hàng, trong khi một người khác lo việc vận chuyển, đặc biệt trong trường hợp cần hỗ trợ ở một địa phương xa xôi nào đó, cách xa văn phòng của tay luật sư ngân hàng. Tôi thỉnh cầu ngài giải thích rõ hơn, để tránh việc tôi vô tình đưa ra những lời khuyên sai lệch. Thế là ngài cất lời:-

"Ta lấy ví dụ thế này nhé. Quý ngài Peter Hawkins, người bạn chung của chúng ta, từ dưới bóng nhà thờ xinh đẹp tại Exeter xa xôi, cách London một quãng dài, đã thông qua cậu mà mua cho ta một cơ ngơi ngay tại thủ đô. Tốt lắm! Nhưng giờ hãy để ta nói thẳng điều này, kẻo cậu lại lấy làm lạ khi ta phải cất công nhờ cậy một người ở tít xa London thay vì tìm ngay một cư dân bản địa. Động cơ của ta vô cùng đơn giản: ta không muốn phục vụ cho bất kỳ lợi ích địa phương nào ngoài những mong muốn của chính bản thân. Một kẻ sống ở London rất có thể sẽ mang những mưu đồ tư lợi cho bản thân hoặc cho bằng hữu của hắn, nên ta mới phải tìm kiếm một người đại diện phương xa, kẻ mà công việc của hắn chỉ duy nhất nhằm mục đích phục vụ lợi ích của ta. Bây giờ, giả sử ta-một người có rất nhiều việc phải làm-muốn vận chuyển hàng hóa, chẳng hạn như đến Newcastle, Durham, Harwich, hay Dover. Liệu mọi chuyện có dễ dàng hơn nếu ta giao hẳn số hàng đó cho một người ở các bến cảng này không?" Tôi đáp lại rằng chắc chắn mọi việc sẽ vô cùng trôi chảy. Trong giới luật sư chúng tôi vốn có một mạng lưới đại lý liên kết chặt chẽ với nhau, nên các công việc địa phương hoàn toàn có thể được xử lý tại chỗ dựa trên chỉ thị từ bất kỳ luật sư nào. Do đó, khách hàng chỉ cần đặt trọn niềm tin vào một người duy nhất là đủ để thực hiện mọi nguyện vọng mà chẳng cần vướng bận thêm rắc rối nào.

"Nhưng," ngài nói tiếp, "Ta hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn cách thức tiến hành. Có phải vậy không?"

"Tất nhiên rồi thưa ngài," tôi trả lời; và "điều đó thường được áp dụng bởi những doanh nhân không muốn toàn bộ công việc làm ăn của mình bị một cá nhân nào đó nắm thóp."

"Tốt!" ngài thốt lên, rồi tiếp tục chất vấn tôi về các phương tiện vận chuyển, những thủ tục giấy tờ cần thiết, và đủ mọi loại rắc rối có thể phát sinh nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu biết lo xa. Tôi đã dốc hết khả năng để giải thích cặn kẽ cho ngài mọi chuyện. Quả thực, ngài đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc rằng ngài sẽ trở thành một vị luật sư xuất chúng, bởi chẳng có khía cạnh nào mà ngài chưa tính đến hay bỏ sót. Đối với một người chưa từng đặt chân đến nước Anh, lại rõ ràng không có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, thì kiến thức và sự nhạy bén của ngài quả là điều phi thường. Khi ngài đã hoàn toàn thỏa mãn với những thắc mắc của mình, và tôi cũng đã xác minh lại mọi thứ tốt nhất có thể qua những tài liệu sẵn có, ngài đột nhiên đứng bật dậy và hỏi:-

"Cậu đã viết thêm lá thư nào cho ngài Peter Hawkins, bạn của chúng ta, hay cho bất kỳ ai khác chưa, kể từ bức thư đầu tiên?" Cõi lòng dâng lên một chút chua chát, tôi đáp rằng mình chưa hề viết, và cho đến lúc này tôi vẫn chưa tìm thấy cơ hội nào để gửi thư cho bất cứ ai.

"Vậy thì hãy viết ngay bây giờ đi, bạn trẻ của ta," ngài vừa nói vừa đặt một bàn tay nặng trĩu, lạnh lẽo lên vai tôi. "Hãy viết thư cho bạn của chúng ta và cho bất cứ ai cậu muốn. Và nhớ nhắn nhủ rằng, nếu điều đó làm cậu vừa lòng, cậu sẽ nán lại với ta thêm một tháng nữa kể từ ngày hôm nay."

"Ngài muốn tôi ở lại lâu đến thế sao?" Tôi hỏi, trái tim bỗng chốc trở nên lạnh buốt khi nghĩ đến viễn cảnh ấy.

"Đó là khao khát lớn nhất của ta; không, ta sẽ không chấp nhận bất kỳ lời từ chối nào đâu. Khi ông chủ của cậu, sếp của cậu, hay bất kể cậu gọi ông ta là gì, đã cam kết cử người đến thay mặt ông ấy, thì hiển nhiên chỉ có những yêu cầu của ta mới được ưu tiên hàng đầu. Ta chưa từng keo kiệt bao giờ. Có phải vậy không?"

Tôi còn có thể làm gì khác ngoài việc cúi đầu ưng thuận? Đó là lợi ích của ông Hawkins, không phải của tôi. Tôi buộc phải nghĩ cho ông ấy trước tiên; và hơn cả, khi Bá tước Dracula cất tiếng, có một uy lực vô hình nào đó trong ánh mắt và thái độ của ngài tàn nhẫn nhắc nhở rằng tôi chỉ là một kẻ tù đày. Dẫu tôi có muốn đi chăng nữa, tôi cũng chẳng còn quyền lựa chọn nào. Bá tước đã thu hết vào tầm mắt chiến thắng của ngài qua cái cúi đầu cam chịu của tôi, và ngài nhận ra sự thống trị của mình đang ngự trị trên gương mặt đầy rối bời này. Ngay lập tức, ngài tận dụng chúng bằng chính cái phong thái trơn tru, mê hoặc và không thể chối từ của riêng ngài:-

"Ta thỉnh cầu cậu, người bạn trẻ tốt bụng của ta, đừng nhắc đến bất cứ điều gì ngoài công việc trong những lá thư cậu viết. Chắc chắn bạn bè cậu sẽ rất đỗi vui mừng khi biết cậu vẫn bình an vô sự, và rằng cậu đang mòn mỏi mong ngày trở về đoàn tụ cùng họ. Có phải vậy không?" Vừa dứt lời, ngài đưa cho tôi ba tờ giấy viết thư cùng ba chiếc phong bì. Tất cả đều là loại giấy chuyển phát quốc tế mỏng tang. Nhìn những tờ giấy đó, rồi ngước lên nhìn ngài, bắt gặp nụ cười tĩnh lặng với cặp răng nanh sắc nhọn vắt ngang bờ môi dưới đỏ chót, tôi hiểu rõ mồn một như thể ngài đang dõng dạc tuyên bố: tôi phải cẩn trọng với từng nét bút, bởi ngài dư sức đọc thấu chúng. Vậy nên, tôi quyết định chỉ viết những dòng thông báo lịch sự, ngắn gọn. Nhưng tôi sẽ lén viết một bức thư dài, kể hết mọi sự tình cho ông Hawkins, và cả cho Mina nữa. Tôi có thể dùng tốc ký để viết cho em, điều này chắc chắn sẽ làm Bá tước bối rối nếu chẳng may ngài tóm được. Viết xong hai lá thư ngắn, tôi ngồi im lìm, vờ đọc một cuốn sách trong khi Bá tước cặm cụi ghi chép, thi thoảng ngài lại lật giở vài cuốn sách trên bàn. Xong xuôi, ngài nhặt hai lá thư của tôi đặt chung với xấp thư của ngài, rồi cất đồ dùng đi. Ngay khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng Bá tước, tôi liền nhoài người qua bàn, len lén liếc nhìn những phong thư đang úp sấp. Tôi chẳng hề mảy may cắn rứt, bởi trong tình cảnh ngặt nghèo này, tôi phải làm mọi cách để bảo vệ mạng sống của chính mình.

Một bức thư được gửi đến Samuel F. Billington, số 7, The Crescent, Whitby; một bức khác gửi cho Herr Leutner ở Varna; bức thứ ba gửi cho Coutts & Co. tại London; và bức cuối cùng gửi cho Herren Klopstock & Billreuth, các chủ ngân hàng ở Buda-Pesth. Bức thư thứ hai và thứ tư vẫn chưa được dán kín. Tôi vừa chực vươn tay ra thì tay nắm cửa bỗng chốc xoay vặn. Tôi vội vã thụp xuống ghế, vừa kịp thời khôi phục lại vị trí của những lá thư và giả vờ chăm chú vào trang sách ngay trước khi Bá tước, trên tay cầm một lá thư khác, bước vào phòng. Ngài cẩn thận niêm phong từng lá thư trên bàn rồi quay sang tôi, cất giọng trầm thấp:-

"Ta tin cậu sẽ thứ lỗi cho ta, nhưng đêm nay ta có nhiều việc riêng tư cần giải quyết. Hy vọng cậu sẽ thấy mọi thứ đều vừa ý." Đến bậu cửa, ngài đột ngột quay lại, khựng lại một nhịp rồi cất lời:-

"Hãy để ta khuyên cậu, bạn trẻ thân mến-không, hãy để ta cảnh báo cậu bằng tất cả sự nghiêm túc, rằng nếu cậu rời khỏi những căn phòng này, cậu sẽ không có cơ hội chợp mắt ở bất kỳ nơi nào khác trong lâu đài đâu. Nơi này đã nhuốm màu thời gian, mang nhiều ký ức u ám, và có những cơn ác mộng đang chờ chực những kẻ ngủ nghê thiếu khôn ngoan. Hãy bảo trọng! Nếu cơn buồn ngủ ập đến bây giờ hay bất cứ lúc nào, hoặc có dấu hiệu nào tương tự, hãy nhanh chóng trở về phòng riêng của cậu hoặc những căn phòng này, sự nghỉ ngơi của cậu sẽ được đảm bảo an toàn tuyệt đối. Nhưng nếu cậu coi thường điều đó, thì"-Ngài bỏ lửng câu nói bằng một cử chỉ đầy kinh hãi, hai bàn tay xoa vào nhau như thể đang rửa sạch một thứ nhơ nhuốc. Tôi hiểu quá rõ ẩn ý của ngài. Nỗi hoài nghi duy nhất còn sót lại trong tôi là liệu có cơn ác mộng nào tồi tệ hơn được cái mạng lưới u ám, bí ẩn, phi tự nhiên và kinh hoàng đang từ từ siết chặt lấy tôi hay không.

Sau đó.-Tôi xin chứng thực lại những dòng chữ vừa viết, nhưng lần này không còn mảy may nghi ngờ gì nữa. Tôi sẽ chẳng dại dột gì mà chợp mắt ở bất kỳ nơi nào vắng bóng ngài. Tôi đã đặt cây thánh giá ngay trên đầu giường-tôi thầm nghĩ nhờ nó mà giấc ngủ của mình sẽ không bị những cơn ác mộng quấy rầy; và nó sẽ mãi ngự trị ở đó.

Khi ngài rời đi, tôi trở về phòng mình. Một lúc sau, không nghe thấy một tiếng động nhỏ nào, tôi lẻn ra ngoài, mò mẫm bước lên cầu thang đá đến một nơi có thể phóng tầm mắt ra phía Nam. Thật là một cảm giác tự do dễ chịu giữa không gian bao la, dẫu tôi chẳng thể nào chạm tới, nó vẫn tốt hơn vạn lần sự ngột ngạt, tối tăm của khoảng sân kia. Phóng tầm mắt ra xa, tôi cay đắng nhận ra mình thực sự đang bị giam cầm trong một nhà ngục, và tôi thèm khát một luồng không khí trong lành, dẫu đó là bầu không khí lạnh lẽo của màn đêm. Tôi bắt đầu nhận thấy cuộc sống về đêm này đang ăn mòn tôi. Nó đang vắt kiệt từng dây thần kinh. Tôi giật mình thon thót trước cả cái bóng của chính mình, đầu óc ngập ngụa những tưởng tượng kinh hoàng. Có Chúa mới biết tôi có đủ lý do để run sợ trước chốn quỷ ám này! Tôi đưa mắt nhìn không gian xinh đẹp bao la, đắm mình trong ánh trăng vàng êm dịu, vằng vặc như ban ngày. Dưới luồng sáng mờ ảo, những ngọn đồi xa xăm như tan chảy vào nhau, và những cái bóng đổ xuống thung lũng, hẻm núi mang một màu đen mượt mà như nhung. Chỉ riêng vẻ đẹp lộng lẫy ấy dường như cũng đủ sức an ủi tôi; có một sự bình yên và vỗ về trong từng hơi thở tôi hít vào. Khi nhoài người ra ngoài cửa sổ, ánh mắt tôi bất chợt va phải một vật thể đang chuyển động ở tầng dưới, hơi chếch về bên trái. Dựa theo sự bài trí của các căn phòng, tôi đoán đó là nơi cửa sổ phòng riêng của Bá tước hướng ra. Nơi tôi đứng là một khung cửa sổ cao, sâu hoắm, viền đá nguyên khối, dẫu bị thời tiết tàn phá nhưng vẫn còn nguyên vẹn; thế nhưng chiếc khung ấy rõ ràng đã vắng mặt từ nhiều ngày nay. Tôi nép mình sau phiến đá, cẩn trọng nhìn xuống.

Thứ đập vào mắt tôi là cái đầu của Bá tước đang thò ra khỏi cửa sổ. Tôi không nhìn rõ mặt, nhưng vẫn nhận ra đó là ngài nhờ chiếc cổ, chuyển động của tấm lưng và cánh tay. Hơn nữa, tôi làm sao có thể nhầm lẫn được những bàn tay mà tôi đã có quá nhiều cơ hội để quan sát cơ chứ. Thoạt tiên, tôi thấy thích thú và có đôi chút buồn cười, thật lạ lùng khi một chuyện vặt vãnh lại có thể làm một người đàn ông vui vẻ khi anh ta đang mang thân phận tù nhân. Nhưng rồi, cảm xúc ấy nhanh chóng chuyển thành sự kinh tởm và khiếp đảm tột độ khi tôi thấy toàn bộ thân hình của ngài từ từ trườn ra khỏi cửa sổ, bắt đầu bò dọc xuống bức tường lâu đài, lơ lửng trên vực thẳm kinh hoàng kia. Ngài úp mặt xuống, chiếc áo choàng dang rộng xung quanh như đôi cánh khổng lồ của một con dơi. Mới đầu, tôi không thể tin vào mắt mình. Tôi cố bám víu vào ý nghĩ rằng đó chỉ là một ảo giác do ánh trăng, hay một hiệu ứng kỳ quái của bóng tối; nhưng khi tiếp tục quan sát, tôi hiểu rằng đó không thể nào là ảo ảnh. Tôi thấy rõ mồn một các ngón tay, ngón chân của ngài cắm chặt vào các kẽ hở của những viên đá, nơi lớp vữa đã bị thời gian bào mòn, và ngài lợi dụng mọi phần nhô ra, mọi chỗ gồ ghề để trườn xuống dưới với một tốc độ đáng kinh ngạc, hệt như một con thằn lằn đang bám víu trên bức tường thẳng đứng.

Đây là loại người gì, hay đây là loại sinh vật quái quỷ gì mang hình hài con người thế này? Nỗi sợ hãi về chốn kinh hoàng này đang nuốt chửng lấy tôi; tôi đang chìm trong sự hoảng loạn-một nỗi khiếp sợ cùng cực-và không còn bất kỳ lối thoát nào cho tôi nữa; tôi đang bị bủa vây bởi những nỗi kinh hoàng mà tôi thậm chí chẳng dám mường tượng đến....

15 Tháng Năm.-Một lần nữa, tôi lại bắt gặp Bá tước trườn ra ngoài như một con thằn lằn. Ngài bò ngang dọc theo bờ tường, hướng xuống dưới, rồi lùi xa cả trăm bộ về phía bên trái. Chớp mắt, bóng dáng ngài đã khuất lấp vào một kẽ hở hay khung cửa sổ nào đó. Vừa lúc ngài biến mất, tôi vươn người ra hòng nhìn thêm đôi chút, nhưng hoài công-khoảng cách quá xa để tôi có thể nhìn rõ. Biết chắc ngài đã rời lâu đài, tôi nghĩ ngay đến việc chớp lấy thời cơ này để thăm dò sâu hơn, điều mà tôi vốn chẳng dám làm suốt những ngày qua.

Tôi trở về phòng, châm một ngọn đèn, rồi dạo quanh thử mở tất thảy các cánh cửa. Đúng như tôi đoán, tất cả đều bị khóa chặt, và các ổ khóa hãy còn rất mới. Không nản chí, tôi lần theo cầu thang đá đi xuống sảnh chính, nơi tôi từng bước vào trong đêm đầu tiên. Ở đó, tôi phát hiện mình có thể dễ dàng kéo các chốt và tháo những sợi xích lớn ra. Thế nhưng, cánh cửa lớn vẫn khóa im lìm, còn chiếc chìa thì biệt tăm! Nó hẳn đang nằm trong phòng của Bá tước. Tôi phải chực chờ đến lúc cửa phòng ngài mở khóa để lẻn vào đoạt lấy nó, có thế mới mong trốn thoát.

Tôi lại tiếp tục sục sạo tỉ mỉ khắp các cầu thang, hành lang và thử vặn mọi nắm cửa dọc đường. Có một hai căn phòng nhỏ gần sảnh không khóa, nhưng bên trong chẳng có gì đáng bận tâm, chỉ vương vãi dăm món nội thất cũ kỹ, chìm đọng dưới lớp bụi thời gian và nham nhở vết rệp cắn. Cuối cùng, khi đi đến đầu một cầu thang, tôi tìm thấy một cánh cửa thoạt nhìn ngỡ như đã khóa chặt, nhưng lại hơi lung lay khi tôi dồn sức đẩy. Tôi tì mạnh người hơn, rồi chợt nhận ra cánh cửa không hề bị khóa. Lực cản sinh ra do bản lề bị sệ xuống, khiến cả cánh cửa nặng trịch tì sát xuống mặt sàn.

Đây là cơ hội ngàn vàng mà có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ có lại được. Thế là, lấy hết sức bình sinh, tôi vất vả lách được cánh cửa ra để lọt vào trong. Giờ đây, tôi đang đứng ở một chái nhà nằm chệch xa về phía bên phải so với dãy phòng quen thuộc, và thấp hơn chừng một tầng lầu. Qua những ô cửa sổ, tôi có thể thấy dãy phòng này chạy dọc theo mặt nam của lâu đài, riêng các ô cửa ở căn phòng cuối cùng vừa hướng về phía nam vừa mở ra cả phía tây.

Cả hai mặt trước và sau đều là vực thẳm. Lâu đài được cất trên rìa của một tảng đá vĩ đại, nhờ thế mà ba mặt đều trở nên bất khả xâm phạm. Người ta đã trổ những khung cửa lớn ngay tại đây, nơi những mũi tên, đá bắn hay đạn pháo đều không thể chạm tới. Nhờ vậy, ngay tại một pháo đài đòi hỏi sự phòng ngự kiên cố nhất, người ta vẫn giữ được ánh sáng và sự thoải mái cho không gian bên trong.

Nằm chếch về phía tây là một thung lũng mênh mông, và nối tiếp đó, trải dài ngút ngàn, là lớp lớp những pháo đài đá chông chênh, đỉnh này giăng mắc đỉnh kia. Những khối đá thẳng đứng rợp bóng cây thanh lương trà và bụi gai dại, với rễ bám sâu vào từng vết nứt nẻ và kẽ hở của vách đá.

Rõ ràng đây từng là nơi khuê các của những quý bà thời xa vắng, bởi đồ đạc ở đây toát lên vẻ êm ái hơn hẳn bất kỳ thứ gì tôi từng thấy trong lâu đài. Cửa sổ hoàn toàn không có rèm che, để mặc cho ánh trăng vàng rực rỡ tuôn trào qua những ô kính hình thoi. Dưới thứ ánh sáng tỏ rạng đó, người ta có thể nhìn rõ từng màu sắc, đồng thời ánh trăng cũng phủ lên một lớp màng dịu êm, che khuất đi lớp bụi thời gian khổng lồ và phần nào giấu đi sự tàn phá của rệp nhậy.

Ngọn đèn trên tay tôi dường như lụi mờ dưới thứ ánh trăng rực rỡ, nhưng tôi vẫn thấy nhẹ nhõm khi có nó kề bên. Bởi lẽ, sự cô quạnh rợn ngợp nơi này cứ không ngừng phả hơi lạnh buốt vào tận trái tim và làm từng dây thần kinh của tôi run rẩy. Dù vậy, nó vẫn tốt hơn vạn lần cái cảnh phải vò võ một mình trong những căn phòng mà tôi đã bắt đầu sinh lòng chán ghét vì sự hiện diện của Bá tước. Sau nỗ lực trấn an tinh thần, một sự tĩnh lặng nhẹ nhàng dần tìm đến bên tôi.

Tôi đang ngồi đây, bên một chiếc bàn sồi nhỏ nhắn. Biết đâu đấy, ở một thuở xa xăm, từng có một tiểu thư xinh đẹp nào đó ngồi ngay tại nơi này, với bao tâm tư và những lần đỏ mặt bẽn lẽn, viết nên bức thư tình sai bét nhè chính tả. Còn tôi giờ đây, đang nắn nót chép lại bằng tốc ký vào nhật ký tất thảy những gì đã xảy ra kể từ lần cuối gập trang sách lại. Thật là một nét cập nhật dữ dội của thế kỷ mười chín. Thế nhưng, nếu các giác quan không đánh lừa tôi, thì những thế kỷ xa xưa dường như vẫn đang tồn tại, mang trong mình những sức mạnh bí ẩn mà sự "hiện đại" thuần túy vĩnh viễn chẳng thể nào kết liễu.

Sau đó: Buổi sáng ngày 16 tháng Năm.-Cầu xin Chúa giữ cho tôi còn chút tỉnh táo, bởi tôi đã bị dồn đến bước đường cùng. Sự an toàn và cảm giác yên bình giờ chỉ còn là dĩ vãng. Chừng nào còn kẹt lại chốn này, tôi chỉ còn một niềm hy vọng duy nhất, đó là tôi không phát điên-hoặc chí ít là chưa phát điên. Nhưng nếu tôi vẫn còn tỉnh táo, thì ý nghĩ này mới thật điên rồ làm sao: trong tất cả những thứ nhơ nhớp ẩn nấp tại nơi gớm ghiếc này, Bá tước lại là kẻ ít đáng sợ nhất. Rằng tôi chỉ có thể tìm thấy sự an toàn nơi ngài, dù sự bảo bọc ấy chỉ kéo dài chừng nào tôi còn hữu dụng cho những mưu đồ của ngài. Lạy Chúa toàn năng! Lạy Đức Chúa nhân từ! Xin hãy ban cho con sự điềm tĩnh, bởi đánh mất lý trí lúc này thực sự là một cơn điên rồ không lối thoát. Tôi bắt đầu mường tượng ra ý nghĩa của những điều từng làm mình bối rối. Cho đến tận lúc này, tôi mới thực sự thấu hiểu ngụ ý của Shakespeare khi để Hamlet thốt lên:-

"Sổ tay của ta! Nhanh lên, mang sổ tay của ta ra đây! Thật tốt khi ta ghi chép lại mọi chuyện," v.v.,

bởi vì giờ đây, khi cảm thấy trí não mình như chực chờ đứt gãy, hay một cú sốc nào đó đang kéo nó đến bờ vực sụp đổ, tôi lại tìm đến cuốn nhật ký như một nơi nương náu. Thói quen ghi chép tỉ mỉ hẳn sẽ giúp tôi xoa dịu đi phần nào.

Lời cảnh báo bí ẩn của Bá tước đã khiến tôi hoảng sợ lúc bấy giờ, nhưng khi ngẫm lại, nó còn làm tôi kinh hãi hơn gấp bội. Ngài đang nắm giữ một quyền lực đáng sợ vây hãm lấy tương lai tôi. Việc ngờ vực những gì ngài nói mới thật đáng sợ làm sao!

Sau khi trút bầu tâm sự vào nhật ký và may mắn cất gọn gàng cuốn sổ cùng cây bút vào túi, cơn buồn ngủ bỗng chốc kéo đến. Lời cảnh báo của Bá tước lại vang lên trong tâm trí, nhưng tôi lại có một niềm thích thú kỳ lạ khi chống lệnh ngài. Cơn buồn ngủ đang xâm chiếm lấy tôi, kéo theo cả sự bướng bỉnh-như một kẻ cưỡi ngựa tiên phong mở đường cho giấc mộng. Ánh trăng dịu dàng mơn trớn, và không gian bao la bên ngoài mang đến một cảm giác tự do vô cùng khoan khoái. Tôi quyết định đêm nay sẽ không quay về những căn buồng u ám đầy ám ảnh kia nữa. Tôi sẽ ngủ lại ngay tại đây, nơi mà thuở xa xưa, các phu nhân đài các từng ngồi ca hát và tận hưởng những tháng ngày êm đềm, dẫu trái tim mỏng manh của họ vẫn trĩu nặng nỗi buồn khi những người đàn ông của họ phải rời xa để dấn thân vào những cuộc chiến tranh tàn khốc. Tôi kéo một chiếc ghế dài ra khỏi góc phòng, đặt sao cho khi nằm xuống, tôi vẫn có thể thu vào tầm mắt khung cảnh tuyệt mỹ ở phía đông và phía nam. Chẳng mảy may bận tâm đến lớp bụi phủ mờ, tôi chuẩn bị ngả lưng. Tôi đoán mình đã chìm vào giấc ngủ-tôi thực lòng mong là vậy. Nhưng tôi sợ, bởi những gì diễn ra sau đó quá đỗi chân thực và kinh hoàng. Chân thực đến mức, ngay lúc này đây, khi đang ngồi dưới ánh nắng chói chang rực rỡ của buổi ban mai, tôi vẫn không thể tin nổi đó chỉ là một giấc mơ.

Tôi không hề đơn độc. Căn phòng vẫn vậy, chẳng mảy may thay đổi so với lúc tôi bước vào. Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, tôi vẫn thấy rõ những dấu chân của chính mình in hằn trên sàn, phá vỡ lớp bụi đã tích tụ từ bao đời nay. Thế nhưng, đối diện với tôi trong vùng ánh trăng ấy là ba người phụ nữ trẻ-những quý phu nhân thực sự, toát lên từ cả y phục lẫn phong thái của họ. Lúc đó, tôi cứ ngỡ mình đang mơ khi nhìn thấy họ, bởi dẫu ánh trăng chiếu rọi từ phía sau, họ tuyệt nhiên không hề hắt bóng xuống sàn nhà. Họ tiến lại gần, nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi bắt đầu thì thầm to nhỏ. Hai người trong số họ có mái tóc sẫm màu, sống mũi cao hơi khoằm-rất giống Bá tước-cùng đôi mắt to, sâu thẳm và sắc lẹm, dường như ánh lên sắc đỏ khi đối chiếu với ánh trăng vàng nhợt nhạt. Người còn lại sở hữu mái tóc vàng óng ả, rực rỡ nhất mà tôi từng thấy, uốn lượn thành những lọn sóng bồng bềnh khổng lồ, đi cùng đôi mắt hệt như những viên ngọc bích nhạt màu. Bằng một cách nào đó, tôi có cảm giác khuôn mặt này rất đỗi quen thuộc, một sự quen thuộc gắn liền với một nỗi sợ hãi xa xăm, mờ mịt nào đó, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, tôi không tài nào nhớ nổi mình đã gặp cô ta ở đâu và trong hoàn cảnh nào. Cả ba người đều có hàm răng trắng bóng, lấp lánh như ngọc trai, nổi bật trên nền đôi môi đỏ mọng như hồng ngọc. Có một điều gì đó toát ra từ họ khiến tôi bồn chồn-một khao khát cháy bỏng đan xen với nỗi khiếp sợ chết người. Tận sâu trong tim, tôi cảm thấy một khát khao man rợ, tội lỗi rằng họ sẽ hôn tôi bằng đôi môi đỏ rực kia. Thật tồi tệ khi phải ghi lại những dòng này, bởi nếu một ngày nào đó Mina vô tình đọc được, em chắc chắn sẽ vô cùng đau đớn; nhưng đó lại là sự thật. Họ thì thầm với nhau, rồi cả ba cùng bật cười-một điệu cười du dương, lanh lảnh như tiếng bạc va vào nhau, nhưng lại cứng đơ, vô hồn, tưởng chừng như âm thanh ấy không bao giờ có thể lọt qua được sự mềm mại của đôi môi con người. Nó mang một sự ngọt ngào đến mức không thể chịu đựng nổi, râm ran như tiếng những chiếc ly pha lê ngân lên dưới bàn tay điêu luyện của một nhạc công xảo quyệt. Cô gái tóc vàng đầy lơi lả lắc đầu, trong khi hai người kia liên tục thúc giục. Một người cất tiếng:-

"Tiếp tục đi! Chị làm trước đi, rồi chúng em sẽ theo sau; chị có quyền bắt đầu mà." Người còn lại hùa theo:-

"Anh ta trẻ trung và khỏe mạnh lắm; sẽ có đủ nụ hôn cho tất cả chúng ta." Tôi nằm bất động, he hé mắt nhìn qua hàng mi trong một sự chờ đợi vừa phấn khích vừa đớn đau tột độ. Cô gái tóc vàng tiến lại gần, cúi rạp người xuống cho đến khi tôi có thể cảm nhận rõ hơi thở của cô ta phả vào da thịt mình. Hơi thở ấy ngọt ngào theo một cách nào đó-ngọt như mật ong, truyền đi một cảm giác râm ran khắp các dây thần kinh hệt như giọng nói của cô ta. Nhưng ẩn sâu dưới vị ngọt ngào ấy lại là một sự đắng chát khó tả, một thứ mùi tanh lợm giọng, như thể người ta đang ngửi thấy mùi máu vương vất trong không khí.

Tôi sợ hãi không dám mở toang mí mắt, nhưng vẫn quan sát rõ mồn một mọi thứ qua hàng mi khép hờ. Cô gái quỳ gối xuống, rướn người về phía tôi, ánh mắt hau háu như muốn ăn tươi nuốt sống. Trong cô ta toát lên một vẻ khiêu gợi đầy toan tính, vừa rùng rợn vừa ghê tởm. Khi uốn cong cổ, cô ta thè lưỡi liếm môi hệt như một con thú đói. Dưới ánh trăng, tôi có thể thấy rõ sự ướt át bóng loáng trên đôi môi đỏ chót và chiếc lưỡi đỏ au khi nó trượt qua những chiếc răng nanh trắng muốt, nhọn hoắt. Đầu cô ta cúi xuống, thấp dần, thấp dần, cho đến khi đôi môi lướt qua cằm tôi và dường như sắp sửa bám chặt lấy cổ họng. Rồi cô ta khựng lại. Tôi nghe rõ mồn một tiếng chóp chép khi chiếc lưỡi liếm quanh môi và răng, cảm nhận được hơi thở nóng hổi phả hầm hập vào cổ mình. Ngay sau đó, da cổ tôi bắt đầu râm ran ngứa ngáy, hệt như khi bị một bàn tay đang mân mê tiến đến gần-ngày một gần hơn. Tôi có thể cảm nhận được sự đụng chạm êm ái, rùng mình của đôi môi ấy trên vùng da vô cùng nhạy cảm ở cổ họng, cùng hai vết lõm cứng ngắc của cặp răng sắc nhọn, vừa chạm vào là dừng lại ngay. Tôi nhắm nghiền mắt lại trong một trạng thái đê mê uể oải, nín thở chờ đợi-chờ đợi với trái tim đập thình thịch liên hồi.

Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, một cảm giác khác chợt xẹt qua người tôi nhanh như chớp. Tôi ý thức được sự hiện diện của Bá tước, và dường như ngài đang bị cuốn vào một cơn cuồng phong thịnh nộ. Khi đôi mắt tôi bất giác mở trừng lên, tôi thấy bàn tay rắn chắc của ngài đang siết chặt lấy chiếc cổ thon thả của người phụ nữ tóc vàng, rồi với một sức mạnh của người khổng lồ, ngài giật phắt cô ta ra phía sau. Đôi mắt xanh của cô ta biến đổi trong cơn thịnh nộ, hàm răng trắng nghiến chặt vì giận dữ, và đôi má tái nhợt bỗng chốc đỏ lựng lên vì cuồng vọng. Nhưng Bá tước! Chưa bao giờ tôi có thể mường tượng ra một sự tức giận và thịnh nộ đến nhường ấy, ngay cả ở lũ ác quỷ chốn địa ngục. Đôi mắt ngài thực sự đang rực lửa. Ánh đỏ rực trong đó thật rợn người, như thể ngọn lửa từ cõi âm ty đang bùng cháy ngay phía sau tròng mắt. Khuôn mặt ngài tái nhợt như tử thi, những nếp nhăn hằn lên cứng đơ như những sợi dây thép bị kéo căng hết cỡ; đôi lông mày rậm rạp giao nhau trên sống mũi giờ đây phập phồng như một thanh kim loại nung trắng. Bằng một cú vung tay uy lực, ngài hất văng người phụ nữ ra xa, rồi ra hiệu cho những kẻ còn lại, như thể ngài đang gạt phăng họ đi; đó chính là cái cử chỉ độc đoán mà tôi từng thấy ngài dùng để khuất phục bầy sói. Bằng một giọng trầm đục, dẫu gần như chỉ là lời thì thầm nhưng lại sắc lẹm xé toạc không khí, vang vọng khắp căn phòng, ngài gầm gừ:-

"Sao các ngươi dám đụng vào cậu ta, hả? Bất kỳ ai trong các ngươi! Sao các ngươi dám nhòm ngó cậu ta khi ta đã cấm? Lùi lại, ta ra lệnh cho tất cả các ngươi! Người đàn ông này thuộc về ta! Hãy cẩn thận khi các ngươi dám xen vào chuyện của cậu ta, nếu không, các ngươi sẽ phải đối mặt với cơn thịnh nộ của ta đấy." Cô gái tóc vàng, với một tràng cười lẳng lơ thô bỉ, quay lại đáp trả ngài:-

"Bản thân ngài chưa từng biết yêu; ngài không bao giờ biết yêu!" Ngay lúc đó, những người phụ nữ khác cũng hùa theo, và một tràng cười khô khốc, vô hồn, lạnh lẽo vang lên khắp căn phòng khiến tôi gần như ngất đi khi nghe thấy; nó hệt như niềm vui sướng của bầy quỷ dữ. Rồi Bá tước quay lại, ngài nhìn chằm chằm vào mặt tôi một hồi lâu, đoạn thầm thì bằng một chất giọng nhẹ nhàng:-

"Có chứ, ta cũng có thể yêu; chính các ngươi hẳn đã nhận ra điều đó từ quá khứ. Có phải vậy không? Thôi được rồi, ta hứa với các ngươi rằng một khi ta xong việc với cậu ta, các ngươi sẽ được tự do hôn cậu ta tùy thích. Còn bây giờ thì đi đi! Biến đi! Ta phải đánh thức cậu ta, chúng ta có việc phải làm."

"Thế đêm nay chúng tôi không có phần thưởng gì sao?" một trong số họ lên tiếng, kèm theo một tiếng cười khúc khích, tay chỉ vào chiếc túi ngài vừa quăng xuống sàn, chiếc túi đang nhúc nhích như thể có một sinh vật sống đang cựa quậy bên trong. Đáp lại, ngài chỉ khẽ gật đầu. Một trong những người phụ nữ chồm tới và mở bung chiếc túi. Nếu tai tôi không nghe nhầm, có một tiếng thở hổn hển cùng một tiếng than khóc yếu ớt, như tiếng của một đứa trẻ đang bị nghẹt thở. Những người phụ nữ xúm lại vòng quanh, trong khi tôi kinh hoàng tột độ; nhưng chớp mắt, họ đã biến mất, mang theo cả chiếc túi khủng khiếp kia. Chẳng có cánh cửa nào ở gần họ, và họ cũng không thể lẻn qua mặt tôi mà tôi không hay biết. Họ dường như chỉ đơn giản là tan biến vào những tia sáng lờ mờ của mặt trăng và lướt qua cửa sổ, bởi trong tích tắc, tôi chỉ kịp thấy những bóng hình mờ ảo ngoài kia trước khi họ hoàn toàn mất hút.

Sau đó, nỗi kinh hoàng bủa vây lấy tôi, và tôi gục xuống bất tỉnh nhân sự.



  1. Tước hiệu quý tộc cao cấp ở khu vực Đông Âu (Nga, Romania...), có quyền lực lớn và lòng tự hào dòng dõi cực kỳ mãnh liệt. 

  2. Một nhóm dân tộc thiểu số gốc Hungary sinh sống ở vùng Transylvania, nổi tiếng trong lịch sử với tinh thần chiến binh quả cảm và nhiệm vụ canh giữ dải núi Carpathian. 

  3. Thor là thần sấm sét, Wodin (Odin) là vị thần tối cao trong thần thoại Bắc Âu, cả hai đều biểu tượng cho sức mạnh bão tố và chiến tranh. 

  4. Những chiến binh Bắc Âu cổ đại nổi tiếng với khả năng chiến đấu trong trạng thái cuồng nộ vô thức, vô cùng hung hãn và gần như không biết sợ đau đớn. 

  5. Thủ lĩnh tàn bạo khét tiếng của người Hun (Hung Nô) vào thế kỷ thứ 5, từng là nỗi khiếp sợ của cả đế chế La Mã và châu Âu, được mệnh danh là 'Ngọn roi của Thượng đế'. 

  6. Sự kiện lịch sử thế kỷ thứ 9, còn gọi là 'Cuộc chinh phục quê hương', khi người Magyar đánh chiếm và định cư tại vùng châu thổ Carpathian để lập nên nước Hungary. 

  7. Biểu tượng trên quốc kỳ của Đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), đại diện cho kẻ thù lịch sử đã từng xâm lược và thống trị các quốc gia Đông Âu. 

  8. Tước hiệu dành cho nhà lãnh đạo quân sự hoặc vương hầu ở khu vực Đông Âu, tương đương với tước công hoặc lãnh chúa. 

  9. Hai hoàng tộc hùng mạnh bậc nhất lịch sử châu Âu (Hapsburg cai trị Áo, Romanoff cai trị Nga). Bá tước nhắc đến họ với thái độ khinh miệt vì coi họ chỉ là những dòng tộc 'mới nổi' so với dòng dõi lâu đời của ngài. 

  10. Chi tiết nổi tiếng trong vở bi kịch Hamlet của Shakespeare, nơi hồn ma của vị vua cha quá cố chỉ xuất hiện vào ban đêm và bắt buộc phải tan biến khi gà gáy sáng. 

  11. Một trong bốn đoàn luật sư danh giá và lâu đời nhất ở London, trung tâm đào tạo và làm việc của các luật sư uy tín tại Anh Quốc.