CHƯƠNG XXII. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA JONATHAN HARKER
Ngày 3 tháng 10.-Tôi buộc phải làm một điều gì đó để khỏi phát điên, nên tôi đã tìm đến cuốn nhật ký này. Lúc này là sáu giờ sáng, và chỉ nửa giờ nữa thôi, tất cả sẽ tập trung tại phòng làm việc để lót dạ đôi chút; bởi cả Giáo sư Van Helsing và Bác sĩ Seward đều nhất trí rằng nếu để bụng đói, chúng tôi chẳng thể nào dốc hết toàn lực. Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng tôi thực sự cần đến thứ năng lực cao nhất ấy. Tôi phải chớp lấy mọi cơ hội để viết tiếp, bởi tôi không dám ngừng lại để dòng suy nghĩ bủa vây. Mọi sự kiện, dù lớn lao hay vụn vặt, đều cần được ghi chép cẩn trọng; biết đâu đến phút cuối, chính những điều nhỏ nhặt ấy lại ẩn chứa bài học sâu sắc nhất. Dù bài học ấy có mang hình hài nào đi nữa, chúng cũng chẳng thể đẩy Mina hay tôi vào cảnh ngộ nào bi đát hơn hiện tại. Tuy thế, chúng tôi vẫn phải vững tin và nuôi hy vọng. Mina tội nghiệp vừa thầm thì với tôi, dẫu hai hàng lệ vẫn lăn dài trên gò má thân thương, rằng chính giữa những giờ phút tối tăm và khắc nghiệt nhất, đức tin của con người mới thực sự được thử lửa-rằng chúng ta phải tiếp tục tin tưởng; và Chúa sẽ dang tay cứu rỗi đến phút cuối cùng. Cuối cùng! Ôi lạy Chúa! Biết đến bao giờ mới là kết cục đây?... Làm việc thôi! Làm việc thôi!
Khi Giáo sư Van Helsing và Bác sĩ Seward quay lại sau khi khám nghiệm thi thể cho Renfield tội nghiệp, chúng tôi bắt đầu bàn bạc nghiêm túc về những bước đi tiếp theo. Đầu tiên, Bác sĩ Seward cho hay khi ông cùng Giáo sư Van Helsing bước xuống căn phòng bên dưới, họ bàng hoàng phát hiện Renfield đang nằm co quắp dưới sàn nhà. Gương mặt hắn bầm dập, nát tươm, còn xương cổ thì đã gãy gập.
Bác sĩ Seward liền tra hỏi người hộ lý trực ở hành lang xem anh ta có nghe thấy động tĩnh gì chăng. Người này thú nhận lúc ấy đang ngồi-và lỡ chợp mắt đôi chút-thì bỗng nghe thấy những tiếng nói lớn cất lên trong phòng. Tiếp đó là tiếng Renfield thét gào tuyệt vọng, “Lạy Chúa! Lạy Chúa! Lạy Chúa!” rồi vang lên một tiếng rơi uỳnh nặng nề. Khi anh ta xông vào phòng, thì đã thấy hắn nằm sấp dưới sàn nhà, y hệt cảnh tượng mà các bác sĩ vừa chứng kiến. Van Helsing gặng hỏi anh ta nghe thấy “những giọng nói” hay “một giọng nói,” nhưng anh ta không dám khẳng định chắc chắn; thoạt nghe ngỡ là hai, nhưng vì trong phòng chẳng còn ai khác nên có lẽ chỉ là một. Dù vậy, anh ta sẵn sàng thề độc rằng tiếng kêu xin cứu rỗi “Chúa ơi” chính là từ miệng bệnh nhân thốt ra. Bác sĩ Seward chia sẻ riêng với chúng tôi rằng, ông không muốn bới móc sâu thêm vào chuyện này; việc mở một cuộc điều tra là điều cần phải cân nhắc, vả lại phơi bày sự thật ra ánh sáng lúc này phỏng có ích gì khi chẳng một ai chịu tin. Trong tình thế hiện tại, ông tính dựa vào lời khai của gã hộ lý để cấp giấy chứng tử, ghi nhận nguyên nhân tử vong là do tai nạn ngã từ trên giường xuống. Dù cho nhân viên điều tra có yêu cầu lập biên bản chính thức, thì kết luận cuối cùng ắt hẳn vẫn sẽ như vậy.
Khi rẽ sang bước tiếp theo, điều đầu tiên chúng tôi quyết định là phải gửi gắm trọn vẹn niềm tin vào Mina; tuyệt đối không bưng bít cô bất cứ điều gì-dù sự thật có tàn nhẫn đến đâu. Bản thân cô cũng thấu hiểu sự sáng suốt ấy, và thật xót xa xiết bao khi thấy cô quá đỗi kiên cường nhưng lại mang một nỗi buồn thăm thẳm, chìm nghỉm trong tận cùng tuyệt vọng. “Xin đừng giấu giếm em bất cứ điều gì,” cô thì thầm, “Than ôi! Chúng ta đã gánh chịu quá nhiều rồi. Hơn nữa, trên thế gian này liệu còn điều gì có thể làm em đớn đau hơn những gì em đã kinh qua-hơn những gì em đang phải hứng chịu ngay lúc này! Dù chuyện gì ập đến, nó cũng phải mang theo tia hy vọng mới, hoặc chí ít là thắp lên một lòng can đảm mới!” Van Helsing đăm đăm nhìn cô khi cô cất lời, rồi ông chợt điềm tĩnh lên tiếng:-
“Nhưng Madam Mina quý mến, cháu không sợ sao; không phải sợ cho thân cháu, mà cho những người khác vì cháu, sau tất cả những chuyện đã xảy ra?” Nét mặt cô đanh lại, nhưng đôi mắt lại bừng sáng ngọn lửa hy sinh hiến tế khi cô đáp lời:-
“À không! Vì tâm trí cháu đã quyết định rồi!”
“Quyết định chuyện gì cơ?” ông cất giọng trầm ấm, giữa lúc cả căn phòng chìm vào tĩnh lặng; bởi sâu thẳm bên trong, mỗi người theo cách riêng đều lờ mờ đoán được ý cô. Lời đáp của cô thốt ra thật rành rọt, tựa như đang trần thuật một chân lý hiển nhiên:-
“Bởi vì nếu cháu phát hiện ra trong chính mình-và cháu sẽ luôn dõi theo sát sao điều đó-dù chỉ là một manh nha gây hại cho những người cháu yêu thương, cháu sẽ tìm đến cái chết!”
“Cháu sẽ không tự sát chứ?” ông khàn giọng hỏi.
“Cháu sẽ làm vậy; nếu như chẳng có người bạn yêu thương nào sẵn lòng ra tay, giúp cháu giải thoát khỏi nỗi đớn đau tột cùng đó, dẫu điều ấy có tuyệt vọng đến nhường nào!” Cô trao cho ông một ánh nhìn đầy ẩn ý. Ông đang ngồi, nhưng chợt đứng bật dậy, sải bước lại gần và đặt tay lên đầu cô, giọng trang nghiêm:-
“Cháu yêu, có một người như vậy sẵn lòng làm điều đó nếu nó mang lại sự bình yên cho cháu. Về phần ta, ta nguyện tự mình gánh vác trách nhiệm trước Chúa để ban cho cháu một cái chết êm ái, ngay cả trong giây phút này nếu đó là con đường tốt nhất. Không, ngay cả khi điều đó là an toàn! Nhưng cháu yêu--” Trong một thoáng, giọng ông nghẹn lại, một tiếng nấc nghẹn ngào nghẹn ứ nơi cổ họng; ông gắng nuốt xuống và nói tiếp:-
“Ở đây đang có những người nguyện đứng giữa cháu và Thần Chết. Cháu không được chết. Cháu không được phép chết bởi tay bất kỳ ai; và tuyệt đối không được tự vẫn bởi chính đôi tay này. Cho đến khi kẻ kia, cái ác nhân đã vấy bẩn cuộc đời tươi đẹp của cháu, thực sự tàn lụi, cháu không được buông xuôi; bởi chừng nào hắn vẫn còn lang thang cùng bầy lũ Kẻ Chưa Chết, cái chết của cháu sẽ chỉ biến cháu thành một sinh thể gớm ghiếc hệt như hắn. Không, cháu phải sống! Cháu phải đấu tranh và trỗi dậy để giành lấy sự sống, dù cái chết có hứa hẹn một sự giải thoát êm ái khôn tả. Cháu phải nghênh chiến với chính Thần Chết, dù ngài có viếng thăm trong đau đớn tột cùng hay trong hân hoan rực rỡ; dù là ban ngày hay ban đêm; dù giữa lúc an toàn hay hiểm nguy bủa vây! Bằng chính linh hồn đang sống của cháu, ta cấm cháu không được chết-không, thậm chí là không được nghĩ đến cái chết-cho đến khi bóng đen tai ương này bị thanh tẩy hoàn toàn.” Người phụ nữ tội nghiệp tái nhợt như xác chết, toàn thân run lên bần bật, hệt như bãi cát lún đang rung chuyển từng cơn khi thủy triều hung hãn dâng cao. Cả bọn chúng tôi đều lặng câm; chẳng ai biết phải làm gì. Cuối cùng, cô cố gắng bình tĩnh lại, hướng ánh mắt về phía ông và cất lời, thật dịu dàng, nhưng ôi! đau đớn làm sao, khi cô khẽ vươn tay ra:-
“Cháu xin hứa với giáo sư, người bạn quý mến của cháu, rằng nếu Chúa còn cho cháu sống, cháu sẽ cố gắng sống; cho đến khi, nếu Người rủ lòng thương xót, nỗi kinh hoàng này có thể buông tha cháu.” Cô quá đỗi thánh thiện và dũng cảm khiến trái tim của mỗi người chúng tôi như được tiếp thêm ngọn lửa sức mạnh để làm việc và chịu đựng thay cô, và chúng tôi lại bắt tay vào bàn bạc những việc cần làm. Tôi nói với cô rằng cô sẽ giữ toàn bộ giấy tờ trong két sắt, cùng tất thảy nhật ký và máy quay đĩa mà chúng tôi có thể cần đến sau này; và cô sẽ tiếp tục ghi chép như đã từng. Cô dường như cảm thấy nguôi ngoai khi mường tượng đến công việc mình sắp làm-nếu từ “nguôi ngoai” có thể được dùng giữa hoàn cảnh kinh hoàng nhường này.
Như thường lệ, Van Helsing bao giờ cũng nhìn xa trông rộng hơn tất thảy và đã vạch sẵn một lộ trình hành động tỉ mỉ cho chúng tôi.
“Âu cũng là điều tốt,” ông trầm ngâm, “rằng trong cuộc họp sau chuyến thâm nhập Carfax, chúng ta đã quyết định không động chạm gì đến những hộp đất ở đó. Nhược bằng chúng ta làm vậy, Bá tước ắt hẳn đã đánh hơi được ý đồ của chúng ta, và chắc chắn sẽ có biện pháp rào trước đón sau để bảo vệ những chiếc hộp còn lại; nhưng giờ đây, hắn hoàn toàn mù tịt về kế hoạch của chúng ta. Chẳng những thế, rất có khả năng, hắn cũng không hề biết rằng chúng ta đang nắm trong tay quyền năng vô hiệu hóa hang ổ của hắn, triệt tiêu mọi khả năng hắn có thể sử dụng chúng như trước kia. Giờ đây, chúng ta đã tiến những bước dài trong việc thấu hiểu cách thức bài trí của chúng, đến mức, khi khám xét ngôi nhà ở Piccadilly, chúng ta hoàn toàn có thể lần theo dấu vết đến chiếc hộp cuối cùng. Ngày hôm nay, bởi thế, là thời cơ của chúng ta; và trong nó chất chứa niềm hy vọng mong manh còn sót lại. Ánh dương bừng sáng xua tan đi nỗi thống khổ ban mai đang bao bọc lấy chúng ta trên chặng đường sắp tới. Cho đến khi mặt trời lặn đêm nay, con quái vật đó bắt buộc phải duy trì bất kỳ nhân dạng nào mà hắn đang mang. Hắn bị giam cầm trong những gông cùm của lớp vỏ trần thế. Hắn chẳng thể nào tan biến vào không khí tĩnh lặng hay luồn lách qua các khe hở, kẽ nứt. Nếu hắn muốn bước qua một lối vào, hắn buộc phải mở cửa như một kẻ phàm trần. Và nhờ đó, chúng ta có cả ngày hôm nay để săn lùng toàn bộ hang ổ của hắn và vô hiệu hóa tất cả. Bằng cách ấy, dẫu chưa thể bắt và tiêu diệt hắn ngay, chúng ta cũng sẽ dồn hắn vào chân tường tại một góc khuất nào đó, để việc giáng đòn kết liễu sẽ diễn ra một cách chắc chắn và kịp thời.” Đến đây, tôi bật dậy, không tài nào kìm nén được ý nghĩ rằng những phút giây vàng ngọc đang trói buộc sinh mạng và hạnh phúc của Mina đang dần trôi tuột khỏi tay chúng tôi, bởi chừng nào chúng tôi còn ngồi đây thao thao bất tuyệt thì chẳng có hành động nào được thực thi. Nhưng Van Helsing liền giơ tay cảnh báo. “Không, anh bạn Jonathan,” ông ôn tồn, “trong chuyện này, con đường ngắn nhất để trở về nhà lại là con đường dài nhất, hệt như câu ngạn ngữ của xứ sở các anh vậy. Tất cả chúng ta sẽ cùng hành động, và hành động với sự quyết liệt tột độ, khi thời cơ chín muồi. Nhưng hãy ngẫm mà xem, rất có khả năng chìa khóa tháo gỡ cục diện nằm gọn trong ngôi nhà ở Piccadilly. Bá tước có thể đã thâu tóm nhiều cơ ngơi. Hắn ắt phải giữ giấy tờ mua bán, chìa khóa và vô vàn thứ khác. Hắn cần giấy để viết; cần cả cuốn séc của mình. Hắn phải có một đống đồ đạc để ở đâu đó; cớ sao lại không phải là chốn trung tâm vắng lặng này, nơi hắn có thể tự do ra vào bằng cửa chính hay cửa sau bất kể sớm hôm, giữa dòng xe cộ tấp nập mà chẳng ai buồn mảy may để mắt tới. Chúng ta sẽ đến đó và lục tung ngôi nhà; và khi đã biết bên trong chứa gì, chúng ta sẽ thực hiện cái mà bạn Arthur của chúng ta gọi trong thuật ngữ đi săn là 'chặn hang1', và từ đó, chúng ta sẽ tóm gọn con cáo già xảo quyệt-phải vậy không?”
“Thế thì chúng ta hãy khởi hành ngay thôi,” tôi lớn tiếng, “chúng ta đang phung phí những thời khắc quý báu, quá đỗi quý báu!” Nhưng vị Giáo sư chẳng hề nhúc nhích, mà chỉ từ tốn cất lời:-
“Và làm thế nào chúng ta lọt vào được ngôi nhà ở Piccadilly đó?”
“Bằng bất cứ giá nào!” tôi gắt lên. “Chúng ta sẽ phá tung cánh cửa xông vào nếu cần thiết.”
“Vậy còn cảnh sát của các anh; họ sẽ ở đâu, và họ sẽ nói gì đây?”
Tôi loạng choạng như bị dội một gáo nước lạnh; nhưng tôi thừa hiểu một khi ông ấy muốn trì hoãn, ắt hẳn phải có một lý do xác đáng. Vì vậy, tôi cố gắng giữ giọng bình tĩnh nhất có thể:-
“Xin đừng chần chừ thêm nữa nếu không thực sự cần thiết; tôi tin là giáo sư thấu hiểu tôi đang bị dằn vặt đến mức nào.”
“À, cháu yêu, ta biết chứ; và quả thực ta chẳng hề có ý định khoét sâu thêm vào nỗi đau đớn của cháu. Nhưng hãy thử suy xét xem, chúng ta có thể làm được gì, cho đến khi cả thế giới ngoài kia bừng tỉnh. Lúc ấy thời cơ của chúng ta mới thực sự đến. Ta đã đắn đo suy tính thiệt hơn, và có vẻ như cách đơn giản nhất lại là phương sách tối ưu. Bây giờ chúng ta muốn vào nhà, nhưng ngặt nỗi không có chìa khóa; có phải vậy không?” Tôi khẽ gật đầu.
“Bây giờ giả sử anh, trên thực tế, là chủ nhân của ngôi nhà đó, nhưng lại không thể vào trong; và giả sử anh chẳng mang mưu đồ bất chính của một tên trộm bẻ khóa, anh sẽ làm gì?”
“Tôi sẽ đi tìm một người thợ khóa uy tín, và trả tiền để anh ta cạy khóa cho tôi.”
“Và cảnh sát của anh, họ sẽ can thiệp, phải không?”
“Ồ, không đâu! Tuyệt đối không, nếu họ biết người thợ ấy đang hành nghề một cách hợp pháp.”
“Vậy thì,” ông nhìn tôi chằm chằm, “tất cả những gì còn phải ngờ vực chỉ là lương tâm của người thuê mướn, và niềm tin của đám cảnh sát các anh về việc liệu kẻ thuê kia mang dã tâm hay ý tốt. Cảnh sát của các anh hẳn phải là những người mẫn cán và tinh anh-ồ, quá đỗi tinh anh!-trong việc nhìn thấu tâm can con người, đến mức họ tự chuốc lấy phiền toái vào thân trong những vụ lùm xùm như vậy. Không, không, anh bạn Jonathan của ta, anh hãy đi tháo khóa của hàng trăm ngôi nhà hoang vắng ở cái thành London này, hay bất kỳ kinh đô nào trên thế giới đi; và nếu anh biết cách làm cho khéo, và chọn đúng thời điểm, sẽ chẳng có một ai thèm ngó ngàng hay can thiệp. Ta từng đọc được câu chuyện về một quý ngài sở hữu cơ ngơi tuyệt đẹp ở London, và khi ông ta du ngoạn Thụy Sĩ nghỉ hè suốt nhiều tháng trời và khóa chặt cửa nẻo, một tên trộm đã lẻn đến đập vỡ cửa sổ phía sau và lọt vào. Sau đó, hắn ta thản nhiên mở cửa chớp phía trước và đi lại nghênh ngang qua cửa chính, ngay trước mũi cảnh sát. Rồi hắn còn tổ chức một buổi đấu giá ngay trong chính ngôi nhà đó, rêu rao quảng cáo và dán cả cáo thị khổng lồ; và khi ngày giờ điểm, hắn vung tay bán sạch sành sanh mọi tài sản của người chủ thực sự thông qua một nhà đấu giá danh tiếng. Tiếp đó, hắn ta tìm đến một nhà thầu xây dựng, và gạ bán đứt ngôi nhà đó, lập một giao kèo quy định rằng ông ta sẽ tháo dỡ và dọn dẹp mọi thứ trong một khoảng thời gian nhất định. Và cảnh sát cùng các cơ quan chức năng khác của các anh đã hăng hái giúp sức cho hắn ta đến tận cùng. Để rồi khi vị gia chủ tội nghiệp trở về sau kỳ nghỉ dưỡng ở Thụy Sĩ, ông ta chỉ còn thấy một cái hố hoang tàn trống hoác nơi tổ ấm của mình từng tọa lạc. Tất cả những chuyện nực cười này đều được thực hiện en règle2 (đúng quy định); và trong công cuộc của chúng ta, chúng ta cũng sẽ hành sự en règle. Chúng ta sẽ không manh động đi quá sớm để bọn cảnh sát, vào cái lúc đang rảnh rỗi nhàn hạ, phải sinh lòng nghi ngờ; mà chúng ta sẽ khởi hành sau mười giờ, khi dòng người tấp nập qua lại, và những việc như thế sẽ được xem là lẽ đương nhiên nếu chúng ta thực sự là chủ nhân của ngôi nhà.”
Tôi không thể không thừa nhận lý lẽ của ông ấy xác đáng đến nhường nào, và sự tuyệt vọng kinh hoàng từng in hằn trên khuôn mặt Mina nay đã giãn ra đôi chút; một tia hy vọng vừa nhen nhóm qua lời khuyên thấu tình đạt lý ấy. Van Helsing lại tiếp lời:-
“Khi đã thâm nhập vào ngôi nhà đó, chúng ta sẽ có cơ may lần ra thêm nhiều manh mối; dẫu sao đi nữa, một vài người trong chúng ta có thể cắm chốt ở đó trong khi những người khác tỏa đi lùng sục các cứ điểm có chứa hộp đất-ở Bermondsey và Mile End.”
Lãnh chúa Godalming đứng dậy. “Tôi có thể giúp một tay trong chuyện này,” cậu cất tiếng. “Tôi sẽ đánh điện cho người của tôi, bảo họ chuẩn bị sẵn ngựa và xe kéo ở những địa điểm thuận tiện nhất.”
“Nghe này, anh bạn cũ,” Morris lên tiếng, “chuẩn bị sẵn mọi phương tiện phòng khi cần kíp là một sáng kiến tuyệt vời; nhưng cậu không nghĩ rằng một cỗ xe ngựa hào nhoáng điểm xuyết huy hiệu quý tộc của cậu lăn bánh trên một con phố khuất nẻo ở Walworth hay Mile End sẽ thu hút quá nhiều ánh nhìn soi mói, gây bất lợi cho mục tiêu của chúng ta sao? Theo ý tôi, chúng ta nên bắt xe ngựa thuê khi xuôi về phía nam hoặc phía đông; và thậm chí hãy để chúng lại đâu đó gần khu vực chúng ta định mai phục.”
“Anh bạn Quincey nói chí phải!” Giáo sư tán đồng. “Tầm nhìn của anh ấy quả thực luôn rộng mở tới tận đường chân trời. Việc chúng ta sắp dấn thân là một thử thách vô vàn chông gai, và chúng ta tuyệt đối không muốn bất cứ ánh mắt nào rình rập đằng sau nếu có thể tránh khỏi.”
Mina ngày một tỏ ra cuốn hút vào cuộc bàn luận, và lòng tôi rộn lên một niềm hân hoan khi thấy bầu không khí khẩn trương của tình hình đang giúp em tạm thời gạt đi bóng ma kinh hoàng đêm qua. Em trông nhợt nhạt vô cùng-như một tờ giấy trắng bệch, và gầy gò đến mức đôi môi mím chặt lại, để lộ hàm răng hơi nhô ra. Tôi tuyệt nhiên không đả động đến chi tiết cuối cùng này, e rằng sẽ chỉ vô tình cứa thêm vào nỗi đau không đáng có của em; nhưng cái cảnh tượng ấy khiến máu trong huyết quản tôi như đóng băng mỗi khi hồi tưởng lại thảm kịch đã giáng xuống đầu Lucy tội nghiệp khi bị gã Bá tước hút cạn sinh lực. Tính đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy hàm răng của em sắc nhọn hơn; nhưng thời gian trôi qua vẫn còn quá đỗi ngắn ngủi, và nỗi sợ hãi vẫn chực chờ bủa vây.
Khi chúng tôi chuyển hướng sang bàn bạc về trình tự tiến hành và cách thức bố trí lực lượng, lại có thêm những mối ngờ vực mới nảy sinh. Rốt cuộc, tất cả đồng thuận rằng trước khi nhắm thẳng đến Piccadilly, chúng tôi nên nhổ cỏ tận gốc hang ổ của Bá tước ở ngay sát vách này. Trong trường hợp hắn đánh hơi được quá sớm, chúng tôi vẫn sẽ đi trước hắn một bước trong chiến dịch càn quét; vả lại, sự hiện diện của hắn trong hình dạng vật chất thuần túy, ngay tại thời điểm hắn yếu ớt nhất, biết đâu sẽ hé lộ cho chúng tôi vài manh mối đắt giá.
Bàn về chiến lược triển khai lực lượng, Giáo sư đề xuất rằng, sau cuộc đột kích Carfax, tất thảy chúng tôi sẽ thâm nhập vào ngôi nhà ở Piccadilly; rồi hai bác sĩ và tôi sẽ cắm chốt tại đó, trong lúc Lãnh chúa Godalming và Quincey lên đường lùng sục để triệt phá các sào huyệt ở Walworth và Mile End. Rất có khả năng, nếu không muốn nói là gần như chắc chắn, Giáo sư nhấn mạnh, Bá tước sẽ hiện hồn tại Piccadilly ngay trong ngày, và nếu vậy, chúng tôi có thể tóm gọn hắn ngay tại trận. Hay chí ít, chúng tôi cũng có thể dùng vũ lực để bám đuôi hắn. Tôi kịch liệt phản đối sự an bài này, bởi lẽ tôi đã tự thề với lòng sẽ ở lại túc trực bảo vệ Mina, và tôi đinh ninh rằng quyết định của mình là không thể lay chuyển; nhưng Mina nhất quyết gạt đi mọi lời can ngăn của tôi. Cô lập luận rằng có thể sẽ phát sinh những vướng mắc pháp lý mà tôi có thể tháo gỡ; rằng trong mớ giấy tờ của gã Bá tước kia lẩn khuất những manh mối mà chỉ có kinh nghiệm của tôi ở Transylvania mới đủ sức giải mã; và rằng, trong tình cảnh hiện tại, chúng tôi phải dồn toàn bộ hỏa lực mới hòng đối chọi lại sức mạnh siêu nhiên của hắn. Tôi đành phải khuất phục, bởi ý chí của Mina đã rèn thành sắt thép; cô bày tỏ khát khao mãnh liệt rằng hy vọng duy nhất của cô là tất cả chúng tôi phải kề vai sát cánh. “Về phần em,” cô kiên định, “em chẳng còn biết sợ là gì. Mọi thứ đã chìm xuống tận đáy vực rồi, chẳng thể nào bi đát hơn được nữa; và dẫu bão tố nào có ập đến, ắt hẳn trong đó cũng mang theo mầm mống của hy vọng hay một sự vỗ về. Đi đi, hỡi chồng của em! Chúa có thể, nếu Người rủ lòng thương, che chở cho em trong lúc cô độc vắng người, trọn vẹn như khi có bất cứ ai kề cận.” Nghe vậy, tôi bật dậy và dõng dạc hô lớn: “Vậy thì nhân danh Chúa, chúng ta hãy xuất phát ngay thôi, bởi thời gian đang dần cạn kiệt. Bá tước có thể mò đến Piccadilly sớm hơn chúng ta tưởng tượng.”
“Không đâu!” Van Helsing giơ tay lên trấn an.
“Nhưng tại sao lại không?” tôi gạn hỏi.
“Bộ anh quên rồi sao,” ông cất lời, thoáng nở một nụ cười thâm thúy, “rằng đêm qua hắn đã say sưa dự tiệc no nê, và chắc mẩm hôm nay sẽ thức dậy muộn màng?”
Tôi mà lại quên được ư! Liệu tôi có bao giờ-liệu tôi có thể bao giờ quên được! Liệu có bất cứ ai trong chúng ta có thể xóa nhòa khỏi tâm trí cái cảnh tượng hãi hùng đó! Mina gồng mình gắng gượng duy trì vẻ ngoài can trường; nhưng nỗi đau buốt nhói đã nuốt chửng lấy cô, khiến cô phải đưa tay ôm bưng lấy mặt, toàn thân run rẩy giữa những tiếng nấc uất nghẹn. Van Helsing vốn chẳng hề có ác ý khơi lại vết thương lòng ứa máu của cô. Chẳng qua, trong lúc dòng suy tưởng miên man, ông đã vô tình lãng quên sự hiện diện cũng như thân phận nạn nhân của cô trong thảm kịch này. Khi chợt nhận ra mình vừa buông lời lỡ dại, ông hoảng hốt trước sự vô tâm của chính mình và cuống quýt dỗ dành cô. “Ôi, Madam Mina,” ông xót xa, “Madam Mina vô cùng quý mến, than ôi! ta, kẻ một lòng tôn kính cháu hơn bất kỳ ai nơi đây, lại trót buông ra một lời phũ phàng đến vậy. Cặp môi già nua lẩm cẩm và cái đầu lú lẫn này quả thật đáng trách; nhưng cháu sẽ tha thứ và quên đi sự vô ý ấy, có phải không?” Ông cúi gập người sà xuống bên cạnh cô; cô nắm chặt lấy tay ông, và ngước nhìn ông qua màn lệ nhòa, cất giọng khàn đặc:-
“Không, cháu sẽ chẳng bao giờ quên, bởi ghi khắc trong lòng luôn là điều tốt nhất; và cùng với nó, cháu còn chất chứa biết bao ký ức ngọt ngào về giáo sư, nên cháu nguyện sẽ giữ lấy tất thảy. Còn bây giờ, mọi người phải lên đường sớm thôi. Bữa sáng đã dọn sẵn, và tất cả chúng ta phải lót dạ để nạp lại sinh lực.”
Bữa điểm tâm diễn ra trong một bầu không khí kỳ lạ với tất cả chúng tôi. Mỗi người đều gắng gượng tỏ ra vui vẻ để động viên lẫn nhau, và Mina là người rạng rỡ, tươi tắn nhất. Khi bữa ăn kết thúc, Giáo sư Van Helsing đứng dậy và nói:-
“Giờ thì, hỡi những người bạn thân mến của ta, chúng ta sẽ phải bắt tay vào cái công việc kinh hoàng ấy. Tất cả đã trang bị sẵn sàng chưa, giống như cái đêm đầu tiên chúng ta thâm nhập vào hang ổ của kẻ thù; đã vũ trang để chống lại cả những cuộc tấn công nhắm vào thể xác lẫn ma quỷ chưa?” Tất cả chúng tôi đều lên tiếng cam đoan với ông. “Thế thì tốt. Còn bây giờ, Madam Mina, dù có chuyện gì xảy ra thì cháu cũng hoàn toàn an toàn ở đây cho đến khi mặt trời lặn; và trước lúc đó chúng ta sẽ quay về-nếu-- Chúng ta chắc chắn sẽ quay về! Nhưng trước khi đi, để ta xem cháu đã được vũ trang đầy đủ để chống lại những cuộc tấn công cá nhân chưa. Từ lúc cháu xuống đây, ta đã đích thân chuẩn bị cho căn phòng của cháu, bằng cách đặt vào đó những món đồ mà chúng ta đã biết, để Hắn không tài nào bước vào được. Giờ thì để ta bảo vệ cháu. Ta đặt mảnh Bánh Thánh này lên trán cháu, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và--”
Một tiếng thét thất thanh vang lên khiến máu trong tim chúng tôi như đông cứng lại. Ngay khi Giáo sư vừa chạm Bánh Thánh lên trán Mina, nó liền thiêu đốt trán em-khoét sâu vào tận da thịt chẳng khác nào một khối kim loại nung trắng. Tâm trí người vợ bé nhỏ tội nghiệp của tôi đã nhận ra ngay ý nghĩa cay đắng của sự thật ấy, hệt như cái cách mà các dây thần kinh của em tiếp nhận cảm giác đớn đau; hai nỗi thống khổ ấy dồn dập ập đến, bóp nghẹt lấy em, đến mức bản năng căng như dây đàn của em đã bật ra tiếng thét kinh hoàng đó. Dẫu vậy, những lời lẽ bộc bạch suy nghĩ trong em cũng tuôn trào rất đỗi mau lẹ; âm vang của tiếng thét chưa kịp tan vào không trung thì phản ứng đã ập tới, em ngã quỵ xuống sàn nhà, oằn mình trong nỗi thống khổ tột cùng của sự tủi nhục. Vội vã kéo suối tóc tuyệt đẹp che kín khuôn mặt, tựa như những người mắc bệnh phong thời xa xưa vẫn thường dùng áo choàng che mặt, em nức nở than khóc:-
“Dơ bẩn! Nhơ nhuốc quá! Ngay cả Đấng Toàn Năng cũng ruồng bỏ cái thân xác ô uế của cháu rồi! Cháu sẽ phải mang theo dấu ấn của sự tủi nhục này trên trán cho tới tận Ngày Phán Xét.” Mọi người đều điếng người. Trong nỗi đau xót và bất lực tột cùng, tôi lao đến gục xuống bên cạnh em, vòng tay ôm chặt lấy vợ mình. Trong vài phút ngắn ngủi, những trái tim rỉ máu của chúng tôi cùng chung một nhịp đập đớn đau, trong khi những người bạn xung quanh lặng lẽ quay mặt đi, âm thầm rơi lệ. Rồi Van Helsing quay lại, cất giọng vô cùng nghiêm trang; sự trang nghiêm ấy lớn đến mức tôi không khỏi cảm thấy dường như ông đang được soi rọi bởi một ánh sáng siêu nhiên nào đó, và đang thốt ra những lời lẽ vượt ngoài khả năng của một người trần mắt thịt:-
“Rất có thể cháu sẽ phải mang theo dấu ấn ấy cho đến khi chính Chúa thấy thích hợp, và Người chắc chắn sẽ làm vậy, vào Ngày Phán Xét, để đền bù cho mọi nỗi oan khiên trên thế gian này và cho cả những đứa con mà Người đã sắp đặt trên đó. Ôi, Madam Mina, cháu yêu, cháu yêu, cầu mong những người hằng yêu thương cháu sẽ có mặt ở đó để chứng kiến cái khoảnh khắc mà vết sẹo đỏ au kia, minh chứng cho sự thấu tỏ của Chúa về những gì đã xảy ra, vĩnh viễn tan biến, trả lại trên vầng trán cháu vẻ thuần khiết y như trái tim mà chúng ta hằng biết. Bởi một điều chắc chắn hệt như việc chúng ta đang hít thở khí trời, vết sẹo ấy sẽ phai mờ khi Chúa thấy đã đến lúc cất đi gánh nặng đang đè nặng trên vai chúng ta. Và cho đến khi khoảnh khắc ấy tới, chúng ta sẽ tiếp tục vác Cây Thánh Giá của đời mình3, giống như cách mà Con của Người đã làm để tuân theo Ý Chỉ của Người. Biết đâu chừng, chúng ta lại chính là những công cụ được chọn lựa để làm đẹp lòng Người, và chúng ta vươn lên thực thi mệnh lệnh của Người hệt như Người kia-đi qua những trận đòn roi và nỗi tủi nhục; đi qua cả máu và nước mắt; đi qua muôn vàn hoài nghi và sợ hãi, cùng tất cả những gì tạo nên lằn ranh khác biệt giữa Chúa và con người.”
Ẩn chứa trong những lời lẽ của ông là muôn vàn hy vọng, là sự ủi an; và chúng mang đến một sự cam chịu bình yên. Cả Mina và tôi đều cảm nhận được điều đó, và cùng lúc, mỗi người chúng tôi nắm lấy một bàn tay của ông lão, cúi đầu hôn lên đó. Sau đó, không ai bảo ai nửa lời, tất cả chúng tôi cùng quỳ xuống, đan tay vào nhau và lập lời thề sẽ mãi mãi trung thành. Đám đàn ông chúng tôi tự nhủ với lòng mình rằng phải vén cho bằng được bức màn bi thương đang bao phủ lên người phụ nữ mà mỗi người chúng tôi, theo những cách riêng biệt, đều hằng yêu thương; và chúng tôi thành tâm cầu nguyện, xin ơn trên cứu giúp và soi đường chỉ lối trong cái sứ mệnh kinh hoàng đang chờ đợi phía trước.
Đã đến lúc khởi hành. Vì vậy, tôi nói lời tạm biệt với Mina, một cuộc chia tay mà cả hai chúng tôi sẽ mãi không bao giờ quên cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay; và rồi chúng tôi lên đường.
Tôi đã hạ quyết tâm một điều: nếu cuối cùng chúng tôi phát hiện ra Mina buộc phải trở thành ma cà rồng, thì em sẽ không phải đơn độc bước vào vùng đất xa lạ và kinh hoàng đó một mình. Tôi đoán chừng chính vì lẽ đó mà từ thuở xa xưa, một ma cà rồng luôn đồng nghĩa với nhiều ma cà rồng; cũng giống như cái cơ thể gớm ghiếc của chúng chỉ có thể yên nghỉ nơi vùng đất linh thiêng, thì thứ tình yêu thiêng liêng nhất lại chính là kẻ chiêu mộ đắc lực nhất cho hàng ngũ ma quái của loài ác quỷ.
Chúng tôi lọt vào trang viên Carfax chẳng mấy khó khăn, và nhận ra mọi thứ bên trong vẫn y nguyên như lần đầu tiên chúng tôi bước tới. Thật khó tin rằng, giữa khung cảnh trần tục nhuốm màu bụi bặm, hoang phế và mục nát này, lại từng tồn tại bất kỳ mầm mống nào cho nỗi khiếp sợ mà chúng tôi từng nếm trải. Nếu không nhờ ý chí sắt đá, và nếu không có những ký ức kinh hoàng cứ liên tục bám riết lấy tâm trí, có lẽ chúng tôi đã chùn bước và chẳng thể nào tiếp tục nổi nhiệm vụ của mình. Chúng tôi không hề tìm thấy bất kỳ giấy tờ nào, hay một chút dấu vết nào cho thấy ngôi nhà này đang có người sử dụng; và dưới căn nhà nguyện cũ kỹ, những chiếc hộc gỗ lớn vẫn nằm bất động, trông chẳng khác gì lần cuối chúng tôi nhìn thấy chúng. Bác sĩ Van Helsing cất giọng trang nghiêm khi chúng tôi cùng đứng trước những chiếc hộc ấy:-
“Và bây giờ, các bạn của tôi, chúng ta có một nhiệm vụ ở ngay đây. Chúng ta phải vô hiệu hóa loại đất này. Tên ác quỷ đã cất công mang lớp đất thiêng liêng nhờ những ký ức thánh thiện từ một vùng đất xa xôi về tận đây, chỉ để phục vụ cho mục đích nhơ nhuốc của hắn. Hắn chọn loại đất này bởi chính sự linh thiêng của nó. Vì lẽ đó, chúng ta sẽ dùng chính vũ khí của hắn để đánh bại hắn, bằng cách biến lớp đất này trở nên thiêng liêng gấp bội. Nó vốn đã được thánh hóa vì con người, giờ đây, chúng ta sẽ thánh hóa nó vì Chúa.” Vừa dứt lời, ông rút từ trong túi ra một chiếc tuốc nơ vít cùng một chiếc cờ lê, và chẳng mấy chốc nắp của một chiếc hộc đã bị bật tung. Lớp đất bên trong lập tức bốc lên mùi ẩm mốc và ngột ngạt; thế nhưng, chẳng hiểu sao chúng tôi không hề mảy may bận tâm, bởi mọi sự chú ý lúc này đều đổ dồn vào vị Giáo sư. Từ trong chiếc hộp mang theo, ông cẩn trọng lấy ra một mảnh Bánh Thánh, thành kính đặt lên bề mặt lớp đất, sau đó đậy nắp lại và bắt đầu vặn chặt từng con ốc, trong lúc chúng tôi cũng nhanh chóng xúm lại phụ giúp một tay.
Cứ như thế, chúng tôi tuần tự xử lý từng chiếc hộc gỗ khổng lồ một, và cẩn thận xếp chúng lại y hệt như lúc ban đầu về mọi mặt; chỉ khác một điều, giờ đây, sâu thẳm bên trong mỗi chiếc hộc đều cất giữ một phần của Bánh Thánh thiêng liêng.
Khi chúng tôi kéo cánh cửa đóng sập lại sau lưng, Giáo sư cất lời với vẻ mặt đầy trang nghiêm:-
“Chúng ta đã làm được một việc không nhỏ. Nếu có thể thành công thanh tẩy tất cả những chiếc hộc khác hệt như thế này, thì có lẽ, ánh hoàng hôn chiều nay sẽ rực rỡ tỏa sáng trên vầng trán trắng ngần như ngà và không còn lấy một vết nhơ của Madam Mina!”
Lúc băng qua bãi cỏ để đi tới nhà ga bắt tàu, chúng tôi có thể nhìn thấy trọn vẹn mặt tiền của nhà thương điên. Tôi háo hức ngước nhìn lên, và qua khung cửa sổ phòng riêng của mình, tôi trông thấy Mina. Tôi vẫy tay chào em, và khẽ gật đầu để báo cho em biết rằng công việc của chúng tôi tại nơi đây đã hoàn tất êm xuôi. Em cũng gật đầu đáp lại để tỏ ý đã thấu hiểu. Lần cuối cùng tôi ngoái nhìn, bóng hình em vẫn đang vẫy tay chào tạm biệt. Mang theo một trái tim trĩu nặng suy tư, chúng tôi rảo bước về phía nhà ga và vừa vặn kịp leo lên chuyến tàu đang xình xịch lao tới ngay khoảnh khắc chúng tôi đặt chân lên sân ga.
Tôi đã viết những dòng này trên chuyến tàu ấy.
Piccadilly, 12 giờ 30 phút.-Ngay trước khi chúng tôi đến phố Fenchurch, Lãnh chúa Godalming nói với tôi:-
“Quincey và tôi sẽ đi tìm một thợ khóa. Anh tốt nhất là đừng đi cùng phòng khi có rắc rối; bởi trong hoàn cảnh này, việc chúng tôi đột nhập vào một ngôi nhà hoang cũng chẳng có vẻ gì là tồi tệ lắm. Nhưng anh lại là một luật sư, và Hội Luật sư Hợp nhất4 hẳn sẽ nhắc nhở rằng anh thừa hiểu điều đó đáng ngại nhường nào.” Tôi vội lên tiếng phản đối việc mình cứ né tránh hiểm nguy hay sự tai tiếng, nhưng cậu ấy vẫn cương quyết: “Hơn nữa, nếu không có quá nhiều người đi cùng, chúng ta sẽ ít thu hút sự chú ý hơn. Tước hiệu của tôi thừa sức giải quyết êm xuôi với tay thợ khóa, cũng như với bất cứ viên cảnh sát nào lảng vảng xuất hiện. Tốt nhất là anh hãy đi cùng Jack và Giáo sư, cứ nấp tạm ở Công viên Green, kiếm chỗ nào đó khuất nhưng vẫn quan sát được ngôi nhà; và khi anh thấy cửa đã mở và người thợ khóa đi khỏi, tất cả các anh hãy băng qua đường. Chúng tôi sẽ để mắt tìm các anh, và sẽ mở cửa đón mọi người vào.”
“Ý kiến hay đấy!” Van Helsing gật gù, vậy nên chúng tôi chẳng bàn thêm gì nữa. Godalming và Morris hối hả leo lên một chiếc xe ngựa, chúng tôi cũng bám theo ngay trên một chiếc khác. Đến góc phố Arlington, nhóm chúng tôi xuống xe và rảo bước vào Công viên Green. Tim tôi đập thình thịch khi trông thấy ngôi nhà mà biết bao hy vọng của chúng tôi đang đặt trọn vào đó. Nó hiện lên lờ mờ, nghiệt ngã và tĩnh mịch, một cảnh hoang phế nằm lọt thỏm giữa những người hàng xóm khang trang, tấp nập. Chúng tôi chọn ngồi xuống một chiếc ghế dài có tầm nhìn bao quát, và bắt đầu phì phèo xì gà nhằm đánh lạc hướng sự chú ý. Từng phút chờ đợi những người khác trôi qua nặng nề như đeo chì.
Cuối cùng, chúng tôi thấy một chiếc xe bốn bánh kéo đến. Lãnh chúa Godalming và Morris ung dung bước xuống; theo sau từ trên thùng xe là một gã thợ vạm vỡ mang theo chiếc giỏ đồ nghề tết bằng cỏ đuôi mèo. Morris rút ví trả tiền; gã đánh xe chạm tay lên vành mũ cảm tạ rồi quất ngựa rời đi. Hai người bước lên những bậc thềm, và Lãnh chúa Godalming ra hiệu chỉ cho tay thợ biết mình muốn làm gì. Gã thợ thong thả cởi áo khoác vắt lên một thanh sắt của hàng rào, miệng lẩm bẩm dăm ba câu với một viên cảnh sát vừa đủng đỉnh đi ngang qua. Viên cảnh sát gật đầu tán thành, và người đàn ông quỳ xuống đặt túi đồ bên cạnh. Sau khi lục lọi, gã lấy ra vài món dụng cụ và xếp ngay ngắn. Đoạn, gã đứng dậy, ghé mắt nhìn vào ổ khóa, hà hơi vào đó, rồi quay sang những người chủ của mình nói đôi lời. Lãnh chúa Godalming mỉm cười, và gã thợ nhấc bổng một chùm chìa khóa khá lớn lên; chọn ra một chiếc, gã bắt đầu thăm dò ổ khóa, tựa như đang dò dẫm đường đi. Sau khi loay hoay một lúc, gã thử sang chiếc thứ hai, rồi chiếc thứ ba. Đột nhiên, cánh cửa bật mở chỉ sau một cú đẩy nhẹ hều; và gã cùng hai người bạn tôi thản nhiên bước vào sảnh. Chúng tôi vẫn ngồi bất động; điếu xì gà của tôi cháy rực, nhưng điếu của Van Helsing thì đã tắt ngấm và lạnh ngắt. Chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi thấy gã thợ bước ra và xách túi đồ vào lại trong nhà. Lát sau, gã hé mở cánh cửa, dùng đầu gối tì chặt, đồng thời tra một chiếc chìa vào ổ. Cuối cùng, gã trao chìa khóa cho Lãnh chúa Godalming, người đang rút ví để đưa cho gã thù lao. Gã thợ chạm tay lên mũ, xách túi đồ, khoác áo và rời đi; không một bóng người nào mảy may chú ý đến toàn bộ sự việc.
Khi người đàn ông đã đi khuất hẳn, ba người chúng tôi vội vã băng qua đường và gõ cửa. Quincey Morris lập tức mở tung cửa đón chúng tôi, bên cạnh là Lãnh chúa Godalming đang ung dung châm điếu xì gà.
“Nơi này bốc mùi thật kinh tởm,” người sau lên tiếng khi chúng tôi bước vào. Quả thực mùi xú uế lợm giọng cuộn lên-hệt như cái nhà nguyện cũ rích ở Carfax-và bằng kinh nghiệm rùng rợn trước đó, chúng tôi thừa hiểu tên Bá tước đã lui tới chốn này khá thường xuyên. Cả hội bắt đầu khám phá ngôi nhà, luôn đi sát rạt nhau đề phòng bị tấn công; bởi chúng tôi biết rõ mình đang đối đầu với một kẻ thù xảo quyệt và hùng mạnh, và cho đến lúc này chúng tôi hoàn toàn không biết liệu Bá tước có đang nấp trong nhà hay không. Ở phòng ăn nằm khuất phía sau sảnh, chúng tôi tìm thấy tám hộp đất. Chỉ có tám hộp trong số chín hộp mà chúng tôi nhọc công tìm kiếm! Nhiệm vụ của chúng tôi vẫn chưa kết thúc, và sẽ không bao giờ kết thúc cho đến lúc chiếc hộp thất lạc được tìm thấy. Đầu tiên, chúng tôi mở toang chớp cửa sổ nhìn ra khoảnh sân hẹp lát đá, hướng thẳng vào mặt tường kín bưng của một khu chuồng ngựa được ngụy trang để trông giống hệt mặt tiền của một căn nhà thu nhỏ. Ở đó chẳng có cửa sổ nào nên chúng tôi không sợ bị nhòm ngó. Không lãng phí thêm thời gian, chúng tôi lao vào kiểm tra những chiếc rương. Bằng đồ nghề mang theo, chúng tôi lần lượt cạy tung từng chiếc rương và thanh tẩy chúng y hệt những chiếc ở nhà nguyện cũ. Rõ ràng là tên Bá tước hiện không có nhà, nên chúng tôi thoải mái tiến hành lục soát mọi đồ đạc của hắn.
Sau khi lướt mắt qua các căn phòng còn lại, từ tầng hầm cho tới gác mái, chúng tôi đi đến kết luận rằng phòng ăn là nơi chứa những món đồ thuộc về Bá tước; vì vậy chúng tôi bắt tay kiểm tra chúng thật tỉ mỉ. Đồ đạc nằm ngổn ngang nhưng khá ngăn nắp trên chiếc bàn ăn khổng lồ. Nào là một xấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu ngôi nhà ở Piccadilly; giấy tờ mua bán những ngôi nhà tại Mile End và Bermondsey; dăm tờ giấy ghi chú, phong bì, cùng với bút và mực. Tất cả đều được bọc cẩn thận trong lớp giấy mỏng để tránh bụi. Ngoài ra còn có một chiếc bàn chải quần áo, một chiếc lược và bàn chải, cùng với một cái bình và một chiếc chậu-chiếc chậu chứa thứ nước đục ngầu, đỏ ối như thể có pha máu. Cuối cùng là một mớ chìa khóa các loại, đủ mọi kích cỡ, có lẽ là chìa khóa của những căn nhà kia. Khi vừa kiểm tra xong thứ cuối cùng này, Lãnh chúa Godalming và Quincey Morris cẩn thận ghi chép lại chính xác địa chỉ của những ngôi nhà ở phía Đông và phía Nam, chộp lấy chùm chìa khóa lớn rồi hăm hở lên đường đi tiêu diệt những chiếc hộp tà ác ở các nơi đó. Những người còn lại trong chúng tôi, gom góp tất cả sự kiên nhẫn có thể, bồn chồn chờ đợi họ trở về-hoặc chờ đợi tên Bá tước xuất hiện.
-
Thuật ngữ 'chặn hang' (stopping the earths) bắt nguồn từ môn thể thao săn cáo truyền thống của giới quý tộc Anh. Người ta thường bịt kín các miệng hang từ đêm hôm trước để con cáo không có chỗ trốn chạy khi bị bầy chó săn dồn đuổi. ↩
-
Cụm từ tiếng Pháp có nghĩa là 'đúng thể thức, hợp lệ'. Giáo sư Van Helsing dùng để ám chỉ việc nhóm của họ sẽ hành động một cách bài bản, trông có vẻ danh chính ngôn thuận để qua mặt cảnh sát. ↩
-
Hình ảnh ẩn dụ bắt nguồn từ Kinh Thánh, gợi nhắc sự kiện Chúa Jesus tự vác cây thập tự giá lên đồi Golgotha để chịu đóng đinh. Cụm từ này mang ý nghĩa chấp nhận hy sinh, nhẫn nhục gánh chịu thử thách đớn đau để hoàn thành sứ mệnh. ↩
-
Tổ chức 'Incorporated Law Society' (thành lập năm 1825), cơ quan quản lý nghề luật sư (solicitor) tại Anh và xứ Wales. Nếu Jonathan Harker bị phát hiện tham gia đột nhập nhà cửa, anh sẽ bị hội tước giấy phép hành nghề mãi mãi. ↩
CHAPTER XXII JONATHAN HARKER’S JOURNAL
3 October.-As I must do something or go mad, I write this diary. It is now six o’clock, and we are to meet in the study in half an hour and take something to eat; for Dr. Van Helsing and Dr. Seward are agreed that if we do not eat we cannot work our best. Our best will be, God knows, required to-day. I must keep writing at every chance, for I dare not stop to think. All, big and little, must go down; perhaps at the end the little things may teach us most. The teaching, big or little, could not have landed Mina or me anywhere worse than we are to-day. However, we must trust and hope. Poor Mina told me just now, with the tears running down her dear cheeks, that it is in trouble and trial that our faith is tested-that we must keep on trusting; and that God will aid us up to the end. The end! oh my God! what end?... To work! To work!
When Dr. Van Helsing and Dr. Seward had come back from seeing poor Renfield, we went gravely into what was to be done. First, Dr. Seward told us that when he and Dr. Van Helsing had gone down to the room below they had found Renfield lying on the floor, all in a heap. His face was all bruised and crushed in, and the bones of the neck were broken.
Dr. Seward asked the attendant who was on duty in the passage if he had heard anything. He said that he had been sitting down-he confessed to half dozing-when he heard loud voices in the room, and then Renfield had called out loudly several times, “God! God! God!” after that there was a sound of falling, and when he entered the room he found him lying on the floor, face down, just as the doctors had seen him. Van Helsing asked if he had heard “voices” or “a voice,” and he said he could not say; that at first it had seemed to him as if there were two, but as there was no one in the room it could have been only one. He could swear to it, if required, that the word “God” was spoken by the patient. Dr. Seward said to us, when we were alone, that he did not wish to go into the matter; the question of an inquest had to be considered, and it would never do to put forward the truth, as no one would believe it. As it was, he thought that on the attendant’s evidence he could give a certificate of death by misadventure in falling from bed. In case the coroner should demand it, there would be a formal inquest, necessarily to the same result.
When the question began to be discussed as to what should be our next step, the very first thing we decided was that Mina should be in full confidence; that nothing of any sort-no matter how painful-should be kept from her. She herself agreed as to its wisdom, and it was pitiful to see her so brave and yet so sorrowful, and in such a depth of despair. “There must be no concealment,” she said, “Alas! we have had too much already. And besides there is nothing in all the world that can give me more pain than I have already endured-than I suffer now! Whatever may happen, it must be of new hope or of new courage to me!” Van Helsing was looking at her fixedly as she spoke, and said, suddenly but quietly:-
“But dear Madam Mina, are you not afraid; not for yourself, but for others from yourself, after what has happened?” Her face grew set in its lines, but her eyes shone with the devotion of a martyr as she answered:-
“Ah no! for my mind is made up!”
“To what?” he asked gently, whilst we were all very still; for each in our own way we had a sort of vague idea of what she meant. Her answer came with direct simplicity, as though she were simply stating a fact:-
“Because if I find in myself-and I shall watch keenly for it-a sign of harm to any that I love, I shall die!”
“You would not kill yourself?” he asked, hoarsely.
“I would; if there were no friend who loved me, who would save me such a pain, and so desperate an effort!” She looked at him meaningly as she spoke. He was sitting down; but now he rose and came close to her and put his hand on her head as he said solemnly:
“My child, there is such an one if it were for your good. For myself I could hold it in my account with God to find such an euthanasia for you, even at this moment if it were best. Nay, were it safe! But my child--” For a moment he seemed choked, and a great sob rose in his throat; he gulped it down and went on:-
“There are here some who would stand between you and death. You must not die. You must not die by any hand; but least of all by your own. Until the other, who has fouled your sweet life, is true dead you must not die; for if he is still with the quick Un-Dead, your death would make you even as he is. No, you must live! You must struggle and strive to live, though death would seem a boon unspeakable. You must fight Death himself, though he come to you in pain or in joy; by the day, or the night; in safety or in peril! On your living soul I charge you that you do not die-nay, nor think of death-till this great evil be past.” The poor dear grew white as death, and shock and shivered, as I have seen a quicksand shake and shiver at the incoming of the tide. We were all silent; we could do nothing. At length she grew more calm and turning to him said, sweetly, but oh! so sorrowfully, as she held out her hand:-
“I promise you, my dear friend, that if God will let me live, I shall strive to do so; till, if it may be in His good time, this horror may have passed away from me.” She was so good and brave that we all felt that our hearts were strengthened to work and endure for her, and we began to discuss what we were to do. I told her that she was to have all the papers in the safe, and all the papers or diaries and phonographs we might hereafter use; and was to keep the record as she had done before. She was pleased with the prospect of anything to do-if “pleased” could be used in connection with so grim an interest.
As usual Van Helsing had thought ahead of everyone else, and was prepared with an exact ordering of our work.
“It is perhaps well,” he said, “that at our meeting after our visit to Carfax we decided not to do anything with the earth-boxes that lay there. Had we done so, the Count must have guessed our purpose, and would doubtless have taken measures in advance to frustrate such an effort with regard to the others; but now he does not know our intentions. Nay, more, in all probability, he does not know that such a power exists to us as can sterilise his lairs, so that he cannot use them as of old. We are now so much further advanced in our knowledge as to their disposition that, when we have examined the house in Piccadilly, we may track the very last of them. To-day, then, is ours; and in it rests our hope. The sun that rose on our sorrow this morning guards us in its course. Until it sets to-night, that monster must retain whatever form he now has. He is confined within the limitations of his earthly envelope. He cannot melt into thin air nor disappear through cracks or chinks or crannies. If he go through a doorway, he must open the door like a mortal. And so we have this day to hunt out all his lairs and sterilise them. So we shall, if we have not yet catch him and destroy him, drive him to bay in some place where the catching and the destroying shall be, in time, sure.” Here I started up for I could not contain myself at the thought that the minutes and seconds so preciously laden with Mina’s life and happiness were flying from us, since whilst we talked action was impossible. But Van Helsing held up his hand warningly. “Nay, friend Jonathan,” he said, “in this, the quickest way home is the longest way, so your proverb say. We shall all act and act with desperate quick, when the time has come. But think, in all probable the key of the situation is in that house in Piccadilly. The Count may have many houses which he has bought. Of them he will have deeds of purchase, keys and other things. He will have paper that he write on; he will have his book of cheques. There are many belongings that he must have somewhere; why not in this place so central, so quiet, where he come and go by the front or the back at all hour, when in the very vast of the traffic there is none to notice. We shall go there and search that house; and when we learn what it holds, then we do what our friend Arthur call, in his phrases of hunt ‘stop the earths’ and so we run down our old fox-so? is it not?”
“Then let us come at once,” I cried, “we are wasting the precious, precious time!” The Professor did not move, but simply said:-
“And how are we to get into that house in Piccadilly?”
“Any way!” I cried. “We shall break in if need be.”
“And your police; where will they be, and what will they say?”
I was staggered; but I knew that if he wished to delay he had a good reason for it. So I said, as quietly as I could:-
“Don’t wait more than need be; you know, I am sure, what torture I am in.”
“Ah, my child, that I do; and indeed there is no wish of me to add to your anguish. But just think, what can we do, until all the world be at movement. Then will come our time. I have thought and thought, and it seems to me that the simplest way is the best of all. Now we wish to get into the house, but we have no key; is it not so?” I nodded.
“Now suppose that you were, in truth, the owner of that house, and could not still get in; and think there was to you no conscience of the housebreaker, what would you do?”
“I should get a respectable locksmith, and set him to work to pick the lock for me.”
“And your police, they would interfere, would they not?”
“Oh, no! not if they knew the man was properly employed.”
“Then,” he looked at me as keenly as he spoke, “all that is in doubt is the conscience of the employer, and the belief of your policemen as to whether or no that employer has a good conscience or a bad one. Your police must indeed be zealous men and clever-oh, so clever!-in reading the heart, that they trouble themselves in such matter. No, no, my friend Jonathan, you go take the lock off a hundred empty house in this your London, or of any city in the world; and if you do it as such things are rightly done, and at the time such things are rightly done, no one will interfere. I have read of a gentleman who owned a so fine house in London, and when he went for months of summer to Switzerland and lock up his house, some burglar came and broke window at back and got in. Then he went and made open the shutters in front and walk out and in through the door, before the very eyes of the police. Then he have an auction in that house, and advertise it, and put up big notice; and when the day come he sell off by a great auctioneer all the goods of that other man who own them. Then he go to a builder, and he sell him that house, making an agreement that he pull it down and take all away within a certain time. And your police and other authority help him all they can. And when that owner come back from his holiday in Switzerland he find only an empty hole where his house had been. This was all done en règle; and in our work we shall be en règle too. We shall not go so early that the policemen who have then little to think of, shall deem it strange; but we shall go after ten o’clock, when there are many about, and such things would be done were we indeed owners of the house.”
I could not but see how right he was and the terrible despair of Mina’s face became relaxed a thought; there was hope in such good counsel. Van Helsing went on:-
“When once within that house we may find more clues; at any rate some of us can remain there whilst the rest find the other places where there be more earth-boxes-at Bermondsey and Mile End.”
Lord Godalming stood up. “I can be of some use here,” he said. “I shall wire to my people to have horses and carriages where they will be most convenient.”
“Look here, old fellow,” said Morris, “it is a capital idea to have all ready in case we want to go horsebacking; but don’t you think that one of your snappy carriages with its heraldic adornments in a byway of Walworth or Mile End would attract too much attention for our purposes? It seems to me that we ought to take cabs when we go south or east; and even leave them somewhere near the neighbourhood we are going to.”
“Friend Quincey is right!” said the Professor. “His head is what you call in plane with the horizon. It is a difficult thing that we go to do, and we do not want no peoples to watch us if so it may.”
Mina took a growing interest in everything and I was rejoiced to see that the exigency of affairs was helping her to forget for a time the terrible experience of the night. She was very, very pale-almost ghastly, and so thin that her lips were drawn away, showing her teeth in somewhat of prominence. I did not mention this last, lest it should give her needless pain; but it made my blood run cold in my veins to think of what had occurred with poor Lucy when the Count had sucked her blood. As yet there was no sign of the teeth growing sharper; but the time as yet was short, and there was time for fear.
When we came to the discussion of the sequence of our efforts and of the disposition of our forces, there were new sources of doubt. It was finally agreed that before starting for Piccadilly we should destroy the Count’s lair close at hand. In case he should find it out too soon, we should thus be still ahead of him in our work of destruction; and his presence in his purely material shape, and at his weakest, might give us some new clue.
As to the disposal of forces, it was suggested by the Professor that, after our visit to Carfax, we should all enter the house in Piccadilly; that the two doctors and I should remain there, whilst Lord Godalming and Quincey found the lairs at Walworth and Mile End and destroyed them. It was possible, if not likely, the Professor urged, that the Count might appear in Piccadilly during the day, and that if so we might be able to cope with him then and there. At any rate, we might be able to follow him in force. To this plan I strenuously objected, and so far as my going was concerned, for I said that I intended to stay and protect Mina, I thought that my mind was made up on the subject; but Mina would not listen to my objection. She said that there might be some law matter in which I could be useful; that amongst the Count’s papers might be some clue which I could understand out of my experience in Transylvania; and that, as it was, all the strength we could muster was required to cope with the Count’s extraordinary power. I had to give in, for Mina’s resolution was fixed; she said that it was the last hope for her that we should all work together. “As for me,” she said, “I have no fear. Things have been as bad as they can be; and whatever may happen must have in it some element of hope or comfort. Go, my husband! God can, if He wishes it, guard me as well alone as with any one present.” So I started up crying out: “Then in God’s name let us come at once, for we are losing time. The Count may come to Piccadilly earlier than we think.”
“Not so!” said Van Helsing, holding up his hand.
“But why?” I asked.
“Do you forget,” he said, with actually a smile, “that last night he banqueted heavily, and will sleep late?”
Did I forget! shall I ever-can I ever! Can any of us ever forget that terrible scene! Mina struggled hard to keep her brave countenance; but the pain overmastered her and she put her hands before her face, and shuddered whilst she moaned. Van Helsing had not intended to recall her frightful experience. He had simply lost sight of her and her part in the affair in his intellectual effort. When it struck him what he said, he was horrified at his thoughtlessness and tried to comfort her. “Oh, Madam Mina,” he said, “dear, dear Madam Mina, alas! that I of all who so reverence you should have said anything so forgetful. These stupid old lips of mine and this stupid old head do not deserve so; but you will forget it, will you not?” He bent low beside her as he spoke; she took his hand, and looking at him through her tears, said hoarsely:-
“No, I shall not forget, for it is well that I remember; and with it I have so much in memory of you that is sweet, that I take it all together. Now, you must all be going soon. Breakfast is ready, and we must all eat that we may be strong.”
Breakfast was a strange meal to us all. We tried to be cheerful and encourage each other, and Mina was the brightest and most cheerful of us. When it was over, Van Helsing stood up and said:-
“Now, my dear friends, we go forth to our terrible enterprise. Are we all armed, as we were on that night when first we visited our enemy’s lair; armed against ghostly as well as carnal attack?” We all assured him. “Then it is well. Now, Madam Mina, you are in any case quite safe here until the sunset; and before then we shall return-if-- We shall return! But before we go let me see you armed against personal attack. I have myself, since you came down, prepared your chamber by the placing of things of which we know, so that He may not enter. Now let me guard yourself. On your forehead I touch this piece of Sacred Wafer in the name of the Father, the Son, and--”
There was a fearful scream which almost froze our hearts to hear. As he had placed the Wafer on Mina’s forehead, it had seared it-had burned into the flesh as though it had been a piece of white-hot metal. My poor darling’s brain had told her the significance of the fact as quickly as her nerves received the pain of it; and the two so overwhelmed her that her overwrought nature had its voice in that dreadful scream. But the words to her thought came quickly; the echo of the scream had not ceased to ring on the air when there came the reaction, and she sank on her knees on the floor in an agony of abasement. Pulling her beautiful hair over her face, as the leper of old his mantle, she wailed out:-
“Unclean! Unclean! Even the Almighty shuns my polluted flesh! I must bear this mark of shame upon my forehead until the Judgment Day.” They all paused. I had thrown myself beside her in an agony of helpless grief, and putting my arms around held her tight. For a few minutes our sorrowful hearts beat together, whilst the friends around us turned away their eyes that ran tears silently. Then Van Helsing turned and said gravely; so gravely that I could not help feeling that he was in some way inspired, and was stating things outside himself:-
“It may be that you may have to bear that mark till God himself see fit, as He most surely shall, on the Judgment Day, to redress all wrongs of the earth and of His children that He has placed thereon. And oh, Madam Mina, my dear, my dear, may we who love you be there to see, when that red scar, the sign of God’s knowledge of what has been, shall pass away, and leave your forehead as pure as the heart we know. For so surely as we live, that scar shall pass away when God sees right to lift the burden that is hard upon us. Till then we bear our Cross, as His Son did in obedience to His Will. It may be that we are chosen instruments of His good pleasure, and that we ascend to His bidding as that other through stripes and shame; through tears and blood; through doubts and fears, and all that makes the difference between God and man.”
There was hope in his words, and comfort; and they made for resignation. Mina and I both felt so, and simultaneously we each took one of the old man’s hands and bent over and kissed it. Then without a word we all knelt down together, and, all holding hands, swore to be true to each other. We men pledged ourselves to raise the veil of sorrow from the head of her whom, each in his own way, we loved; and we prayed for help and guidance in the terrible task which lay before us.
It was then time to start. So I said farewell to Mina, a parting which neither of us shall forget to our dying day; and we set out.
To one thing I have made up my mind: if we find out that Mina must be a vampire in the end, then she shall not go into that unknown and terrible land alone. I suppose it is thus that in old times one vampire meant many; just as their hideous bodies could only rest in sacred earth, so the holiest love was the recruiting sergeant for their ghastly ranks.
We entered Carfax without trouble and found all things the same as on the first occasion. It was hard to believe that amongst so prosaic surroundings of neglect and dust and decay there was any ground for such fear as already we knew. Had not our minds been made up, and had there not been terrible memories to spur us on, we could hardly have proceeded with our task. We found no papers, or any sign of use in the house; and in the old chapel the great boxes looked just as we had seen them last. Dr. Van Helsing said to us solemnly as we stood before them:-
“And now, my friends, we have a duty here to do. We must sterilise this earth, so sacred of holy memories, that he has brought from a far distant land for such fell use. He has chosen this earth because it has been holy. Thus we defeat him with his own weapon, for we make it more holy still. It was sanctified to such use of man, now we sanctify it to God.” As he spoke he took from his bag a screwdriver and a wrench, and very soon the top of one of the cases was thrown open. The earth smelled musty and close; but we did not somehow seem to mind, for our attention was concentrated on the Professor. Taking from his box a piece of the Sacred Wafer he laid it reverently on the earth, and then shutting down the lid began to screw it home, we aiding him as he worked.
One by one we treated in the same way each of the great boxes, and left them as we had found them to all appearance; but in each was a portion of the Host.
When we closed the door behind us, the Professor said solemnly:-
“So much is already done. If it may be that with all the others we can be so successful, then the sunset of this evening may shine on Madam Mina’s forehead all white as ivory and with no stain!”
As we passed across the lawn on our way to the station to catch our train we could see the front of the asylum. I looked eagerly, and in the window of my own room saw Mina. I waved my hand to her, and nodded to tell that our work there was successfully accomplished. She nodded in reply to show that she understood. The last I saw, she was waving her hand in farewell. It was with a heavy heart that we sought the station and just caught the train, which was steaming in as we reached the platform.
I have written this in the train.
Piccadilly, 12:30 o’clock.-Just before we reached Fenchurch Street Lord Godalming said to me:-
“Quincey and I will find a locksmith. You had better not come with us in case there should be any difficulty; for under the circumstances it wouldn’t seem so bad for us to break into an empty house. But you are a solicitor and the Incorporated Law Society might tell you that you should have known better.” I demurred as to my not sharing any danger even of odium, but he went on: “Besides, it will attract less attention if there are not too many of us. My title will make it all right with the locksmith, and with any policeman that may come along. You had better go with Jack and the Professor and stay in the Green Park, somewhere in sight of the house; and when you see the door opened and the smith has gone away, do you all come across. We shall be on the lookout for you, and shall let you in.”
“The advice is good!” said Van Helsing, so we said no more. Godalming and Morris hurried off in a cab, we following in another. At the corner of Arlington Street our contingent got out and strolled into the Green Park. My heart beat as I saw the house on which so much of our hope was centred, looming up grim and silent in its deserted condition amongst its more lively and spruce-looking neighbours. We sat down on a bench within good view, and began to smoke cigars so as to attract as little attention as possible. The minutes seemed to pass with leaden feet as we waited for the coming of the others.
At length we saw a four-wheeler drive up. Out of it, in leisurely fashion, got Lord Godalming and Morris; and down from the box descended a thick-set working man with his rush-woven basket of tools. Morris paid the cabman, who touched his hat and drove away. Together the two ascended the steps, and Lord Godalming pointed out what he wanted done. The workman took off his coat leisurely and hung it on one of the spikes of the rail, saying something to a policeman who just then sauntered along. The policeman nodded acquiescence, and the man kneeling down placed his bag beside him. After searching through it, he took out a selection of tools which he produced to lay beside him in orderly fashion. Then he stood up, looked into the keyhole, blew into it, and turning to his employers, made some remark. Lord Godalming smiled, and the man lifted a good-sized bunch of keys; selecting one of them, he began to probe the lock, as if feeling his way with it. After fumbling about for a bit he tried a second, and then a third. All at once the door opened under a slight push from him, and he and the two others entered the hall. We sat still; my own cigar burnt furiously, but Van Helsing’s went cold altogether. We waited patiently as we saw the workman come out and bring in his bag. Then he held the door partly open, steadying it with his knees, whilst he fitted a key to the lock. This he finally handed to Lord Godalming, who took out his purse and gave him something. The man touched his hat, took his bag, put on his coat and departed; not a soul took the slightest notice of the whole transaction.
When the man had fairly gone, we three crossed the street and knocked at the door. It was immediately opened by Quincey Morris, beside whom stood Lord Godalming lighting a cigar.
“The place smells so vilely,” said the latter as we came in. It did indeed smell vilely-like the old chapel at Carfax-and with our previous experience it was plain to us that the Count had been using the place pretty freely. We moved to explore the house, all keeping together in case of attack; for we knew we had a strong and wily enemy to deal with, and as yet we did not know whether the Count might not be in the house. In the dining-room, which lay at the back of the hall, we found eight boxes of earth. Eight boxes only out of the nine, which we sought! Our work was not over, and would never be until we should have found the missing box. First we opened the shutters of the window which looked out across a narrow stone-flagged yard at the blank face of a stable, pointed to look like the front of a miniature house. There were no windows in it, so we were not afraid of being over-looked. We did not lose any time in examining the chests. With the tools which we had brought with us we opened them, one by one, and treated them as we had treated those others in the old chapel. It was evident to us that the Count was not at present in the house, and we proceeded to search for any of his effects.
After a cursory glance at the rest of the rooms, from basement to attic, we came to the conclusion that the dining-room contained any effects which might belong to the Count; and so we proceeded to minutely examine them. They lay in a sort of orderly disorder on the great dining-room table. There were title deeds of the Piccadilly house in a great bundle; deeds of the purchase of the houses at Mile End and Bermondsey; note-paper, envelopes, and pens and ink. All were covered up in thin wrapping paper to keep them from the dust. There were also a clothes brush, a brush and comb, and a jug and basin-the latter containing dirty water which was reddened as if with blood. Last of all was a little heap of keys of all sorts and sizes, probably those belonging to the other houses. When we had examined this last find, Lord Godalming and Quincey Morris taking accurate notes of the various addresses of the houses in the East and the South, took with them the keys in a great bunch, and set out to destroy the boxes in these places. The rest of us are, with what patience we can, waiting their return-or the coming of the Count.