CHƯƠNG XXVII. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA MINA HARKER

Ngày 1 tháng 11.-Chúng tôi đã đi không nghỉ suốt cả một ngày dài, và duy trì tốc độ khá tốt. Lũ ngựa dường như cảm nhận được sự tử tế, nên chúng dốc sức phi nước đại hoàn thành trọn vẹn chặng đường. Dù liên tục đổi ngựa, chúng tôi vẫn luôn gặp được những con vật hăng hái như thế, thắp lên tia hy vọng về một chuyến đi suôn sẻ. Giáo sư Van Helsing rất kiệm lời. Ông chỉ nói với những người nông dân rằng mình đang có việc gấp cần đến Bistritz1, và vung tiền hậu hĩnh để mướn ngựa của họ. Chúng tôi dùng vội chút súp nóng, nhấp ngụm cà phê hay tách trà, rồi lại tiếp tục lên đường. Khung cảnh nơi đây đẹp đến choáng ngợp, ngập tràn những vẻ đẹp vượt ngoài sức tưởng tượng. Con người thì can trường, mạnh mẽ, mộc mạc và dường như hội tụ đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Có điều, họ rất, rất mê tín. Ở ngôi nhà đầu tiên chúng tôi nán lại, vừa thấy vết sẹo trên trán tôi, người phụ nữ phục vụ liền làm dấu thánh giá và chĩa hai ngón tay về phía tôi để xua đuổi tà ma. Tôi đồ rằng họ đã cất công bỏ thêm rất nhiều tỏi vào thức ăn; và thú thực là tôi chẳng thể nuốt nổi tỏi. Kể từ dạo đó, tôi cẩn trọng không tháo mũ hay mạng che mặt, nhờ thế mà tránh được những ánh nhìn dò xét. Chúng tôi đi rất nhanh, và vì không có người đánh xe nào đi cùng để thêu dệt những câu chuyện đồn thổi, chúng tôi đã bỏ lại phía sau mọi lời đàm tiếu. Dẫu vậy, tôi dám chắc nỗi khiếp sợ về ánh mắt ác quỷ sẽ còn bám riết lấy chúng tôi suốt dọc đường. Giáo sư như thể được làm bằng sắt đá; suốt cả ngày ông không hề chợp mắt, mặc dù vẫn bắt tôi ngủ một giấc thật dài. Lúc chạng vạng, ông thôi miên tôi, và kể lại rằng tôi vẫn đáp những lời quen thuộc: “bóng tối, tiếng nước vỗ và tiếng gỗ cọt kẹt”. Vậy là kẻ thù vẫn đang lênh đênh trên sông. Đáng lẽ tôi phải lo thắt ruột khi nghĩ đến Jonathan, nhưng chẳng hiểu sao giờ đây mọi nỗi sợ hãi cho anh, hay cho chính bản thân tôi, đều tan biến. Tôi đang nắn nót viết những dòng này trong lúc chờ người ta thắng ngựa tại một trang trại. Giáo sư Van Helsing đang say giấc. Tội nghiệp giáo sư, trông ông hốc hác, già nua và xám xịt nhường nào, nhưng đôi môi ông vẫn ngậm chặt kiêu hãnh như một vị tướng chiến thắng; ngay cả trong giấc ngủ, bản năng kiên định bất khuất vẫn hằn rõ trên gương mặt ông. Khi bánh xe bắt đầu lăn, tôi phải nài ép ông nghỉ ngơi và giành lấy phần cầm cương. Tôi sẽ nói với ông rằng phía trước chúng ta còn cả một chặng đường dài, và chúng ta không được phép gục ngã vào lúc cần đến sức mạnh của ông nhất.... Mọi thứ đã tươm tất; chúng tôi phải lên đường ngay thôi.

Ngày 2 tháng 11, buổi sáng.-Tôi đã thành công, và chúng tôi thay phiên nhau cầm cương suốt đêm thâu; giờ thì ánh dương rực rỡ đã ló rạng, dẫu cho cái lạnh buốt xương vẫn còn đó. Một cảm giác nặng nề kỳ lạ lơ lửng trong không khí-tôi dùng từ "nặng nề" vì chẳng tìm được từ nào diễn tả đúng hơn; nó trĩu nặng áp bức lên cả hai chúng tôi. Trời rét cóng, và chỉ nhờ những lớp lông thú dày cộm chúng tôi mới giữ được chút hơi ấm. Tờ mờ sáng, Giáo sư Van Helsing lại thôi miên tôi; ông bảo tôi đã đáp rằng: “bóng tối, tiếng gỗ cọt kẹt và tiếng nước gầm réo.” Vậy là thế nước đang đổi thay khi kẻ thù đi ngược dòng. Tôi tha thiết mong người chồng dấu yêu của mình không phải đối mặt với bất kỳ hiểm nguy nào-hơn mức anh phải chịu; nhưng chúng tôi đều đã giao phó số phận mình vào tay Chúa.

Ngày 2 tháng 11, ban đêm.-Chúng tôi rong ruổi suốt cả ngày. Càng tiến về phía trước, khung cảnh càng trở nên hoang vu, và những rặng núi hùng vĩ của dãy Carpathian2-những đỉnh núi mà từ Veresti tưởng chừng xa xăm và thấp lè tè nơi chân trời-giờ đây như đang vươn lên sừng sững, sáp lại bao quanh chúng tôi. Cả hai dường như đều giữ được tinh thần phấn chấn; tôi nghĩ mỗi người đều đang cố gắng cởi mở để động viên người kia, và trong lúc làm vậy, chúng tôi cũng tự vực dậy chính mình. Giáo sư Van Helsing bảo rằng sáng mai chúng tôi sẽ đến Đèo Borgo. Nhà cửa vùng này bắt đầu thưa thớt hẳn, và Giáo sư lo rằng lứa ngựa cuối cùng này sẽ phải đồng hành cùng chúng tôi đến hết chặng, bởi chẳng còn trạm nào để thay ngựa nữa. Ông đã mua thêm hai con ngoài hai con vừa đổi, nên giờ đây chúng tôi có một cỗ xe bốn ngựa kéo dẫu hơi thô sơ. Lũ ngựa rất thuần tính và bền bỉ, chẳng hề gây ra chút phiền toái nào. Vì không vướng bận những lữ khách qua đường, nên ngay cả tôi cũng có thể cầm cương lái cỗ xe. Chúng tôi tính sẽ đến Đèo vào ban ngày, không muốn đến sớm hơn. Do đó, cỗ xe cứ chầm chậm tiến bước, cho phép mỗi người luân phiên chợp mắt một giấc dài. Ôi, ngày mai sẽ mang đến cho chúng tôi điều gì đây? Chúng tôi đang đi tìm lại cái nơi mà người chồng tội nghiệp của tôi đã phải gánh chịu biết bao đau khổ. Cầu xin Chúa soi đường chỉ lối, xin Ngài đoái thương chở che cho chồng tôi, cho những người thân yêu của chúng tôi, và cho những ai đang kề cận hiểm nguy chí mạng. Về phần mình, tôi tự biết mình chẳng còn xứng đáng trước mặt Ngài. Than ôi! Tôi đã không còn trong sạch trong mắt Chúa, và sẽ mãi hoen ố cho đến khi Ngài rủ lòng thương, cho phép tôi đứng trước nhan thánh Ngài như một linh hồn chưa từng chuốc lấy cơn thịnh nộ.

Bản ghi chép của Abraham Van Helsing.

Ngày 4 tháng 11.-Gửi đến cậu, bác sĩ John Seward, M.D., ở Purfleet, London, người bạn cũ chân thành của ta, phòng khi ta không còn cơ hội gặp lại cậu. Lá thư này có thể xem như một lời giãi bày. Trời đang sáng dần, và ta ngồi viết những dòng này bên đống lửa mà ta cùng Madam Mina đã chong thức để giữ cho nó cháy suốt đêm. Trời lạnh, lạnh buốt thấu xương; lạnh đến mức bầu trời xám xịt như trĩu xuống vì ngậm đầy tuyết. Lớp tuyết ấy một khi đã rơi xuống sẽ bám trụ suốt mùa đông, bởi mặt đất đã đông cứng lại để đón chờ nó. Cái lạnh khắc nghiệt ấy dường như đã bào mòn Madam Mina; đầu óc cháu nặng trĩu cả ngày trời, đến nỗi cháu không còn là chính mình nữa. Cháu cứ ngủ, ngủ và ngủ mãi! Một người vốn luôn cảnh giác cao độ như cháu lại chẳng màng làm gì suốt ngày dài, thậm chí mất luôn cả cảm giác thèm ăn. Cháu cũng bỏ bẵng việc ghi chép vào cuốn nhật ký nhỏ, dù trước đây cháu luôn cẩn thận cặm cụi viết mỗi lúc xe dừng lại. Một dự cảm bất an thầm thì trong ta rằng mọi chuyện đang rất không ổn. Dẫu vậy, đêm nay cháu lại trở nên vif (linh hoạt) hơn. Giấc ngủ li bì ban ngày dường như đã giúp cháu hồi phục sinh lực, nên giờ đây cháu lại ngọt ngào và rạng rỡ như xưa. Lúc chạng vạng, ta cố thôi miên cháu, nhưng than ôi! Chẳng ích gì; sức mạnh của thuật thôi miên cứ yếu dần qua từng ngày, và đêm nay thì nó đã hoàn toàn vô hiệu. Thôi thì, ý Chúa sẽ được thành toàn-mặc cho điều đó là gì, và dẫn tới đâu!

Quay trở lại với những chuyện đã qua, vì Madam Mina không còn ghi tốc ký nữa, nên ta đành phải dùng cách cũ cồng kềnh của mình, cẩn thận chép lại để những ngày tháng này không trôi đi trong quên lãng.

Chúng ta đến Đèo Borgo ngay sau lúc mặt trời ló dạng vào sáng hôm qua. Vừa thấy tia sáng bình minh, ta liền sửa soạn để thôi miên. Chúng ta dừng xe lại và bước xuống để tránh bị quấy rầy. Ta trải một tấm da thú làm chỗ nằm, và Madam Mina ngoan ngoãn ngả lưng xuống như mọi khi. Thế nhưng, cháu chìm vào giấc ngủ thôi miên chậm chạp hơn, và thời gian duy trì cũng ngắn ngủi hơn bao giờ hết. Vẫn là câu trả lời quen thuộc: "bóng tối và tiếng nước cuộn xoáy". Sau đó, cháu bừng tỉnh, rạng rỡ và tươi tắn. Chúng ta tiếp tục hành trình và chẳng bao lâu thì đặt chân đến Đèo. Ngay tại khoảnh khắc và địa điểm đó, cháu bỗng trở nên tràn đầy nhiệt huyết; như có một luồng sức mạnh dẫn lối vô hình trỗi dậy trong cháu. Cháu chỉ tay vào một lối đi và cất tiếng:-

"Đây là lối đi."

"Làm sao cháu biết được điều đó?" ta hỏi.

"Tất nhiên là cháu biết," cháu đáp lời, rồi sau một khoảng lặng, cháu nói thêm: "Chẳng phải Jonathan của cháu đã đi qua con đường này và ghi lại trong nhật ký đó sao?"

Lúc đầu ta còn thấy lạ, nhưng chẳng bao lâu ta nhận ra đúng là chỉ có duy nhất một lối rẽ như vậy. Nó có vẻ hoang vắng và hiu hắt, khác hẳn với con lộ lớn trải rộng và cứng cáp tấp nập xe ngựa xuôi ngược từ Bukovina đến Bistritz.

Thế là chúng ta rẽ vào lối đó. Dọc đường, khi vấp phải những lối rẽ mờ mịt-nhiều lúc ta còn chẳng dám chắc đó có phải là đường không, bởi chúng đã bị bỏ hoang và bị lớp tuyết mỏng phủ mờ-thì chỉ có lũ ngựa mới biết chắc chắn. Ta đành phó mặc dây cương cho chúng, và chúng vẫn kiên nhẫn đều bước. Dần dà, những khung cảnh mà Jonathan miêu tả trong cuốn nhật ký phi thường của cậu ấy đều lần lượt hiện ra trước mắt. Chúng ta mải miết đi thêm nhiều giờ liền. Mới đầu, ta bảo Madam Mina chợp mắt; cháu làm theo và thiếp đi ngay. Cháu ngủ say sưa suốt chặng đường dài; cho tới khi sự nghi ngờ gợn lên trong ta, thôi thúc ta phải gọi cháu dậy. Nhưng cháu vẫn ngủ li bì, dẫu ta có lay gọi thế nào cháu cũng chẳng buồn mở mắt. Ta không dám làm mạnh tay sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của cháu; ta hiểu cháu đã chịu đựng quá nhiều, và lúc này, một giấc ngủ sâu có lẽ là tất cả những gì cháu cần. Có lẽ chính ta cũng đã gục ngã vì cơn buồn ngủ, bởi đột nhiên một cảm giác tội lỗi ập đến, hệt như ta vừa làm điều gì đó sai trái; ta giật mình ngồi thẳng dậy, dây cương vẫn cầm chắc trong tay, và bầy ngựa trung thành vẫn nhịp nhàng gõ móng lóc cóc, lóc cóc. Cúi nhìn xuống, ta thấy Madam Mina vẫn đang say giấc nồng. Lúc bấy giờ đã sắp đến giờ hoàng hôn, và trên mặt tuyết trắng phau, ánh dương tuôn đổ như một trận lụt ánh sáng màu vàng rực, kéo giãn bóng hai bác cháu đổ dài lên triền núi dốc đứng. Chúng ta đang leo lên, lên cao mãi; và hỡi ôi, khung cảnh xung quanh mới hoang tàn, sỏi đá lởm chởm làm sao, tựa như ngày tận thế đã cận kề.

Sau đó, ta gọi Madam Mina thức dậy. Lần này, cháu tỉnh giấc không chút khó khăn, rồi ta lại cố gắng đưa cháu vào trạng thái thôi miên. Thế nhưng cháu không thể nhắm mắt, cứ như thể ta tàng hình trước mặt cháu vậy. Ta kiên nhẫn thử đi thử lại, cho tới khi bóng tối thình lình ập xuống bủa vây lấy cả hai; ta ngó quanh và nhận ra mặt trời đã khuất núi tự bao giờ. Madam Mina khẽ cười, ta liền quay sang nhìn cháu. Lúc này, trông cháu hoàn toàn tỉnh táo và khỏe khoắn, một thần sắc tươi tắn mà ta chưa từng thấy ở cháu kể từ cái đêm tại Carfax, khi chúng ta lần đầu đột nhập hang ổ của Bá tước. Sự thay đổi ấy khiến ta ngỡ ngàng, và lòng ta dấy lên một nỗi bất an; nhưng cháu tỏ ra tươi tắn, dịu dàng và ân cần đến nỗi mọi lo âu trong ta bay biến mất. Ta nhóm một đống lửa bằng số củi dự trữ mang theo, cháu thì soạn đồ ăn trong lúc ta gỡ cương ngựa, dắt chúng vào chỗ nấp an toàn, buộc chặt và cho chúng ăn. Khi quay lại bên đống lửa, ta thấy bữa tối đã được dọn sẵn tươm tất. Ta định giúp cháu một tay, nhưng cháu chỉ cười và bảo rằng mình đã ăn rồi-rằng cháu quá đói nên không thể đợi thêm. Sự việc này khiến ta chẳng mấy vui vẻ, và một nỗi hoài nghi sâu sắc bám rễ trong lòng ta; nhưng sợ làm cháu hoảng, ta đành nuốt ngược những thắc mắc ấy vào trong. Cháu ân cần phục vụ trong lúc ta ngồi dùng bữa một mình; xong xuôi, chúng ta quấn mình trong những lớp áo lông thú và ngả lưng bên đống lửa. Ta bảo cháu cứ ngủ, ta sẽ canh gác cho. Ấy thế mà chẳng bao lâu sau, cơn buồn ngủ lại chiến thắng ta; và khi ta giật mình nhớ ra nhiệm vụ gác đêm, ta thấy cháu đang nằm im lìm, nhưng đôi mắt trong veo, sáng rực vẫn thao láo nhìn ta. Chuyện tương tự lặp lại thêm hai lần nữa, thành ra ta ngủ được một giấc dài đến tận lúc trời tảng sáng. Khi thức dậy, ta lại thử thôi miên cháu; nhưng than ôi! dù cháu đã ngoan ngoãn nhắm mắt, giấc ngủ thôi miên vẫn chẳng chịu tìm đến. Mặt trời vươn mình, lên cao mãi; và rồi cơn buồn ngủ ập đến với cháu quá muộn màng, nhưng lại sâu đến mức cháu không tài nào gượng dậy nổi. Ta phải bế cháu lên, nhẹ nhàng đặt cháu vào xe giữa lúc cháu vẫn đang say giấc, sau khi đã thắng ngựa và xếp dọn mọi thứ tươm tất. Cháu vẫn ngủ thiếp đi, và trong giấc ngủ ấy, trông cháu rạng rỡ, hồng hào hơn hẳn. Ta chẳng ưng sự thay đổi này chút nào. Nỗi sợ hãi gặm nhấm tâm can ta, ta sợ, sợ lắm!-Ta sợ tất thảy mọi thứ-sợ cả những suy nghĩ quẩn quanh trong đầu, nhưng ta không thể dừng bước. Ván cược này không chỉ là sự sống và cái chết, mà còn vĩ đại hơn thế, và chúng ta tuyệt đối không được phép chùn bước.

Ngày 5 tháng 11, buổi sáng.-Ta phải tường thuật thật chi tiết mọi chuyện, vì dẫu hai ta từng kề vai sát cánh qua nhiều phen kỳ lạ, hẳn lúc đầu cậu sẽ nghĩ ta, Van Helsing, đã mất trí-rằng chuỗi kinh hoàng bất tận và sự căng thẳng thần kinh kéo dài cuối cùng đã phá nát tâm trí ta.

Hôm qua, chúng ta di chuyển suốt cả ngày, càng lúc càng tiến sâu vào lòng núi, lạc bước giữa một vùng đất hoang vu mịt mù vô tận. Nhấp nhô những vách đá khổng lồ, cau có, cùng cơ man là thác nước đổ ầm ầm tuôn bọt trắng xóa; nơi đây, Thiên nhiên như đang tự bày ra một bữa tiệc cuồng nộ của riêng mình. Madam Mina cứ ngủ li bì mãi; dẫu cơn đói có cồn cào cắn rứt và ta đã phải tự lót dạ, ta vẫn chẳng thể nào đánh thức được cháu-kể cả là gọi cháu dậy ăn. Ta bắt đầu kinh hãi nghĩ đến việc câu thần chú chết chóc của vùng đất này đã giáng xuống cháu, nhất là khi cháu đã mang trên mình dấu ấn nhơ nhuốc từ phép rửa tội của con Ma cà rồng kia. "Thôi được rồi," ta thầm nhủ, "nếu cháu ngủ trọn cả ngày, thì ta đây cũng sẽ không chợp mắt vào ban đêm." Khi chúng ta lóc cóc vượt qua đoạn đường gập ghềnh-thực chất đó là một con đường đá cổ xưa dang dở-đầu ta rũ xuống và ta thiếp đi lúc nào không hay. Một lần nữa, ta lại giật mình thức giấc trong nỗi hối hận vì để thời gian trôi qua, Madam Mina vẫn còn say ngủ, và mặt trời đã ngả bóng xế tà. Nhưng mọi cảnh vật đã biến đổi hoàn toàn; những ngọn núi cau có dường như đã lùi ra xa, và chúng ta đang ở sát đỉnh của một ngọn đồi dốc đứng, sừng sững tọa lạc trên đỉnh đồi chính là tòa lâu đài hệt như những gì Jonathan miêu tả trong nhật ký. Cảm giác mừng rỡ pha lẫn khiếp đảm dâng trào trong ta; bởi giờ đây, dù kết cục có ra sao, thì hồi kết của ván cờ này cũng đã điểm.

Ta gọi Madam Mina dậy, rồi lại thử thôi miên cháu lần nữa; nhưng hỡi ôi! mọi nỗ lực đều thành vô vọng cho đến khi mọi thứ đã quá muộn. Sau đó, ngay trước khi bóng tối mù mịt vồ lấy chúng ta-bởi dù mặt trời đã khuất bóng, bầu trời vẫn phản chiếu chút ánh tà dương vương lại trên tuyết trắng, tắm gội vạn vật trong thứ ánh sáng chạng vạng kỳ vĩ thêm một lát-ta vội vã tháo cương ngựa và lùa chúng vào ăn cỏ trong một chỗ trú ẩn tạm bợ. Tiếp đến, ta đốt một đống lửa; và đặt Madam Mina, người giờ đây đã tỉnh táo và toát lên vẻ kiều diễm hơn bao giờ hết, ngồi êm ái giữa những tấm thảm ngay gần đó. Ta dọn sẵn thức ăn, nhưng cháu lắc đầu từ chối, nhẹ nhàng bảo rằng mình không thấy đói. Biết có ép uổng cũng vô ích, ta đành mặc kệ. Tuy vậy, ta vẫn phải nuốt cho kỳ hết phần mình, vì lúc này đây, ta cần sức mạnh để đương đầu với mọi biến cố. Kế đó, mang nặng nỗi lo sợ về những hiểm họa rình rập, ta vạch một vòng tròn thật rộng rãi xung quanh chỗ Madam Mina ngồi để cháu được thoải mái; trên đường viền ấy, ta rắc những mẩu Bánh Thánh bẻ vụn, tạo thành một hàng rào bảo vệ vững chãi. Suốt quá trình đó, cháu cứ ngồi bất động-im lìm như một pho tượng chết; sắc mặt cháu mỗi lúc một nhợt nhạt, trắng bệch đến mức lớp tuyết kia cũng phải chào thua; và cháu cấm cẩu không thốt ra một lời nào. Nhưng khi ta bước tới gần, cháu bấu chặt lấy ta, và ta có thể cảm nhận được tâm hồn tội nghiệp ấy đang run lên bần bật từ đầu đến chân, những nhịp run lẩy bẩy oằn oại trong nỗi đớn đau tột cùng. Một lát sau, khi cháu đã trấn tĩnh lại, ta ướm hỏi:-

"Cháu sẽ không đến sưởi ấm bên đống lửa sao?" vì ta muốn kiểm chứng xem cháu có thể làm được những gì. Cháu ngoan ngoãn đứng lên, nhưng vừa cất bước chân đầu tiên, cháu đã khựng lại, đứng trân trân như vừa bị giáng một đòn trời giáng.

"Sao cháu không bước tiếp đi?" ta hỏi. Cháu lắc đầu, quay lại và ngồi sụp xuống chỗ cũ. Rồi, mở to đôi mắt nhìn ta như người vừa choàng tỉnh từ cơn mộng mị, cháu khẽ đáp:-

"Cháu không thể!" rồi lại thu mình vào khoảng không tĩnh lặng. Mừng thay, ta hiểu rằng những gì cháu không thể vượt qua, thì lũ ác quỷ mà chúng ta đang khiếp sợ cũng tuyệt đối không thể phá vỡ. Mặc cho thể xác cháu có bị đe dọa, linh hồn cháu vẫn được bảo toàn trọn vẹn!

Chẳng bao lâu sau, bầy ngựa bắt đầu hốt hoảng hí rống lên, giằng co cuồng loạn với dây cương cho đến khi ta phải chạy tới dỗ dành. Vừa cảm nhận được bàn tay ta vuốt ve, chúng rên rỉ nghèn nghẹn như thể mừng rỡ, liếm láp tay ta rồi ngoan ngoãn chìm vào cõi lặng im một lát. Đêm đó, ta phải chạy lại chỗ chúng không biết bao nhiêu bận, cho tới khi khoảnh khắc buốt giá nhất của đêm thâu ngự trị, khoảnh khắc mà vạn vật trong tự nhiên đều kiệt quệ; và mỗi lần ta xuất hiện là mỗi lần chúng im bặt. Giữa cái lạnh cắt da cắt thịt, ngọn lửa dần tàn lụi, ta vừa định cất bước đi lấy thêm củi thì những đợt tuyết dữ dội quất tới tấp, kéo theo từng đợt sương mù lạnh lẽo sắc lẹm. Ngay cả trong màn đêm đặc quánh vẫn còn rớt lại chút ánh sáng mờ ảo, thứ ánh sáng bàng bạc luôn phảng phất trên lớp tuyết; và trong ảo ảnh ấy, những luồng tuyết cuộn xoáy cùng sương mù như đang nhào nặn thành hình hài của những kiều nữ khoác áo choàng dài tha thướt. Vạn vật chìm vào sự im lìm chết chóc, rợn gáy, chỉ vỡ vụn bởi tiếng bầy ngựa hí ré lên rồi co rúm lại, như đang bị bủa vây bởi nỗi kinh hoàng tột độ. Nỗi khiếp đảm xâm chiếm lấy ta-những nỗi sợ hãi rợn người; nhưng ngay lập tức, cảm giác an toàn từ vòng tròn bảo vệ dưới chân đã xoa dịu ta. Ta đồ rằng tâm trí mình đang chơi trò huyễn hoặc, bị đánh lừa bởi màn đêm u mịch, sự u ám rợn ngợp, cùng những bất an và chuỗi lo âu khủng khiếp mà ta phải gánh chịu bấy lâu. Có vẻ như những ký ức kinh hoàng mà Jonathan từng trải qua đang sống lại và đánh lừa thị giác ta; bởi những bông tuyết và màn sương mù bắt đầu cuộn xoáy, lượn vòng, cho đến khi ta lờ mờ bắt được những hình bóng hư ảo của ba nữ nhân từng khao khát hôn lên cổ cậu ấy. Rồi bầy ngựa tội nghiệp càng lúc càng co rúm, rên rỉ thảm thiết trong nỗi kinh hãi hệt như con người đang oằn mình trong cơn đau. Nỗi khiếp sợ chưa làm chúng phát điên, nên chúng vẫn chưa giật đứt dây thừng. Nhìn những bóng ma quỷ dị đang tiến sát lại, lượn lờ bao vây, lòng ta thắt lại vì lo lắng cho Madam Mina thân yêu. Ta quay sang nhìn, nhưng cháu vẫn ngồi đó bình thản, mỉm cười với ta; khi ta định bước về phía đống lửa để chêm thêm củi, cháu vội chộp lấy tay ta kéo tuột lại, thì thầm bằng một âm điệu mỏng manh như tiếng vọng từ giấc mộng:-

"Không! Không! Đừng bước ra ngoài. Ở đây giáo sư mới được an toàn!" Ta liền quay sang cháu, nhìn thẳng vào mắt cháu và đáp:-

"Thế còn cháu thì sao? Chính cháu mới là người khiến ta lo sợ!" Vừa dứt lời, cháu khẽ bật cười-một điệu cười nhỏ nhẹ và siêu thực, cháu nói:-

"Sợ cho cháu sao! Việc gì giáo sư phải sợ cho cháu? Trên đời này chẳng ai an toàn trước bọn chúng bằng cháu đâu." Đang lúc ta còn hoang mang về ý nghĩa câu nói ấy, thì một luồng gió thốc ngọn lửa bùng lên, soi rõ vết sẹo đỏ rực trên trán cháu. Chao ôi! Ta đã hiểu. Mà dù chưa hiểu, thì ta cũng sẽ sớm nhận ra thôi, vì những ảo ảnh cuồng loạn của sương mù và bão tuyết đang lấn lướt lại gần, dù vẫn luôn giữ khoảng cách an toàn ngoài vòng tròn Thánh. Rồi những ảo ảnh ấy bắt đầu thành hình, cho đến khi-nếu Chúa chưa tước đoạt lý trí của ta, vì chính đôi mắt này đã chứng kiến-sừng sững trước mặt ta bằng xương bằng thịt, chính là ba con ả ma cà rồng mà Jonathan đã giáp mặt trong căn phòng nọ, cái đêm chúng thèm khát hôn lên cổ cậu ấy. Ta nhận ra ngay những đường cong uốn éo, đôi mắt rực sáng vô hồn, hàm răng trắng lóa, nước da hồng hào cùng đôi môi đỏ mọng khêu gợi. Bọn chúng vẫn mỉm cười với Madam Mina đáng thương của ta; và tiếng cười rùng rợn của chúng cứ thế xé toạc màn đêm tĩnh lặng. Chúng vươn tay, chỉ về phía cháu, và cất lời bằng thứ âm điệu du dương đến sởn gai ốc, thứ âm thanh mà Jonathan từng miêu tả là mang sự ngọt ngào không thể chịu đựng nổi của những chiếc ly thủy tinh lấp xấp nước:-

"Đến đây, chị gái. Hãy đến với chúng tôi. Đến đây! Đến đây!" Trong cơn kinh hoàng, ta vội quay sang Madam Mina tội nghiệp, và rồi trái tim ta nhảy múa reo ca như ngọn lửa bùng cháy; ôi! chính sự sợ hãi tột độ, nỗi căm phẫn và ghê tởm hằn in trong đôi mắt ngọt ngào của cháu, đã nhắn nhủ với trái tim ta rằng hy vọng vẫn còn. Tạ ơn Chúa, cháu vẫn chưa trở thành đồng loại của bọn ác quỷ ấy. Ta vơ vội vài thanh củi cạnh bên, nắm chặt một ít Bánh Thánh trong tay, xông thẳng về phía bọn chúng, hướng ra đống lửa. Chúng dạt ra xa, cười lên khùng khục ghê rợn. Ta ném củi thổi bùng đống lửa, chẳng mảy may sợ hãi; vì ta biết chắc chúng ta đang được che chắn an toàn. Được trang bị như thế, chúng tuyệt đối không thể đụng đến ta, hay cả Madam Mina chừng nào cháu vẫn ngồi yên trong vòng tròn-nơi cháu không thể bước ra, và bọn chúng cũng không thể xâm nhập. Lũ ngựa đã thôi rên rỉ, nằm bất động trên nền đất tuyết; những bông tuyết rơi êm đềm phủ lên mình chúng, biến chúng thành những khối trắng toát. Ta biết rằng đối với những sinh linh tội nghiệp này, mọi nỗi kinh hoàng đã vĩnh viễn khép lại.

Chúng ta cứ trụ lại đó cho đến khi thứ ánh sáng đỏ rực của bình minh xé toạc bức màn tuyết mịt mù. Ta nhận ra mình thật cô độc, rệu rã trong nỗi khiếp sợ, khốn khổ và kinh hoàng; nhưng ngay khoảnh khắc vầng dương xinh đẹp vươn mình lên khỏi chân trời, sự sống trong ta đã hồi sinh. Ngay từ những tia nắng bình minh đầu tiên, những hình thù ghê rợn kia đã tan chảy vào màn sương và bão tuyết cuộn xoáy; những cái bóng mờ ảo lướt về phía lâu đài, rồi tan biến vào hư không.

Theo bản năng, khi bình minh ló rạng, ta quay sang Madam Mina, định thôi miên cháu; nhưng cháu đã chìm sâu vào một giấc ngủ bất thình lình, một giấc ngủ sâu thẳm mà ta không thể nào đánh thức. Ta cố gắng thôi miên cháu ngay trong giấc ngủ, nhưng cháu không mảy may phản ứng, hoàn toàn bất động; và ngày mới đã bắt đầu. Ta vẫn e ngại việc xáo trộn mọi thứ. Ta nhóm lại lửa, đảo mắt nhìn bầy ngựa; tất cả đã chết cựa. Hôm nay, ta có quá nhiều việc phải giải quyết, và ta đành nán lại chờ cho đến khi mặt trời lên cao; bởi ta còn phải lặn lội đến nhiều nơi, nơi mà ánh dương-dẫu bị tuyết và sương mù che khuất-sẽ là tấm bình phong bảo vệ duy nhất của ta.

Ta sẽ phải dằn bụng bữa sáng để tích lũy sức mạnh, rồi sẽ bắt tay vào cái công việc kinh hãi của mình. Madam Mina vẫn đang say ngủ; và tạ ơn Chúa! cháu vẫn thật bình yên trong giấc ngủ vùi....

Nhật ký của Jonathan Harker.

Ngày 4 tháng 11, buổi tối.-Tai nạn với chiếc xuồng máy quả là một tai họa giáng xuống đầu chúng tôi. Giá mà không vướng phải chuyện đó, chúng tôi hẳn đã đuổi kịp con thuyền từ lâu; và giờ này Mina thân yêu của tôi đã được giải thoát. Tôi hoảng sợ không dám nghĩ đến cảnh cô ấy đang lưu lạc trên vùng thảo nguyên, kề cận với cái nơi quỷ ám đó. Chúng tôi đã chuẩn bị ngựa, và đang lần theo dấu vết. Tôi vội viết những dòng này trong lúc Godalming thu xếp hành trang. Khí giới đã sẵn sàng. Lũ Szgany hãy coi chừng nếu chúng toan tính chiến đấu. Ôi, giá mà có Morris và Seward ở đây cùng chúng tôi. Giờ thì chúng tôi chỉ còn biết hy vọng! Nếu tôi không thể viết thêm nữa: Tạm biệt, Mina! Xin Chúa đoái thương bảo vệ và chở che cho em.

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 5 tháng 11.-Lúc bình minh, chúng tôi trông thấy cái xác của gã người Szgany trên đường, những kẻ khác thì đang phóng chiếc xe ngựa như bay rời khỏi bến sông. Bọn chúng túm tụm thành một cụm, hối hả lao đi như thể đang bị săn đuổi. Tuyết đang rơi lác đác, và một bầu không khí nghẹt thở đầy kích động vây kín lấy chúng tôi. Cũng có thể đó chỉ là cảm xúc huyễn hoặc của riêng chúng tôi, nhưng sự chán nản u uất này mới dị thường làm sao. Từ đằng xa, tôi nghe văng vẳng tiếng sói tru; những trận tuyết đã xua bầy sói từ trên núi xuống, và mọi bề quanh chúng tôi đều rình rập những hiểm họa khôn lường. Bầy ngựa đã sẵn sàng, và chúng tôi sẽ phải khởi hành ngay lập tức. Chúng tôi đang phi ngựa tới án tử của một ai đó. Chỉ có Chúa mới thấu đó là ai, ở đâu, như thế nào, khi nào, hoặc bằng cách nào điều đó sẽ xảy ra....

Bản ghi chép của Giáo sư Van Helsing.

Ngày 5 tháng 11, buổi chiều.-Ít nhất thì ta vẫn còn tỉnh táo. Xin tạ ơn Chúa vì sự khoan dung ấy trước vạn sự kinh hoàng đã qua, dẫu cho việc chứng thực điều đó thật khủng khiếp. Khi ta để phu nhân Mina ngủ vùi bên trong vòng tròn Thánh, ta cất bước tiến về phía lâu đài. Chiếc búa thợ rèn mà ta mượn từ cỗ xe ở Veresti đã phát huy tác dụng; dẫu cho các cánh cổng đều đang mở toang, ta vẫn đập gãy chúng khỏi những bản lề gỉ sét. Ta làm vậy phòng khi có kẻ nào mang dã tâm, hoặc một sự cố không may nào đó sập cửa lại, khiến ta bị nhốt kín bên trong mà không có đường lui. Những trải nghiệm đẫm máu của Jonathan đã giúp ích cho ta rất nhiều. Nương theo ký ức từ cuốn nhật ký của cậu ấy, ta tìm được đường đến nhà nguyện cổ, bởi ta biết rõ nhiệm vụ của mình nằm tại nơi đây. Không khí xung quanh thật ngột ngạt; dường như có thoang thoảng mùi lưu huỳnh, thứ mùi mẫn khiến ta có đôi lúc choáng váng. Hoặc là có những tiếng gầm gừ văng vẳng bên tai, hoặc là ta đã nghe thấy tiếng tru tréo của lũ sói dội lại từ phía xa. Ngay lúc đó, ta chợt nhớ tới phu nhân Mina thân yêu, và ta chợt thấy mình rơi vào một tình cảnh vô cùng khủng khiếp. Lựa chọn tiến thoái lưỡng nan ấy như đang kẹp chặt lấy ta giữa hai mũi nhọn.

Về phần phu nhân, ta không dám đưa cô ấy vào nơi quỷ ám này, mà đành để cô ấy lánh nạn khỏi bầy Ma cà rồng trong vòng tròn Thánh an toàn đó; thế nhưng dẫu ở đó, lũ sói vẫn có thể rình rập! Ta tự nhủ rằng trọng trách của mình nằm ở đây, và đối với bầy sói, chúng ta đành phó mặc, nếu đó là ý muốn của Thượng đế. Dù sao đi nữa, lựa chọn ngoài kia cũng chỉ là cái chết đi liền với sự giải thoát. Vậy nên, ta đã thay phu nhân đưa ra quyết định. Nếu chỉ vì bản thân mình, thì sự lựa chọn ấy quá đỗi dễ dàng, thà nát thây trong bụng sói đói còn hơn là chịu đày đọa trong phần mộ của lũ Ma cà rồng! Thế nên, ta đã quyết tâm nán lại để tiếp tục công việc dang dở của mình.

Ta biết chắc rằng mình phải tìm ít nhất ba ngôi mộ-những ngôi mộ có kẻ ngụ cư; ta cứ tìm, tìm mãi, và rồi ta cũng thấy một trong số đó. Ả ta đang say sưa trong giấc ngủ Ma cà rồng, căng tràn nhựa sống và mang một vẻ đẹp gợi tình đến mức ta phải rùng mình, cứ như thể ta sắp sửa xuống tay thực hiện một vụ sát nhân tàn độc. Chao ôi, ta chẳng còn nghi ngờ gì nữa, rằng vào thời cổ đại, khi những chuyện như thế này xảy ra, biết bao gã đàn ông quyết tâm thực thi sứ mệnh như ta, nhưng cuối cùng lại thấy con tim mình khuất phục, kéo theo cả lòng can đảm cũng vụn vỡ. Thế là kẻ đó cứ chần chừ, chần chừ mãi, cho đến khi chính vẻ đẹp ma mị và sự quyến rũ của con quỷ dâm đãng Chưa chết3 kia đã bỏ bùa mê lấy anh ta; và anh ta cứ đứng chôn chân ở đó, cho đến khi mặt trời lặn bóng, và giấc ngủ Ma cà rồng kết thúc. Sau đó, đôi mắt kiều diễm của ả đàn bà xinh đẹp ấy mở ra, đắm đuối nhìn vào tình yêu, cùng với bờ môi khêu gợi trao đi một nụ hôn tử thần-và người đàn ông kia đã hoàn toàn gục ngã. Thế rồi, lại có thêm một nạn nhân nữa sa chân vào bầy Ma cà rồng; thêm một kẻ nữa làm cho hàng ngũ tàn khốc và rùng rợn của giống loài Chưa chết kia ngày một đông đúc!...

Quả thực là có một thứ ma lực quyến rũ nào đó, khi ta bị lay động chỉ bởi sự hiện diện của một ả như vậy, dù ả đang nằm trong một ngôi mộ đã bị thời gian gặm nhấm và phủ đầy bụi bặm của hàng thế kỷ, dẫu cho có thứ mùi hôi thối kinh tởm tỏa ra hệt như trong những hang ổ của tên Bá tước. Phải, ta đã bị lay động-chính ta, Van Helsing, với bao mục đích và ngọn lửa hận thù hừng hực-ta đã bị lay động trước một niềm khao khát chần chừ, dường như đã làm tê liệt mọi giác quan và bóp nghẹt chính tâm hồn ta. Có thể là do khao khát chìm vào giấc ngủ tự nhiên, và cả áp lực kỳ lạ của bầu không khí u ám đó đã bắt đầu khuất phục ta. Có lẽ ta đang dần chìm vào giấc ngủ, một giấc ngủ mở trừng mắt của một kẻ buông xuôi trước một sự quyến rũ ngọt ngào, thì bỗng vang lên xuyên qua không gian tĩnh lặng đầy tuyết một tiếng rên rỉ kéo dài, trầm bổng, chất chứa đầy đớn đau và bi ai, đánh thức ta bừng tỉnh hệt như một tiếng kèn lệnh. Bởi đó chính là giọng nói của phu nhân Mina thân yêu mà ta hằng nghe thấy.

Sau đó, ta lại tự xốc lại tinh thần cho nhiệm vụ kinh hoàng của mình, và tìm thấy một người chị em khác của ả, một kẻ có mái tóc đen khác, bằng cách tháo gỡ các nắp mộ. Ta không dám nán lại để ngắm nhìn ả như đã làm với người chị em trước đó, e rằng một lần nữa ta sẽ lại trúng bùa mê; mà ta cứ thế tiếp tục tìm kiếm cho đến khi, một lúc sau, ta tìm thấy trong một ngôi mộ lớn cao sừng sững như thể được xây dựng cho một người được sủng ái tột bậc, người chị em kiều diễm kia, kẻ mà cũng giống như Jonathan, ta đã thấy ả tự định hình lại hình hài từ những luồng sương mù. Ả ta thật lộng lẫy khi nhìn ngắm, rạng rỡ và quyến rũ vô ngần, đến mức chính bản năng đàn ông trong ta, thứ bản năng thôi thúc những kẻ đồng giới bảo bọc và yêu thương một người khác giới, đã làm đầu óc ta quay cuồng vì một thứ xúc cảm mới lạ. Nhưng tạ ơn Chúa, tiếng rên rỉ thấu tận tâm can của phu nhân Mina yêu quý vẫn chưa phai mờ trong tâm trí ta; và, trước khi ma thuật kia có thể trói buộc ta sâu hơn nữa, ta đã tự thức tỉnh bản thân về nhiệm vụ tàn khốc của mình. Lúc này, ta đã lục tung mọi ngôi mộ trong nhà nguyện, theo như tất thảy những gì ta có thể biết; và vì chỉ có ba bóng ma Chưa chết này lảng vảng quanh chúng ta trong đêm, ta cho rằng không còn thế lực Chưa chết nào đang rình rập nữa. Có một ngôi mộ khổng lồ, uy nghi hơn tất thảy những ngôi mộ khác; nó đồ sộ, và được chạm khắc với một tỷ lệ hoàn mỹ. Trên đó chỉ độc một cái tên:

DRACULA.

Vậy ra đây chính là sào huyệt Chưa chết của Vua Ma cà rồng, kẻ đã gieo rắc biết bao tai ương. Sự trống trải của nó đã lên tiếng như một lời khẳng định đanh thép cho những gì ta đã biết. Trước khi ta bắt đầu gửi trả những ả đàn bà này về với bản ngã cái chết thực sự của chúng thông qua công việc man rợ của mình, ta đã đặt vào lăng mộ của Dracula một mẩu Bánh Thánh, và cứ thế, vĩnh viễn trục xuất hắn khỏi cõi Chưa chết kia.

Sau đó, nhiệm vụ kinh hoàng của ta mới thực sự bắt đầu, và ta luôn khiếp sợ điều đó. Giá như chỉ có một, thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn biết mấy. Nhưng ở đây lại có tới ba! Lại phải lặp lại thêm hai lần nữa sau khi ta đã tự mình trải qua một hành động kinh khiếp; bởi nếu nó đã quá đỗi ám ảnh với cô Lucy ngọt ngào, thì sẽ ra sao với những ác quỷ xa lạ này, những kẻ đã sống vất vưởng qua nhiều thế kỷ, và đã được bồi đắp sức mạnh bởi dòng chảy vô tận của thời gian; những kẻ mà, nếu có thể, sẽ chiến đấu đến cùng cho sinh mệnh nhơ nhuốc của chúng....

Ôi, bạn John của tôi, đó quả thực là công việc của một gã đồ tể; nếu tôi không được thúc đẩy bởi ý nghĩ về những người đã khuất, và về những sinh mạng đang sống nhưng bị treo lơ lửng bởi một bức màn sợ hãi, tôi đã không thể nào dấn bước. Ngay cả bây giờ tôi vẫn còn run rẩy tột độ, dẫu cho đến khi mọi thứ đã khép lại, tạ ơn Chúa, lòng can đảm của tôi vẫn đứng vững. Nếu tôi không nhìn thấy sự yên bình ngay từ lần đầu hạ thủ, và sự thanh thản rạng rỡ phủ lấp khuôn mặt đó ngay trước khi sự tan biến cuối cùng ập đến, như một sự thừa nhận rằng linh hồn đã chiến thắng, tôi đã không thể đi tiếp với công việc đồ tể của mình. Tôi không tài nào chịu đựng nổi tiếng rít gào kinh hoàng khi chiếc cọc cắm phập vào; sự vặn vẹo của thân hình đang quằn quại, và đôi môi túa bọt máu đỏ tươi. Lẽ ra tôi đã chạy trốn trong sự hoảng loạn và vứt bỏ sứ mệnh của mình. Nhưng mọi thứ đã kết thúc! Và những linh hồn đáng thương ấy, bây giờ tôi có thể xót xa và rơi lệ vì họ, khi tôi nghĩ đến việc mỗi người bọn họ đều tìm thấy sự thanh thản trong giấc ngủ vĩnh hằng của cái chết, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi trước khi hoàn toàn tan biến. Bởi vì, bạn John à, con dao của tôi khó khăn lắm mới có thể chặt đứt đầu của từng người, trước khi toàn bộ thân xác bắt đầu tan chảy và vỡ vụn thành lớp bụi vô tri, như thể cái chết lẽ ra phải đến cách đây hàng thế kỷ, thì cuối cùng đã hiện diện, dõng dạc và đanh thép tuyên bố rằng: "Ta ở đây!"

Trước khi rời khỏi lâu đài, tôi đã phong ấn tất cả các lối vào, để tên Bá tước không bao giờ có thể bước chân vào đó dưới hình hài Chưa chết nữa.

Khi tôi bước vào vòng tròn nơi phu nhân Mina đang an giấc, phu nhân đã bừng tỉnh sau cơn mê, và khi nhìn thấy tôi, phu nhân bật khóc nức nở trong xót xa rằng tôi đã phải chịu đựng quá nhiều.

"Lại đây!" phu nhân thốt lên, "hãy mau rời khỏi nơi khủng khiếp này! Chúng ta hãy đi tìm chồng cháu, người mà cháu biết, đang trên đường đến với chúng ta." Phu nhân trông thật gầy gò, nhợt nhạt và yếu ớt; nhưng đôi mắt của phu nhân lại trong vắt và rực rỡ một ngọn lửa nhiệt thành. Tôi vô cùng mừng rỡ khi nhìn thấy sự nhợt nhạt và ốm yếu đó của phu nhân, bởi tâm trí tôi vẫn đang tràn ngập nỗi kinh hoàng mới mẻ về giấc ngủ của lũ ma cà rồng hồng hào no máu kia.

Và vì vậy, mang theo cả niềm tin, hy vọng, cùng với sự sợ hãi, chúng tôi hướng về phía đông để hội ngộ cùng những người bạn của mình-và anh ấy-người mà phu nhân Mina nói với tôi rằng phu nhân biết chắc đang tiến đến đón chúng tôi.

Nhật ký của Mina Harker.

Ngày 6 tháng 11.-Trời đã ngả về chiều muộn khi Giáo sư và tôi cùng nhau tiến về phương đông, nơi tôi biết chắc Jonathan đang vội vã đi tới. Dù con đường dốc đứng, chúng tôi cũng chẳng thể rảo bước nhanh hơn, phần vì phải oằn lưng cõng theo nào thảm nào chăn nặng trĩu. Cả hai đều chẳng dám mạo hiểm để mình chết cóng giữa trời tuyết lạnh giá mà không có đồ giữ ấm. Chúng tôi còn phải mang theo chút lương khô dự trữ, bởi nơi này hoàn toàn là một chốn hoang vu tĩnh lặng. Nhìn xuyên qua màn tuyết đang rơi, tuyệt nhiên chẳng thấy mảy may dấu vết của sự sống hay bất kỳ mái nhà nào. Mới đi được chừng một dặm, đôi chân tôi đã rã rời vì con đường quá đỗi gập ghềnh, đành phải ngồi xuống nghỉ mệt. Ngước nhìn lại, chúng tôi thấy bóng dáng Lâu đài Dracula sừng sững cắt ngang bầu trời xám xịt. Từ dưới thung lũng sâu thẳm, phối cảnh dãy Carpathian như tụt lại tít tắp phía bên dưới tòa thành. Lâu đài hiện lên với tất cả vẻ uy nghi đến ngợp thở, ngự trị trên đỉnh vách đá dựng đứng cao hàng ngàn feet, cô lập hoàn toàn với những sườn núi dốc hiểm trở vây quanh. Khung cảnh toát lên một vẻ hoang dại và quái gở đến rợn người. Từ xa thẳm, tiếng chó sói tru tréo vọng lại. Bầy sói hãy còn ở rất xa, thế nhưng âm thanh ấy dẫu đã bị bức màn tuyết chết chóc bóp nghẹt, vẫn reo rắc nỗi kinh hoàng khôn tả. Nhìn cách Giáo sư Van Helsing rảo mắt dò xét xung quanh, tôi biết ông đang cố tìm một điểm phòng ngự chiến lược, nơi chúng tôi có thể ẩn náu và ít bị lộ nhất nếu chẳng may bị tấn công. Con đường lởm chởm vẫn ngoằn ngoèo chúi xuống dưới; chúng tôi chỉ có thể lần mò theo từng đoạn đường nhòa đi dưới lớp tuyết dạt.

Một chốc sau, Giáo sư vẫy tay ra hiệu. Tôi gắng gượng đứng dậy và bước tới chỗ ông. Ông vừa tìm được một chỗ ẩn nấp tuyệt vời, một hốc đá tự nhiên với lối vào hẹp tựa như cánh cửa lọt thỏm giữa hai tảng đá khổng lồ. Ông nắm tay kéo tôi vào trong và bảo: "Nhìn kìa! Ở đây cháu sẽ được che chở an toàn. Nếu bầy sói có mò tới, ta cũng dễ dàng hạ gục từng con một." Rồi ông mang những tấm áo lông thú vào, cẩn thận trải thành một ổ nằm êm ái cho tôi. Ông lấy chút lương thực ra và ép tôi ăn vài miếng. Nhưng tôi nuốt không trôi; chỉ cần nghĩ đến việc ăn uống lúc này thôi cũng đủ khiến tôi buồn nôn. Dù rất muốn làm Giáo sư vui lòng, tôi vẫn chẳng thể ép nổi bản thân. Nét mặt ông thoáng buồn, song ông chẳng buông lời trách móc. Lôi chiếc ống nhòm khỏi bao, ông trèo lên đỉnh tảng đá và bắt đầu săm soi đường chân trời bao la. Chợt ông cất tiếng kêu thất thanh:-

"Nhìn kìa! Phu nhân Mina, nhìn kìa! Nhìn kìa!" Tôi giật nảy mình, lập tức chồm dậy trèo lên phiến đá đứng cạnh ông. Giáo sư dúi chiếc ống nhòm vào tay tôi rồi chỉ tay về phía trước. Tuyết lúc này trút xuống ngày một dày đặc, cuồn cuộn xoáy tung mù mịt theo từng luồng gió giật mạnh. Dẫu vậy, qua những khoảng lặng ngắn ngủi giữa các trận cuồng phong, tầm mắt tôi vẫn có thể phóng ra rất xa. Từ vị trí trên cao này, cảnh vật trải rộng đến vô tận. Nơi tít tắp phía chân trời, vượt ra ngoài vùng tuyết trắng hoang lương, dòng sông hiện lên hệt như một dải ruy băng đen ngòm, vặn vẹo và uốn lượn ngoằn ngoèo xẻ dọc đồng bằng. Ngay trước mặt, ở một khoảng cách không xa-thực ra là gần đến độ tôi phải tự hỏi sao ban nãy cả hai lại chẳng mảy may chú ý-một toán người cưỡi ngựa đang hối hả lao tới. Nằm lọt thỏm giữa đội hình hộ tống ấy là một cỗ xe bò, một chiếc xe cồng kềnh tròng trành văng từ bên này sang bên kia hệt như chiếc đuôi chó đang vẫy, liên tục chao đảo sau mỗi cú xóc nảy tàn khốc của mặt đường. Khi chúng hiện rõ dần trên nền tuyết, tôi nhận ra qua cách ăn vận, gã đàn ông kia dường như là đám nông dân hoặc người Digan nào đó.

Yên vị trên thùng xe là một chiếc rương vuông vức, khổng lồ. Tim tôi như thót lại khi vừa thoắt trông thấy nó; một linh cảm mãnh liệt ập đến rằng hồi kết đã cận kề. Bóng chiều đang dần buông xuống. Hơn ai hết, tôi biết quá rõ: ngay khi hoàng hôn chạm ngõ, Thứ đó-vật vẫn luôn bị giam cầm trong cỗ quan tài kia-sẽ vùng lên tóm lấy sự tự do vừa được thức tỉnh. Hắn có thể tùy ý biến hình thành bất cứ thứ gì để luồn lách khỏi mọi sự truy đuổi. Kinh hãi tột độ, tôi vội vã quay sang Giáo sư. Nhưng thật kinh ngạc, ông đã biến mất khỏi tảng đá. Một tẹo sau, tôi mới phát hiện ông đang lom khom phía dưới. Xung quanh tảng đá, ông đang cẩn thận vẽ một vòng tròn ranh giới bảo vệ, hệt như vòng tròn đã che chở chúng tôi đêm qua. Vạch xong nét cuối, ông trèo lên đứng lại bên tôi, khẽ gật đầu:-

"Ít nhất thì ở đây, cháu sẽ được an toàn khỏi hắn!" Ông đỡ lấy chiếc ống nhòm từ tay tôi, chớp lấy cơ hội tuyết vừa ngừng rơi để quét mắt một lượt khắp khoảng không gian mênh mông bên dưới. "Nhìn kìa," ông thốt lên, "chúng đang tới rất nhanh; chúng đang ra roi quất ngựa, phóng thục mạng hết tốc lực." Ông khựng lại một nhịp rồi tiếp lời, giọng the thé vì căng thẳng:-

"Chúng đang chạy đua với hoàng hôn. Rất có thể chúng ta đã trễ một bước. Cầu xin Ý Chúa sẽ được thực thi!" Ngay lúc đó, một trận cuồng phong mang theo bão tuyết mù mịt lại ập tới, xóa nhòa mọi cảnh vật trước mắt. Rất may, cơn bão mau chóng đi qua. Lần nữa, Giáo sư lại dán chặt mắt vào chiếc ống nhòm, đăm đăm soi xuống đồng bằng. Đột nhiên, ông thảng thốt kêu lên:-

"Nhìn kìa! Nhìn kìa! Nhìn kìa! Hãy xem, hai kỵ sĩ đang bám riết thật sát, xông tới từ phía nam. Chắc chắn là Quincey và John rồi. Cầm lấy ống nhòm đi cháu! Mau nhìn đi trước khi tuyết lại vùi lấp tất cả!" Tôi vội cầm lấy và nheo mắt nhìn. Hai bóng người kia có lẽ là Bác sĩ Seward và anh Morris. Ít ra, tôi chắc mẩm cả hai đều không phải là Jonathan. Nhưng đồng thời, linh tính cũng mách bảo tôi biết rằng Jonathan chẳng hề ở xa. Đưa mắt quét một vòng, tôi phát hiện ở mặt bắc của toán hộ tống đang tiến tới kia, có thêm hai bóng ngựa khác đang lao đi với tốc độ xé gió. Một người trong số họ, tôi nhận ra ngay là Jonathan của tôi, và người còn lại không ai khác ngoài Lãnh chúa Godalming. Họ cũng đang dốc toàn lực truy kích cỗ xe bò. Nghe tôi reo lên báo tin, Giáo sư hét toáng lên đầy sung sướng hệt như một cậu học trò bé nhỏ. Ông cứ mải miết nhìn đăm đăm về phía xa cho đến khi những bông tuyết mù mịt che khuất tầm nhìn, rồi mới chịu đặt khẩu súng trường Winchester4 tựa sát lối vào hốc đá, chốt sẵn nòng để có thể khai hỏa bất cứ lúc nào. "Tất cả mọi người đang hội quân," ông gật gù. "Khi thời khắc điểm, ta sẽ vây hãm lũ Digan từ mọi hướng." Tôi cũng lên đạn khẩu súng lục ổ quay, lăm lăm cầm chắc trên tay; bởi ngay giữa lúc chúng tôi đang nói chuyện, tiếng sói tru đã vọng lại lớn hơn và sát rạt hơn nhiều. Tranh thủ cơn bão tuyết vừa lặng đi đôi chút, chúng tôi lại phóng tầm mắt ra xa. Thật kỳ dị làm sao, xung quanh chúng tôi tuyết vẫn trút xuống từng bông lớn trĩu nặng, vậy mà phía chân trời xa thẳm, mặt trời lại tỏa sáng rực rỡ và chói chang hơn bao giờ hết trên chặng đường chìm dần sau những đỉnh núi. Đưa ống nhòm đảo qua một lượt, tôi rùng mình nhận ra lác đác vài chấm đen đang lởn vởn di chuyển-con thì đi lẻ, con thì đi thành cặp, thành nhóm ba, hoặc đông hơn thế. Bầy sói đang rảo bước tụ tập lại để săn mồi.

Từng khắc trôi qua trong lúc chực chờ dài đằng đẵng tựa hàng thế kỷ. Những cơn gió buốt giá rít lên dữ dội, cuốn phăng những bông tuyết bằng một cơn cuồng nộ hung hãn và tàn nhẫn giội thẳng vào chúng tôi theo từng vòng xoáy tròn sắc lẹm. Có lúc, chúng tôi mù tịt chẳng thể nhìn xa quá một sải tay; nhưng cũng có những khoảnh khắc, gió như rẽ ra một khe hở lướt qua, quét sạch không gian quang đãng cho phép đôi mắt phóng ra tận đằng xa. Chẳng mấy chốc, hai bác cháu tôi đã quá quen với quy luật mọc lặn của mặt trời nơi này; chúng tôi thừa biết thời khắc nó lặn hẳn xuống núi đã cận kề. Nhìn đồng hồ, tôi khó lòng tin được rằng mới chỉ chưa đầy một giờ đồng hồ ẩn náu trong hốc đá, các nhóm người rải rác đã bắt đầu thu hẹp khoảng cách lại sát gần chúng tôi đến thế. Bão táp nay lại đổi hướng, trút xuống những luồng càn quét hung tợn và cay nghiệt hơn, rít liên hồi từ phương bắc. Tuy nhiên, dường như luồng cuồng phong ấy cũng xé tan những đám mây tuyết nặng nề, khiến tuyết chỉ còn vãi xuống theo từng đợt thưa thớt đột ngột. Tầm nhìn đã đủ rõ để chúng tôi có thể phân biệt được từng nhân dạng giữa hai phe truy đuổi và bị truy đuổi. Thật kỳ lạ, đám người bị truy đuổi dường như chẳng mảy may nhận ra, hoặc ít ra là chẳng thèm bận tâm đến việc có kẻ bám gót; thế nhưng, càng lúc vầng dương càng rớt thõng xuống mặt núi, bọn chúng càng ra roi quất ngựa nhanh gấp bội phần.

Khoảng cách ngày một rút ngắn. Giáo sư và tôi thu mình nép chặt sau gờ đá, vũ khí lăm lăm trong tay. Từ ánh mắt rực lửa của ông, tôi biết ông đã quyết tâm tử chiến, không để một gã nào lọt qua. Tuyệt nhiên chẳng một kẻ nào trong số chúng phát giác ra sự phục kích của chúng tôi.

Đột nhiên, hai tiếng thét uy dũng vang lên chấn động không gian: "Đứng lại!" Một là giọng của Jonathan của tôi, cao vút lên chất chứa niềm căm phẫn sục sôi; giọng còn lại là âm điệu thép gai mạnh mẽ, lạnh lùng nhưng kiên quyết của anh Morris. Đám Digan có thể không hiểu tiếng Anh, song cái âm sắc rợn người đầy sát khí ấy thì chẳng thể nào lầm lẫn được, bất kể nó được phát ra bằng ngôn ngữ gì. Bản năng sinh tồn mách bảo chúng lập tức ghì cương giật ngược ngựa lại. Ngay chớp mắt ấy, Lãnh chúa Godalming và Jonathan phi nước đại áp sát từ một cánh, trong khi Bác sĩ Seward cùng anh Morris ập tới từ hướng đối diện. Tên thủ lĩnh Digan-một gã đàn ông lực lưỡng với dáng vẻ ngang tàng vạm vỡ, cưỡi ngựa điêu luyện tựa một nhân mã5-lập tức phẩy tay quát nhóm chúng tôi lùi ra, rồi chửi rủa ầm ĩ ra lệnh cho đồng bọn phá vòng vây xông tới. Đám Digan hung hãn thúc ngựa chồm lên; nhưng bốn quý ông của chúng tôi đã đồng loạt nâng nòng súng trường Winchester lên vai, nhắm thẳng mục tiêu. Mệnh lệnh dừng lại được khẳng định qua những họng súng đen ngòm không thể chối cãi. Đúng lúc ấy, Giáo sư Van Helsing và tôi cũng bật dậy khỏi tảng đá, giương cao vũ khí chĩa thẳng vào toán hộ tống. Phát hiện mình đã sa vào vòng vây thiên la địa võng, đám Digan hốt hoảng siết chặt dây cương khựng lại. Tên thủ lĩnh quay ngoắt sang đồng bọn rống lên một mệnh lệnh. Tức thì, toàn bộ lũ Digan nhất tề rút vũ khí, người lăm lăm dao găm chớp lóa, kẻ lôi súng lục ra khỏi bao, vào thế sẵn sàng huyết chiến. Bầu không khí lập tức đặc quánh mùi chết chóc, ngàn cân treo sợi tóc.

Gã thủ lĩnh giật mạnh dây cương, phóng ngựa lao vọt lên đầu trận tuyến. Hắn đưa tay chỉ thẳng vào vầng dương-lúc này đã chìm lỉm, chỉ còn vương lại chút ánh tà chập choạng bám lấy rặng đồi-rồi lại chỉ về hướng tòa lâu đài, gào lên một tràng tiếng lóng mà tôi chẳng tài nào hiểu nổi. Đáp trả lại lời thách thức ấy, cả bốn hiệp sĩ phe tôi đồng loạt quăng mình khỏi yên ngựa, xông thẳng về phía cỗ xe bò. Đáng lý ra, tôi phải run lên bần bật vì hoảng loạn khi thấy Jonathan lao mình vào hiểm nguy tột cùng như vậy. Nhưng không, ngọn lửa nhiệt huyết hừng hực của trận tử chiến dường như đã thiêu rụi mọi nỗi sợ hãi trong tôi, truyền cho tôi cái cuồng khí của những người chiến binh. Tôi chẳng còn biết sợ là gì, trong lồng ngực chỉ sục sôi một khao khát cháy bỏng muốn lao vào giáp lá cà, làm một điều gì đó để sát cánh cùng họ. Trông thấy hành động chớp nhoáng của chúng tôi, gã thủ lĩnh Digan lại gầm lên. Đám lâu la của hắn lập tức ùa vào xúm đen xúm đỏ quanh cỗ xe bò tạo thành một vòng tròn phòng thủ lộn xộn, chen lấn xô đẩy giẫm đạp lên nhau vì luống cuống muốn thi hành lệnh.

Giữa mớ hỗn độn ẩu đả ấy, tôi vẫn kịp nhìn thấy Jonathan đang xông xáo ở một bên phòng tuyến, còn Quincey tả xung hữu đột ở đầu bên kia. Cả hai không ngừng lách mình dạt đám đông để áp sát cỗ xe; họ quyết tử phải hoàn thành nhiệm vụ trước khi mặt trời khuất bóng hoàn toàn. Dường như chẳng một thế lực nào trên cõi đời này đủ sức ngáng chân hay làm họ chùn bước. Dù là họng súng đen ngòm nhắm thẳng mặt, hay hàng chục mũi dao Digan sắc lẹm loang loáng trước mắt, kể cả tiếng sói tru rợn tóc gáy réo gọi ở đằng sau, cũng chẳng hề làm họ phân tâm. Sự xông xáo táo bạo đến điên rồ của Jonathan cùng ý chí sắt đá hiện rõ trên khuôn mặt anh tựa hồ đã reo rắc nỗi kinh hoàng cho lũ Digan ngáng đường. Theo bản năng, đám côn đồ sợ hãi co rúm lại, vội dạt vỡ làm đôi nhường đường cho anh tiến bước. Nhanh như cắt, Jonathan phóng phắt lên xe. Bằng một sức mạnh phi thường ngoài sức tưởng tượng, anh bẩy tung chiếc hộp khổng lồ lên, ném nó văng qua bánh xe rơi đánh uỵch xuống nền tuyết. Ở phía đối diện, anh Morris lại phải dùng vũ lực đổ máu mới chọc thủng được phòng tuyến của toán Szgany. Trong lúc tôi đang nín thở dõi theo từng cử động của Jonathan, qua khóe mắt, tôi kinh hoàng chứng kiến anh Morris lao lên một cách tuyệt vọng giữa rừng đao kiếm. Những lưỡi dao Digan chớp lên những tia sáng lạnh lẽo khi anh liều mình lao xuyên qua chúng, và bọn chúng đã phập những nhát dao oan nghiệt vào thân thể anh. Anh vung con dao bowie6 lớn lên gạt phăng những đòn tấn công, và ban đầu, tôi ngỡ rằng anh đã tai qua nạn khỏi. Nhưng ôi không, khi anh tung mình nhảy bổ đến sát bên Jonathan-người vừa lao xuống khỏi cỗ xe-tôi đứt ruột nhìn thấy tay trái anh đang ôm chặt mạn sườn, máu tươi ứa ra đỏ lựng qua những kẽ tay. Bất chấp vết thương chí mạng, anh chẳng chút chần chừ do dự. Trong khi Jonathan dồn toàn bộ nguồn sinh lực tuyệt vọng cuối cùng nện thẳng vào một đầu chiếc rương, điên cuồng bẩy bung nắp bằng con dao Kukri bản rộng, thì ở đầu bên kia, anh Morris cũng điên tiết đâm những nhát dao bowie quyết liệt. Dưới nỗ lực hợp đồng tác chiến phi thường của hai người đàn ông, chiếc nắp gỗ nặng nề bắt đầu suy chuyển. Những chiếc đinh sắt khổng lồ bị bẩy bật gốc, phát ra những tiếng rít the thé đinh tai nhức óc, rồi nắp quan tài bị hất tung lật ngửa ra sau.

Lúc này, đám Digan, nhận ra mình đã hoàn toàn lọt vào tầm ngắm sinh tử của những khẩu Winchester chết chóc, sinh mạng chỉ còn phụ thuộc vào lòng từ bi của Lãnh chúa Godalming và Bác sĩ Seward, liền buông vũ khí quy hàng. Mặt trời đã ngập chìm phân nửa dưới những chỏm núi, hắt cái bóng của cả nhóm kéo dài lê thê trên nền tuyết trắng toát. Tôi nhìn trân trân vào xác tên Bá tước đang nằm cứng đờ trong chiếc hòm vỡ nát dưới đất. Cú va đập thô bạo khi rơi khỏi xe đã làm thứ đất bẩn thỉu văng tung tóe lên mặt mũi hắn. Gương mặt hắn tái nhợt như chính cái chết, lạnh lẽo và cứng nhắc hệt một pho tượng sáp. Thế nhưng, đôi mắt đỏ ngầu vẫn trợn ngược, hằn học nhìn chằm chằm bằng cái nhìn oán độc, một khao khát trả thù tàn khốc kinh hoàng mà tôi đã khắc cốt ghi tâm.

Trong khoảnh khắc tôi sững sờ đối thị, đôi mắt ác quỷ ấy cũng kịp bắt được tia sáng thoi thóp cuối cùng của vầng thái dương đang lịm tắt. Ngay tắp lự, cái nhìn căm hận tột độ bỗng vụt biến thành tia đắc thắng ngạo nghễ.

Nhưng, ngay trong chớp mắt sinh tử ấy, lưỡi dao Kukri khổng lồ của Jonathan đã vung lên, lướt xé gió và lóe lên một vệt sáng lạnh lùng. Tôi thét lên kinh hãi khi thấy nó chém một đường sắc lẹm xé toạc cổ họng tên ác quỷ. Và gần như cùng lúc đó, lưỡi dao bowie sắc bén của anh Morris cũng giáng thẳng xuống, cắm phập xuyên thủng trái tim hắn.

Thật hệt như một phép màu nhiệm màu! Ngay trước mắt chúng tôi, chỉ trong cái tích tắc của một nhịp thở, toàn bộ cơ thể ma quỷ ấy lập tức vỡ vụn, tan thành một luồng cát bụi mịt mù rồi vĩnh viễn bốc hơi khỏi thế gian.

Cho đến tận giây phút cuối đời, tôi sẽ luôn cảm thấy ấm lòng khi nhớ lại khoảnh khắc tan biến cuối cùng ấy; trên khuôn mặt ác quỷ chợt đọng lại một nét thanh thản lạ lùng-một vẻ bình yên thanh thản diệu kỳ mà tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng sẽ có ngày được chứng kiến trên khuôn mặt hắn.

Lâu đài Dracula giờ đây chỉ còn là một cái bóng đen sừng sững in hằn trên nền trời đỏ rực. Từng phiến đá trên những mảng thành lũy đổ nát phơi mình rõ nét dưới những tia sáng nhạt nhòa của ráng chiều hôm.

Đám người Digan, chắc mẩm rằng bằng một tà thuật kỳ bí nào đó, chính chúng tôi là nguyên nhân khiến cái xác chết bốc hơi không tì vết, liền lặng lẽ quay gót, chẳng dám hé răng nửa lời. Chúng hoảng loạn quất ngựa bỏ chạy thục mạng như ma đuổi. Đám không có ngựa thì vội vã đánh đu leo lên cỗ xe hàng, gào thét van lạy những kẻ cưỡi ngựa xin đừng vứt bỏ mình. Bầy sói ban nãy còn nấn ná ở một khoảng cách an toàn, nay cũng đánh hơi thấy nỗi sợ hãi, bám gót theo đám tàn quân chạy trốn, trả lại cho chúng tôi không gian vắng lặng quạnh hiu.

Anh Morris, lúc này đã đổ gục xuống nền tuyết lạnh lẽo, gắng gượng chống một bên khuỷu tay lên, tay kia vẫn ôm ghì lấy vết thương hở toác ở mạn sườn. Dòng máu nóng hổi vẫn ồng ộc tuôn trào qua từng kẽ tay. Tôi lao như bay đến bên anh, bởi vòng tròn Thánh giờ đây đã không còn cản trở tôi nữa; hai vị bác sĩ cũng vội vã ùa tới. Jonathan quỳ gối ngay sau lưng người đồng đội dũng cảm, để anh tựa vầng trán bê bết mồ hôi lên bờ vai vững chãi của chồng tôi. Khẽ buông một tiếng thở dài nặng nhọc, anh dồn chút tàn lực cuối cùng, dùng bàn tay không vấy máu yếu ớt nắm lấy tay tôi. Chắc hẳn anh đã đọc thấu cõi lòng tan nát của tôi hiện rõ mồn một trên nét mặt, bởi anh khẽ mỉm cười hiền từ, thì thầm:-

"Tôi thấy quá đỗi hạnh phúc vì đã được dâng hiến sức lực của mình phu nhân ạ! Ôi, lạy Chúa lòng lành!" Đột nhiên anh thốt lên, rướn người cố gượng ngồi dậy, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào tôi, "Thật quá xứng đáng để đánh đổi sinh mạng vì điều này! Nhìn kìa! Nhìn kìa!"

Vầng dương giờ đã lẩn khuất hoàn toàn sau ngọn núi, hắt những tia sáng đỏ ối cuối ngày rọi thẳng lên khuôn mặt tôi, phủ lên nó một lớp ánh sáng hồng hào diệu kỳ. Như được thôi thúc bởi một thế lực vô hình, tất cả những người đàn ông đồng loạt quỳ rạp xuống. Một tiếng "Amen" vang lên chân thành và nghẹn ngào từ sâu thẳm tâm can khi ánh mắt họ đều đổ dồn theo hướng ngón tay anh chỉ. Bằng hơi thở đang thoi thóp rời bỏ nhục thể, người đàn ông ấy thều thào những lời trăng trối:-

"Giờ thì tạ ơn Chúa, mọi hy sinh đã không hoài phí! Mọi người nhìn kìa! Ngay cả tuyết trắng cũng chẳng thể nào tinh khiết hơn vầng trán của phu nhân! Lời nguyền độc địa đã vĩnh viễn được hóa giải!"

Và rồi, giữa nỗi bi thương tột cùng cay đắng của những người ở lại, mang theo một nụ cười mãn nguyện và chìm vào cõi thinh lặng ngàn thu, anh đã trút hơi thở cuối cùng. Anh đã ra đi như thế, hệt như một quý ông quả cảm nhất thế gian.



  1. Một thành phố lịch sử nằm ở phía bắc vùng Transylvania (nay thuộc Romania), là cửa ngõ quan trọng nối liền khu vực đồng bằng với vùng núi non hiểm trở. 

  2. Hệ thống núi lớn thứ hai ở châu Âu, trải dài qua khu vực Đông Âu. Nơi đây nổi tiếng với địa hình hiểm trở, rừng rậm hoang vu và là bối cảnh của nhiều truyền thuyết rùng rợn. 

  3. Dịch từ "Un-Dead" trong nguyên tác, một thuật ngữ do chính tác giả Bram Stoker phổ biến để chỉ ma cà rồng: những sinh vật đã chết nhưng vẫn mang thân xác động đậy, lay lắt tồn tại bằng cách hút máu người sống. 

  4. Dòng súng trường nổi tiếng của Mỹ vào thế kỷ 19, được mệnh danh là "Khẩu súng chinh phục miền Tây" nhờ tốc độ nạp đạn nhanh. Nó đại diện cho sức mạnh hỏa lực hiện đại của thời kỳ này. 

  5. Sinh vật trong thần thoại Hy Lạp có nửa thân trên là người, nửa thân dưới là ngựa. Từ này thường được dùng làm phép ẩn dụ để khen ngợi một kỵ sĩ cưỡi ngựa cực kỳ tài tình, giống như đã hòa làm một với con vật. 

  6. Một loại dao chiến đấu cỡ lớn của nước Mỹ với phần mũi nhọn vát ngược. Đây là món vũ khí quen thuộc và mang tính biểu tượng của những người tiên phong mở cõi ở vùng biên giới hoang dã.