CHƯƠNG VI. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA MINA MURRAY
24 tháng Bảy. Whitby.-Lucy đã đón em tại nhà ga. Cậu ấy trông ngọt ngào và đáng yêu hơn bao giờ hết. Hai đứa cùng ngồi xe đến ngôi nhà ở Crescent mà gia đình cậu ấy đã thuê. Nơi đây thật sự tuyệt đẹp. Dòng sông Esk nhỏ bé chảy hiền hòa qua một thung lũng sâu, rồi dần mở rộng ra khi uốn mình về phía bến cảng. Một chiếc cầu cạn bề thế vắt ngang bầu trời với những trụ cầu cao vút, tạo cảm giác như đang ngắm nhìn một khung cảnh xa xăm, mờ ảo. Thung lũng khoác lên mình màu xanh tươi mướt mắt, đôi bờ dốc đến nỗi nếu anh đứng trên điểm cao nhất của bờ bên này, anh có thể phóng tầm mắt thẳng sang bờ bên kia, trừ phi anh bước lại sát rìa để nhìn xuống chân mình. Những dãy nhà ở khu thị trấn cổ-nằm phía đối diện với chỗ chúng em-đều lợp mái ngói đỏ au. Chúng có vẻ như được xếp chồng lên nhau một cách lộn xộn, vô trật tự, hệt như những bức họa cổ kính về vùng Nuremberg1. Nổi bật ngay phía trên thị trấn là tàn tích của Tu viện Whitby2, nơi từng bị người Đan Mạch cướp phá hoang tàn, và cũng chính là bối cảnh của một chương trong trường ca "Marmion"3-nơi kể về cô gái bị chôn sống giữa những bức tường đá lạnh lẽo. Đó là một tàn tích tráng lệ với quy mô đồ sộ, giấu kín vô vàn những góc khuất nhuốm màu lãng mạn. Thậm chí, dân gian còn lưu truyền truyền thuyết về bóng ma của một quý bà mặc váy trắng, thỉnh thoảng lại hiện hồn bên một trong những khung cửa sổ trống hoác.
Nằm kẹp giữa tu viện và thị trấn là nhà thờ giáo xứ, được bao bọc bởi một nghĩa trang rộng thênh thang, chật kín những tấm bia mộ. Với em, đây chính là góc tuyệt vời nhất ở Whitby, bởi nó ngự trị trên đỉnh đồi, bao trọn tầm nhìn xuống bến cảng và cả vịnh biển mênh mông, kéo dài tới tận mũi đất Kettleness vươn mình ra sóng nước. Sườn đồi dốc đứng lao thẳng xuống bến cảng khiến một mảng đất bờ đã bị sạt lở, kéo theo sự đổ nát của vài ngôi mộ. Tại một góc, vệt gạch đá từ những phần mộ vỡ vụn còn nhô hẳn ra lơ lửng phía trên con đường mòn phủ đầy cát tít dưới sâu. Xuyên qua nghĩa trang là những lối đi dạo êm đềm, rải rác những chiếc ghế đá. Người ta thường rủ nhau đến đây ngồi hàng giờ liền, thả hồn vào phong cảnh và tận hưởng gió biển mặn mòi. Em chắc chắn cũng sẽ thường xuyên lui tới chốn này để ngồi làm việc. Thật vậy, em đang viết những dòng nhật ký này với cuốn sách đặt hờ trên gối, dỏng tai nghe câu chuyện tầm phào của ba ông lão ngay bên cạnh. Dường như họ dành cả ngày chỉ để ngồi trên này và mạn đàm đủ thứ chuyện trên đời.
Bến cảng thu trọn vào tầm mắt em. Một bờ kè đá granite dài tít tắp vươn mình ra biển ở phía bờ bên kia, uốn lượn hình vòng cung ở đoạn cuối, ôm lấy một ngọn hải đăng sừng sững. Một con đê biển kiên cố cũng chạy dọc bên ngoài bức tường đá ấy. Ở bờ bên này, con đê lại gập khúc thành một góc nhọn, và nơi đầu mút của nó cũng được đánh dấu bằng một ngọn hải đăng. Khoảng không hẹp giữa hai cầu tàu đóng vai trò như một cửa ngõ dẫn vào bến cảng, để rồi sau đó mặt nước đột ngột mở rộng thênh thang.
Khung cảnh lúc triều cường lên thật sự diễm lệ. Thế nhưng, khi nước rút đi, nơi đây lại cạn trơ đáy, phơi bày một vẻ hoang tàn. Chỉ còn lại duy nhất dòng nước của sông Esk vẫn mải miết chảy giữa những cồn cát, lác đác vài tảng đá nằm chơ vơ. Phía ngoài bến cảng, ở bờ bên này, có một rạn san hô khổng lồ nhô lên, trải dài chừng nửa dặm. Rìa của nó sắc nhọn như dao, chạy thẳng từ phía sau ngọn hải đăng phía nam ra khơi. Ngay tại mút cuối của rạn san hô ấy là một chiếc phao gắn chuông. Mỗi khi bão tố nổi lên, chiếc chuông lại lắc lư điên cuồng, buông vào gió những tiếng ngân nga tang tóc. Người dân quanh đây vẫn rỉ tai nhau truyền thuyết rằng, bất cứ khi nào có một con tàu bỏ mạng giữa đại dương, người ta lại mơ hồ nghe thấy tiếng chuông ấy văng vẳng vọng về. Em sẽ phải hỏi ông lão đang đi tới đằng kia về câu chuyện này mới được....
Ông ấy là một ông già cực kỳ vui tính, dù chắc hẳn tuổi tác đã rất cao, bởi khuôn mặt ông chằng chịt nếp nhăn và dúm dó tựa như lớp vỏ cây cằn cỗi. Ông lão kể với em rằng mình đã xấp xỉ một trăm tuổi, từng là thủy thủ trong hạm đội săn cá voi ở Greenland hồi trận Waterloo4 còn đang rực lửa. Thế nhưng, em e rằng ông ấy là một người mang nặng tính đa nghi. Bằng chứng là khi em gạn hỏi về tiếng chuông ma quái ngoài biển khơi hay bóng ma Quý bà Áo trắng ở tu viện, ông ấy chỉ gạt đi một cách cộc lốc:-
"Ông sẽ chẳng hơi đâu mà bận tâm về ba cái thứ vớ vẩn đó đâu, cháu ạ. Mấy chuyện đó xưa như diễm rồi. Lưu ý nhé, ông không dám quả quyết là chúng chưa từng tồn tại, nhưng ông dám vỗ ngực đảm bảo là chúng không hề xuất hiện trong thời đại của ông. Chúng chỉ dùng để lòe bịp đám khách vãng lai, dân du lịch hay những kẻ tương tự, chứ chẳng lọt lỗ tai một quý cô tốt bụng như cháu đâu. Đám vác ba lô từ York hay Leeds đến đây, những kẻ lúc nào cũng nhai ráy cá trích muối, nốc trà ừng ực và nhăm nhe lùng mua đá huyền thạch5 giá rẻ bèo thì chuyện quái gì mà họ chẳng tin sái cổ. Bản thân ông cũng tự hỏi không biết ai lại rảnh rỗi cất công đi phỉnh phờ đám người đó làm gì cơ chứ-kể cả mấy tờ báo, cũng toàn đăng những lời nhảm nhí rỗng tuếch."
Em thầm nghĩ ông lão này quả là một pho từ điển sống tuyệt vời để moi móc những câu chuyện thú vị. Thế là em bèn ngỏ ý xem ông có phiền lòng kể cho em nghe đôi chút về nghề săn cá voi thuở xưa không. Ông vừa mới hắng giọng, chỉnh lại thế ngồi để chuẩn bị tuôn trào ký ức thì đồng hồ trên tháp điểm sáu tiếng. Ngay lập tức, ông lão loạng choạng đứng dậy, phân bua:-
"Giờ ông phải đi bộ về nhà thôi, cháu ạ. Cháu gái ông không thích bị bắt phải chờ đợi khi bữa trà chiều đã dọn sẵn đâu. Ông cũng phải mất kha khá thời gian mới lê bước leo lên nổi những bậc thang đằng kia, chúng nhiều vô kể; vả lại, cháu ạ, bụng ông cũng đang sôi sùng sục theo nhịp đồng hồ rồi."
Ông lão lảo đảo bước đi. Em thấy ông đã cố rảo bước nhanh nhất có thể để đi xuống những bậc thang. Những bậc thang đá ấy vốn là một nét chấm phá đặc trưng tuyệt vời ở chốn này. Chúng nối liền từ thị trấn lên đến tận nhà thờ, đếm sơ qua cũng phải đến hàng trăm bậc-em cũng không rõ con số chính xác là bao nhiêu-nhưng chúng uốn lượn thành một đường cong thanh thoát vô cùng. Độ dốc của nó thoai thoải đến mức một con ngựa cũng có thể thong dong bước lên bước xuống dễ dàng. Em đoán chừng ban đầu chúng hẳn phải có mối liên hệ mật thiết nào đó với tu viện. Thôi, em cũng phải về nhà đây. Lucy đã ra ngoài đi thăm hỏi cùng mẹ cậu ấy. Vì đó chỉ là những buổi viếng thăm xã giao theo đúng phép lịch sự nên em đã từ chối đi cùng. Chắc giờ này hai mẹ con họ cũng đã về đến nhà rồi.
1 tháng Tám.-Em đã leo lên đây một giờ trước cùng với Lucy. Hai đứa đã có một cuộc trò chuyện vô cùng thú vị với người bạn già của em và hai người bạn khác thường xuyên nhập hội cùng ông ấy. Rõ ràng, ông cụ được xem như một vị "Nhà tiên tri" của cả nhóm. Em đồ rằng hồi còn trẻ, ông ấy chắc hẳn phải là một người cực kỳ độc đoán. Lão ngư phủ này hiếm khi chịu thừa nhận bất cứ điều gì và luôn tìm cách lấn lướt mọi người xung quanh. Nếu đuối lý không thể cãi thắng, ông ấy sẽ giở thói bắt nạt, ép họ phải im lặng, rồi tự mãn coi sự im lặng đó là cái gật đầu đồng tình với quan điểm của mình.
Lucy trông thực sự xinh đẹp và ngọt ngào trong chiếc váy bằng vải lawn trắng muốt. Từ lúc đặt chân đến đây, gương mặt cậu ấy luôn bừng sáng rạng rỡ. Em để ý thấy mấy ông lão đã không bỏ lỡ một giây nào, vội vã sấn đến ngồi cạnh cậu ấy ngay khi chúng em vừa yên vị. Cậu ấy thì luôn dịu dàng với người già; em nghĩ tất thảy bọn họ đều đã trúng tiếng sét ái tình với cậu ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thậm chí, ngay cả ông cụ bướng bỉnh của em cũng phải hạ vũ khí đầu hàng, không thèm buông lời phản bác cậu ấy nửa lời, thay vào đó lại trút gấp đôi sự hằn học sang em. Em đã cố tình mồi cho ông ấy nói về chủ đề những truyền thuyết, và ngay tắp lự, ông ấy bắt đầu đăng đàn một bài thuyết giáo tràng giang đại hải. Em phải cố gắng vận dụng trí nhớ để ghi chép lại:-
"Tất cả chỉ là những lời xạo sự, từ đầu chí cuối; bản chất nó là vậy đấy, và chẳng có gì sất. Những bóng ma ất ơ, những linh hồn bay lơ lửng, những con yêu tinh ranh ma, những con ma chó gớm ghiếc, những con ngáo ộp hay tất tần tật những thứ liên quan đến chúng chỉ dùng để dọa dẫm đám trẻ ranh và lũ đàn bà dở hơi, khiến họ sợ vỡ mật mà khóc ré lên. Chúng chẳng qua chỉ là những bong bóng xà phòng mỏng manh, chạm nhẹ là vỡ tan trong không khí. Chúng, cùng với tất thảy những điềm báo tử vong, những dấu hiệu xui xẻo hay những lời cảnh báo rùng rợn, đều là sản phẩm thêu dệt của mấy lão mục sư rảnh rỗi, mấy gã mọt sách ốm nhom ốm nhách và đám cò mồi đường sắt. Bọn họ cố tình bịa ra nhằm mục đích dọa dẫm, làm cho những gã thanh niên mới lớn phải khiếp vía, để rồi lừa mị người ta làm những việc mà bình thường có các vàng họ cũng chẳng thèm nhúng tay. Chỉ nghĩ đến chúng thôi cũng đủ khiến ông lộn ruột gan. Chà, chính những kẻ trơ trẽn đó, không thỏa mãn với việc in ấn những lời dối trá rẻ tiền lên mặt báo hay rao giảng chúng thao thao bất tuyệt từ trên bục giáo đường, nay lại muốn khắc chúng lên cả những bia mộ vĩnh cửu. Hãy thử đảo mắt nhìn quanh cháu xem, bất kể hướng nào; tất cả những tảng đá kia kìa, đang cố vươn cao cái đầu kiêu hãnh của chúng hết mức có thể, đang nghiêng ngả chực chờ-đơn giản là đang đổ gục xuống bởi sức nặng tảng đá của những lời dối trá được khắc sâu trên đó. 'Nơi đây an nghỉ thi hài' hay 'Tưởng nhớ thiêng liêng', câu nào cũng được nắn nót trên tất cả bọn chúng, vậy mà ở gần một nửa số mộ đó làm đếch gì có cái thi hài nào sất! Và những ký ức về đám người đó cũng chẳng được ma nào thèm đoái hoài, huống hồ là chuyện thiêng liêng với chả thành kính. Tất cả đều là dối trá, không có gì khác ngoài những lời dối trá được khoác lên mình hết hình thức này đến hình thức khác! Lạy Chúa tôi, sẽ là một mớ hỗn độn nực cười vô song vào Ngày Phán Xét6, khi bọn họ lóp ngóp bò lên trong những tấm áo liệm rách bươm, va vấp, chen lấn xô đẩy nhau, chật vật cố kéo lê những tấm bia mộ theo cùng để chứng minh lúc sinh thời họ đã từng cao đẹp, vĩ đại biết nhường nào. Chắc mẩm một số kẻ trong bọn họ sẽ phải run lẩy bẩy, đôi bàn tay đã mục nát và trơn tuột vì ngâm mình dưới đáy biển sâu đến mức thậm chí chẳng thể nào giữ chặt nổi tấm bia của mình."
Qua vẻ mặt tự mãn rạng rỡ của ông lão, cùng cái cách ông ấy liên tục đưa mắt nhìn quanh quất chờ đợi sự tán dương từ mấy người bạn già, em thừa biết ông ấy đang cố tình "khoe khoang" tài ăn nói. Vậy nên, em khéo léo chêm vào một câu để ông ấy có đà nói tiếp:-
"Ồ, ông Swales, ông không nói đùa đấy chứ. Chắc chắn không phải tất cả những bia mộ ở đây đều khắc những lời sai sự thật cả, đúng không ông?"
"Vớ vẩn! Họa hoằn lắm mới có một số ít không xạo sự, ngoại trừ mấy chỗ họ bốc thơm người chết hơi lố; bởi vì trên đời luôn có những kẻ ảo tưởng sức mạnh, cứ nghĩ cái bát gỗ nhà mình to vĩ đại như đại dương mênh mông, miễn cái bát đó là của riêng họ. Toàn bộ sự việc chỉ là những lời dối trá trắng trợn. Giờ thì cháu mở to mắt ra mà nhìn đây; cháu đến đây như một kẻ chân ướt chân ráo, và cháu nhìn thấy khu nghĩa địa này." Em khẽ gật đầu, thầm nghĩ tốt hơn hết là cứ ngoan ngoãn đồng ý, dù rằng có đôi chỗ em không tài nào luận ra được phương ngữ đặc sệt của ông. Em lờ mờ đoán nó có dính dáng chút ít đến nhà thờ. Ông lão thao thao bất tuyệt: "Và cháu đinh ninh trong bụng rằng, tất cả những tảng đá khổng lồ này đều được đặt ngay ngắn, tươm tất phía trên những người được chôn cất ở đây sao?" Em lại gật đầu cái rụp. "Thế thì đó chính là chỗ lòi đuôi dối trá ra đấy. Tại sao á, có tới hàng chục cái giường nằm này trống không, rỗng tuếch y như cái hộp thuốc lá của lão Dun vào tối thứ Sáu vậy." Nói đoạn, ông ấy huých cùi chỏ vào mạn sườn một người bạn già, thế là cả đám cười rú lên sằng sặc. "Và lạy Chúa tôi! Làm sao chúng có thể khác được cơ chứ? Nhìn cái kia kìa, cái nằm tít tắp phía sau con đường đám tang kia kìa: cháu đọc nó đi!" Em lững thững bước tới và cất giọng đọc:-
"Edward Spencelagh, thuyền trưởng, bị cướp biển sát hại ngoài khơi bờ biển Andres, tháng Tư năm 1854, thọ 30 tuổi." Vừa quay lại, em đã nghe giọng ông Swales vang lên:-
"Ông tự hỏi, thế thằng chả nào đã tốt bụng vác xác ông ta về tận quê nhà, để chôn cất ông ta ở chốn này? Bị cướp biển sát hại ngoài khơi bờ biển Andres cơ đấy! Thế mà cháu lại ngây thơ đinh ninh rằng thi hài của ông ta đang nằm im lìm dưới đám đất kia sao! Tại sao á, ông dư sức kể vách vách tên của cả tá người mà xương cốt họ đang rải rác dưới đáy biển Greenland tít trên kia"-ông cụ vừa nói vừa vung tay chỉ về hướng bắc-"hoặc nằm vạ vật ở những nơi mà các dòng hải lưu vô tình cuốn trôi họ đến. Xung quanh cháu rặt toàn những tảng đá là đá. Với đôi mắt trẻ trung tinh anh của mình, cháu thừa sức đọc được những dòng chữ dối trá in li ti từ tận đây cơ mà. Thử xem nào, Braithwaite Lowrey này-ông biết tỏng cha của anh ta, bị mất tích trên con tàu Lively ngoài khơi Greenland vào năm 20; hay Andrew Woodhouse, chết chìm ngoi ngóp ở cùng vùng biển đó vào năm 1777; hay John Paxton, chết đuối ngoài khơi mũi Cape Farewell vỏn vẹn một năm sau đó; hay lão John Rawlings, mà ông nội lão từng lênh đênh đi biển cùng ông, cũng chết đuối lãng nhách ở Vịnh Phần Lan vào năm 50. Cháu có nghĩ rằng ngần ấy người đàn ông sẽ phải vắt chân lên cổ đổ xô chạy về Whitby khi tiếng kèn Phán Xét vang lên không? Ông thì lại cực kỳ hoài nghi về chuyện đó đấy! Ông nói cho cháu nghe, khi họ lết được đến đây, họ sẽ húc nhau chan chát, xô đẩy nhau chí chóe y hệt như một cuộc ẩu đả giành giật trên mặt băng vào những ngày xưa cũ. Cái thời mà bọn ông lao vào nện nhau từ lúc trời tờ mờ sáng cho đến khi bóng tối nhá nhem buông xuống, rồi lại lầm lũi cố gắng băng bó vết thương cho nhau dưới ánh sáng nhờ nhờ của Bắc cực quang."
Rõ ràng đây là một câu bông đùa quen thuộc của dân bản địa, bởi vì ông cụ vừa kể vừa cười khúc khích, và những người bạn già của ông cũng hùa theo cười phá lên với vẻ vô cùng đắc chí.
"Nhưng," em rụt rè lên tiếng, "chắc chắn ông không hoàn toàn đúng đâu, bởi vì ông đã bắt đầu với một giả định vô lý rằng tất cả những người tội nghiệp đó, hay linh hồn của họ, sẽ bắt buộc phải mang theo bia mộ của chính mình vào Ngày Phán Xét. Ông có nghĩ điều đó thực sự cần thiết đến vậy không?"
"Chà, thế mấy cái bia mộ đó chình ình ra đấy để làm gì? Trả lời ông câu đó đi xem nào, thưa cô!"
"Cháu đoán là để an ủi người thân của họ chăng."
"Cháu đoán là để an ủi người thân của họ cơ đấy!" Ông cụ nhại lại với giọng điệu khinh khỉnh tột độ. "Sẽ an ủi người thân của họ kiểu quái gì khi biết tỏng những lời dối trá đang rành rành khắc trên mộ họ, và rằng mọi người ở cái chốn khỉ ho cò gáy này đều biết thừa đó là những lời dối trá?" Ông lão vung cây gậy chỉ thẳng vào một tảng đá dưới chân chúng em. Nó được đặt nằm ngửa hênh hoang như một phiến đá tảng, bên trên có kê một chiếc ghế đá, nằm chênh vênh sát ngay mép vách đá. "Đọc những lời dối trá trên phiến đá phẳng lì đó đi," ông giục. Những dòng chữ bị lật ngược so với tầm nhìn từ chỗ em đang ngồi, nhưng Lucy ngồi ở vị trí đối diện dễ nhìn hơn. Thế là cậu ấy rướn người về phía trước, cất giọng đọc:-
"Tưởng nhớ thiêng liêng về George Canon, người đã qua đời, trong niềm hy vọng về một sự phục sinh vinh quang, vào ngày 29 tháng Bảy năm 1873, do trượt ngã từ những vách đá ở Kettleness. Ngôi mộ này được dựng lên bởi người mẹ đang ôm trọn nỗi đau buồn khôn nguôi dành cho đứa con trai yêu dấu của mình. 'Anh ấy là người con trai duy nhất của mẹ anh ấy, và bà ấy là một góa phụ.' Thực sự thì, ông Swales, cháu chẳng thấy có gì đáng buồn cười trong chuyện này cả!" Cậu ấy đưa ra lời bình luận của mình một cách cực kỳ nghiêm túc, pha lẫn chút gay gắt, phật ý.
"Cháu không thấy có gì đáng buồn cười ư! Ha! ha! Nhưng đó là bởi cháu đâu có tường tận gốc gác, rằng bà mẹ đang 'đau buồn khôn nguôi' đó thực chất là một mụ phù thủy độc ác hiểm độc. Mụ ta ghét cay ghét đắng thằng con mình vì nó bị tật nguyền-một kẻ thọt chân chính hiệu-và thằng ranh cũng căm thù mụ ta đến tận xương tủy, đến mức nó đã quyết định tự tử hòng đập nát ảo vọng nhận được món tiền bảo hiểm kết xù mà mụ đã lén lút mua cho mạng sống của nó. Thằng chả đã kê súng, bắn nổ tung gần như toàn bộ phần đỉnh đầu của mình bằng một khẩu súng hỏa mai cũ rích mà người ta hay dùng để đuổi quạ. Không phải để đuổi quạ vào lúc đó đâu, bởi cái xác đẫm máu của nó đã kéo cả một bầy ruồi trâu bâu kín và lũ giòi bọ lúc nhúc đến đánh chén. Đó mới chính là cái cách mà anh ta 'ngã' từ trên những tảng đá xuống đấy. Và, về cái gọi là 'hy vọng về một sự phục sinh vinh quang', ông đã từng vểnh tai nghe chính miệng thằng chả rủa xả rằng anh ta hy vọng mình sẽ bị đày xuống chín tầng địa ngục, bởi vì bà bô anh ta quá sùng đạo nên chắc chắn mụ ta sẽ được bay thẳng lên thiên đàng, và anh ta thì tởm đến mức chẳng muốn giáp mặt mụ ta ở trển. Thế thì chẳng phải cái tảng đá đó"-ông lão vừa đay nghiến vừa vung gậy gõ mạnh chát chúa vào phiến đá-"dù nói đông nói tây thì cũng chỉ là một mớ dối trá bịa đặt hay sao? Và nó sẽ chẳng khiến ngài Thiên thần Gabriel7 phải cười sặc sụa, cười vỡ bụng khi thấy Geordie thở hổn hển, lết từng bước nặng nhọc leo lên những bậc thang với cái bia mộ chà bá giữ thăng bằng trên cái bướu của mình, và mặt dày yêu cầu Ngài nhận nó làm bằng chứng cho lòng đạo đức hay sao!"
Em á khẩu không biết phải đáp lời thế nào, nhưng Lucy đã nhanh trí chuyển hướng cuộc trò chuyện. Cậu ấy vừa đứng bật dậy vừa nói:-
"Ồ, tại sao ông lại kể cho chúng cháu nghe câu chuyện rùng rợn này chứ? Đây vốn là chỗ ngồi yêu thích nhất của cháu, và cháu không thể nào rời bỏ nó được; thế mà bây giờ cháu lại phát hiện ra mình đang ngồi chễm chệ ngay phía trên mộ của một kẻ tự tử."
"Chuyện đó sẽ chẳng mảy may làm hại cháu đâu, cô bé xinh đẹp của ông; và nó có khi còn khiến thằng bé Geordie tội nghiệp dưới mồ được an ủi, mừng rỡ khi có một cô gái xinh xắn như cháu ngồi trên đùi nó ấy chứ. Chuyện đó sẽ không làm tổn thương cháu đâu. Tại sao á, ông đã ngồi ỳ ở đây thỉnh thoảng trong suốt gần hai mươi năm ròng rã, và nó có làm sứt mẻ gì ông đâu. Đừng có bận tâm về những kẻ đang nằm ngay dưới chân cháu, hay những kẻ không còn nằm dưới đó nữa! Sẽ đến lúc cháu phải sợ xanh mắt mèo khi nhìn thấy những cái bia mộ này đồng loạt bỏ chạy mất dép, và nơi này trở nên trống hoác, xơ xác như một cánh đồng trơ toàn gốc rạ. Đồng hồ điểm rồi, và ông phải đi đây. Xin ngả mũ kính chào hai quý cô!" Và thế là ông lão lảo đảo, tập tễnh bỏ đi.
Lucy và em ngồi nán lại một lát. Cảnh sắc bày ra trước mắt chúng em quá đỗi tuyệt vời nên hai đứa đã vô thức siết chặt tay nhau. Cậu ấy lại say sưa kể đi kể lại cho em nghe về Arthur và cuộc hôn nhân sắp tới của họ. Hạnh phúc rạng ngời của cậu ấy vô tình khiến trái tim em nhói lên một chút xót xa, vì đã tròn một tháng ròng rã trôi qua, em vẫn bặt vô âm tín, không hề nhận được một dòng tin tức nào từ Jonathan.
Cùng ngày. Em đã thơ thẩn leo lên đây một mình, bởi vì lòng em đang nặng trĩu những nỗi buồn bã, bất an. Vẫn không có bức thư nào gửi cho em cả. Em thầm cầu nguyện sẽ không có chuyện gì tồi tệ xảy đến với Jonathan. Đồng hồ vừa điểm chín giờ. Em đưa mắt nhìn những luồng ánh đèn rải rác khắp thị trấn, thỉnh thoảng chúng xếp thành những hàng dài miên man dọc theo các con phố, và thỉnh thoảng lại đứng đơn độc, lẻ loi giữa màn đêm; chúng chạy dọc lên tận thượng nguồn con sông Esk và dần lụi tàn ở khúc quanh ngoằn ngoèo của thung lũng. Về phía bên trái, tầm nhìn của em bị chắn ngang bởi hình bóng đen kịt, sừng sững của mái nhà cũ nằm rạp ngay cạnh tu viện. Tiếng cừu và bầy cừu non đang kêu be be thảm thiết trên những cánh đồng trải dài đằng sau lưng em, xen lẫn đó là tiếng lốc cốc vang vọng của móng guốc một con lừa đang chậm chạp leo lên con đường lát đá gập ghềnh bên dưới. Dàn nhạc cụ trên bến tàu đang tấu lên một bản valse chói tai nhưng cực kỳ đúng nhịp, và lùi xa hơn một chút dọc theo bến cảng, có một buổi nhóm họp của Đội quân Cứu rỗi8 văng vẳng vọng lại từ một con phố nhỏ. Không ban nhạc nào nghe được âm thanh của nhau, nhưng ở trên đỉnh đồi này, em có thể thu trọn cả hai luồng âm thanh vào tai, cũng như nhìn bao quát cả hai. Em bần thần tự hỏi Jonathan lúc này đang ở nơi nao, và liệu anh ấy có đang hướng suy nghĩ về em hay không! Em ước gì anh ấy đang ở ngay đây, bên cạnh em lúc này.
Nhật ký của Bác sĩ Seward.
Ngày 5 tháng Sáu.-Càng tìm hiểu về Renfield, tôi lại càng thấy trường hợp của anh ta thêm phần thú vị. Ở con người này tồn tại những nét tính cách phát triển vô cùng mạnh mẽ: sự ích kỷ, thói giấu giếm và tính mục đích. Giá như tôi có thể thấu tỏ rốt cuộc cái mục đích kia là gì. Anh ta dường như đang ngấm ngầm ấp ủ một kế hoạch riêng, nhưng cụ thể ra sao thì tôi vẫn hoàn toàn mù tịt. Điểm sáng hiếm hoi bù đắp lại là tình yêu thương động vật, dẫu cho, thành thực mà nói, cách anh ta thể hiện đôi khi kỳ quái đến độ tôi cứ ngỡ đó đơn thuần là sự tàn nhẫn khác thường. Những con thú cưng của anh ta cũng thuộc đủ mọi chủng loại quái gở. Dạo gần đây, thú vui của anh ta là bắt ruồi. Lúc này đây, bầy ruồi trong phòng anh ta đã nhiều đến mức chính tôi cũng phải lên tiếng phàn nàn. Trái với những gì tôi dự đoán, anh ta chẳng hề nổi trận lôi đình mà lại tiếp nhận vấn đề bằng một thái độ cực kỳ nghiêm túc. Chìm trong suy tư giây lát, anh ta cất lời: "Ngài có thể cho tôi ba ngày không? Tôi sẽ dọn dẹp chúng sạch sẽ." Lẽ dĩ nhiên, tôi đồng ý. Tôi cần phải để mắt đến anh ta.
Ngày 18 tháng Sáu.-Giờ thì tâm trí anh ta đã chuyển sang loài nhện. Anh ta bắt được vài con nhện bự chảng và nhốt sẵn trong hộp. Đều đặn, anh ta lấy ruồi làm thức ăn cho nhện, thành thử số lượng ruồi đang vơi đi trông thấy, dù rằng anh ta đã dùng đến một nửa khẩu phần ăn của mình làm mồi nhử để kéo thêm ruồi từ bên ngoài vào phòng.
Ngày 1 tháng Bảy.-Lũ nhện của anh ta giờ đây lại trở thành một mối phiền toái chẳng kém gì bầy ruồi khi trước. Hôm nay, tôi đã yêu cầu anh ta phải tống khứ chúng đi. Trông anh ta có vẻ rầu rĩ. Thấy vậy, tôi liền bảo rằng, chí ít thì anh ta cũng phải dọn bớt một phần. Anh ta vui vẻ đồng ý, và tôi lại cho anh ta khoảng thời gian tương tự như lần trước để giảm thiểu số lượng. Nhưng quả thực, khi ở cạnh anh ta, tôi thấy buồn nôn vô cùng. Lúc một con nhặng xanh gớm ghiếc, bụng căng phồng vì no nê xác thối, bay vo ve vào phòng, anh ta liền chộp ngay lấy nó. Giữa hai ngón tay cái và trỏ, anh ta đắc thắng giương con nhặng lên, rồi nhanh như chớp, trước khi tôi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, anh ta đã tống nó vào miệng và nhai ngấu nghiến. Tôi mắng anh ta vì hành động gớm ghiếc ấy, thế nhưng anh ta vẫn điềm nhiên lập luận rằng con nhặng vừa ngon lại vừa bổ; rằng đó là một sinh mệnh, một sinh mệnh tràn trề sức sống, và nó đã truyền thêm sự sống cho anh ta. Điều này lóe lên trong tôi một ý tưởng, hay đúng hơn là mầm mống của một ý tưởng. Tôi phải theo dõi xem anh ta tống khứ bầy nhện kia bằng cách nào. Rõ ràng anh ta đang toan tính một điều gì đó thẳm sâu trong tâm trí, bởi anh ta luôn giữ khư khư một cuốn sổ nhỏ và liên tục ghi chép. Những trang giấy chi chít những dãy số, thường là các con số đơn lẻ được cộng dồn lại theo từng đợt, rồi các tổng số ấy lại tiếp tục được cộng dồn, hệt như cách những viên kiểm toán viên đang "tập trung" vào một chương mục nào đó vậy.
Ngày 8 tháng Bảy.-Có một sự toan tính rành rẽ ẩn trong cơn điên loạn của anh ta, và mầm mống ý tưởng trong đầu tôi đang ngày một lớn dần. Nó sẽ sớm định hình trọn vẹn, và rồi, hỡi tư duy vô thức! ngươi sẽ phải lùi bước trước người anh em hữu thức của mình. Tôi đã cố tình tránh mặt anh bạn bệnh nhân vài ngày qua, cốt để xem liệu có bất kỳ sự thay đổi nào hay không. Mọi thứ vẫn y nguyên, ngoại trừ việc anh ta đã thanh lý bớt đám thú cưng cũ và tậu thêm một niềm vui mới. Anh ta đã xoay sở tóm được một chú chim sẻ, và thậm chí còn thuần hóa được nó phần nào. Cách thức anh ta dùng để thuần hóa cũng thật đơn giản, bằng chứng là lượng nhện đã sụt giảm đi trông thấy. Ấy vậy mà đám nhện còn sót lại vẫn được cho ăn vô cùng no nê, bởi anh ta vẫn miệt mài dùng phần ăn của mình để nhử thêm ruồi vào phòng.
Ngày 19 tháng Bảy.-Mọi chuyện đang tiến triển rất tốt. Anh bạn của tôi giờ đây đang sở hữu cả một đàn chim sẻ, trong khi lũ ruồi và nhện thì gần như đã bị xóa sổ sạch trơn. Vừa thấy tôi bước vào, anh ta đã sấn tới và nài nỉ xin tôi một ân huệ-một ân huệ vô cùng, vô cùng lớn lao. Vừa nói, anh ta vừa xu nịnh tôi hệt như một chú chó nhỏ. Tôi gặng hỏi đó là chuyện gì, và anh ta đáp lại, với một niềm say sưa tột độ từ giọng nói đến cử chỉ:-
"Một con mèo con, một con mèo con ngoan ngoãn, mượt mà và tinh nghịch, để tôi có thể nô đùa, dạy dỗ và cho nó ăn-và cho ăn-và cho ăn!" Yêu cầu này chẳng hề khiến tôi bất ngờ, bởi tôi đã nhận ra đám thú cưng của anh ta cứ ngày một tăng dần về kích thước và độ lanh lợi. Có điều, tôi chẳng hề muốn bầy chim sẻ đáng yêu kia lại chịu chung số phận bị xóa sổ như đám ruồi và nhện; vì vậy tôi ậm ừ bảo sẽ xem xét, rồi tiện miệng hỏi xem liệu anh ta có thích một con mèo trưởng thành hơn là một con mèo con hay không. Sự háo hức hằn rõ trên nét mặt khi anh ta vội vàng đáp lời:-
"Ồ, có chứ, tôi muốn một con mèo lớn! Tôi chỉ xin một con mèo con vì e ngài sẽ từ chối nếu tôi đòi một con mèo lớn. Hẳn sẽ chẳng ai nỡ lòng từ chối một con mèo con đâu, đúng không ngài?" Tôi lắc đầu, bảo rằng e là lúc này chưa thể được, nhưng tôi sẽ suy nghĩ thêm. Nét mặt anh ta lập tức chùng xuống, và tôi có thể lờ mờ thấy một lời cảnh báo hiểm nguy trong đó, bởi một tia nhìn liếc ngang đầy hoang dại và hung tợn chợt lóe lên, sặc mùi chết chóc. Kẻ này đích thị là một tên cuồng sát đang trong giai đoạn phôi thai. Tôi sẽ dùng chính khao khát hiện tại của anh ta làm phép thử để xem mọi chuyện sẽ diễn tiến tới đâu; rồi tôi sẽ sớm biết thêm nhiều điều.
10 giờ tối.-Tôi lại đến thăm anh ta và bắt gặp cảnh anh ta đang ngồi thu lu trong góc, đắm chìm vào những suy nghĩ vẩn vơ. Vừa thấy tôi bước vào, anh ta đã sụp lạy dưới chân và khẩn khoản van xin tôi hãy ban cho anh ta một con mèo; rằng sự cứu rỗi của anh ta hoàn toàn phụ thuộc vào nó. Tuy nhiên, tôi vẫn kiên quyết chối từ. Ngay tức khắc, anh ta quay ngoắt đi không nói nửa lời, lầm lì ngồi xuống và bắt đầu gặm nhấm những ngón tay của mình ngay tại chính cái góc mà tôi vừa tìm thấy anh ta. Sáng sớm mai tôi sẽ lại đến thăm anh ta.
Ngày 20 tháng Bảy.-Đến thăm Renfield từ tinh mơ, trước cả khi người hộ lý đi tuần. Thấy anh ta đã thức giấc và đang nghêu ngao một giai điệu nào đó. Anh ta đang rải đều chút đường dành dụm được lên bệ cửa sổ, và rõ ràng là đang bắt tay vào phi vụ bắt ruồi mới; bắt đầu một cách đầy hứng khởi và với một phong thái vô cùng nhã nhặn. Tôi đưa mắt tìm kiếm đàn chim của anh ta, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu liền lên tiếng hỏi. Chẳng buồn quay lưng lại, anh ta hững hờ đáp rằng chúng đã bay đi cả rồi. Rải rác quanh phòng là vài chiếc lông vũ rơi vãi, và trên gối của anh ta có vương một giọt máu. Tôi chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng quay đi và dặn dò người quản lý phải lập tức báo cáo cho tôi nếu có bất cứ biểu hiện kỳ lạ nào ở anh ta trong ngày hôm nay.
11 giờ sáng.-Người hộ lý vừa hớt hải chạy đến báo cáo rằng Renfield đã nôn mửa vô cùng dữ dội, nôn ra cả một mớ lông vũ. "Bẩm bác sĩ, tôi đồ rằng," anh ta nói, "hắn ta đã ăn thịt lũ chim của mình, cứ thế tóm lấy và nhai sống chúng!"
11 giờ đêm.-Tối nay tôi đã cho Renfield uống một liều thuốc ngủ cực mạnh, đủ đô để khuất phục cả một gã như anh ta chìm vào giấc ngủ say, rồi tiện tay lấy đi cuốn sổ nhỏ để xem xét. Giả thuyết cứ ong ong trong đầu tôi suốt thời gian qua nay đã dần thành hình, và đã được chứng minh. Tên cuồng sát của tôi thuộc về một chủng loại kỳ dị hiếm thấy. Chắc hẳn tôi sẽ phải phát minh ra một hệ thống phân loại mới toanh dành riêng cho anh ta, và gọi anh ta là "kẻ cuồng ăn sinh mệnh" (zoöphagous9). Khao khát tột cùng của anh ta là hấp thụ càng nhiều sinh mạng càng tốt, và anh ta đã tự vạch ra lộ trình để đạt được điều đó theo một phương thức cộng dồn. Anh ta lấy nhiều con ruồi nuôi một con nhện, lại đem nhiều con nhện cho một con chim ăn, và giờ thì muốn có một con mèo để làm thịt bấy nhiêu con chim đó. Bước tiếp theo của anh ta sẽ là gì đây? Cuộc thử nghiệm này thực sự rất đáng để theo đuổi đến cùng. Nó hoàn toàn khả thi nếu như có một động cơ đủ lớn. Người ta vẫn thường dè bỉu thuật giải phẫu sinh thể10, nhưng hãy nhìn vào những thành tựu mà nó mang lại ngày hôm nay mà xem! Cớ sao lại không thúc đẩy khoa học tiến xa hơn ở cái khía cạnh hóc búa và mang tính sống còn nhất của nó-kiến thức về bộ não người? Một khi tôi nắm giữ được bí mật của một bộ óc như thế-nếu tôi tìm ra chiếc chìa khóa giải mã những hoang tưởng của dù chỉ một kẻ mất trí-tôi có thể đưa nhánh khoa học của riêng mình vươn tới một tầm cao mà ngay cả sinh lý học của Burdon-Sanderson11 hay kiến thức về não bộ của Ferrier12 cũng chẳng là gì khi mang ra so sánh. Giá như có một động cơ đủ lớn! Tôi không được phép suy nghĩ quá nhiều về điều này, nếu không rất có thể tôi sẽ bị cám dỗ; một mục tiêu cao đẹp có thể làm xoay chuyển cán cân trong tôi, vì biết đâu chính tôi cũng sở hữu một bộ não đặc biệt bẩm sinh thì sao?
Gã đàn ông ấy đã lập luận quá đỗi sắc bén; những kẻ mất trí vẫn thường như vậy trong thế giới của riêng chúng. Tôi tự hỏi không biết anh ta định giá một con người bằng bao nhiêu sinh mạng, hay liệu chỉ bằng một sinh mạng duy nhất. Anh ta đã chốt lại bản ghi chép của mình một cách cực kỳ chuẩn xác, và hôm nay lại bắt đầu một kỷ lục mới. Có bao nhiêu người trong chúng ta bắt đầu một kỷ lục mới mỗi ngày trong cuộc đời mình cơ chứ?
Đối với tôi, dường như mới hôm qua thôi, toàn bộ cuộc sống của tôi đã khép lại cùng với niềm hy vọng mới chớm, và rằng tôi cũng đang thực sự bắt đầu một kỷ lục mới. Mọi chuyện sẽ cứ thế tiếp diễn cho đến khi Đấng Ghi Chép Vĩ Đại tổng kết lại cuộc đời tôi và chốt lại cuốn sổ cái định mệnh với một số dư có lãi hoặc lỗ. Ôi, Lucy, Lucy, anh không thể hờn trách em, anh cũng chẳng thể giận hờn người bạn thân thiết của mình, người đang nắm giữ niềm hạnh phúc vốn dĩ thuộc về em; anh chỉ biết mòn mỏi chờ đợi trong tuyệt vọng và làm việc. Làm việc! Làm việc!
Giá như tôi cũng có được một mục tiêu cháy bỏng giống như người bạn điên rồ đáng thương kia ở đằng xa-một mục tiêu cao đẹp, không chút vị kỷ để thôi thúc tôi làm việc-thì đó hẳn sẽ là một niềm hạnh phúc tột cùng.
Nhật ký của Mina Murray.
26 tháng Bảy.-Em đang cồn cào lo lắng, và việc mượn những dòng chữ này để giãi bày tâm sự dường như khiến lòng em vơi đi đôi chút. Việc này tựa như em đang thầm thì với chính mình, rồi lại tự mình lắng nghe những thanh âm ấy. Hơn nữa, việc sử dụng các ký hiệu tốc ký mang lại một cảm giác thật khác biệt so với lối viết lách thông thường. Lòng em đang trĩu nặng ưu phiền, phần vì chuyện của Lucy, phần lại vì anh, Jonathan. Đã một khoảng thời gian dài đằng đẵng em không nhận được dòng tin nào từ anh, khiến nỗi bất an cứ ngày một lớn dần. Thế nhưng, ngày hôm qua, ngài Hawkins kính mến, người luôn dành cho em sự đối đãi tử tế, đã gửi gắm một bức thư từ anh. Em từng biên thư hỏi thăm xem ngài có nghe ngóng được chút tin tức nào không, và ngài hồi đáp rằng những lá thư đính kèm này chỉ vừa mới được gửi đến. Đó vỏn vẹn chỉ là một dòng chữ ngắn ngủi, ghi vội ngày tháng gửi từ Lâu đài Dracula, thông báo rằng anh vừa mới khởi hành để trở về nhà. Một hành động thật chẳng giống Jonathan chút nào. Em chẳng thể nào hiểu nổi, và chính điều đó càng gieo vào lòng em nỗi bất an sâu sắc.
Lại nói đến Lucy, dù thể trạng cậu ấy vẫn rất khỏe mạnh, nhưng dạo gần đây, chứng mộng du từ thuở trước lại bất ngờ tái diễn. Mẹ cậu ấy đã tâm sự với em về chuyện này, và chúng em đã thống nhất sẽ cẩn thận khóa chặt cửa phòng của cả hai vào mỗi đêm. Phu nhân Westenra cứ luôn ám ảnh bởi một ý nghĩ đáng sợ rằng những người mắc chứng mộng du sẽ thường đi thơ thẩn trên những mái nhà, hoặc men dọc theo các gờ vách đá cheo leo, để rồi bất thần tỉnh giấc và ngã nhào xuống vực sâu trong một tiếng thét tuyệt vọng vang vọng khắp không gian. Tội nghiệp phu nhân, chuyện bà nơm nớp lo sợ cho Lucy cũng là lẽ đương nhiên. Bà còn kể với em rằng, phu quân quá cố của bà, cũng chính là cha của Lucy, cũng từng mắc phải thói quen kỳ lạ này. Rằng ông sẽ thức giấc giữa đêm hôm khuya khoắt, vận trang phục và bước ra ngoài, nếu chẳng có ai kịp thời ngăn cản. Mùa thu này Lucy sẽ lên xe hoa, và cậu ấy đã bắt đầu rộn ràng lên kế hoạch cho những chiếc váy cưới lộng lẫy, cũng như cách bài trí, dọn dẹp cho tổ ấm tương lai của mình. Em vô cùng thấu hiểu và đồng cảm với cậu ấy, bởi chính em cũng đang làm những điều tương tự. Chỉ khác một nỗi, Jonathan và em sẽ bước vào cuộc sống hôn nhân một cách thật dung dị, và sẽ phải chật vật vun vén để trang trải cho cuộc sống lứa đôi.
Ông Holmwood-chính là Ngài Arthur Holmwood đáng kính, người con trai độc nhất của Huân tước Godalming-sắp sửa đến thăm nơi này, ngay khi anh ấy có thể thu xếp rời khỏi thị trấn, bởi sức khỏe của cha anh đang không được tốt. Em nghĩ Lucy thân yêu hẳn đang đếm ngược từng giây, từng phút mong ngóng ngày anh ấy xuất hiện. Cậu ấy muốn dẫn anh lên chiếc ghế nghỉ chân trên vách đá nghĩa trang, để tự hào khoe với anh vẻ đẹp kiêu hãnh của vùng Whitby. Em dám chắc rằng, chính sự chờ đợi mỏi mòn này đã khiến tâm trí cậu ấy trở nên xáo trộn. Cậu ấy rồi sẽ ổn thôi, một khi anh ấy đến nơi.
27 tháng Bảy.-Vẫn bặt vô âm tín từ Jonathan. Em bắt đầu cảm thấy nỗi bất an về anh đang gặm nhấm tâm can mình, dù chẳng hiểu cớ sao em lại phải lo lắng đến thế. Em chỉ thực sự mong mỏi anh viết cho em vài dòng chữ, dẫu chỉ là một lời nhắn nhủ ngắn ngủi. Bệnh mộng du của Lucy ngày một trở nặng hơn bao giờ hết, và đêm nào em cũng bị đánh thức bởi tiếng bước chân của cậu ấy lang thang khắp căn phòng. Thật may là thời tiết dạo này đang độ nóng bức nên cậu ấy chẳng thể nào bị nhiễm lạnh. Thế nhưng, nỗi lo âu phập phồng cùng việc giấc ngủ liên tục bị gián đoạn đang bắt đầu bào mòn chút sinh lực của em, khiến em trở nên cáu bỉnh và trằn trọc thâu đêm. Ơn Chúa, sức khỏe của Lucy vẫn đang rất ổn định. Ngài Holmwood lại bất ngờ bị gọi về Ring để túc trực bên người cha vừa lâm trọng bệnh. Lucy bồn chồn không yên vì cuộc hội ngộ đành phải hoãn lại, nhưng may thay, điều đó chẳng hề làm phai mờ đi vẻ rạng rỡ của cậu ấy. Trông cậu ấy dường như có da có thịt hơn một chút, và đôi gò má lúc nào cũng ửng lên một màu hồng phấn tươi tắn. Cậu ấy đã rũ bỏ hoàn toàn vẻ nhợt nhạt, thiếu máu thuở nào. Em thầm cầu nguyện cho vẻ rạng ngời ấy sẽ còn mãi.
3 tháng Tám.-Lại một tuần đằng đẵng nữa trôi qua, và tin tức về Jonathan vẫn bặt tăm, thậm chí ngài Hawkins cũng chẳng nhận được lấy nửa lời. Ôi, em thực lòng hy vọng anh không ốm đau bệnh tật gì. Lẽ ra anh phải viết thư cơ chứ. Em cẩn thận xem xét lại bức thư cuối cùng anh gửi, nhưng chẳng hiểu sao, nó không mảy may xoa dịu được nỗi bất an trong em. Giọng văn trong thư hoàn toàn xa lạ, chẳng hề giống với cách hành văn quen thuộc của anh, thế nhưng từng nét chữ lại đích thị là của anh. Không thể nào có sự nhầm lẫn ở đây được. Tuần qua, Lucy đã bớt mộng du hơn, nhưng em lại mơ hồ nhận ra một sự chú ý kỳ lạ toát ra từ cậu ấy mà em chẳng thể nào lý giải nổi. Ngay cả khi chìm trong giấc ngủ, dường như cậu ấy vẫn luôn dõi theo em. Cậu ấy cứ cố gắng vặn tay nắm cửa, và khi nhận ra nó đã bị khóa chặt, cậu ấy lại tha thẩn khắp phòng để lục lọi tìm kiếm chiếc chìa khóa.
6 tháng Tám.-Lại thêm ba ngày nữa trôi qua trong vô vọng, và vẫn bặt vô âm tín. Sự mỏi mòn chờ đợi này đang dần trở thành một cơn ác mộng tồi tệ. Giá như em biết phải gửi thư đến đâu, hay cất bước đi tìm ở chốn nào, lòng em hẳn sẽ nhẹ nhõm hơn đôi phần. Thế nhưng, chẳng một ai nghe ngóng được bất kỳ tin tức gì về Jonathan kể từ bức thư cuối cùng dạo ấy. Em chỉ còn biết thầm cầu xin Chúa ban cho mình đủ lòng kiên nhẫn. Lucy bỗng trở nên nhạy cảm và dễ bị kích động hơn bao giờ hết, nhưng gạt chuyện đó sang một bên thì cậu ấy vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Đêm qua, bầu trời buông xuống một vẻ đe dọa đáng sợ, và những người ngư dân trong vùng kháo nhau rằng một cơn bão lớn sắp sửa ập đến. Em phải ráng sức quan sát và học cách nhận biết những dấu hiệu thất thường của thời tiết. Hôm nay là một ngày u ám khôn tả. Ngay lúc em đang nắn nót những dòng này, mặt trời đã lẩn khuất sau những tầng mây dày đặc, lơ lửng tít trên cao, vượt qua cả mũi Kettleness. Mọi thứ xung quanh bị nuốt chửng bởi một màu xám xịt ảm đạm-chỉ trừ vạt cỏ xanh tươi vẫn kiêu hãnh vươn mình, trông tựa như một viên ngọc lục bảo rực rỡ bừng sáng giữa khung cảnh tang thương. Những vách đá xám xịt trơ trọi; những đám mây xám xịt lơ lửng, phần rìa đằng xa được nhuốm chút ánh tà dương rực rỡ, đang nặng nề trôi trên vùng biển xám xịt, nơi những dải cát vươn dài ra tựa như những ngón tay gầy guộc đầy ma mị. Biển cả đang cuộn trào thịnh nộ trên những vùng nước nông và bãi cát phẳng, cất lên một tiếng gầm rú bị bóp nghẹt giữa bức màn sương mù dày đặc đang từ khơi xa trôi dạt vào đất liền. Đường chân trời hoàn toàn lạc lối, chìm nghỉm trong một biển sương mù xám ngoét. Khắp nơi chỉ là một sự bao la, hoang hoải; những đám mây tầng tầng lớp lớp xếp chồng lên nhau như những tảng đá khổng lồ, và ngoài khơi xa vọng lại một "tiếng gầm rú" hung hiểm, tựa hồ như hồi chuông báo tử của sự diệt vong. Đâu đó trên bãi biển, những bóng đen chập chờn lúc ẩn lúc hiện, thỉnh thoảng bị nuốt chửng một nửa vào màn sương mờ ảo, trông "hệt như những cái cây đang tản bộ". Những chiếc thuyền đánh cá hối hả chạy đua với thời gian để kịp trở về, nhấp nhô tuyệt vọng trên từng đợt sóng ngầm hung bạo khi chúng lao thẳng vào bến cảng, nghiêng ngả lảo đảo như chực chờ chìm nghỉm. Kìa, ông lão Swales đang tiến về phía này. Ông bước thẳng đến chỗ em, và qua cái cách ông cung kính nâng chiếc mũ lên, em biết rằng ông đang muốn trò chuyện....
Em thực sự vô cùng xúc động trước sự thay đổi khác lạ của ông lão tội nghiệp. Khi buông mình ngồi xuống bên cạnh em, ông cất lời bằng một chất giọng trầm ấm, nhẹ nhàng đến lạ:-
"Ông có chuyện này muốn tỏ cùng cháu, thưa cô." Em dễ dàng nhận ra vẻ bồn chồn, không thoải mái của ông, nên đã chủ động nắm lấy bàn tay nhăn nheo, gầy guộc ấy ủ ấm trong tay mình, ân cần cất lời khuyến khích ông cứ mở lòng. Thế rồi ông bắt đầu giãi bày, trong khi vẫn để yên bàn tay già nua ấy nghỉ ngơi trong đôi tay em:-
"Cô bé thân mến của ông, ông e rằng những lời lẽ cay nghiệt ông thốt ra về những người đã khuất, và cả những thứ tương tự trong suốt mấy tuần qua, hẳn đã làm cháu không khỏi kinh hãi. Nhưng ông thề có Chúa, ông tuyệt nhiên không có ý đó, và ông chỉ mong cháu luôn ghi nhớ điều này khi ông nhắm mắt xuôi tay. Những kẻ già cỗi như ông thường hay lẩm cẩm đãng trí. Một chân đã bước xuống mồ, ông đâu mặn mà gì với việc ngày ngày nghĩ về cái chết, cũng chẳng muốn để nỗi sợ hãi ấy nuốt chửng lấy mình. Bởi thế, ông mới chọn cách cười nhạo và xem nhẹ nó, như một cách tự an ủi cái trái tim già nua này đôi chút. Thế nhưng, cô bé à, thưa cô, ông đây chẳng hề sợ chết, một mảy may cũng không. Chỉ là, ông cũng không muốn phải vội vàng nhắm mắt xuôi tay nếu ông vẫn có thể tự mình giành giật lấy sự sống. Trăm năm là một khoảng thời gian quá đỗi dài lâu để bất kỳ ai dám mơ mộng viển vông, và ông thì đã ở quá gần cái ngưỡng cửa tử ấy, đến độ gã Thần Chết ắt hẳn đã mài sẵn lưỡi hái sắc lẹm chờ đợi ông rồi. Cháu thấy đấy, ông chẳng thể nào dễ dàng từ bỏ cái thói quen bỡn cợt thế gian trong một sớm một chiều; cái quai hàm này vẫn cứ hoạt động theo cái cách mà nó vốn đã quen. Chắc chắn sẽ sớm thôi, Thiên thần Báo tử sẽ gióng lên hồi kèn gọi tên ông. Nhưng cháu đừng buồn bã mà rơi lệ làm gì, cô bé thân mến của ông!"-ông vội cất lời dỗ dành khi thấy dòng lệ đã ứa ra trên khóe mi em-"Nếu ngài ấy gõ cửa ngay đêm nay, ông cũng sẽ thanh thản đáp lời mà chẳng chút nao núng. Bởi suy cho cùng, cả kiếp nhân sinh này cũng chỉ là một sự mỏi mòn chờ đợi một điều gì đó khác biệt; và cái chết, xét đến cùng, lại chính là bến đỗ duy nhất mà ta có thể thực sự neo đậu. Nhưng cô bé à, ông đã mãn nguyện lắm rồi, bởi nó đang sải bước đến tìm ông, và đang đến rất nhanh. Nó có thể đang len lỏi đến ngay lúc này, ngay khi chúng ta còn đang mãi ngắm nhìn và thắc mắc. Biết đâu chừng, nó đang ẩn mình trong cơn gió cuồng nộ ngoài khơi kia, thứ gió đang gào thét mang theo mất mát, điêu tàn, cùng nỗi bi thương tột độ và vô vàn những trái tim vỡ nát. Nhìn kìa! Nhìn kìa!" ông lão bỗng nhiên thảng thốt kêu lên. "Có một thứ gì đó đang lẩn khuất trong cơn gió và trong những ngọn sóng bạc đầu ngoài kia. Nó nghe, nó nhìn, nó nếm, và nó ngửi... tất thảy đều sặc mùi tử khí. Nó đang phảng phất trong không khí; ông có thể cảm nhận rõ ràng nó đang kéo đến. Lạy Đức Chúa Trời kính mến, xin hãy ban sức mạnh để con có thể hân hoan đáp lời khi tiếng gọi của Người vang lên!" Ông thành kính dang rộng hai cánh tay gầy guộc, cung kính giơ cao chiếc mũ lên trời. Đôi môi ông mấp máy liên hồi như đang đắm chìm trong lời cầu nguyện. Sau vài phút chìm trong tĩnh lặng bâng khuâng, ông chậm rãi đứng dậy, bắt tay em, ban cho em một lời chúc phúc hiền từ, rồi mỉm cười nói lời từ biệt và tập tễnh lê bước rời đi. Tất thảy những điều ấy khiến lòng em cuộn trào một niềm xúc động mãnh liệt, và để lại trong em những xáo trộn khôn nguôi.
Em cảm thấy mừng rỡ lạ thường khi người gác biển tiến lại gần, chiếc ống nhòm quen thuộc được kẹp chặt dưới nách. Anh nán lại buông vài câu trò chuyện cùng em như lệ thường, nhưng trong suốt cuộc hàn thuyên, ánh mắt anh chưa một giây nào rời khỏi một con tàu kỳ lạ ngoài khơi xa.
"Tôi thật tình không thể nào hiểu nổi," anh lẩm bẩm; "nhìn bề ngoài, đích thị đó là một con tàu mang quốc kỳ Nga; nhưng cái cách mà nó trôi dạt trên biển thì quả là kỳ quặc hết sức. Nó cư xử như một kẻ chẳng có chút chủ kiến nào; dường như nó đã nhìn thấy cơn bão hung hãn đang ập đến, nhưng lại do dự chẳng thể quyết định nổi liệu nên tiếp tục chạy thẳng lên phía bắc tiến ra vùng biển hở, hay là đánh lái tấp vào bờ nương náu. Cô hãy nhìn lại mà xem! Nó đang bị điều khiển một cách hết sức quái gở, bởi nó dường như chẳng hề thèm bận tâm đến bàn tay con người đang ghì chặt trên vô lăng; cứ thế mặc sức thay đổi hướng đi theo từng luồng gió thổi qua. Trước giờ này ngày mai, chắc chắn chúng ta sẽ còn được nghe nhiều thông tin thú vị về con tàu ma quái này."
-
Thành phố Nuremberg (Đức) nổi tiếng với kiến trúc Trung cổ, những ngôi nhà mái ngói dốc và đường phố quanh co. Việc so sánh này nhằm gợi lên vẻ đẹp cổ kính, lộn xộn nhưng đầy nghệ thuật của thị trấn Whitby. ↩
-
Một tu viện lịch sử nổi tiếng ở Bắc Yorkshire, Anh, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7. Dáng vẻ hoang tàn của nó là một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất định hình nên không khí rùng rợn, u ám của tiểu thuyết Dracula. ↩
-
Trường ca nổi tiếng xuất bản năm 1808 của nhà thơ Sir Walter Scott. Tác phẩm kể về những sự kiện lịch sử đẫm máu và các hình phạt tàn khốc thời Trung cổ, càng làm tăng thêm vẻ ma mị cho tu viện Whitby. ↩
-
Trận Waterloo (1815) là trận chiến lịch sử nơi hoàng đế Napoleon của Pháp bị đánh bại hoàn toàn. Cột mốc này được nhắc đến nhằm nhấn mạnh rằng ông lão đã sống qua một thời kỳ vô cùng lâu đời. ↩
-
Đá huyền thạch (Whitby Jet) là một loại than đá cứng, màu đen bóng, rất được ưa chuộng làm đồ trang sức để tang dưới thời Nữ hoàng Victoria. Đây từng là một món đồ lưu niệm đặc trưng của vùng Whitby. ↩
-
Theo niềm tin Cơ Đốc giáo, Ngày Phán Xét (hay Ngày Tận Thế) là thời khắc Chúa sẽ phán xét tất cả người sống và kẻ chết. Những người đã khuất sẽ sống dậy từ cõi chết để nhận sự phán xét cuối cùng dựa trên những việc họ làm khi còn sống. ↩
-
Trong tín ngưỡng Cơ Đốc giáo, Gabriel là một trong các tổng lãnh thiên thần, người được cho là sẽ thổi tiếng kèn báo hiệu Ngày Phán Xét để gọi những linh hồn đã chết sống lại. ↩
-
Đội quân Cứu rỗi (Salvation Army) là một phong trào Cơ Đốc giáo và tổ chức từ thiện quốc tế được thành lập tại Anh vào năm 1865, thường tổ chức các buổi truyền đạo trên đường phố kèm theo âm nhạc. ↩
-
Thuật ngữ do tác giả tự tạo ra từ gốc Hy Lạp: 'zoon' (động vật/sinh vật) và 'phagein' (ăn), ám chỉ những kẻ cuồng loạn có tập tính ăn thịt hoặc hấp thụ các sinh vật sống khác để chiếm lấy sinh lực. ↩
-
Vivisection (giải phẫu sinh thể) là việc thực hiện các ca phẫu thuật trên động vật còn sống vì mục đích nghiên cứu y học. Ở thời đại Victoria, đây là một chủ đề gây tranh cãi gay gắt về mặt đạo đức. ↩
-
John Burdon-Sanderson (1828-1905) là một nhà tiên phong vĩ đại người Anh trong lĩnh vực sinh lý học. Việc nhắc đến ông cho thấy tham vọng ngông cuồng của bác sĩ Seward muốn vượt qua những bộ óc y học kiệt xuất nhất thời bấy giờ. ↩
-
David Ferrier (1843-1928) là một nhà thần kinh học lỗi lạc người Scotland. Việc so sánh với Ferrier nhấn mạnh mong muốn cháy bỏng của bác sĩ Seward trong việc giải mã những bí ẩn sâu thẳm nhất của não bộ con người. ↩
CHAPTER VI MINA MURRAY’S JOURNAL
24 July. Whitby.-Lucy met me at the station, looking sweeter and lovelier than ever, and we drove up to the house at the Crescent in which they have rooms. This is a lovely place. The little river, the Esk, runs through a deep valley, which broadens out as it comes near the harbour. A great viaduct runs across, with high piers, through which the view seems somehow further away than it really is. The valley is beautifully green, and it is so steep that when you are on the high land on either side you look right across it, unless you are near enough to see down. The houses of the old town-the side away from us-are all red-roofed, and seem piled up one over the other anyhow, like the pictures we see of Nuremberg. Right over the town is the ruin of Whitby Abbey, which was sacked by the Danes, and which is the scene of part of “Marmion,” where the girl was built up in the wall. It is a most noble ruin, of immense size, and full of beautiful and romantic bits; there is a legend that a white lady is seen in one of the windows. Between it and the town there is another church, the parish one, round which is a big graveyard, all full of tombstones. This is to my mind the nicest spot in Whitby, for it lies right over the town, and has a full view of the harbour and all up the bay to where the headland called Kettleness stretches out into the sea. It descends so steeply over the harbour that part of the bank has fallen away, and some of the graves have been destroyed. In one place part of the stonework of the graves stretches out over the sandy pathway far below. There are walks, with seats beside them, through the churchyard; and people go and sit there all day long looking at the beautiful view and enjoying the breeze. I shall come and sit here very often myself and work. Indeed, I am writing now, with my book on my knee, and listening to the talk of three old men who are sitting beside me. They seem to do nothing all day but sit up here and talk.
The harbour lies below me, with, on the far side, one long granite wall stretching out into the sea, with a curve outwards at the end of it, in the middle of which is a lighthouse. A heavy sea-wall runs along outside of it. On the near side, the sea-wall makes an elbow crooked inversely, and its end too has a lighthouse. Between the two piers there is a narrow opening into the harbour, which then suddenly widens.
It is nice at high water; but when the tide is out it shoals away to nothing, and there is merely the stream of the Esk, running between banks of sand, with rocks here and there. Outside the harbour on this side there rises for about half a mile a great reef, the sharp edge of which runs straight out from behind the south lighthouse. At the end of it is a buoy with a bell, which swings in bad weather, and sends in a mournful sound on the wind. They have a legend here that when a ship is lost bells are heard out at sea. I must ask the old man about this; he is coming this way....
He is a funny old man. He must be awfully old, for his face is all gnarled and twisted like the bark of a tree. He tells me that he is nearly a hundred, and that he was a sailor in the Greenland fishing fleet when Waterloo was fought. He is, I am afraid, a very sceptical person, for when I asked him about the bells at sea and the White Lady at the abbey he said very brusquely:-
“I wouldn’t fash masel’ about them, miss. Them things be all wore out. Mind, I don’t say that they never was, but I do say that they wasn’t in my time. They be all very well for comers and trippers, an’ the like, but not for a nice young lady like you. Them feet-folks from York and Leeds that be always eatin’ cured herrin’s an’ drinkin’ tea an’ lookin’ out to buy cheap jet would creed aught. I wonder masel’ who’d be bothered tellin’ lies to them-even the newspapers, which is full of fool-talk.” I thought he would be a good person to learn interesting things from, so I asked him if he would mind telling me something about the whale-fishing in the old days. He was just settling himself to begin when the clock struck six, whereupon he laboured to get up, and said:-
“I must gang ageeanwards home now, miss. My grand-daughter doesn’t like to be kept waitin’ when the tea is ready, for it takes me time to crammle aboon the grees, for there be a many of ’em; an’, miss, I lack belly-timber sairly by the clock.”
He hobbled away, and I could see him hurrying, as well as he could, down the steps. The steps are a great feature on the place. They lead from the town up to the church, there are hundreds of them-I do not know how many-and they wind up in a delicate curve; the slope is so gentle that a horse could easily walk up and down them. I think they must originally have had something to do with the abbey. I shall go home too. Lucy went out visiting with her mother, and as they were only duty calls, I did not go. They will be home by this.
1 August.-I came up here an hour ago with Lucy, and we had a most interesting talk with my old friend and the two others who always come and join him. He is evidently the Sir Oracle of them, and I should think must have been in his time a most dictatorial person. He will not admit anything, and downfaces everybody. If he can’t out-argue them he bullies them, and then takes their silence for agreement with his views. Lucy was looking sweetly pretty in her white lawn frock; she has got a beautiful colour since she has been here. I noticed that the old men did not lose any time in coming up and sitting near her when we sat down. She is so sweet with old people; I think they all fell in love with her on the spot. Even my old man succumbed and did not contradict her, but gave me double share instead. I got him on the subject of the legends, and he went off at once into a sort of sermon. I must try to remember it and put it down:-
“It be all fool-talk, lock, stock, and barrel; that’s what it be, an’ nowt else. These bans an’ wafts an’ boh-ghosts an’ barguests an’ bogles an’ all anent them is only fit to set bairns an’ dizzy women a-belderin’. They be nowt but air-blebs. They, an’ all grims an’ signs an’ warnin’s, be all invented by parsons an’ illsome beuk-bodies an’ railway touters to skeer an’ scunner hafflin’s, an’ to get folks to do somethin’ that they don’t other incline to. It makes me ireful to think o’ them. Why, it’s them that, not content with printin’ lies on paper an’ preachin’ them out of pulpits, does want to be cuttin’ them on the tombstones. Look here all around you in what airt ye will; all them steans, holdin’ up their heads as well as they can out of their pride, is acant-simply tumblin’ down with the weight o’ the lies wrote on them, ‘Here lies the body’ or ‘Sacred to the memory’ wrote on all of them, an’ yet in nigh half of them there bean’t no bodies at all; an’ the memories of them bean’t cared a pinch of snuff about, much less sacred. Lies all of them, nothin’ but lies of one kind or another! My gog, but it’ll be a quare scowderment at the Day of Judgment when they come tumblin’ up in their death-sarks, all jouped together an’ tryin’ to drag their tombsteans with them to prove how good they was; some of them trimmlin’ and ditherin’, with their hands that dozzened an’ slippy from lyin’ in the sea that they can’t even keep their grup o’ them.”
I could see from the old fellow’s self-satisfied air and the way in which he looked round for the approval of his cronies that he was “showing off,” so I put in a word to keep him going:-
“Oh, Mr. Swales, you can’t be serious. Surely these tombstones are not all wrong?”
“Yabblins! There may be a poorish few not wrong, savin’ where they make out the people too good; for there be folk that do think a balm-bowl be like the sea, if only it be their own. The whole thing be only lies. Now look you here; you come here a stranger, an’ you see this kirk-garth.” I nodded, for I thought it better to assent, though I did not quite understand his dialect. I knew it had something to do with the church. He went on: “And you consate that all these steans be aboon folk that be happed here, snod an’ snog?” I assented again. “Then that be just where the lie comes in. Why, there be scores of these lay-beds that be toom as old Dun’s ’bacca-box on Friday night.” He nudged one of his companions, and they all laughed. “And my gog! how could they be otherwise? Look at that one, the aftest abaft the bier-bank: read it!” I went over and read:-
“Edward Spencelagh, master mariner, murdered by pirates off the coast of Andres, April, 1854, æt. 30.” When I came back Mr. Swales went on:-
“Who brought him home, I wonder, to hap him here? Murdered off the coast of Andres! an’ you consated his body lay under! Why, I could name ye a dozen whose bones lie in the Greenland seas above”-he pointed northwards-“or where the currents may have drifted them. There be the steans around ye. Ye can, with your young eyes, read the small-print of the lies from here. This Braithwaite Lowrey-I knew his father, lost in the Lively off Greenland in ’20; or Andrew Woodhouse, drowned in the same seas in 1777; or John Paxton, drowned off Cape Farewell a year later; or old John Rawlings, whose grandfather sailed with me, drowned in the Gulf of Finland in ’50. Do ye think that all these men will have to make a rush to Whitby when the trumpet sounds? I have me antherums aboot it! I tell ye that when they got here they’d be jommlin’ an’ jostlin’ one another that way that it ’ud be like a fight up on the ice in the old days, when we’d be at one another from daylight to dark, an’ tryin’ to tie up our cuts by the light of the aurora borealis.” This was evidently local pleasantry, for the old man cackled over it, and his cronies joined in with gusto.
“But,” I said, “surely you are not quite correct, for you start on the assumption that all the poor people, or their spirits, will have to take their tombstones with them on the Day of Judgment. Do you think that will be really necessary?”
“Well, what else be they tombstones for? Answer me that, miss!”
“To please their relatives, I suppose.”
“To please their relatives, you suppose!” This he said with intense scorn. “How will it pleasure their relatives to know that lies is wrote over them, and that everybody in the place knows that they be lies?” He pointed to a stone at our feet which had been laid down as a slab, on which the seat was rested, close to the edge of the cliff. “Read the lies on that thruff-stean,” he said. The letters were upside down to me from where I sat, but Lucy was more opposite to them, so she leant over and read:-
“Sacred to the memory of George Canon, who died, in the hope of a glorious resurrection, on July, 29, 1873, falling from the rocks at Kettleness. This tomb was erected by his sorrowing mother to her dearly beloved son. ‘He was the only son of his mother, and she was a widow.’ Really, Mr. Swales, I don’t see anything very funny in that!” She spoke her comment very gravely and somewhat severely.
“Ye don’t see aught funny! Ha! ha! But that’s because ye don’t gawm the sorrowin’ mother was a hell-cat that hated him because he was acrewk’d-a regular lamiter he was-an’ he hated her so that he committed suicide in order that she mightn’t get an insurance she put on his life. He blew nigh the top of his head off with an old musket that they had for scarin’ the crows with. ’Twarn’t for crows then, for it brought the clegs and the dowps to him. That’s the way he fell off the rocks. And, as to hopes of a glorious resurrection, I’ve often heard him say masel’ that he hoped he’d go to hell, for his mother was so pious that she’d be sure to go to heaven, an’ he didn’t want to addle where she was. Now isn’t that stean at any rate”-he hammered it with his stick as he spoke-“a pack of lies? and won’t it make Gabriel keckle when Geordie comes pantin’ up the grees with the tombstean balanced on his hump, and asks it to be took as evidence!”
I did not know what to say, but Lucy turned the conversation as she said, rising up:-
“Oh, why did you tell us of this? It is my favourite seat, and I cannot leave it; and now I find I must go on sitting over the grave of a suicide.”
“That won’t harm ye, my pretty; an’ it may make poor Geordie gladsome to have so trim a lass sittin’ on his lap. That won’t hurt ye. Why, I’ve sat here off an’ on for nigh twenty years past, an’ it hasn’t done me no harm. Don’t ye fash about them as lies under ye, or that doesn’ lie there either! It’ll be time for ye to be getting scart when ye see the tombsteans all run away with, and the place as bare as a stubble-field. There’s the clock, an’ I must gang. My service to ye, ladies!” And off he hobbled.
Lucy and I sat awhile, and it was all so beautiful before us that we took hands as we sat; and she told me all over again about Arthur and their coming marriage. That made me just a little heart-sick, for I haven’t heard from Jonathan for a whole month.
The same day. I came up here alone, for I am very sad. There was no letter for me. I hope there cannot be anything the matter with Jonathan. The clock has just struck nine. I see the lights scattered all over the town, sometimes in rows where the streets are, and sometimes singly; they run right up the Esk and die away in the curve of the valley. To my left the view is cut off by a black line of roof of the old house next the abbey. The sheep and lambs are bleating in the fields away behind me, and there is a clatter of a donkey’s hoofs up the paved road below. The band on the pier is playing a harsh waltz in good time, and further along the quay there is a Salvation Army meeting in a back street. Neither of the bands hears the other, but up here I hear and see them both. I wonder where Jonathan is and if he is thinking of me! I wish he were here.
Dr. Seward’s Diary.
5 June.-The case of Renfield grows more interesting the more I get to understand the man. He has certain qualities very largely developed; selfishness, secrecy, and purpose. I wish I could get at what is the object of the latter. He seems to have some settled scheme of his own, but what it is I do not yet know. His redeeming quality is a love of animals, though, indeed, he has such curious turns in it that I sometimes imagine he is only abnormally cruel. His pets are of odd sorts. Just now his hobby is catching flies. He has at present such a quantity that I have had myself to expostulate. To my astonishment, he did not break out into a fury, as I expected, but took the matter in simple seriousness. He thought for a moment, and then said: “May I have three days? I shall clear them away.” Of course, I said that would do. I must watch him.
18 June.-He has turned his mind now to spiders, and has got several very big fellows in a box. He keeps feeding them with his flies, and the number of the latter is becoming sensibly diminished, although he has used half his food in attracting more flies from outside to his room.
1 July.-His spiders are now becoming as great a nuisance as his flies, and to-day I told him that he must get rid of them. He looked very sad at this, so I said that he must clear out some of them, at all events. He cheerfully acquiesced in this, and I gave him the same time as before for reduction. He disgusted me much while with him, for when a horrid blow-fly, bloated with some carrion food, buzzed into the room, he caught it, held it exultantly for a few moments between his finger and thumb, and, before I knew what he was going to do, put it in his mouth and ate it. I scolded him for it, but he argued quietly that it was very good and very wholesome; that it was life, strong life, and gave life to him. This gave me an idea, or the rudiment of one. I must watch how he gets rid of his spiders. He has evidently some deep problem in his mind, for he keeps a little note-book in which he is always jotting down something. Whole pages of it are filled with masses of figures, generally single numbers added up in batches, and then the totals added in batches again, as though he were “focussing” some account, as the auditors put it.
8 July.-There is a method in his madness, and the rudimentary idea in my mind is growing. It will be a whole idea soon, and then, oh, unconscious cerebration! you will have to give the wall to your conscious brother. I kept away from my friend for a few days, so that I might notice if there were any change. Things remain as they were except that he has parted with some of his pets and got a new one. He has managed to get a sparrow, and has already partially tamed it. His means of taming is simple, for already the spiders have diminished. Those that do remain, however, are well fed, for he still brings in the flies by tempting them with his food.
19 July.-We are progressing. My friend has now a whole colony of sparrows, and his flies and spiders are almost obliterated. When I came in he ran to me and said he wanted to ask me a great favour-a very, very great favour; and as he spoke he fawned on me like a dog. I asked him what it was, and he said, with a sort of rapture in his voice and bearing:-
“A kitten, a nice little, sleek playful kitten, that I can play with, and teach, and feed-and feed-and feed!” I was not unprepared for this request, for I had noticed how his pets went on increasing in size and vivacity, but I did not care that his pretty family of tame sparrows should be wiped out in the same manner as the flies and the spiders; so I said I would see about it, and asked him if he would not rather have a cat than a kitten. His eagerness betrayed him as he answered:-
“Oh, yes, I would like a cat! I only asked for a kitten lest you should refuse me a cat. No one would refuse me a kitten, would they?” I shook my head, and said that at present I feared it would not be possible, but that I would see about it. His face fell, and I could see a warning of danger in it, for there was a sudden fierce, sidelong look which meant killing. The man is an undeveloped homicidal maniac. I shall test him with his present craving and see how it will work out; then I shall know more.
10 p. m.-I have visited him again and found him sitting in a corner brooding. When I came in he threw himself on his knees before me and implored me to let him have a cat; that his salvation depended upon it. I was firm, however, and told him that he could not have it, whereupon he went without a word, and sat down, gnawing his fingers, in the corner where I had found him. I shall see him in the morning early.
20 July.-Visited Renfield very early, before the attendant went his rounds. Found him up and humming a tune. He was spreading out his sugar, which he had saved, in the window, and was manifestly beginning his fly-catching again; and beginning it cheerfully and with a good grace. I looked around for his birds, and not seeing them, asked him where they were. He replied, without turning round, that they had all flown away. There were a few feathers about the room and on his pillow a drop of blood. I said nothing, but went and told the keeper to report to me if there were anything odd about him during the day.
11 a. m.-The attendant has just been to me to say that Renfield has been very sick and has disgorged a whole lot of feathers. “My belief is, doctor,” he said, “that he has eaten his birds, and that he just took and ate them raw!”
11 p. m.-I gave Renfield a strong opiate to-night, enough to make even him sleep, and took away his pocket-book to look at it. The thought that has been buzzing about my brain lately is complete, and the theory proved. My homicidal maniac is of a peculiar kind. I shall have to invent a new classification for him, and call him a zoöphagous (life-eating) maniac; what he desires is to absorb as many lives as he can, and he has laid himself out to achieve it in a cumulative way. He gave many flies to one spider and many spiders to one bird, and then wanted a cat to eat the many birds. What would have been his later steps? It would almost be worth while to complete the experiment. It might be done if there were only a sufficient cause. Men sneered at vivisection, and yet look at its results to-day! Why not advance science in its most difficult and vital aspect-the knowledge of the brain? Had I even the secret of one such mind-did I hold the key to the fancy of even one lunatic-I might advance my own branch of science to a pitch compared with which Burdon-Sanderson’s physiology or Ferrier’s brain-knowledge would be as nothing. If only there were a sufficient cause! I must not think too much of this, or I may be tempted; a good cause might turn the scale with me, for may not I too be of an exceptional brain, congenitally?
How well the man reasoned; lunatics always do within their own scope. I wonder at how many lives he values a man, or if at only one. He has closed the account most accurately, and to-day begun a new record. How many of us begin a new record with each day of our lives?
To me it seems only yesterday that my whole life ended with my new hope, and that truly I began a new record. So it will be until the Great Recorder sums me up and closes my ledger account with a balance to profit or loss. Oh, Lucy, Lucy, I cannot be angry with you, nor can I be angry with my friend whose happiness is yours; but I must only wait on hopeless and work. Work! work!
If I only could have as strong a cause as my poor mad friend there-a good, unselfish cause to make me work-that would be indeed happiness.
Mina Murray’s Journal.
26 July.-I am anxious, and it soothes me to express myself here; it is like whispering to one’s self and listening at the same time. And there is also something about the shorthand symbols that makes it different from writing. I am unhappy about Lucy and about Jonathan. I had not heard from Jonathan for some time, and was very concerned; but yesterday dear Mr. Hawkins, who is always so kind, sent me a letter from him. I had written asking him if he had heard, and he said the enclosed had just been received. It is only a line dated from Castle Dracula, and says that he is just starting for home. That is not like Jonathan; I do not understand it, and it makes me uneasy. Then, too, Lucy, although she is so well, has lately taken to her old habit of walking in her sleep. Her mother has spoken to me about it, and we have decided that I am to lock the door of our room every night. Mrs. Westenra has got an idea that sleep-walkers always go out on roofs of houses and along the edges of cliffs and then get suddenly wakened and fall over with a despairing cry that echoes all over the place. Poor dear, she is naturally anxious about Lucy, and she tells me that her husband, Lucy’s father, had the same habit; that he would get up in the night and dress himself and go out, if he were not stopped. Lucy is to be married in the autumn, and she is already planning out her dresses and how her house is to be arranged. I sympathise with her, for I do the same, only Jonathan and I will start in life in a very simple way, and shall have to try to make both ends meet. Mr. Holmwood-he is the Hon. Arthur Holmwood, only son of Lord Godalming-is coming up here very shortly-as soon as he can leave town, for his father is not very well, and I think dear Lucy is counting the moments till he comes. She wants to take him up to the seat on the churchyard cliff and show him the beauty of Whitby. I daresay it is the waiting which disturbs her; she will be all right when he arrives.
27 July.-No news from Jonathan. I am getting quite uneasy about him, though why I should I do not know; but I do wish that he would write, if it were only a single line. Lucy walks more than ever, and each night I am awakened by her moving about the room. Fortunately, the weather is so hot that she cannot get cold; but still the anxiety and the perpetually being wakened is beginning to tell on me, and I am getting nervous and wakeful myself. Thank God, Lucy’s health keeps up. Mr. Holmwood has been suddenly called to Ring to see his father, who has been taken seriously ill. Lucy frets at the postponement of seeing him, but it does not touch her looks; she is a trifle stouter, and her cheeks are a lovely rose-pink. She has lost that anæmic look which she had. I pray it will all last.
3 August.-Another week gone, and no news from Jonathan, not even to Mr. Hawkins, from whom I have heard. Oh, I do hope he is not ill. He surely would have written. I look at that last letter of his, but somehow it does not satisfy me. It does not read like him, and yet it is his writing. There is no mistake of that. Lucy has not walked much in her sleep the last week, but there is an odd concentration about her which I do not understand; even in her sleep she seems to be watching me. She tries the door, and finding it locked, goes about the room searching for the key.
6 August.-Another three days, and no news. This suspense is getting dreadful. If I only knew where to write to or where to go to, I should feel easier; but no one has heard a word of Jonathan since that last letter. I must only pray to God for patience. Lucy is more excitable than ever, but is otherwise well. Last night was very threatening, and the fishermen say that we are in for a storm. I must try to watch it and learn the weather signs. To-day is a grey day, and the sun as I write is hidden in thick clouds, high over Kettleness. Everything is grey-except the green grass, which seems like emerald amongst it; grey earthy rock; grey clouds, tinged with the sunburst at the far edge, hang over the grey sea, into which the sand-points stretch like grey fingers. The sea is tumbling in over the shallows and the sandy flats with a roar, muffled in the sea-mists drifting inland. The horizon is lost in a grey mist. All is vastness; the clouds are piled up like giant rocks, and there is a “brool” over the sea that sounds like some presage of doom. Dark figures are on the beach here and there, sometimes half shrouded in the mist, and seem “men like trees walking.” The fishing-boats are racing for home, and rise and dip in the ground swell as they sweep into the harbour, bending to the scuppers. Here comes old Mr. Swales. He is making straight for me, and I can see, by the way he lifts his hat, that he wants to talk....
I have been quite touched by the change in the poor old man. When he sat down beside me, he said in a very gentle way:-
“I want to say something to you, miss.” I could see he was not at ease, so I took his poor old wrinkled hand in mine and asked him to speak fully; so he said, leaving his hand in mine:-
“I’m afraid, my deary, that I must have shocked you by all the wicked things I’ve been sayin’ about the dead, and such like, for weeks past; but I didn’t mean them, and I want ye to remember that when I’m gone. We aud folks that be daffled, and with one foot abaft the krok-hooal, don’t altogether like to think of it, and we don’t want to feel scart of it; an’ that’s why I’ve took to makin’ light of it, so that I’d cheer up my own heart a bit. But, Lord love ye, miss, I ain’t afraid of dyin’, not a bit; only I don’t want to die if I can help it. My time must be nigh at hand now, for I be aud, and a hundred years is too much for any man to expect; and I’m so nigh it that the Aud Man is already whettin’ his scythe. Ye see, I can’t get out o’ the habit of caffin’ about it all at once; the chafts will wag as they be used to. Some day soon the Angel of Death will sound his trumpet for me. But don’t ye dooal an’ greet, my deary!”-for he saw that I was crying-“if he should come this very night I’d not refuse to answer his call. For life be, after all, only a waitin’ for somethin’ else than what we’re doin’; and death be all that we can rightly depend on. But I’m content, for it’s comin’ to me, my deary, and comin’ quick. It may be comin’ while we be lookin’ and wonderin’. Maybe it’s in that wind out over the sea that’s bringin’ with it loss and wreck, and sore distress, and sad hearts. Look! look!” he cried suddenly. “There’s something in that wind and in the hoast beyont that sounds, and looks, and tastes, and smells like death. It’s in the air; I feel it comin’. Lord, make me answer cheerful when my call comes!” He held up his arms devoutly, and raised his hat. His mouth moved as though he were praying. After a few minutes’ silence, he got up, shook hands with me, and blessed me, and said good-bye, and hobbled off. It all touched me, and upset me very much.
I was glad when the coastguard came along, with his spy-glass under his arm. He stopped to talk with me, as he always does, but all the time kept looking at a strange ship.
“I can’t make her out,” he said; “she’s a Russian, by the look of her; but she’s knocking about in the queerest way. She doesn’t know her mind a bit; she seems to see the storm coming, but can’t decide whether to run up north in the open, or to put in here. Look there again! She is steered mighty strangely, for she doesn’t mind the hand on the wheel; changes about with every puff of wind. We’ll hear more of her before this time to-morrow.”