CHƯƠNG VIII. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA MINA MURRAY

Cùng ngày, 11 giờ đêm.-Ôi, mình rã rời quá! Nếu chẳng vì xem việc viết nhật ký như một nghĩa vụ phải làm, có lẽ tối nay mình đã chẳng buồn mở nó ra. Hai đứa mình vừa có một chuyến tản bộ tuyệt vời. Lucy, sau một thoáng chốc, bỗng trở nên vui vẻ hoạt bát hẳn lên. Mình nghĩ ấy là nhờ vài chú bò dễ thương đã tò mò xán lại gần hít ngửi bọn mình trên cánh đồng cạnh ngọn hải đăng, phen ấy làm cả hai được một mẻ sợ mất vía. Chắc mẩm lúc đó hai đứa đã quên sạch mọi thứ trên đời ngoài nỗi sợ, và điều này dường như đã cuốn phăng mọi muộn phiền, mang lại cho bọn mình một khởi đầu mới mẻ. Hai đứa đã thưởng thức một bữa "trà chiều thịnh soạn" ngon lành tuyệt đỉnh ở Vịnh Robin Hood, bên trong một nhà trọ nhỏ xinh xắn mang đậm nét hoài cổ. Nơi ấy có khung cửa sổ lồi vươn hẳn ra phía ngoài, nằm vắt vẻo ngay trên những tảng đá phủ đầy rong biển ven bờ. Mình tin chắc sức ăn của bọn mình hẳn sẽ khiến những "Người Phụ Nữ Mới"1 phải tròn mắt kinh ngạc. Đàn ông thì rộng lượng hơn nhiều, xin Chúa ban phước cho họ! Sau đó, bọn mình rảo bước về nhà, dọc đường cứ chốc chốc lại phải dừng chân nghỉ mệt, hay đúng hơn là nghỉ rất nhiều lần, trong bụng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ sẽ chạm trán lũ bò tót hung dữ. Lucy quả thực đã mệt lử, nên hai đứa định bụng sẽ lên giường đi ngủ càng sớm càng tốt. Thế nhưng, vị mục sư trẻ tuổi lại ghé thăm, và bà Westenra đã nài ép ông ở lại dùng bữa tối. Cả Lucy và mình đều phải gồng mình chống chọi với cơn buồn ngủ rũ rượi; mình biết đó là một trận chiến vô cùng gian nan, và bản thân mình đã thật sự anh dũng. Mình thầm nghĩ, có lẽ một ngày nào đó các vị giám mục nên họp bàn xem xét việc đào tạo một thế hệ mục sư mới-những người kiên quyết chối từ mọi lời mời dùng bữa tối dù có bị nài nỉ đến đâu, và là những người tinh tế nhận ra khi nào các quý cô đang mệt mỏi. Lúc này, Lucy đang say giấc nồng, nhịp thở vô cùng êm ái. Đôi gò má cậu ấy ửng hồng hơn lệ thường, và trông cậu ấy, ôi chao, mới ngọt ngào làm sao! Nếu ông Holmwood đã trót say đắm cậu ấy khi chỉ mới ngắm nhìn trong phòng khách, mình tự hỏi ông ấy sẽ thốt lên điều gì nếu được chiêm ngưỡng cậu ấy ngay khoảnh khắc này. Chắc hẳn, một ngày nào đó, các nhà văn thuộc phong trào "Người Phụ Nữ Mới" sẽ khởi xướng ý tưởng rằng nam nữ nên được phép nhìn ngắm nhau lúc ngủ say trước khi ngỏ lời hay chấp thuận cầu hôn. Dẫu vậy, mình đoán chừng "Người Phụ Nữ Mới" trong tương lai sẽ chẳng chịu hạ mình chấp nhận lời cầu hôn đâu; nàng sẽ tự mình ngỏ lời luôn cho xem. Và nàng sẽ làm điều đó theo một cách thật tuyệt vời! Ít ra, cũng có đôi chút an ủi trong viễn cảnh ấy. Tối nay mình cảm thấy ngập tràn hạnh phúc, vì Lucy yêu dấu có vẻ đã khá hơn rất nhiều. Mình thật tâm tin rằng cậu ấy đã bước qua giai đoạn khó khăn nhất, và bọn mình đã rũ bỏ được mớ rắc rối liên quan đến những giấc mơ kỳ lạ của cậu ấy. Mình sẽ hoàn toàn viên mãn nếu biết được Jonathan đang... Cầu xin Chúa ban phước và chở che cho anh ấy.

Ngày 11 tháng Tám, 3 giờ sáng.-Lại đành lôi nhật ký ra viết. Lúc này mình chẳng tài nào chợp mắt nổi, nên thà viết đôi dòng còn hơn. Tâm trí mình đang quá đỗi kích động để có thể dỗ giấc ngủ. Bọn mình vừa trải qua một chuyến phiêu lưu, hay đúng hơn là một trải nghiệm kinh hoàng tột độ. Mình đã thiếp đi ngay khi vừa gập cuốn sổ lại... Vậy mà đột nhiên, mình choàng tỉnh giấc, ngồi bật dậy với một nỗi kinh hoàng bủa vây, đi kèm cảm giác trống hoác đến rợn người quanh mình. Căn phòng chìm trong màn đêm đen kịt, mình chẳng thể nhìn thấy giường của Lucy, đành rón rén lần bước và sờ soạng tìm kiếm. Chiếc giường lạnh tanh trống rỗng. Mình vội quẹt một que diêm, bàng hoàng nhận ra cậu ấy không hề có mặt trong phòng. Cánh cửa vẫn khép kín, nhưng chốt chưa gài, y hệt như lúc mình để lại. Sợ đánh thức mẹ cậu ấy-người dạo này sức khỏe đã sa sút hơn trước rất nhiều-mình vội vàng tròng thêm vài lớp áo, chuẩn bị đi tìm bạn. Ngay lúc bước chân ra khỏi phòng, một tia sáng chợt lóe lên: quần áo cậu ấy để lại có thể hé lộ đôi chút manh mối về ý định trong cơn mộng du. Nếu thiếu chiếc áo choàng, tức là cậu ấy đang ở loanh quanh trong nhà; còn nếu thiếu váy, nghĩa là cậu ấy đã bước ra ngoài. Nhưng cả áo choàng ngủ lẫn váy vẫn nằm yên vị. "Tạ ơn Chúa," mình thầm nhủ, "cậu ấy hẳn chưa đi xa đâu, trên người chỉ mặc độc một chiếc váy ngủ mỏng manh mà thôi." Mình lao nhanh xuống lầu, sục sạo khắp phòng khách. Chẳng thấy bóng dáng đâu! Mình lại tiếp tục xới tung mọi căn phòng đang mở cửa khác trong nhà, nỗi sợ hãi ngày một phình to, bóp nghẹt khiến trái tim mình lạnh buốt. Cuối cùng, bước ra đến cửa chính, mình điếng người phát hiện nó đang mở he hé. Không mở toang, nhưng chốt khóa đã bật ra. Mọi người trong nhà luôn cẩn thận khóa trái cửa mỗi đêm, nên mình sợ đến thắt ruột khi nghĩ tới cảnh Lucy bước ra đường bộ dạng đó. Chẳng còn lấy một giây để suy đoán xem chuyện gì đã xảy ra; một nỗi khiếp đảm mơ hồ, mãnh liệt lấn át tất cả, che mờ mọi tiểu tiết. Mình vớ vội chiếc khăn choàng lớn, sần sùi rồi lao thẳng ra ngoài trời. Đồng hồ điểm một giờ sáng lúc mình đứng ở khu Crescent, tịnh không một bóng người lại qua. Mình hớt hải chạy dọc theo Bờ Cảng Bắc, nhưng bói chẳng ra chút dấu vết nào của bóng trắng mà mình đang tuyệt vọng tìm kiếm. Đứng bên rìa Vách Tây chênh vênh ngay trên bến tàu, mình phóng tầm mắt xuyên qua bến cảng hướng về Vách Đông, với niềm hy vọng pha lẫn nỗi sợ hãi tột cùng-mà chính mình cũng chẳng rõ là cảm xúc gì-rằng sẽ tìm thấy Lucy ở chỗ ngồi yêu thích của hai đứa. Ánh trăng tròn vành vạnh sáng vằng vặc, lúc ẩn lúc hiện sau những đám mây đen xám xịt vội vã lướt qua, ném toàn bộ khung cảnh vào một màn dạo đầu của ánh sáng và bóng tối đan xen chớp nhoáng. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, mình hoàn toàn mù dở, bóng của một đám mây khổng lồ đã nuốt chửng Nhà thờ St. Mary cùng vạn vật xung quanh. Rồi khi áng mây bay đi, tàn tích tu viện dần hiện hình; và ngay lúc rìa của một dải sáng hẹp, sắc lẹm như nhát kiếm lướt ngang qua, nhà thờ cùng khu nghĩa trang cũng dần lộ diện. Bất luận mình đã chuẩn bị tinh thần ra sao, cảnh tượng trước mắt cũng không làm mình thất vọng: ngay tại đó, trên chiếc ghế thân thuộc của bọn mình, ánh trăng bàng bạc chiếu rọi vào một thân ảnh nửa nằm nửa ngồi, trắng toát như tuyết. Đám mây đen lại xô tới quá đỗi vội vàng khiến mình chưa kịp nhìn rõ, bóng đêm đã sập xuống nuốt chửng luồng sáng gần như ngay tức khắc; song mình có cảm giác rõ rệt rằng một bóng đen nào đó đang đứng sừng sững ngay phía sau lưng ghế-nơi cái bóng trắng kia đang tỏa sáng-và cúi rạp người xuống. Kẻ đó là người hay thú, mình tịnh không thể phân định; cũng chẳng dám nán lại nhìn thêm giây nào nữa, mình phóng như bay xuống những bậc thang dốc ngược dẫn đến bến tàu, sải những bước chạy thục mạng dọc theo chợ cá hướng về cây cầu-con đường độc đạo dẫn tới Vách Đông. Thị trấn tĩnh mịch như đã chết, mình chẳng bắt gặp lấy một sinh linh nào; mà lòng lại thầm cảm thấy may mắn, vì mình tịnh không muốn ai chứng kiến tình cảnh thê thảm của Lucy tội nghiệp. Thời gian và khoảng cách như kéo dãn ra vô tận, hai đầu gối run lẩy bẩy, hơi thở đứt quãng nghẹn ngào khi mình oằn lưng leo lên những bậc thang dốc dài thăm thẳm dẫn tới tu viện. Hẳn là mình đã chạy bán sống bán chết, nhưng đôi chân cứ như bị đeo chì, còn mọi khớp xương trong cơ thể thì rỉ sét rệu rã. Lúc sắp lên tới đỉnh dốc, mình đã có thể nhìn thấy chiếc ghế và cái bóng trắng nọ, khoảng cách lúc này đã đủ gần để mình nhìn thấu qua những mảng tối mờ ảo. Chắc chắn có một thứ gì đó, thon dài và đen kịt, đang cúi gập người xuống phía cái bóng trắng nửa nằm nửa ngồi ấy. Sợ hãi tột độ, mình gào lớn: "Lucy! Lucy!" Ngay lập tức, thứ đó ngẩng phắt đầu lên. Từ chỗ đang đứng, mình thoáng thấy một khuôn mặt trắng bệch nhợt nhạt và đôi mắt đỏ rực sáng quắc lên như hai hòn than. Chẳng nghe thấy tiếng Lucy hồi đáp, mình vắt chân lên cổ chạy hộc tốc về phía lối vào nghĩa trang. Khi bước vào trong, khối nhà thờ nằm chắn ngang giữa mình và chiếc ghế, khiến mình mất dấu cậu ấy chừng một phút. Lúc nhìn lại được thì mây đen đã tan, ánh trăng vằng vặc chiếu rọi sáng đến mức mình có thể thấy rõ Lucy đang ngửa đầu ra sau, nửa thân ngả ngớn trên lưng ghế. Cậu ấy hoàn toàn đơn độc, tịnh không có lấy một dấu hiệu của bất kỳ sinh vật sống nào lảng vảng xung quanh.

Khi cúi rạp người xuống, mình nhận ra cậu ấy vẫn đang say giấc. Đôi môi hé mở, cậu ấy đang thở-nhưng chẳng phải nhịp thở êm ái thường nhật, mà là những tiếng thở dốc dài, nặng nhọc, tựa hồ đang gắng sức nhồi nhét không khí cho đầy buồng phổi qua từng nhịp. Thấy mình tiến lại gần, cậu ấy vô thức đưa tay lên cởi nới cổ chiếc váy ngủ cho kín kẽ. Vừa lúc ấy, một cơn rùng mình nhẹ lướt qua thân thể mỏng manh, như thể cậu ấy đang cảm thấy ớn lạnh. Mình vội khoác chiếc khăn choàng ấm áp lên người cậu ấy, túm chặt các mép vải quanh cổ, chỉ sợ cậu ấy sẽ nhiễm khí hàn chết người của màn đêm khi chẳng có quần áo ấm che chắn. Vì sợ đánh thức cậu ấy đột ngột, mình ráng giữ cho đôi tay rảnh rỗi để tiện bề xoay xở, bèn dùng một chiếc kim băng lớn ghim chặt khăn choàng nơi cổ; nhưng chắc do luống cuống trong lúc hoảng loạn, mình đã vô ý kẹp nhầm hay châm phải da cậu ấy. Bằng cớ là một chốc sau, khi nhịp thở dần trở lại êm ái, cậu ấy lại đưa tay lên cổ và khẽ cất tiếng rên rỉ. Quấn ghém cho cậu ấy cẩn thận xong xuôi, mình mang giày vào chân bạn rồi bắt đầu lay gọi thật khẽ khàng. Ban đầu, cậu ấy chẳng mảy may phản ứng; nhưng dần dà cậu ấy bắt đầu trở mình trằn trọc trong giấc ngủ, thi thoảng buông tiếng rên rỉ và thở dài sườn sượt. Cuối cùng, nhận thấy thời gian trôi qua vùn vụt, cùng vô số lý do hối thúc khác, mình đành lay mạnh hơn để mau chóng đưa cậu ấy về nhà, cho đến khi cậu ấy chịu hé mở đôi mắt và tỉnh giấc hoàn toàn. Cậu ấy chẳng tỏ ra lấy nửa điểm ngạc nhiên khi thấy mình, bởi lẽ đương nhiên, cậu ấy vẫn chưa kịp định hình xem bản thân đang ở chốn nao. Lucy xưa nay vẫn luôn duyên dáng ngay cả lúc tỉnh giấc; và dẫu cho ở một thời khắc oái oăm thế này-khi cơ thể hẳn đang run lên bần bật vì sương lạnh, trí óc còn đôi phần mông lung lúc bừng tỉnh giữa một nghĩa địa hoang vu trong đêm tối mà thiếu vắng áo quần đủ ấm-cậu ấy vẫn toát lên vẻ thanh tao vốn có. Cậu ấy khẽ run rẩy, bấu chặt lấy mình; khi nghe mình giục về nhà ngay lập tức, cậu ấy lẳng lặng đứng dậy chẳng buông lời nào, ngoan ngoãn hệt như một đứa trẻ. Lúc hai đứa rảo bước, những viên sỏi dăm cọ xát làm chân mình đau nhói, khiến mình khẽ nhăn mặt đau đớn, và Lucy đã kịp thời tinh ý nhận ra. Cậu ấy khựng lại, khăng khăng đòi nhường giày cho mình bằng được; nhưng mình kiên quyết chối từ. Dẫu vậy, khi ra đến con đường mòn vòng ngoài nghĩa trang-nơi đọng lại một vũng nước nhỏ sau cơn bão-mình đã nhanh trí trát bùn lên chân, lấy chân nọ cọ vào chân kia, để lỡ trên đường về có chạm mặt ai đó, sẽ chẳng một ai để ý đến đôi chân trần lem luốc của mình.

May mắn thay, nữ thần may mắn đã mỉm cười, để bọn mình trót lọt về đến nhà mà không phải chạm trán một bóng người nào. Hai đứa có bắt gặp một gã đàn ông, bộ dạng trông có vẻ ngà ngà say, đang loạng choạng dạo bước dọc con phố ngay phía trước; nhưng bọn mình đã nhanh trí nấp vào một ô cửa, nín thở chờ cho gã khuất bóng nơi con hẻm hẹp dốc đứng quanh vùng này-hay còn được biết đến với tên gọi "wynd" ở vùng Scotland. Trái tim mình đập thình thịch liên hồi suốt chặng đường, đến độ đôi lúc mình tưởng chừng sắp ngất xỉu đến nơi. Lòng mình ngập ngụa bao nỗi âu lo cho Lucy-không chỉ bởi sức khỏe mong manh sợ cậu ấy nhiễm phong hàn, mà hơn thế, danh dự của cậu ấy sẽ ra sao nếu chuyện tày đình này bại lộ. Sau khi rón rén lách vào trong, gột rửa sạch đôi chân vấy bẩn và cùng nhau chắp tay dâng lời tạ ơn, mình ân cần đắp chăn dỗ cậu ấy vào giấc mộng. Trước lúc thiếp đi, cậu ấy thiết tha khẩn khoản-thậm chí nài nỉ ỉ ôi-van xin mình tuyệt đối cạy miệng không hé nửa lời với bất kỳ ai, kể cả mẹ đẻ, về chuyến du hành mộng du này. Mới đầu, mình còn khá dè dặt ngần ngại chưa muốn hứa; nhưng ngẫm lại tình cảnh sức khỏe rệu rã của bà Westenra, và việc phải gánh chịu một cú sốc như thế sẽ khiến bà lo âu hao mòn đến nhường nào, cộng thêm viễn cảnh câu chuyện này sẽ bị đám đông bóp méo dị bản ra sao-không, chắc chắn là sẽ thêu dệt tung tóe cả lên-nếu chẳng may rò rỉ, thì che giấu có lẽ là nước đi khôn ngoan nhất. Mình chân thành hy vọng quyết định này là đúng đắn. Mình đã cẩn thận khóa trái cửa phòng, gài chiếc chìa khóa buộc chặt vào cổ tay, chắc mẩm từ giờ trở đi mình sẽ không còn bị đánh thức giữa chừng nữa. Lucy đang say giấc nồng; ngoài kia, tia nắng bình minh phản chiếu đang từ từ ló rạng, hắt ánh rực rỡ từ chốn chân trời xa tít tắp trên mặt đại dương...

Cùng ngày, buổi trưa.-Mọi chuyện vẫn êm đềm trôi qua. Lucy chìm sâu vào giấc ngủ cho đến tận lúc mình đánh thức, tư thế nằm dường như chẳng xê dịch mảy may. Chuyến mạo hiểm đêm qua xem chừng không mảy may phương hại đến cậu ấy; trái lại, nó còn mang đến tác dụng thần kỳ, bởi sáng nay trông cậu ấy hồng hào khỏe khoắn hơn hẳn so với suốt mấy tuần ròng rã vừa qua. Mình vô cùng ân hận khi nhận ra sự hậu đậu của bản thân với chiếc kim băng đã vô tình làm bạn mình đau. Thực tình mà nói, chuyện này lẽ ra đã có thể rất nghiêm trọng, vì vùng da cổ nhạy cảm của cậu ấy đã bị mũi kim đâm xuyên qua. Chắc mẩm lúc cuống cuồng mình đã lỡ tay kẹp phải một nếp da mỏng rồi ghim thủng nó, bằng cớ là có hai đốm đỏ ti ti hệt như vết kim châm xuất hiện, và vương lại trên viền áo ngủ của cậu ấy là một giọt máu đỏ tươi. Trái với vẻ mặt đầy ăn năn lo lắng của mình lúc xin lỗi, cậu ấy chỉ bật cười rạng rỡ, âu yếm vuốt ve mình và bảo rằng bản thân thậm chí chẳng hề cảm thấy gì cả. May mắn thay, vết đâm ấy quá đỗi bé xíu nên chẳng thể nào để lại sẹo được.

Cùng ngày, buổi tối.-Hai đứa mình vừa trải qua một ngày ngập tràn niềm vui. Không khí quang đãng trong lành, ánh dương rực rỡ tỏa nắng, hòa quyện cùng từng cơn gió mơn man mát rượi. Bọn mình gói ghém bữa trưa mang vào tận Rừng Mulgrave; bà Westenra thong dong ngồi xe ngựa băng qua đường cái lớn, còn Lucy và mình thả bộ dọc theo con đường mòn ven vách đá, rồi hội ngộ cùng bà ngay tại cổng. Lòng mình đôi lúc cũng gợn lên chút u sầu, bởi mình cứ mãi quẩn quanh với ý nghĩ rằng mọi chuyện sẽ hạnh phúc tuyệt đối biết bao nếu có Jonathan cạnh bên. Nhưng thôi đành vậy! Mình chỉ cần nhẫn nại thêm chút nữa. Tối đến, hai đứa tản bộ dọc Casino Terrace, thả hồn vào những giai điệu du dương của Spohr và Mackenzie2, rồi rủ nhau đi ngủ sớm. Lucy dường như đã tìm lại được chốn bình yên thanh thản hơn hẳn so với dạo trước, thiếp đi gần như ngay tức khắc. Mình sẽ lại cẩn thận khóa trái cửa, giữ rịt chìa khóa bên mình hệt như đêm qua, dẫu rằng bản thân không mường tượng ra sẽ có bất kỳ sóng gió nào ập đến trong đêm nay.

Ngày 12 tháng Tám.-Linh cảm của mình đã hoàn toàn trật lất, bởi trong đêm mình đã hai lần bị đánh thức do Lucy vùng vằng đòi ra ngoài. Ngay cả trong cơn say ngủ, dường như cậu ấy cũng lộ rõ vẻ bực dọc mất kiên nhẫn khi thấy cửa đóng then cài, đành hậm hực quay trở lại giường với thái độ phản kháng rõ rệt. Mình đón ánh bình minh trong tiếng chim ca ríu rít rộn rã bên ngoài khung cửa sổ. Lucy cũng vừa tỉnh giấc, và mình mừng khấp khởi khi thấy thần sắc cậu ấy rạng rỡ, thậm chí còn khỏe khoắn hơn hẳn sáng hôm qua. Mọi sự hoạt bát vui vẻ thuở nào dường như đã hiện diện trở lại, cậu ấy nũng nịu rúc vào lòng mình, ríu rít kể lể mọi chuyện trên trời dưới biển về Arthur. Mình bộc bạch với cậu ấy nỗi lo âu canh cánh trong lòng về Jonathan, và rồi cậu ấy đã ân cần tìm mọi cách vỗ về an ủi mình. Cậu ấy cũng thành công phần nào, bởi dẫu cho sự đồng cảm chẳng thể hoán cải sự thật phũ phàng, nó cũng giúp xoa dịu nỗi đau, khiến những gánh nặng ấy trở nên dễ bề gồng gánh hơn đôi chút.

Ngày 13 tháng Tám.-Lại một ngày thanh tĩnh trôi qua, và mình lên giường đánh giấc với chiếc chìa khóa buộc chặt quanh cổ tay hệt như mọi bận. Nửa đêm, mình lại giật mình tỉnh giấc, thấy Lucy đang bật dậy trên giường, đôi mắt vẫn nhắm nghiền trong cơn say ngủ, tay chĩa thẳng về phía khung cửa sổ. Mình rón rén ngồi dậy, vén hờ tấm rèm cửa, phóng tầm mắt ngó ra ngoài. Bức tranh đêm trăng hiện lên rực rỡ lung linh, và màn giao thoa diệu kỳ của ánh sáng mơn trớn trên mặt đại dương cùng bầu trời-tất thảy hòa quyện vào nhau tạo nên một bức họa huyền bí, tĩnh mịch vĩ đại-đẹp đến độ ngôn từ nào cũng trở nên bất lực. Cắt ngang không gian giữa mình và vầng trăng sáng là bóng dáng lượn lờ của một con dơi khổng lồ, nó cứ chập chờn tới lui theo những vòng xoáy trôn ốc rộng ngoác. Đôi ba bận, nó mon men bay sà đến khá gần, nhưng-chắc mẩm vì kinh hãi khi bắt gặp bóng dáng mình-nó đã hốt hoảng vỗ cánh vụt bay băng qua bến cảng, hướng thẳng về phía tu viện. Khi mình rời khỏi cửa sổ quay ngoắt lại thì Lucy đã ngoan ngoãn nằm rạp xuống giường, chìm sâu vào giấc điệp. Cậu ấy nằm im thin thít, chẳng buồn cựa quậy mảy may suốt phần còn lại của đêm đen.

Ngày 14 tháng Tám.-Mình nán lại trên Vách Đông, mải mê đọc và viết suốt cả ngày dài. Lucy dường như cũng mê mẩn chốn này chẳng kém cạnh gì mình, hai đứa quyến luyến đến độ cứ chần chừ mãi chẳng nỡ rời bước mỗi bận đến giờ về nhà dùng bữa trưa, ăn nhẹ hay xơi tối. Chiều nay, cậu ấy buông một lời nhận xét nghe thật nực cười. Lúc ấy hai đứa đang rảo bước về nhà ăn tối, leo đến đầu cầu thang dẫn từ Bến Cảng Tây lên bèn dừng chân đứng lại vãn cảnh, hệt như thói quen thường nhật. Vầng dương đỏ ối đang chìm dần, lơ lửng sà sát chân trời, sắp sửa khuất bóng sau đỉnh Kettleness3; thứ ánh sáng rực đỏ hắt lên Vách Đông và vạt tu viện cổ kính, dường như đang tắm táp vạn vật trong một vầng hào quang hồng hào diễm lệ. Hai đứa lẳng lặng không nói không rằng một đỗi, thế rồi đột nhiên Lucy khẽ thầm thì lẩm bẩm như đang tự độc thoại với chính mình:-

"Lại là đôi mắt đỏ lựng ấy! Trông chúng vẫn y hệt như cũ." Đó là lời buông ra thật quá đỗi kỳ quặc, thốt lên hoàn toàn chẳng vì cái cớ gì, khiến mình không khỏi giật nảy mình. Mình khẽ khàng xoay người lại, vờ như không cố ý soi mói để có thể quan sát nét mặt Lucy cho tường tận, và bàng hoàng nhận ra cậu ấy đang chìm vào trạng thái lờ đờ nửa tỉnh nửa mê, với một biểu cảm quái gở mà mình chẳng tài nào cắt nghĩa nổi; vậy nên mình đành nín thinh, đưa mắt lần theo hướng nhìn của cậu ấy. Dường như cậu ấy đang đăm đăm hướng về phía chiếc ghế thân thuộc của bọn mình, nơi đang có một bóng đen đơn độc ngồi lù lù ở đó. Bản thân mình cũng có chút bàng hoàng hoảng hốt, bởi trong chớp mắt, dường như kẻ lạ mặt kia sở hữu đôi mắt to tròn, đỏ rực như hai ngọn lửa rừng rực cháy; nhưng ánh nhìn soi xét thứ hai đã lập tức đánh tan mọi ảo giác thị giác. Ánh nắng chiều tà nhạt nhòa đang rọi xiên vào các ô cửa sổ của Nhà thờ St. Mary ngay phía sau lưng chỗ ngồi của bọn mình, và khi mặt trời dần lặn, sự dịch chuyển li ti trong luồng khúc xạ và phản xạ đã tạo nên thứ hiệu ứng tựa hồ như ánh sáng đang tự bề di chuyển lấp lánh. Mình khéo léo lôi kéo sự chú ý của Lucy vào thứ hiệu ứng kỳ thú ấy, cậu ấy giật thót tỉnh lại, nhưng nét mặt buồn bã u sầu vẫn chẳng hề vơi đi; hẳn cậu ấy đang mải miết hoài niệm về đêm kinh hoàng trên đó. Bọn mình xưa nay chưa từng hé răng nhắc lại chuyện ấy nửa lời; nên mình cứ lặng thinh, rồi cả hai dắt nhau về nhà dùng bữa tối. Lucy đột nhiên nhức đầu ngấu nghiến bèn đi ngủ sớm. Thấy cậu ấy đã an giấc, mình lủi thủi đi dạo một mình vãn cảnh; bước dọc bờ vách đá hướng về phía tây, cõi lòng mình bỗng trào dâng một nỗi u hoài ngọt ngào, bởi tâm trí đang miên man nghĩ ngợi về Jonathan. Lúc quay gót trở về nhà-vầng trăng khi ấy đương sáng vằng vặc, tỏ rạng đến mức dẫu cho mặt tiền khu nhà Crescent của bọn mình đang ngập ngụa trong bóng tối, mọi cảnh vật vẫn hiển hiện mồn một-mình ngước mắt liếc nhìn lên cửa sổ phòng hai đứa, bất chợt thấy cái đầu Lucy đang vươn hẳn ra ngoài. Đinh ninh cậu ấy đang ngóng tìm mình, mình bèn rút chiếc khăn tay ra vẫy vẫy rối rít. Song cậu ấy chẳng thèm đáp lời hay mảy may đoái hoài làm bất cứ cử động gì. Vừa ngay khoảnh khắc ấy, ánh trăng vươn tới một góc tòa nhà, dội thứ ánh sáng bàng bạc vào ô cửa sổ. Hình ảnh đập vào mắt hiển hiện rành rành: Lucy đang gục đầu tỳ lên mép bệ cửa sổ, đôi mắt nhắm nghiền nhợt nhạt. Cậu ấy đang say giấc nồng, và chễm chệ đậu ngay trên bệ cửa bên cạnh bạn mình là một thứ gì đó nom giông giống một loài chim khá lớn. Sợ cậu ấy nhiễm phong hàn sinh bệnh, mình hớt hải ba chân bốn cẳng chạy vọt lên gác. Nhưng khi tông cửa xông vào phòng, cậu ấy đã lùi lại tiến về phía giường ngủ, đôi mắt vẫn nhắm nghiền trong cơn mộng mị, hơi thở mệt nhọc khó khăn; hai tay ôm khư khư lấy cổ, như thể để che chắn bảo vệ nó khỏi luồng gió lạnh buốt.

Mình chẳng nỡ đánh thức cậu ấy, chỉ ân cần đắp chăn ủ ấm cho bạn; rồi cẩn thận ngó nghiêng kiểm tra lại, rắp tâm đảm bảo cửa nẻo đã khóa trái và cửa sổ chốt chặn kỹ càng.

Trông cậu ấy mới ngọt ngào làm sao khi đang yên giấc; nhưng thần sắc nhợt nhạt xanh xao hơn hẳn thường ngày, và một vẻ hốc hác, phờ phạc hằn rõ dưới quầng mắt thâm quầng khiến mình chẳng đành lòng. Mình linh cảm cậu ấy đang chất chứa phiền muộn lo âu về một điều gì đó. Mình ước ao giá như bản thân có thể thấu tỏ căn nguyên sâu xa của câu chuyện.

Ngày 15 tháng Tám.-Hôm nay tỉnh giấc trễ nải hơn lệ thường. Lucy tỏ ra uể oải, rệu rã vô cùng, cậu ấy lại cuộn tròn chăn ngủ vùi sau khi bọn mình được gọi dậy đánh thức. Bữa sáng hôm nay mang đến một bất ngờ ngọt ngào chan chứa niềm vui. Sức khỏe cha của Arthur đã có tiến triển tốt, và ông khao khát được chứng kiến lễ cưới diễn ra sớm sủa hơn dự định. Lucy đắm chìm trong niềm hân hoan thầm lặng, còn mẹ cậu ấy thì chênh vênh giữa hai bờ vui buồn lẫn lộn. Mãi đến cuối ngày hôm đó bà mới chịu bộc bạch cõi lòng với mình. Bà rơm rớm nước mắt xót xa bởi sắp sửa mất đi Lucy-cô con gái vàng ngọc luôn kề cận bên mình bấy lâu-song thâm tâm lại khấp khởi mừng thầm vì từ nay con đã có một bờ vai vững chãi chở che bảo vệ. Ngôi sao nhỏ bé, ngọt ngào và đáng thương biết bao! Bà nghẹn ngào tâm sự với mình rằng bản thân vừa nhận được bản án tử hình lửng lơ trên đầu. Bà tuyệt nhiên chưa hé răng nửa lời với Lucy, và nài ép mình hứa phải giữ kín như bưng bí mật tày trời này; vị bác sĩ điều trị đã thông báo thẳng thừng rằng muộn nhất chỉ trong vài tháng ngắn ngủi nữa, bà sẽ vĩnh viễn nhắm mắt xuôi tay, bởi trái tim của bà đang ngày một suy kiệt tàn tạ. Bất kỳ lúc nào, dẫu là ngay khoảnh khắc này, một cú sốc đường đột gần như cầm chắc sẽ cướp đi sinh mệnh mỏng manh của bà. Ôi, ơn trời là bọn mình đã sáng suốt khi che giấu bà cái đêm mộng du kinh hoàng tột độ của Lucy.

Ngày 17 tháng Tám.-Đã bỏ bẵng việc viết lách nhật ký trong trọn vẹn hai ngày. Mình thực chẳng còn mảy may tâm trạng nào để đặt bút. Một đám mây đen đặc quánh vô hình như đang lơ lửng, vần vũ che phủ lấy hạnh phúc của bọn mình. Bặt vô âm tín về Jonathan, và Lucy thì đang héo mòn hao gầy đi trông thấy, trong khi thời khắc của mẹ cậu ấy như ngọn đèn cạn dầu chỉ còn đếm ngược từng giây. Mình hoàn toàn bất lực chẳng thể cắt nghĩa nổi sự tàn tạ khốc liệt của Lucy ngay lúc này. Cậu ấy vẫn ăn ngon miệng, chìm vào giấc ngủ an yên, thỏa thuê tận hưởng bầu không khí trong lành; thế nhưng dọc suốt quãng thời gian ấy, đôi đóa hồng trên gò má lại phai nhạt sắc thắm, sức lực cứ ngày một cạn kiệt, uể oải đến rũ rượi qua từng ngày; hằng đêm mình lại nghe thấy những tiếng thở dốc nặng nhọc hệt như cậu ấy đang ráng sức giành giật lấy từng ngụm không khí. Về đêm, mình luôn gài chặt chìa khóa cửa vào cổ tay, vậy mà cậu ấy vẫn vùng dậy thẩn thơ đi lại quanh phòng, rồi ngồi bệt bên khung cửa sổ mở toang hoác. Đêm qua, khi choàng tỉnh giấc, mình lại bắt gặp cậu ấy đang vươn nửa thân người ra ngoài. Mặc cho mình ra sức lay gọi, đánh thức mỏi mòn cũng vô vọng; cậu ấy đã lịm đi từ lúc nào. Khi mình hốt hoảng sơ cứu cho cậu ấy hồi tỉnh, cơ thể ấy mềm oặt như một thân dây leo rũ rượi; cậu ấy khóc thầm nức nở xen lẫn những lần vật vã kiếm tìm luồng hơi thở dài và đau đớn quặn thắt. Khi gặng hỏi cớ sự vì sao lại mò ra cửa sổ, cậu ấy chỉ lắc đầu im lặng, lảng tránh quay đi nơi khác. Mình khẩn cầu thầm mong cậu ấy thấy ốm yếu mệt mỏi chẳng phải vì vết kim châm xui rủi dạo nọ. Lúc nãy, nhân lúc cậu ấy đương say giấc, mình có săm soi kỹ vùng cổ, và những vết thương bé xíu kia dường như vẫn chẳng có dấu hiệu khép miệng. Chúng vẫn toác ra, nếu không muốn nói là đang ngoác rộng hơn trước, với các mép viền chớm màu trắng bệch. Trông chúng hệt như những chấm trắng li ti viền quanh cái tâm đỏ quạch. Nếu trong một hay hai ngày tới chúng không chịu lành lặn, mình nhất quyết sẽ khăng khăng mời bác sĩ đến kiểm tra cho kỳ được.

Thư, Công ty Luật Samuel F. Billington & Son, Whitby, gửi Công ty Vận tải Carter, Paterson & Co., London.

"Ngày 17 tháng Tám.

"Thưa Quý công ty,-

"Kèm theo đây, xin vui lòng nhận hóa đơn cho lô hàng gửi qua tuyến Đường sắt Great Northern4. Lô hàng này cần được khẩn trương chuyển đến Carfax, gần Purfleet, ngay khi vừa cập bến ga King’s Cross. Ngôi nhà hiện không có người ở, nhưng xin quý công ty tìm chùm chìa khóa đã được dán nhãn cẩn thận trong phong bì đính kèm.

"Xin quý công ty sắp xếp để đưa toàn bộ lô hàng, gồm 50 chiếc hộp, vào khu vực tòa nhà bán hoang phế nằm trong khuôn viên dinh thự, được đánh dấu chữ ‘A’ trên sơ đồ phác thảo. Đại diện của quý công ty sẽ dễ dàng nhận ra vị trí đó, bởi nó chính là ngôi nhà nguyện cổ kính của dinh thự. Hàng hóa sẽ rời ga chuyến 9 giờ 30 tối nay và dự kiến đến King’s Cross lúc 4 giờ 30 chiều mai. Vì thân chủ của chúng tôi rất mong muốn hoàn tất việc giao nhận càng sớm càng tốt, chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu quý công ty có thể bố trí sẵn đội ngũ vận chuyển tại ga King’s Cross vào đúng thời điểm trên, để đưa hàng hóa đến đích ngay lập tức. Nhằm tránh bất kỳ sự chậm trễ nào liên quan đến các thủ tục thanh toán nội bộ của quý công ty, chúng tôi xin đính kèm tờ séc trị giá mười bảng Anh (£10); xin vui lòng gửi xác nhận khi nhận được. Nếu chi phí thực tế thấp hơn số tiền này, quý công ty có thể hoàn trả phần dư; ngược lại, nếu vượt mức, chúng tôi cam đoan sẽ gửi ngay tờ séc thanh toán phần chênh lệch khi nhận được thông báo. Xin quý công ty lưu ý để lại chùm chìa khóa tại sảnh chính của ngôi nhà trước khi rời đi, để chủ nhân dinh thự có thể tự lấy bằng chìa khóa dự phòng.

"Mong quý công ty lượng thứ nếu chúng tôi có phần vượt quá khuôn phép xã giao trong kinh doanh khi tha thiết hối thúc quý công ty đẩy nhanh tiến độ tối đa.

"Kính thư, Công ty Luật Samuel F. Billington & Son."

Thư, Công ty Vận tải Carter, Paterson & Co., London, gửi Công ty Luật Samuel F. Billington & Son, Whitby.

"Ngày 21 tháng Tám.

"Thưa Quý công ty,-

"Chúng tôi xin xác nhận đã nhận được khoản thanh toán £10 và xin hoàn lại tờ séc trị giá £1 17s. 9d, là phần tiền thừa như được ghi chú trong biên lai đính kèm. Lô hàng đã được giao chuẩn xác theo đúng chỉ thị, và chùm chìa khóa cũng đã được đặt lại trong bưu kiện ở sảnh chính như yêu cầu.

"Kính thư, Đại diện Công ty Carter, Paterson & Co."

Nhật ký của Mina Murray.

Ngày 18 tháng Tám.-Hôm nay mình ngập tràn hạnh phúc khi ngồi viết trên băng ghế đá giữa nghĩa trang. Sức khỏe của Lucy đã khởi sắc đáng kinh ngạc. Đêm qua, cậu ấy ngủ một giấc thật sâu, không hề thức giấc hay đánh thức mình lần nào. Dù nét mặt vẫn còn nhợt nhạt và xanh xao đến tội nghiệp, nhưng sắc hồng phớt đã dần trở lại trên đôi má cậu ấy. Nếu nguyên nhân chỉ là bệnh thiếu máu thông thường, mình đã có thể hiểu, nhưng sự tình lại không phải vậy. Tâm trạng cậu ấy hiện rất đỗi vui tươi, tràn đầy sức sống và niềm hứng khởi. Mọi sự u sầu, ủ dột dường như đã tan biến. Cậu ấy vừa nhắc lại cho mình nghe-như thể mình cần phải được nhắc nhở vậy-về cái đêm hôm đó, và rằng chính tại nơi này, trên chiếc ghế này, mình đã tìm thấy cậu ấy đang say ngủ. Cậu ấy vừa kể, vừa tinh nghịch gõ nhẹ gót giày xuống phiến đá và đùa:-

"Đôi bàn chân bé nhỏ tội nghiệp của mình lúc đó hẳn đã bước đi êm ru nhỉ! Mình dám chắc ông lão Swales tội nghiệp sẽ bảo rằng, đó là vì mình chẳng nỡ đánh thức Geordie đâu." Thấy cậu ấy đang trong một tâm trạng cởi mở nhường ấy, mình liền hỏi liệu cậu ấy có mơ thấy gì trong cái đêm kỳ lạ đó không. Ngay trước khi cất lời, một cái nhíu mày đầy nét ngọt ngào thoáng hiện trên trán cậu ấy-cái nhíu mày mà Arthur (mình cũng đã quen gọi anh ấy là Arthur như cậu ấy) từng thổ lộ rằng anh ấy rất yêu; và thú thực, mình chẳng hề ngạc nhiên khi anh ấy đem lòng yêu nét mặt ấy. Rồi cậu ấy cất giọng, nửa như tỉnh nửa như mê, tựa hồ đang cố tự mình chắp vá lại ký ức:-

"Mình cũng không hẳn là mơ; nhưng mọi thứ hiện lên thật vô cùng chân thực. Mình chỉ một mực muốn có mặt tại chính nơi này-mình không hiểu nổi tại sao, vì dường như mình đang khiếp sợ một điều gì đó, dù chẳng rõ đó là điều gì. Mình nhớ mang máng, dẫu lúc ấy chắc hẳn mình đang ngủ, mình đã lướt qua những con phố và băng qua một cây cầu. Một con cá quẫy mình tung tóe khi mình đi ngang, mình còn cố nhoài người ra để nhìn. Rồi mình nghe thấy tiếng một bầy chó tru lên-cả thị trấn dường như ngập ngụa tiếng chó tru rền rĩ cùng một lúc-khi mình bước lên những bậc thang đá. Tiếp đó, mình có một ký ức mờ nhạt về một bóng hình cao lớn, đen ngòm với đôi mắt đỏ lựng, giống hệt cái thứ mà bọn mình đã thoáng thấy trong bóng hoàng hôn. Lúc đó, một thứ cảm giác vừa vô cùng ngọt ngào, lại vừa đắng ngắt bủa vây lấy mình; rồi mình ngỡ như đang chìm nghỉm xuống làn nước xanh thẳm sâu thẳm. Có một tiếng vo ve văng vẳng bên tai mình, hệt như những gì người ta hay kể về cảm giác của một người đang chết đuối. Mọi thứ cứ thế trôi tuột khỏi mình; linh hồn mình tưởng chừng đã thoát xác và bồng bềnh lơ lửng giữa không trung. Mình lờ mờ nhớ có một khoảnh khắc, Ngọn Hải đăng Tây hiện ra ngay bên dưới chân mình. Ngay sau đó là một nỗi đau đớn tột cùng, như thể mình đang mắc kẹt trong một trận động đất kinh hoàng. Rồi khi bừng tỉnh, mình thấy cậu đang ôm chầm lấy cơ thể mình mà lay gọi. Mình đã nhìn thấy cậu làm vậy ngay trước khi có thể cảm nhận được bàn tay cậu chạm vào mình."

Nói xong, cậu ấy bật cười. Còn mình, mình chợt thấy ớn lạnh dọc sống lưng và chỉ biết nín thở lắng nghe. Mình hoàn toàn không thích câu chuyện này chút nào, và thầm nghĩ tốt nhất là đừng để tâm trí cậu ấy vướng bận thêm vào đó nữa. Thế là bọn mình chuyển sang những chuyện khác, và Lucy lại trở về với vẻ rạng rỡ thường ngày. Khi hai đứa về đến nhà, làn gió biển trong lành đã tiếp thêm cho cậu ấy thật nhiều sinh khí, đôi má xanh xao đã thực sự ửng hồng. Bác gái vô cùng mừng rỡ khi thấy con gái như vậy, và tất cả bọn mình đã quây quần bên nhau một buổi tối thật sự ấm áp và hạnh phúc.

Ngày 19 tháng Tám.-Niềm vui, niềm vui, ôi niềm vui! Dù rằng không hẳn mọi thứ đều trọn vẹn là niềm vui. Cuối cùng thì cũng có tin tức của Jonathan. Anh ấy tội nghiệp đã ngã bệnh; đó chính là lý do vì sao anh ấy không thể viết thư. Bây giờ, khi đã biết rõ sự tình, mình không còn sợ phải đối diện hay nhắc đến điều đó nữa. Chú Hawkins đã gửi cho mình lá thư, còn tự tay viết thêm vài dòng hỏi thăm-ôi, chú ấy mới tốt bụng làm sao. Sáng mai, mình sẽ lập tức lên đường đến chỗ Jonathan, để có thể đích thân chăm sóc nếu anh ấy cần, và rồi đưa anh ấy trở về nhà. Chú Hawkins còn bảo rằng, nếu bọn mình tổ chức lễ cưới luôn ở bên đó thì cũng chẳng có gì là không tốt. Mình đã khóc nức nở khi áp lá thư của vị Nữ tu tốt bụng lên ngực cho đến khi nước mắt làm ướt sũng cả tờ giấy. Lá thư ấy viết về Jonathan, nên nó phải được nằm ở nơi gần trái tim mình nhất, bởi vì anh ấy lúc nào cũng ngự trị ở trong trái tim mình. Toàn bộ kế hoạch của chuyến đi đã được vạch ra, hành lý cũng đã tươm tất. Mình chỉ mang theo đúng một bộ váy để thay; Lucy sẽ đem rương đồ của mình lên London và giữ giúp cho đến khi mình gửi thư nhờ chuyển đến, vì biết đâu đấy... Mình không thể viết thêm được nữa; mình phải dành trọn mọi lời để nói với Jonathan, người chồng yêu dấu của mình. Giờ đây, tờ thư từng được anh ấy ngắm nhìn và chạm vào sẽ là nguồn an ủi duy nhất của mình cho đến khi hai đứa được đoàn tụ.

Thư, Nữ tu Agatha, Bệnh viện St. Joseph và Ste. Mary, Buda-Pesth, gửi Cô Wilhelmina Murray.

"Ngày 12 tháng Tám.

"Thưa Cô,-

"Tôi xin được viết bức thư này theo ý nguyện của anh Jonathan Harker. Hiện tại anh ấy vẫn chưa đủ sức khỏe để tự mình chắp bút, dẫu rằng thể trạng đang hồi phục rất tốt, tạ ơn Chúa, Thánh Joseph và Thánh Mary. Anh ấy đã được chúng tôi chăm sóc tận tình suốt gần sáu tuần qua, sau khi trải qua một cơn sốt não5 vô cùng dữ dội. Anh ấy nhờ tôi gửi gắm trọn vẹn tình yêu thương đến cô, và nhắn rằng qua chuyến thư này, tôi cũng sẽ thay mặt anh ấy viết một lá thư gửi ông Peter Hawkins tại Exeter. Bức thư đó sẽ gửi gắm lời chào kính trọng, cùng lời tạ lỗi chân thành vì sự chậm trễ này, đồng thời thông báo rằng toàn bộ công việc của anh ấy đã được hoàn tất. Anh ấy sẽ cần nán lại khu điều dưỡng trên núi của chúng tôi thêm vài tuần để tĩnh dưỡng, nhưng sau đó sẽ lập tức trở về. Anh ấy cũng dặn tôi nói với cô rằng anh ấy đã không mang theo đủ tiền mặt, và anh ấy rất muốn thanh toán sòng phẳng chi phí cho quãng thời gian lưu trú tại đây, để những người bệnh nghèo khổ khác không bị thiếu thốn sự chăm sóc.

"Kính thư, Gửi đến cô sự đồng cảm sâu sắc và mọi phước lành bình an, Nữ tu Agatha.

"Tái bút.-Bệnh nhân của tôi hiện đang say ngủ, nên tôi xin mạn phép mở lại phong thư này để chia sẻ thêm đôi điều cùng cô. Anh ấy đã tâm sự với tôi mọi điều về cô, và rằng cô sắp sửa trở thành người vợ hiền của anh ấy. Nguyện xin mọi phước lành tuôn đổ trên hai người! Các bác sĩ của chúng tôi nói rằng anh ấy hẳn đã phải trải qua một cú sốc vô cùng kinh hoàng. Trong những cơn mê sảng, những lời nói nhảm của anh ấy thật sự đáng sợ; anh ấy nhắc về bầy sói, về chất độc và máu me; về những bóng ma vất vưởng và bầy ác quỷ; và tôi e rằng tôi không dám kể thêm về những thứ hắc ám nào nữa. Xin cô hãy luôn thận trọng khi ở bên anh ấy, tuyệt đối tránh để bất kỳ điều gì tương tự kích động anh ấy trong một khoảng thời gian dài sắp tới; những di chứng của một căn bệnh như vậy sẽ chẳng thể dễ dàng phai mờ. Đáng lẽ ra chúng tôi đã báo tin cho cô từ lâu, nhưng ngặt nỗi chúng tôi không có bất cứ thông tin nào về bạn bè của anh ấy, và trên người anh ấy cũng không có thứ gì để chúng tôi có thể liên lạc. Anh ấy đến đây bằng chuyến tàu xuất phát từ Klausenburg. Người trưởng tàu nghe viên trưởng ga ở đó kể lại rằng, anh ấy đã lao thẳng vào ga, gào thét điên dại đòi mua vé để trở về nhà. Thấy thái độ kích động quá mức của anh ấy, lại biết anh ấy là người Anh, họ đã đành bán cho anh ấy tấm vé đến ga xa nhất trên tuyến đường về nhà mà con tàu đó có thể tới.

"Xin cô cứ an tâm, anh ấy đang được chăm sóc vô cùng chu đáo. Nhờ bản tính ngọt ngào và dịu dàng, anh ấy đã chiếm trọn trái tim của tất cả mọi người nơi đây. Thể trạng của anh ấy đang tiến triển rất khả quan, và tôi hoàn toàn tin tưởng rằng chỉ trong vòng vài tuần tới, anh ấy sẽ phục hồi như xưa. Dẫu vậy, xin cô hãy luôn để mắt chăm sóc anh ấy vì sự an toàn. Tôi luôn cầu xin Chúa, Thánh Joseph và Thánh Mary ban cho hai người vô vàn năm tháng hạnh phúc ở phía trước."

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 19 tháng Tám.-Đêm qua, Renfield đột ngột trải qua một sự biến chuyển kỳ lạ. Khoảng tám giờ tối, anh ta bắt đầu trở nên phấn khích bồn chồn, cứ chúi mũi đánh hơi khắp chốn hệt như một con chó săn đang lùng sục dấu vết con mồi. Người hộ lý lấy làm lạ trước thái độ này, và vốn biết tôi rất lưu tâm đến anh ta, nên đã khéo léo gợi chuyện. Thường ngày, anh ta vẫn tỏ vẻ tôn trọng, thậm chí đôi khi còn khúm núm trước người hộ lý; thế nhưng đêm nay, người hộ lý kể lại với tôi rằng anh ta trở nên vô cùng kiêu ngạo. Anh ta chẳng buồn hạ mình đáp lời người hộ lý lấy một câu. Tất cả những gì anh ta buông ra chỉ là:-

"Tôi chẳng buồn nói chuyện với anh: bây giờ anh không còn nghĩa lý gì cả; Chủ nhân sắp đến rồi."

Người hộ lý đồ chừng anh ta đang bị một cơn hưng cảm tôn giáo bộc phát chi phối. Nếu quả thật như vậy, chúng tôi sẽ phải hết sức đề phòng những rắc rối chực chờ, bởi một gã đàn ông lực lưỡng mà cùng lúc mắc phải cả chứng hưng cảm khát máu lẫn cuồng tín tôn giáo thì mối hiểm họa khôn lường biết bao. Sự kết hợp ấy thực sự đáng sợ. Lúc chín giờ, đích thân tôi đến thăm anh ta. Thái độ anh ta dành cho tôi cũng chẳng khác gì với người hộ lý; chìm đắm trong ảo tưởng vĩ cuồng về sự cao trọng của bản thân, anh ta coi sự khác biệt giữa vị bác sĩ và một anh hộ lý chỉ là con số không tròn trĩnh. Triệu chứng này quá giống hưng cảm tôn giáo, và chẳng mấy chốc anh ta sẽ hoang tưởng rẳng bản thân mình chính là Thượng Đế. Những ranh giới phân tầng nhỏ bé giữa người với người làm sao lọt vào mắt xanh của một Đấng Toàn Năng cơ chứ. Tâm trí của những kẻ điên rồ này mới bộc lộ bản thân rõ ràng làm sao! Đức Chúa Trời đích thực vẫn rủ lòng thương xót dẫu chỉ một cánh chim sẻ rơi rụng; nhưng vị Thần được nhào nặn từ thói hư vinh của con người lại chẳng buồn phân biệt nổi đâu là đại bàng và đâu là chim sẻ. Ôi, giá như nhân loại thấu hiểu được chân lý ấy!

Trong hơn nửa giờ đồng hồ, sự kích động của Renfield cứ thế leo thang dần. Dẫu không tỏ vẻ tọc mạch, tôi vẫn âm thầm quan sát anh ta không rời mắt. Đột nhiên, ánh nhìn láo liên đặc trưng chợt lóe lên trong đôi mắt anh ta, cái ánh nhìn mà chúng tôi vẫn thường bắt gặp mỗi khi một kẻ mất trí vừa chộp được một ý tưởng rồ dại nào đó, đi kèm với cái rụt cổ và cái lắc đầu lấm lét mà bất cứ ai làm việc ở nhà thương điên cũng đã quá rành rẽ. Rồi anh ta bỗng trở nên khá trầm tĩnh, lững thững bước tới buông mình ngồi xuống mép giường với vẻ cam chịu, đưa cặp mắt đờ đẫn nhìn vào cõi không vô định. Tôi bèn nảy ý định muốn dò xét xem sự thờ ơ này là thật hay chỉ là màn kịch, nên đã cố lái câu chuyện sang lũ thú cưng của anh ta-một chủ đề chưa từng thất bại trong việc mồi chài sự chú ý nơi anh ta. Thoạt tiên anh ta làm thinh, nhưng rốt cuộc cũng gắt gỏng thốt lên:-

"Mặc xác bọn chúng! Bây giờ tôi chẳng còn màng đoái hoài gì đến chúng cả."

"Sao cơ?" Tôi hỏi. "Đừng nói với tôi là anh không còn hứng thú với lũ nhện nữa đấy nhé?" (Nhện hiện đang là nỗi ám ảnh lớn nhất của anh ta, và cuốn sổ tay bé xíu kia đã chi chít những cột số liệu ghi chép về chúng.) Đáp lại câu hỏi này, anh ta thì thào một cách đầy bí hiểm:-

"Những nàng phù dâu chỉ làm thỏa nhãn quan của những kẻ đang mỏi mòn ngóng đợi tân nương; nhưng một khi tân nương đã xuất hiện, ánh hào quang của các nàng phù dâu sẽ lụi tàn trong đôi mắt đã ngập tràn bóng hình kiều diễm."

Anh ta khăng khăng cự tuyệt giải thích thêm, cứ ngoan cố ngồi bất động trên giường suốt khoảng thời gian tôi nán lại trong phòng.

Tối nay, cơ thể tôi rã rời và tinh thần thì suy sụp thảm hại. Tâm trí tôi không sao thôi vương vấn về Lucy, tự hỏi mọi chuyện hẳn đã rẽ sang một hướng tốt đẹp biết bao nếu như định mệnh buông tha chúng tôi. Nếu tôi không thể dỗ mình vào giấc ngủ ngay lập tức, chloral6 - vị thần giấc ngủ của thời hiện đại-C2HCl3O.H2O! Tôi phải cẩn trọng để không biến thứ thuốc này thành một cơn nghiện. Không, đêm nay tôi sẽ tuyệt đối không động đến một giọt nào! Tôi đã dành trọn tâm tư để nghĩ về Lucy, và tôi sẽ không chà đạp lên hình bóng thanh khiết của em bằng cách để hình bóng ấy quyện lẫn cùng cơn mê man hóa học. Nếu buộc phải thế, tôi thà chấp nhận một đêm thức trắng...

Muộn hơn.-Thật nhẹ nhõm vì tôi đã giữ vững quyết tâm ấy; và càng tự hào hơn vì tôi đã không khuất phục trước cám dỗ. Tôi cứ nằm trằn trọc mãi, và ngay khi vừa nghe đồng hồ điểm hai tiếng boong boong, người gác đêm vội vã chạy đến chỗ tôi. Anh ta được phái lên từ khu bệnh xá để báo hung tin rằng Renfield đã tẩu thoát. Tôi vội vàng nai nịt quần áo rồi tức tốc lao xuống lầu ngay tắp lự; bệnh nhân của tôi quá sức nguy hiểm để có thể mặc kệ đi lang thang bên ngoài. Những mớ ý nghĩ điên rồ rình rập trong đầu anh ta có thể dễ dàng biến thành những hành vi bạo lực chết người nhắm vào bất kỳ kẻ qua đường mờ mịt nào. Người hộ lý đã túc trực sẵn ở đó chờ tôi. Anh ta kể rằng chỉ mới chưa đầy mười phút trước, khi ngó qua ô kính nhỏ trên cửa, anh ta vẫn còn thấy bệnh nhân đang say giấc nồng trên giường. Chợt có tiếng gãy rắc của khung cửa sổ vang lên thu hút sự chú ý của anh ta. Anh ta vội lao tới chỉ kịp thấy hai chân của Renfield vút qua ô cửa sổ, nên đã lập tức sai người lên gọi tôi. Bệnh nhân chỉ mặc độc bộ đồ ngủ mỏng manh, chắc chắn chưa thể đi quá xa. Người hộ lý cho rằng việc theo dõi xem anh ta đi đâu sẽ khôn ngoan hơn là nhào ra đuổi theo ngay, bởi anh ta e ngại có thể sẽ mất dấu bệnh nhân nếu vòng ra bằng cửa chính. Vốn có thân hình to con, người hộ lý không tài nào lách mình lọt qua ô cửa sổ hẹp. Còn tôi thì khá thanh mảnh, thế nên, nhờ sự trợ lực của anh ta, tôi đã dễ dàng chui tọt ra ngoài, đưa chân ra trước. Vì ô cửa sổ chỉ cách mặt đất chừng vài bộ, tôi đã tiếp đất một cách êm ái. Anh hộ lý nói vọng ra rằng gã điên đã rẽ trái, và chạy dọc theo một đường thẳng, nghe vậy tôi liền vắt chân lên cổ đuổi theo với tốc độ nhanh nhất có thể. Vừa xuyên qua rặng cây bao quanh nhà thương, tôi đã bắt gặp một bóng người trắng toát đang thoăn thoắt trèo qua bức tường gạch cao ngất ngưởng, bức tường vốn dùng để ngăn cách khuôn viên của chúng tôi với khu đất của ngôi nhà hoang.

Tôi lập tức quay lại, dặn dò người gác đêm tức tốc gọi thêm ba bốn tráng đinh rồi chạy theo tôi vào khuôn viên của Carfax, đề phòng "người bạn" của chúng tôi giở trò cuồng bạo. Tự tay tôi vác một chiếc thang, trèo qua bức tường rồi nhảy rào xuống phía bên kia. Tôi thấp thoáng thấy bóng dáng Renfield vừa khuất sau góc nhà, nên liền lao theo. Khi vòng qua mặt bên kia của tòa nhà, tôi thấy anh ta đang nép mình, áp chặt vào cánh cửa gỗ sồi nẹp sắt hoen gỉ của nhà nguyện cũ. Anh ta đang lầm bầm nói chuyện, dường như là với một người nào đó khuất lấp bên trong, nhưng tôi chẳng dám bước tới đủ gần để nghe lỏm xem anh ta đang nói gì, vì sợ sẽ đánh động làm anh ta hoảng hốt rồi bỏ chạy mất dạng. Khổ nỗi, đuổi bắt một bầy ong đang vỡ tổ tung bay tán loạn còn dễ thở chán so với việc phải bám theo gã điên ở trần giữa đêm hôm khuya khoắt, khi cơn thèm khát tự do đang bùng lên hừng hực trong huyết quản của anh ta! Dẫu vậy, chỉ vài phút sau, tôi nhận ra anh ta hoàn toàn mất ý thức về mọi thứ xung quanh mình. Lấy thêm can đảm, tôi đánh liều nhón gót nhích lại gần hơn-nhất là khi đám người của tôi lúc này đã trèo qua bức tường và đang từ từ siết chặt vòng vây quanh gã. Tôi nghe tiếng anh ta lầm rầm:-

"Kẻ bầy tôi túc trực ở đây để tuân phục lệnh Ngài, hỡi Chủ nhân. Kẻ bầy tôi là nô lệ hèn mọn của Ngài, và Ngài sẽ ban thưởng cho kẻ bầy tôi, bởi kẻ bầy tôi sẽ một lòng một dạ trung thành. Kẻ bầy tôi đã tôn thờ Ngài từ thủa xa xăm và từ tận phương xa. Giờ đây khi Ngài đã ngự giá gần kề, kẻ bầy tôi đang phủ phục chờ đợi thánh chỉ của Ngài. Và Ngài sẽ không nỡ bỏ quên kẻ bầy tôi chứ, hỡi Chủ nhân kính mến, trong lúc Ngài ban phát những ân huệ tốt đẹp của mình?"

Bản chất của anh ta rốt cuộc cũng chỉ là một gã ăn mày già nua và ích kỷ. Anh ta vẫn tơ tưởng đến những mẩu bánh mì và mấy con cá mọn7, ngay cả khi bản thân đang đinh ninh rằng mình đang phủ phục trước một Hiện Thân Thần Thánh. Chứng hưng cảm của anh ta đã nhào nặn nên một sự kết hợp đến là kinh ngạc. Khi chúng tôi ập vào vây bắt, anh ta đã lồng lên chống trả quyết liệt hệt như một con hổ dữ. Anh ta có sức mạnh vô song, bởi lúc ấy anh ta mang dáng dấp của một con ác thú hoang dại nhiều hơn là một con người. Cả đời làm nghề, tôi chưa từng chứng kiến gã điên nào rơi vào cơn cuồng nộ khủng khiếp đến thế; và tôi hy vọng mình sẽ không bao giờ phải thấy lại cảnh tượng này thêm lần nào nữa. Phước đức làm sao khi chúng tôi đã tiên liệu được sức mạnh và sự nguy hiểm của anh ta ngay từ đầu. Với thể lực điên cuồng và sự quyết tâm dường ấy, anh ta dư sức gây ra những thảm kịch tày trời trước khi bị tống trở lại buồng giam. Dù sao thì lúc này anh ta cũng đã bị khống chế an toàn. Dẫu có là siêu trộm Jack Sheppard8 đích thân giáng trần đi chăng nữa thì cũng đừng hòng thoát khỏi chiếc áo trói đang siết chặt lấy anh ta, chưa kể anh ta còn bị xích chặt vào bức tường lót nệm dày cộp. Những tiếng gào thét của anh ta đôi lúc nghe thật rợn tóc gáy, nhưng những khoảng lặng chết chóc ập đến ngay sau đó mới thực sự làm người ta khiếp vía, bởi trong từng cử động dù là nhỏ nhất của anh ta đều toát lên sát khí rợn người.

Mãi cho tới lúc này, anh ta mới thốt ra được những lời mạch lạc đầu tiên:-

"Kẻ bầy tôi sẽ nhẫn nại, hỡi Chủ nhân. Nó đang đến-đang đến-đang đến!"

Thế là tôi lờ mờ hiểu ý anh ta, và bản thân tôi cũng phải "đến" (với giấc ngủ) đây. Sự kích động ban nãy đã khiến tôi tưởng chừng như không thể nào chợp mắt nổi, thế nhưng việc ngồi viết những dòng nhật ký này đã giúp tâm trí tôi lắng dịu lại, và tôi cảm giác rằng đêm nay mình sẽ chợp mắt được đôi chút.



  1. Trào lưu "Người Phụ Nữ Mới" (New Woman) nổi lên vào cuối thế kỷ 19, ám chỉ những phụ nữ khao khát sự độc lập, học thức và tự do cá nhân, đi ngược lại các khuôn phép gò bó truyền thống của xã hội Victoria. 

  2. Louis Spohr (người Đức) và Alexander Mackenzie (người Scotland) là hai nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng vào thế kỷ 19, thường có các tác phẩm được biểu diễn tại những khu nghỉ mát ở Anh. 

  3. Một mũi đất nằm trên đường bờ biển vùng Yorkshire của nước Anh, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ bên bờ đại dương. 

  4. Một công ty vận tải đường sắt lớn nhất của Anh vào thế kỷ 19, đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa và hành khách lúc bấy giờ. 

  5. "Sốt não" (brain fever) là một thuật ngữ y học đặc trưng của thời Victoria, thường dùng để mô tả sự suy sụp nghiêm trọng về thể chất và tinh thần sau một cú sốc tâm lý khủng khiếp. 

  6. Một loại thuốc an thần, gây ngủ được sử dụng rộng rãi trong thế kỷ 19. Thuốc có tác dụng mạnh nhưng cũng mang đến nguy cơ gây nghiện rất cao. 

  7. Cụm từ ám chỉ đến điển tích Chúa hóa bánh và cá ra nhiều trong Kinh Thánh. Ở đây, nó mang nghĩa bóng chỉ những người hám danh lợi vật chất nhỏ nhoi, tầm thường. 

  8. Một tên trộm khét tiếng ở Anh thế kỷ 18, trở thành huyền thoại nhờ những phi vụ tẩu thoát và vượt ngục không tưởng.