CHƯƠNG XI. NHẬT KÝ CỦA LUCY WESTENRA

Nhật ký của Lucy Westenra.

12 tháng 9.-Mọi người đối xử với tôi thật tốt biết bao. Tôi vô cùng kính trọng và quý mến giáo sư Van Helsing đáng kính. Chẳng hiểu vì sao giáo sư lại bận tâm đến những bông hoa này nhiều đến vậy. Ánh mắt dữ tợn của giáo sư khi ấy quả thực đã khiến tôi hoảng sợ. Nhưng hẳn là giáo sư đã đúng, bởi ngay lúc này đây, những cành hoa đang mang lại cho tôi một cảm giác thật dễ chịu. Thật kỳ lạ, đêm nay tôi chẳng còn mảy may sợ hãi khi phải ở lại một mình. Tôi có thể nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ mà chẳng vương chút âu lo. Tôi sẽ chẳng thèm đoái hoài đến bất kỳ tiếng đập cánh nào vang lên bên ngoài ô cửa sổ nữa. Ôi, những ngày qua tôi đã phải oằn mình chống chọi với cơn buồn ngủ khổ sở đến nhường nào; nỗi đọa đày của chứng mất ngủ, hay sự sợ hãi tột cùng trước mỗi giấc ngủ chập chờn, cùng với những nỗi kinh hoàng vô danh mà nó mang tới! Thật diễm phúc thay cho những ai được tận hưởng một cuộc sống bình yên không vướng bận âu lo hay sợ hãi; những người đón nhận giấc ngủ như một đặc ân diệu kỳ mỗi đêm buông xuống, và chỉ chìm đắm trong những giấc mộng êm đềm. Chà, đêm nay tôi đang nằm đây, ôm ấp hy vọng về một giấc ngủ say sưa, trông chẳng khác nào nàng Ophelia1 kiều diễm trong vở kịch xưa, với "vòng hoa trinh nữ cùng những nụ hoa tản mác" quanh mình. Trước đây tôi chưa từng thích tỏi, nhưng đêm nay sao hương thơm này lại tuyệt vời đến thế! Một mùi hương mang trọn vẹn cảm giác bình yên; tôi cảm nhận được cơn buồn ngủ đang êm ái ập đến rồi. Chúc mọi người ngủ ngon.

Nhật ký của bác sĩ Seward.

Ngày 13 tháng 9.-Tôi ghé qua khách sạn Berkeley và gặp giáo sư Van Helsing. Vẫn như thường lệ, ông luôn chuẩn xác về mặt thời gian. Cỗ xe ngựa mà chúng tôi gọi từ khách sạn đã túc trực sẵn sàng. Giáo sư cẩn thận xách theo chiếc túi đen, một vật bất ly thân của ông dạo gần đây.

Mọi chi tiết giờ đây đều phải được ghi chép lại một cách rạch ròi, chính xác. Đúng tám giờ sáng, giáo sư Van Helsing và tôi đặt chân đến Hillingham. Khung cảnh buổi sáng hôm ấy đẹp đến lạ kỳ; những tia nắng rực rỡ hòa quyện cùng tiết trời trong trẻo đặc trưng của ngày thu phân, tựa hồ như tạo hóa vừa hoàn tất nốt nét cọ cuối cùng cho bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Tán lá trên cành đang dần chuyển mình sang muôn vàn sắc độ lộng lẫy, dẫu những chiếc lá đầu thu vẫn còn luyến lưu chưa nỡ rụng rời. Vừa bước vào trong, chúng tôi đã giáp mặt bà Westenra khi bà đang rời khỏi phòng khách. Bà vốn luôn giữ thói quen dậy sớm. Với vẻ đon đả thường thấy, bà nồng hậu lên tiếng chào chúng tôi:-

"Bác sĩ hẳn sẽ rất vui khi biết tin Lucy đã khá hơn nhiều rồi. Con bé đáng thương hiện vẫn đang say giấc. Tôi có khẽ ngó vào phòng nhìn con bé, nhưng chẳng dám bước hẳn vào trong vì sợ đánh thức con." Giáo sư khẽ mỉm cười, nét mặt ánh lên vẻ hân hoan không giấu giếm. Ông sung sướng xoa xoa hai bàn tay vào nhau rồi đáp lời:-

"Aha! Tôi biết ngay là mình đã chẩn đoán trúng phóc mà. Phương pháp điều trị của tôi đang phát huy tác dụng đây," nghe vậy, bà liền đáp lời:-

"Bác sĩ đừng hòng nhận hết công lao về mình nhé. Lucy có được tình trạng như sáng nay, một phần cũng là nhờ công tôi đấy."

"Thưa bà, ý bà là sao ạ?" giáo sư gặng hỏi.

"Chuyện là, đêm qua tôi trằn trọc lo lắng cho con bé nên lại rón rén bước vào phòng. Con bé đang ngủ rất say-say đến độ tôi đi vào mà con cũng chẳng hề hay biết. Thế nhưng, căn phòng khi ấy lại ngột ngạt quá đỗi. Đâu đâu cũng vương vất cái thứ mùi hương nồng nặc, kinh khủng phát ra từ vô số những bông hoa ấy, thậm chí con bé còn quàng hẳn một vòng hoa quanh cổ nữa chứ. Tôi e rằng thứ mùi hương hắc ám đó sẽ là quá sức chịu đựng đối với một cơ thể yếu ớt như con bé, nên tôi đã đem vứt hết đống hoa đó đi và mở hé cửa sổ để đón chút khí trời trong trẻo. Hẳn là bác sĩ sẽ rất hài lòng với tình trạng hiện tại của con bé cho xem."

Nói đoạn, bà quay gót bước về phòng riêng, nơi bà vẫn thường dùng bữa sáng sớm. Suốt lúc bà giãi bày câu chuyện, tôi không rời mắt khỏi gương mặt giáo sư và nhận ra sắc mặt ông đã tái nhợt như tro tàn tự lúc nào. Tuy nhiên, ông đã gồng mình kìm nén mọi cảm xúc chừng nào người phụ nữ tội nghiệp ấy còn nán lại, bởi lẽ ông thấu hiểu hơn ai hết tình trạng sức khỏe mong manh của bà, và bất cứ một cú sốc nào lúc này cũng có thể mang lại hậu quả khôn lường; ông thậm chí còn cố nặn ra một nụ cười, lịch thiệp giữ cửa để bà bước vào phòng. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc bóng lưng bà vừa khuất sau cánh cửa, giáo sư đột ngột túm lấy tôi, thô bạo kéo tuột tôi vào phòng ăn rồi sầm sập đóng cửa lại.

Và rồi, đó là lần đầu tiên trong đời, tôi phải chứng kiến cảnh tượng Van Helsing hoàn toàn suy sụp. Ông giơ bổng hai tay lên ôm đầu trong một nỗi tuyệt vọng câm lặng bủa vây, rồi bất lực đập mạnh hai lòng bàn tay vào nhau; cuối cùng, ông đổ gục xuống ghế, ôm chầm lấy mặt và bắt đầu bật khóc nức nở. Những tiếng nấc lớn, khô khốc vang lên, tưởng chừng như đang trào tuôn ra từ chính cõi lòng quặn thắt của ông. Sau đó, giáo sư lại vung hai cánh tay lên cao, tựa như đang tuyệt vọng kêu gào thấu tận trời xanh. "Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi!" ông thống thiết thốt lên. "Chúng ta đã làm gì nên tội, sinh linh bé nhỏ đáng thương kia đã làm gì nên tội, để rồi tất thảy chúng ta lại phải chịu cảnh bủa vây đầy đọa đến mức này? Phải chăng cái ác nghiệp từ buổi bình minh của thế giới ngoại giáo cổ đại vẫn còn cố chấp bám đuổi chúng ta, để cho những tấn bi kịch này cứ ngang nhiên tiếp diễn, và lại diễn ra theo một cách thức nghiệt ngã đến nhường này? Người mẹ tội nghiệp ấy, với tấm lòng hoàn toàn thanh sạch không chút vướng bận, chỉ đơn thuần khao khát mang đến những điều tốt đẹp nhất cho giọt máu của mình, lại chính tay dọn đường cho con gái đánh mất đi cả thể xác lẫn linh hồn; vậy mà chúng ta lại bị tước đoạt đi cái quyền được nói cho bà ấy biết sự thật, chúng ta thậm chí còn chẳng thể hé môi buông lấy nửa lời cảnh báo, bởi nếu làm thế bà ấy sẽ gục ngã tức tưởi, và rồi cả hai mẹ con sẽ cùng nhau bỏ mạng. Ôi, cái lưới oan nghiệt bủa vây chúng ta mới tàn khốc làm sao! Cớ sao toàn bộ thế lực hắc ám của ma tuyệt lại hợp lực chống lại chúng ta thế này!" Đột nhiên, giáo sư bật phắt dậy. "Đi nào," ông dứt khoát ra lệnh, "đi nào, chúng ta phải tự mình đến xem xét tình hình và lập tức hành động. Dù đó có là ma quỷ hay không, hay dẫu cho toàn bộ ma vương có cùng lúc kéo đến đây, thì cũng chẳng sao cả; chúng ta vẫn sẽ sống mái chiến đấu với hắn tới hơi thở cuối cùng." Giáo sư lao thẳng ra cửa sảnh để vơ lấy chiếc túi; rồi cả hai chúng tôi cùng nhau hối hả bước lên phòng Lucy.

Một lần nữa, tôi tự tay kéo tung tấm rèm cửa, trong khi Van Helsing sải bước tiến thẳng về phía giường. Lần này, giáo sư không còn tỏ ra quá đỗi giật mình khi phải chứng kiến lại khuôn mặt tội nghiệp nhuốm màu nhợt nhạt như sáp nến vô hồn-một vẻ đáng sợ hệt như những lần trước. Thay vào đó, khuôn mặt ông bao trùm một vẻ sầu muộn nghiêm trang, chan chứa lòng xót thương vô bờ bến.

"Quả đúng như ta dự đoán," giáo sư lẩm bẩm, xen lẫn một tiếng rít khẽ qua kẽ răng mang đầy hàm ý. Chẳng thèm nói một lời, ông lầm lũi đi tới khóa trái cửa, rồi lập tức bày biện lên chiếc bàn nhỏ đủ loại dụng cụ y tế cho một ca phẫu thuật truyền máu mới. Tôi đã tinh ý nhận ra tính chất cấp bách của tình hình và bắt đầu cởi áo khoác ngoài, nhưng giáo sư đã vội vã vung tay ngăn tôi lại. "Không!" ông kiên quyết nói. "Hôm nay anh phải đóng vai trò là người thực hiện phẫu thuật. Ta sẽ là người hiến máu. Anh đã quá kiệt sức rồi." Vừa dứt lời, giáo sư đã cởi phăng áo khoác và xắn cao tay áo sơ mi lên.

Lại là một ca phẫu thuật căng thẳng; lại là mùi thuốc mê nồng nặc; và sắc hồng tươi tắn lại một lần nữa từ từ hồi sinh trên đôi má xám xịt yếu ớt kia, song hành cùng nhịp thở đều đặn báo hiệu một giấc ngủ lành mạnh. Lần này, tôi là người túc trực canh chừng để Van Helsing có thể chợp mắt nghỉ ngơi, phục hồi lại chút sức lực vừa cạn kiệt.

Một lúc sau, nhân cơ hội thuận tiện, giáo sư đã nghiêm túc căn dặn bà Westenra tuyệt đối không được tự ý di dời bất kỳ món đồ nào ra khỏi phòng Lucy nếu chưa có sự cho phép của ông; ông giải thích cặn kẽ rằng những bông hoa kia mang giá trị dược lý rất cao, và việc để Lucy hít thở luồng hương thơm của chúng là một phần quan trọng không thể thiếu trong phác đồ điều trị. Kế đó, ông chủ động nhận lấy trọng trách đích thân chăm sóc bệnh nhân, đồng thời khẳng định mình sẽ tự tay thức canh trong đêm nay và cả đêm mai, và sẽ đánh điện báo tin ngay cho tôi biết nếu tình hình cần đến sự trợ giúp.

Một giờ trôi qua, Lucy bừng tỉnh sau giấc ngủ say sưa. Cô bé trông rạng rỡ, tươi tắn lạ thường, và dường như chẳng mang chút dấu vết tiều tụy nào sau cơn ác mộng kinh hoàng vừa mới giáng xuống.

Nhưng rốt cuộc, tất cả những sự tình kỳ quái này mang ý nghĩa quái quỷ gì cơ chứ? Tôi bắt đầu tự đặt câu hỏi cho chính mình, liệu chăng cái thói quen kề cận sớm tối giữa vòng vây của những kẻ điên loạn đang dần mài mòn và đầu độc tâm trí tôi hay chăng?

Nhật ký của Lucy Westenra.

17 tháng 9.-Bốn ngày đêm trôi qua êm đềm tĩnh lặng. Tôi đang dần bình phục, khỏe khoắn đến mức ngỡ như chẳng còn nhận ra chính mình nữa. Cảm giác như thể tôi vừa bước qua một cơn ác mộng dài đằng đẵng, bừng tỉnh giấc để ngắm nhìn ánh nắng rạng rỡ và hít căng lồng ngực bầu không khí sớm mai thanh khiết bao quanh. Ký ức giờ đây chỉ còn đọng lại dăm ba mảnh ghép nhạt nhòa về những tháng ngày mòn mỏi chờ đợi và run rẩy âu lo; về một chốn tối tăm thẳm sâu, nơi dẫu chỉ một tia hy vọng mong manh gây nhói đau cũng chẳng tồn tại để xát thêm muối vào nỗi thống khổ hiện tiền: và rồi là những khoảng thời gian mênh mang chìm khuất vào cõi lãng quên, cho đến khoảnh khắc vươn mình trở về với sự sống, tựa như một người thợ lặn gắng gượng ngoi lên xuyên qua lớp lớp áp lực nghẹt thở của đại dương. Thế nhưng, kể từ lúc bác sĩ Van Helsing túc trực kề bên, những giấc mộng mị kinh hoàng ấy dường như đã hoàn toàn tan biến. Mọi thứ âm thanh từng bóp nghẹt tâm trí tôi vì khiếp sợ-tiếng phành phạch đập cánh ngoài viền cửa sổ, những giọng nói dẫu xa xăm mà ngỡ như thì thầm ngay sát bên tai, cả những thanh âm chát chúa dội về từ một miền vô định, ra lệnh cho tôi làm những điều mà chính bản thân cũng chẳng hề hay biết-tất thảy giờ đã vĩnh viễn lặng im. Giờ đây, tôi có thể an tâm nhắm mắt mà chẳng còn mảy may mang nỗi khiếp đảm về những giấc ngủ. Tôi chẳng còn phải gồng mình chống lại cơn buồn ngủ nữa. Bất tri bất giác, tôi đâm ra vô cùng say mê mùi tỏi, và mỗi ngày đều có hẳn một hộp tỏi đầy ắp được gửi tới cho tôi từ tận Haarlem. Đêm nay, bác sĩ Van Helsing sẽ cất bước rời đi, bởi giáo sư cần phải nán lại Amsterdam một ngày. Dẫu vậy, tôi chẳng cần ai phải trông nom nữa; tôi đã đủ khỏe để có thể tự lo liệu một mình. Tạ ơn Chúa vì đã ban cho tôi mẹ, vì một Arthur dấu yêu, và vì tất thảy những người bạn quá đỗi ân cần của chúng tôi! Có lẽ tôi cũng chẳng cảm nhận được sự khác biệt là bao, bởi phần lớn thời gian đêm qua bác sĩ Van Helsing đã ngủ gục trên ghế. Tôi đã hai lần bắt gặp giáo sư đang say giấc nồng lúc mình trở giấc; thế nhưng tôi chẳng hề lo sợ khi thiếp đi lần nữa, dẫu cho ngoài kia những cành cây, bầy dơi hay một sinh linh nào đó vẫn liên hồi đập vập vào cửa kính như đang điên cuồng phẫn nộ.

“Báo Pall Mall Gazette,” 18 tháng 9.

CON SÓI SỔNG CHUỒNG.

CHUYẾN PHIÊU LƯU HIỂM NGUY CỦA PHÓNG VIÊN CHÚNG TÔI.

Cuộc phỏng vấn với người canh thú tại Vườn Bách thú.

Sau vô số lần gõ cửa thăm hỏi cùng chừng ấy cái lắc đầu khước từ, và chỉ nhờ liên tục viện đến danh xưng "Báo Pall Mall Gazette" như một tấm bùa hộ mệnh, cuối cùng tôi cũng xoay sở tìm được người canh thú phụ trách khu chuồng sói thuộc Vườn Bách thú. Thomas Bilder ngụ trong một căn nhà nhỏ nằm lẩn khuất sau rào chắn của khu chuồng voi, và đang thong thả thưởng trà khi tôi tìm đến. Vợ chồng ông là những con người luống tuổi, hiếu khách và không có con cái. Nếu sự tiếp đón nồng hậu mà tôi nhận được là lề thói thường ngày, thì cuộc sống của họ hẳn phải êm đềm và sung túc lắm. Dù vậy, ông lão nhất quyết cự tuyệt bàn luận về những gì ông gọi là "công việc" cho tới khi bữa tối vãn hồi, và thảy chúng tôi đều đã no nê. Mãi đến khi bàn ăn được dọn sạch, và tẩu thuốc trên tay ông đã được châm lửa, ông mới thong thả cất lời:-

"Bây giờ, thưa ngài, ngài có thể bắt đầu và hỏi tôi những gì ngài muốn. Cúi xin ngài lượng thứ cho việc tôi từ chối đàm đạo chuyện chuyên môn trước bữa ăn. Lệ thường của tôi là luôn phải cho lũ sói, chó rừng và linh cẩu trong khu vực này xơi xong bữa nhẹ trước khi tôi bắt đầu dồn ép tra hỏi chúng."

"Ý ông hỏi chúng là sao?" tôi tò mò lên tiếng, cốt chỉ mong khơi gợi để ông tiếp tục mở lời.

"Lấy gậy gõ lên đầu chúng là một cách; gãi tai chúng lại là một cách khác, nhất là khi mấy gã trai rủng rỉnh tiền bạc muốn ra oai đôi chút trước mặt các cô đào của mình. Tôi chẳng bận tâm lắm đến cách đầu tiên-lấy gậy gõ trước khi ném cho chúng bữa tối; nhưng tôi luôn đợi cho đến khi chúng uống xong rượu sherry và nếm xong cà phê, cứ ví von là thế, trước khi tôi thử giở trò gãi tai. Ngài biết đấy," ông chép miệng nói thêm với vẻ đầy triết lý, "bản chất con người chúng ta cũng có nhiều điểm tương đồng với lũ thú vật kia. Ngài cất công đến đây, gặng hỏi tôi về công việc, còn tôi thì cáu bẳn đến độ nếu không vì nửa đồng bảng Anh chết tiệt của ngài, thì tôi đã tống cổ ngài ra khỏi cửa trước khi kịp trả lời rồi. Kể cả khi ngài buông lời mỉa mai, gặng hỏi tôi có muốn ngài xin xỏ Ngài Giám đốc ban đặc ân cho phép ngài phỏng vấn tôi hay không. Xin thứ lỗi vì tôi đã nói thẳng, chẳng phải lúc đó tôi đã bảo ngài cút xuống địa ngục hay sao?"

"Vâng, đúng vậy."

"Và khi ngài dọa dẫm sẽ tố cáo tôi vì dùng lời lẽ thô tục, điều đó nào khác gì việc lấy gậy gõ lên đầu tôi; nhưng nửa đồng bảng Anh kia đã dẹp yên mọi bề. Tôi chẳng thiết đôi co, nên đành ngồi đợi đồ ăn, và cũng gào thét hệt như lũ sói, sư tử, hay hổ báo vẫn thường làm. Nhưng, lạy Chúa tôi, bây giờ bà lão nhà tôi đã nhét cho tôi một miếng bánh ngọt, lại rót cho tôi một ấm trà thơm phức, và tôi đang được phì phèo điếu thuốc đây, ngài cứ việc gãi tai tôi thoải mái, tôi thậm chí sẽ chẳng thèm gầm gừ một tiếng nào đâu. Ngài cứ hỏi đi. Tôi biết tỏng ngài định hỏi gì rồi, cái vụ con sói sổng chuồng đó chứ gì."

"Chính xác là vậy. Tôi rất muốn nghe góc nhìn của ông về vụ việc này. Hãy kể cho tôi nghe ngọn ngành mọi chuyện đã diễn ra như thế nào; và một khi tôi đã thấu tỏ sự tình, tôi sẽ để ông đưa ra nhận định về nguyên nhân của nó, và ông nghĩ xem toàn bộ sự việc này sẽ kết cục ra sao."

"Được thôi, thưa ngài. Toàn bộ câu chuyện là thế này. Con sói đó, cái thứ mà chúng tôi gọi là Bersicker2, là một trong ba con sói xám được đưa từ Na Uy đến chỗ của Jamrach, và chúng tôi đã mua lại từ ông ta cách đây độ bốn năm. Nó vốn là một con sói ngoan ngoãn, biết cư xử, và chưa từng gây ra thứ rắc rối nào đáng bận tâm. Khi hay tin nó muốn sổng ra ngoài, tôi là người kinh ngạc hơn bất kỳ ai, nhất là khi so sánh nó với tất thảy những con vật khác ở chốn này. Nhưng, ngài thấy đấy, ngài không tài nào tin tưởng được lũ sói, cũng hệt như đàn bà vậy."

"Ngài đừng để tâm đến ông ấy, thưa ngài!" bà Tom xen lời, kèm theo một tiếng cười vui vẻ. "Ông ấy chăm bẵm lũ thú vật lâu đến mức, lạy Chúa, trông ông ấy chẳng khác nào một con sói già! Nhưng ông ấy không có ý gì xấu đâu."

"Chà, thưa ngài, tầm khoảng hai giờ sau khi cho ăn vào ngày hôm qua, tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng động đầy bất thường. Lúc ấy tôi đang dọn ổ trong chuồng khỉ cho một con báo non đang ốm; nhưng khi tôi nghe thấy tiếng tru tréo và sủa inh ỏi, tôi liền phóng thẳng ra đó. Tôi kinh hãi thấy con Bersicker đang cào cấu điên loạn vào các thanh sắt như thể nó muốn xé toạc ngục tù mà thoát ra. Hôm đó không có nhiều người qua lại, và ngay gần đó chỉ có độc một người đàn ông, một gã cao, gầy, mũi khoằm và để chỏm râu nhọn, điểm xuyết vài sợi bạc. Hắn ta sở hữu một ánh nhìn lạnh lùng, tàn độc cùng đôi mắt đỏ ngầu. Tự dưng tôi nảy sinh một ác cảm khó tả với hắn ta, bởi dường như chính hắn ta là kẻ đã khiến lũ thú bị kích động. Hắn ta đeo đôi găng tay da dê màu trắng, rồi chỉ tay vào lũ thú và nói với tôi: ‘Này anh canh thú, lũ sói này có vẻ đang tức giận vì chuyện gì đó.’"

"‘Có lẽ là do ngài đấy,’ tôi buông lời, bởi tôi chẳng hề ưa cái vẻ trịch thượng của ngài ta. Ngài ta không mảy may tức giận như tôi tưởng tượng, mà trái lại còn nhếch mép nở một nụ cười xấc xược, để lộ hàm răng sắc nhọn, trắng ởn. ‘Ồ không, chúng sẽ không thích tôi đâu,’ ngài ta đáp."

"‘Ồ có chứ, chúng sẽ thích đấy,’ tôi nói, cố tình nhại lại điệu bộ của ngài ta. ‘Chúng luôn thích có một vài khúc xương để xỉa răng vào giờ uống trà, mà ngài thì lại có cả một túi đầy rắp.’"

"Chà, lạ lùng thay, khi lũ thú thấy chúng tôi trò chuyện thì chúng lại nằm ngoan ngoãn xuống, và khi tôi tiến lại gần chỗ Bersicker, nó vẫn để tôi gãi tai như lệ thường. Người đàn ông đó cũng bước tới, và lạy Chúa, ngài ta thò tay vào và cũng vuốt ve đôi tai của con sói già!

"‘Cẩn thận đấy,’ tôi cất tiếng cảnh báo. ‘Bersicker phản xạ nhanh lắm.’"

"‘Không sao đâu,’ ngài ta nói. ‘Tôi quen với lũ này rồi!’"

"‘Ngài cũng làm trong nghề này à?’ tôi cất lời hỏi, đồng thời ngả mũ, bởi một người buôn bán sói, vân vân, ắt hẳn sẽ là một người bằng hữu tốt của những kẻ canh thú."

"‘Không,’ ngài ta đáp, ‘không hẳn là làm nghề này, nhưng tôi đã từng nuôi vài con làm thú cưng.’ Và nói dứt lời, ngài ta nhấc mũ chào lịch thiệp hệt như một vị lãnh chúa, rồi quay bước bỏ đi. Con Bersicker già nua cứ đăm đăm nhìn theo ngài ta mãi cho đến khi ngài ta khuất bóng, rồi nó lủi thủi đi nằm ở một góc và không chịu bước ra ngoài trong suốt cả buổi tối. Chà, đêm qua, ngay khi vầng trăng vừa ló rạng, lũ sói ở đây đồng loạt tru lên thảm thiết. Chẳng có thứ gì chọc tức để chúng phải tru lên như vậy cả. Quanh đó tuyệt nhiên vắng lặng, ngoại trừ dường như ai đó đang cất tiếng gọi một con chó ở tận đẩu tận đâu phía sau khu vườn trên con đường Park. Một hai lần tôi có bước ra ngoài để xem xét tình hình có ổn không, và mọi thứ vẫn tĩnh lặng, rồi thì tiếng tru cũng bặt đứt. Ngay trước lúc mười hai giờ đêm, tôi vừa làm một vòng tuần tra trước khi chìm vào giấc ngủ, và, dù có đánh chết tôi cũng không thể tin nổi, khi tôi đặt chân đến trước lồng của con Bersicker già nua, tôi thấy các song sắt đã bị bẻ gãy và vặn xoắn tơi bời, còn chiếc lồng thì trống không. Và đó là tất cả những gì tôi biết một cách chắc chắn."

"Liệu có ai khác nhìn thấy gì không?"

"Một trong những người làm vườn của chúng tôi đang trên đường về nhà vào tầm giờ đó sau một bữa tiệc âm nhạc, thì ông ấy loáng thoáng thấy một con chó xám to lớn luồn lách qua rào chắn vườn. Ít nhất thì ông ấy khăng khăng kể lại như vậy, nhưng cá nhân tôi thì chẳng mảy may tin tưởng, bởi vì nếu ông ấy thực sự nhìn thấy thì ông ấy đã chẳng cạy miệng hé răng nửa lời với vợ mình khi về đến nhà, và chỉ đến khi vụ sổng chuồng của con sói vỡ lở, và chúng tôi phải thức trắng đêm lục tung công viên để săn lùng Bersicker, thì ông ấy mới sực nhớ ra là mình có nhìn thấy một thứ gì đó. Niềm tin của riêng tôi là cái bữa tiệc âm nhạc kia đã khiến ông ấy mụ mị đầu óc rồi."

"Bây giờ, ông Bilder, liệu ông có cách lý giải nào cho việc con sói trốn thoát không?"

"Chà, thưa ngài," ông trầm ngâm, với một vẻ khiêm tốn có phần đáng ngờ, "tôi nghĩ là tôi có thể; nhưng tôi không chắc ngài có hài lòng với giả thuyết này hay không."

"Chắc chắn là tôi sẽ hài lòng. Nếu một người như ông, kẻ đã quá am tường lũ thú vật qua hàng bao kinh nghiệm xương máu, mà không thể đưa ra một phỏng đoán có lý, thì thử hỏi thế gian này ai có thể làm được chứ?"

"Vậy thì, thưa ngài, tôi xin mạn phép giải thích thế này; theo thiển ý của tôi thì con sói đó trốn thoát-chỉ đơn giản là vì nó muốn ra ngoài."

Qua điệu cười sảng khoái của cả vợ chồng Thomas trước trò đùa này, tôi có thể lờ mờ nhận ra rằng câu đùa này đã được xài lại vô số lần, và toàn bộ lời giải thích lê thê đó chỉ đơn thuần là một trò đùa dai công phu. Tôi chẳng thể nào đấu khẩu với Thomas đáng kính trong trò đùa cợt này, nhưng tôi nghĩ mình đã nắm được một phương cách chắc chắn hơn để lấy lòng ông, vì thế tôi lên tiếng:-

"Này, ông Bilder, chúng ta cứ coi như nửa đồng bảng Anh đầu tiên đã được trả công xứng đáng, và người anh em của nó đang mòn mỏi chờ ông nhận lấy khi ông cho tôi hay ông nghĩ điều gì sẽ xảy ra."

"Đúng vậy, thưa ngài," ông nhanh nhảu đáp lời. "Tôi biết ngài sẽ rộng lòng lượng thứ cho tôi vì đã trêu đùa ngài, nhưng bà lão nhà tôi đã nháy mắt với tôi, điều đó chẳng khác nào ngầm bảo tôi cứ tiếp tục."

"Ôi, tôi chưa bao giờ làm thế!" bà lão thốt lên kinh ngạc.

"Quan điểm của tôi là thế này: con sói đó đang lẩn trốn, ở một nơi nào đó. Ông thợ làm vườn lẩn thẩn kia cho rằng nó đang phi nước đại về phía bắc với tốc độ nhanh hơn cả một con ngựa; nhưng tôi đời nào tin ông ấy, bởi vì ngài thấy đấy, thưa ngài, lũ sói đâu có phi nước đại nhiều như loài chó, cấu tạo cơ thể chúng không cho phép làm vậy. Sói là loài vật vô cùng tuyệt vời trong những trang sách dọa người, và tôi dám cá rằng khi chúng đi theo bầy và truy đuổi con mồi nào đó yếu thế hơn chúng, chúng có thể gây ra những tiếng động đinh tai nhức óc và cắn xé con mồi đó ra từng mảnh, bất kể đó là con gì. Nhưng, xin lạy Chúa tôi, trong thực tế, sói chỉ là một sinh vật thấp kém, trí thông minh hay lòng gan dạ chẳng bằng phân nửa một chú chó cừ khôi; và tinh thần chiến đấu của nó thì chẳng bằng một phần tư. Con sói này hoàn toàn không quen với việc chiến đấu hay thậm chí là tự thân săn mồi, và nhiều khả năng nó đang lẩn trốn và run lẩy bẩy ở đâu đó quanh Công viên, và nếu nó biết suy nghĩ, nó sẽ tự vấn xem mình sẽ kiếm bữa sáng ở xó xỉnh nào; hoặc có thể nó đã chui tọt xuống khu vực nào đó và trốn tiệt trong một hầm than. Thật đáng kinh ngạc, hẳn là cô đầu bếp nào đó sẽ phải giật bắn mình khi bắt gặp đôi mắt xanh lè của nó phát sáng trong bóng đêm! Nếu không tự kiếm được thức ăn, nó buộc lòng phải đi tìm, và biết đâu nó sẽ tình cờ lảng vảng đến một cửa tiệm thịt đúng lúc. Nếu không, và một cô bảo mẫu nào đó mải mê đi dạo với một gã lính, bỏ lại đứa trẻ sơ sinh trong xe nôi-chà, lúc đó tôi sẽ chẳng mảy may ngạc nhiên nếu kết quả điều tra dân số bị hao hụt mất một đứa bé. Chỉ vậy thôi."

Tôi đang định chìa cho ông nửa đồng bảng Anh, thì bỗng có vật gì đó đập bôm bốp vào cửa sổ, và khuôn mặt của ông Bilder dài thượt ra gấp đôi so với bình thường vì quá đỗi kinh ngạc.

"Chúa phù hộ tôi!" ông nói. "Có phải con Bersicker già nua đã tự lết xác về đây không!"

Ông rảo bước ra cửa và mở toang nó ra; một hành động xem chừng vô cùng thừa thãi đối với tôi. Tôi vẫn luôn đinh ninh rằng một con thú hoang sẽ không bao giờ mang vẻ thân thiện như vậy trừ phi có một hàng rào chắn vững chãi nào đó ngăn cách giữa chúng ta; một trải nghiệm cá nhân càng củng cố thêm suy nghĩ đó của tôi thay vì làm nó phai nhạt dần đi.

Tuy nhiên, rốt cuộc thì chẳng có gì thắng nổi thói quen, vì cả Bilder lẫn người vợ đều coi con sói đó không khác gì một con chó thân thuộc. Bản thân con vật cũng tỏ ra hiền lành và cư xử ngoan ngoãn hệt như cha đẻ của mọi con sói trong tranh vẽ-người bạn cũ của Cô bé Quàng khăn đỏ, trong lúc đang đánh lừa sự ngây thơ tin tưởng của cô bé bằng vẻ bề ngoài giả tạo.

Toàn bộ khung cảnh là một sự pha trộn khó tả giữa nét hài hước và sự bi thương. Con sói ác hiểm, kẻ đã khiến cả London tê liệt trong suốt nửa ngày trời và khiến mọi đứa trẻ trong thị trấn phải run lẩy bẩy trong tột cùng khiếp sợ, giờ lại đang chầu chực ở đó với vẻ đầy ăn năn, và được đón nhận cũng như vuốt ve hệt như một đứa con hoang đàng3 thuộc giống cáo. Lão Bilder nắn bóp khắp mình mẩy nó với sự ân cần trìu mến nhất, và khi ông kiểm tra xong đứa con đầy hối lỗi của mình, ông nói:-

"Đấy, tôi biết ngay anh bạn già tội nghiệp này sẽ rước lấy rắc rối mà; chẳng phải tôi đã tiên đoán vậy ngay từ đầu sao? Nhìn xem đầu nó bị cắt ngang dọc và dính đầy những mảnh kính vỡ này. Hẳn là nó đã gồng mình cố trèo qua một bức tường chết tiệt nào đó. Thật đáng xấu hổ khi người ta được phép rải đầy vỏ chai vỡ lên đầu tường nhà họ. Hậu quả là thế này đây. Đi nào, Bersicker."

Ông dắt con sói đi và nhốt nó trở lại chuồng, tưởng thưởng cho nó một tảng thịt đủ thỏa mãn, ít nhất là về mặt dung lượng, những điều kiện cơ bản của một con bê béo tốt, rồi cất bước đi báo cáo.

Tôi cũng rời đi, để báo cáo thông tin độc quyền duy nhất được cung cấp trong ngày hôm nay liên quan đến cuộc tẩu thoát kỳ lạ tại Vườn Bách thú.

Nhật ký của bác sĩ Seward.

17 tháng 9.-Sau bữa tối, tôi đang mải mê trong phòng làm việc để hoàn tất sổ sách. Công việc đã đình trệ nghiêm trọng do bao áp lực bủa vây cùng những chuyến ghé thăm Lucy liên miên. Đột nhiên cánh cửa bật mở, và bệnh nhân của tôi lao sầm vào, khuôn mặt méo mó vì kích động. Tôi sững sờ, bởi chuyện một bệnh nhân tự ý lẻn vào phòng làm việc của Giám đốc gần như là điều vô tiền khoáng hậu. Không chút ngập ngừng, hắn lao thẳng về phía tôi. Trên tay hắn lăm lăm một con dao ăn. Nhận thấy bộ dạng vô cùng nguy hiểm của hắn, tôi vội nấp sau chiếc bàn để làm rào chắn. Thế nhưng, hắn quá nhanh và mạnh so với tôi; trước khi tôi kịp lấy lại thăng bằng, hắn đã vung dao chém xượt qua và cứa một nhát khá sâu vào cổ tay trái của tôi. Dẫu vậy, trước khi hắn kịp vung dao lần nữa, tôi đã kịp giáng trả một cú đấm trời giáng bằng tay phải, khiến hắn ngã ngửa ra sàn. Máu từ cổ tay tôi tuôn rơi không ngừng, đọng thành một vũng nhỏ trên tấm thảm. Thấy gã điên kia không còn ý định chống cự, tôi bèn tự tay băng bó vết thương, đồng thời vẫn không quên để mắt cảnh giác bóng dáng đang nằm sóng soài trên mặt đất. Khi đám người phục vụ xông vào, chúng tôi đổ dồn sự chú ý sang hắn, và hành động lúc bấy giờ của hắn thực sự khiến tôi buồn nôn. Hắn đang nằm sấp trên sàn, thè lưỡi liếm láp như một con chó những giọt máu rỉ xuống từ cổ tay bị thương của tôi. Hắn dễ dàng bị khống chế, và thật đáng kinh ngạc, hắn ngoan ngoãn đi theo đám người phục vụ, miệng chỉ lẩm bẩm lặp đi lặp lại một câu: "Máu là sự sống!4 Máu là sự sống!"

Lúc này tôi không thể để mất thêm máu nữa; dạo gần đây tôi đã mất quá nhiều, khiến thể trạng sa sút trầm trọng. Thêm vào đó, sự căng thẳng kéo dài từ căn bệnh của Lucy cùng những cơn nguy kịch kinh hoàng của em đang vắt kiệt chút sức tàn của tôi. Tôi đã quá kích động và rã rời, tôi cần phải nghỉ ngơi, nghỉ ngơi và nghỉ ngơi. Thật may là Van Helsing chưa gọi tôi, nên tôi không phải hy sinh thêm giấc ngủ; đêm nay nếu còn thiếu ngủ, tôi sẽ gục ngã mất.

Bức điện tín, Van Helsing, Antwerp, gửi tới Seward, Carfax.

(Được gửi đến Carfax, Sussex, vì không ghi rõ quận hạt; giao trễ hai mươi hai giờ.)

"17 tháng 9.-Anh nhất định phải có mặt ở Hillingham đêm nay. Nếu không thể túc trực mọi lúc, hãy thường xuyên ghé thăm và đảm bảo những bông hoa vẫn được đặt đúng chỗ; chuyện này vô cùng quan trọng; tuyệt đối không được sơ suất. Ta sẽ đến chỗ anh sớm nhất có thể ngay khi đặt chân tới nơi."

Nhật ký của bác sĩ Seward.

18 tháng 9.-Tôi vừa bước lên chuyến tàu đến London. Sự xuất hiện của bức điện tín từ Van Helsing khiến tôi bàng hoàng tột độ. Đã lỡ mất cả một đêm dài, và qua những bài học xương máu, tôi thừa biết điều tồi tệ gì có thể xảy ra trong một đêm. Lẽ dĩ nhiên, cũng có khả năng mọi chuyện vẫn êm xuôi, nhưng chuyện gì có thể đã xảy ra? Chắc hẳn có một số phận bi thảm nào đó đang lơ lửng trên đầu chúng ta, khiến cho mọi tai ương có thể xảy ra đều cản bước những nỗ lực mà chúng ta hằng cố gắng. Tôi sẽ mang theo ống ghi âm này, để sau đó có thể hoàn thành bản thu âm trên chiếc máy hát của Lucy.

Bản ghi nhớ do Lucy Westenra để lại.

17 tháng 9. Đêm.-Tôi viết những dòng này và đặt ở nơi mọi người dễ dàng nhìn thấy, nhằm đảm bảo không một ai phải vô tình vướng bận rắc rối vì tôi. Đây là một bản ghi chép chân thực về những gì đã diễn ra đêm nay. Tôi cảm thấy mình đang lụi tàn vì kiệt sức, và hầu như chẳng còn sức lực để cầm cự nét bút, nhưng tôi phải hoàn thành việc này dẫu cho có phải chết gục trong lúc viết.

Tôi lên giường ngủ như thường lệ, cẩn thận đặt những bông hoa đúng như lời bác sĩ Van Helsing dặn dò, và nhanh chóng thiếp đi.

Tôi chợt bừng tỉnh bởi tiếng đập cánh ngoài cửa sổ. Âm thanh này đã bắt đầu xuất hiện kể từ vụ mộng du trên vách đá ở Whitby khi Mina cứu tôi, và giờ đây tôi đã quá đỗi quen thuộc với nó. Tôi không hề sợ hãi, nhưng tôi thực sự ước giá như bác sĩ Seward có mặt ở căn phòng bên cạnh-đúng như lời bác sĩ Van Helsing đã hứa giáo sư ấy sẽ túc trực ở đó-để tôi có thể cất tiếng gọi anh. Tôi cố dỗ giấc ngủ, nhưng vô vọng. Sau đó, nỗi ám ảnh thường trực về giấc ngủ lại ùa về, và tôi quyết tâm phải thức cho bằng được. Trớ trêu thay, cơn buồn ngủ lại ập đến vào đúng lúc tôi không hề mong muốn. Vì thế, vì sợ phải thui thủi một mình, tôi đã mở cửa và cất tiếng gọi: "Có ai ở đó không?" Không một tiếng trả lời. Tôi không dám đánh thức mẹ, nên đành khép cửa phòng. Ngay sau đó, ngoài lùm cây, tôi nghe thấy một tiếng tru tréo tựa tiếng chó sủa, nhưng dữ dằn và trầm đục hơn nhiều. Tôi chạy vội đến cửa sổ và nhìn ra ngoài, nhưng chẳng thấy gì cả, ngoại trừ một con dơi lớn, thứ hiển nhiên vừa đập cánh phầm phập vào cửa sổ. Do đó tôi trở lại giường, nhưng hạ quyết tâm không được ngủ. Một lúc sau cửa phòng hé mở, và mẹ ngó vào; thấy tôi cựa quậy chứng tỏ tôi chưa ngủ, mẹ liền bước vào và ngồi cạnh tôi. Mẹ dịu dàng và cất giọng êm ái hơn cả thường ngày:-

"Mẹ lo cho con quá, con gái yêu, nên mẹ vào xem con có ổn không."

Sợ mẹ sẽ nhiễm lạnh nếu cứ ngồi đó, tôi bèn rủ mẹ lên giường ngủ cùng. Mẹ bước lên và ngả lưng xuống bên cạnh tôi; mẹ không cởi áo choàng ngủ, vì mẹ bảo mẹ chỉ ở lại một lát rồi sẽ về phòng. Khi mẹ nằm đó trong vòng tay tôi, và tôi nằm gọn trong vòng tay mẹ, tiếng đập cánh ngoài cửa sổ lại vang lên. Mẹ giật mình và có chút hoảng sợ, mẹ thốt lên: "Tiếng gì vậy con?" Tôi cố gắng trấn an mẹ, và cuối cùng cũng xuôi lòng, mẹ nằm im thít; nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy trái tim đáng thương của mẹ đập liên hồi một cách đáng sợ. Một lúc sau, tiếng tru khẽ lại cất lên từ ngoài lùm cây, và ngay tức thì là một tiếng loảng xoảng vỡ vụn từ cửa sổ, kéo theo vô vàn mảnh kính vỡ vụn bắn tung tóe vãi đầy trên sàn. Tấm rèm cửa sổ tung bay bởi cơn gió mạnh lùa vào, và qua khe hở của những ô kính vỡ là cái đầu của một con sói xám to lớn, gầy nhom. Mẹ thét lên hoảng loạn, cố vật lộn để ngồi dậy, tay quờ quạng điên cuồng vào bất cứ thứ gì có thể giúp mẹ giữ thăng bằng. Trong cơn hoảng loạn tột độ, mẹ bấu chặt lấy vòng hoa mà bác sĩ Van Helsing nằng nặc bắt tôi phải đeo quanh cổ, và giật phăng nó ra khỏi người tôi. Trong một hay hai giây mẹ ngồi thẳng dậy, tay chỉ về phía con sói, và có một âm thanh sùng sục kỳ lạ, rùng rợn phát ra từ cuống họng mẹ; rồi mẹ ngã gục xuống-như thể bị sét đánh, và đầu mẹ đập vào trán tôi khiến tôi choáng váng mất vài giây. Căn phòng và vạn vật xung quanh dường như quay cuồng. Tôi vẫn dán chặt mắt vào cửa sổ, nhưng con sói đã rụt đầu lại, và một vô số những hạt bụi nhỏ li ti dường như bị thổi bay qua khung cửa vỡ vụn, xoáy vòng điên cuồng tựa như cột bụi mà những nhà thám hiểm vẫn thường miêu tả mỗi khi đối mặt với bão cát simoon giữa sa mạc. Tôi cố gắng cựa quậy, nhưng dường như có một thứ ma thuật hắc ám nào đó đã ếm lấy tôi. Cơ thể tội nghiệp của người mẹ thân yêu-dường như đã dần lạnh ngắt vì trái tim đáng thương của mẹ đã ngừng đập-đang đè nặng lên tôi; và tôi không còn nhớ gì nữa trong một chốc.

Quãng thời gian đó dường như không kéo dài quá lâu, nhưng vô cùng, vô cùng khủng khiếp, cho đến khi tôi lấy lại được ý thức. Đâu đó quanh đây, tiếng chuông báo tử đang gióng lên từng hồi; bầy chó khắp khu phố đang sủa vang râm ran; và trong lùm cây nhà chúng tôi, dường như ngay sát bên ngoài, một con chim sơn ca đang cất tiếng hót. Tôi đờ đẫn và mụ mẫm đi vì cơn đau, nỗi kinh hoàng và sự yếu ớt bủa vây, nhưng tiếng hót của chim sơn ca dường như giống hệt giọng nói của người mẹ đã khuất đang quay trở về để vỗ về tôi. Những âm thanh đó dường như cũng đánh thức cả bầy hầu gái, vì tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân trần của họ lạch bạch bên ngoài cửa phòng. Tôi gọi họ, họ ùa vào, và khi chứng kiến cảnh tượng tang thương, cùng với thi thể đang đè lên tôi trên giường, họ đã ré lên. Gió mạnh thốc vào qua khung cửa sổ vỡ vụn, và cánh cửa phòng đóng sầm lại. Họ nhấc thi thể của người mẹ thân yêu ra, đặt mẹ nằm xuống và phủ lên một tấm chăn, sau khi tôi đã gượng ngồi dậy. Tất cả bọn họ đều quá đỗi hoảng loạn và căng thẳng, đến mức tôi phải bảo họ xuống phòng ăn và mỗi người uống một ly rượu vang. Cánh cửa phòng bật mở trong tích tắc rồi lại đóng sập. Những người hầu gái ré lên, rồi kéo nhau xuống phòng ăn; còn tôi đặt những bông hoa mình có lên ngực người mẹ thân yêu. Khi những bông hoa đã yên vị, tôi chợt nhớ ra những lời bác sĩ Van Helsing dặn dò, nhưng tôi không nỡ mang chúng đi. Vả lại, bây giờ tôi sẽ nhờ một vài hầu gái thức cùng tôi. Tôi lấy làm ngạc nhiên vì họ mãi không quay lại. Tôi gọi lớn, nhưng bặt vô âm tín, vì vậy tôi bèn xuống phòng ăn để tìm.

Tim tôi chùng xuống khi chứng kiến những gì đã xảy ra. Cả bốn người bọn họ đều nằm vật vờ bất lực trên sàn, thở hổn hển. Bình rượu sherry trên bàn vẫn còn vơi một nửa, nhưng có một mùi hăng hắc kỳ lạ quẩn quanh đâu đây. Tôi nảy sinh nghi ngờ, liền kiểm tra bình rượu. Nó xộc lên mùi thuốc phiện laudanum5, và khi đảo mắt nhìn lên chiếc tủ, tôi phát hiện ra cái lọ mà bác sĩ của mẹ vẫn thường kê cho bà-ôi! đã từng dùng-nay trống trơn. Tôi phải làm sao đây? Tôi phải làm sao đây? Tôi quay trở lại căn phòng với mẹ. Tôi không thể bỏ mẹ lại, và tôi chỉ còn trơ trọi một mình, ngoại trừ đám hầu gái đang ngủ say sưa vì bị ai đó đánh thuốc mê. Đơn độc bên người chết! Tôi không dám bước ra ngoài, vì tôi vẫn văng vẳng nghe tiếng tru khẽ của con sói vọng qua khung cửa vỡ.

Không khí dường như đặc quánh những hạt bụi li ti, lơ lửng và nhảy múa theo luồng gió lùa vào từ cửa sổ, còn ánh đèn cháy leo lét với ngọn lửa xanh mờ ảo. Tôi phải làm sao đây? Xin Chúa che chở cho con khỏi mọi hiểm nguy trong đêm nay! Tôi sẽ giấu mảnh giấy này vào ngực mình, nơi họ sẽ tìm thấy khi đến để khâm liệm cho tôi. Người mẹ thân yêu của tôi đã ra đi! Đã đến lúc tôi cũng phải ra đi. Tạm biệt, Arthur thân yêu, nếu em không thể sống sót qua đêm nay. Cầu Chúa che chở cho anh, anh yêu, và xin Chúa cứu rỗi linh hồn con!



  1. Nhân vật bi kịch trong vở kịch 'Hamlet' của Shakespeare. Nàng hóa điên và chết đuối giữa những vòng hoa dại. Lucy tự so sánh mình với nàng vì cả hai đều bị bủa vây bởi hoa, nhưng tạo ra sự tương phản ám ảnh: Lucy mong một giấc ngủ bình yên, trong khi giấc ngủ của Ophelia là cái chết. 

  2. Một biến thể từ 'Berserker', ám chỉ những chiến binh Bắc Âu cổ đại nổi tiếng với sự cuồng nộ và tàn bạo trên chiến trường. Cái tên này ngầm báo hiệu bản chất hoang dã tiềm ẩn của con sói. 

  3. Một điển tích trong Kinh Thánh về người con trai bỏ nhà đi phung phí tài sản nhưng khi hối hận quay về vẫn được người cha tha thứ. Tác giả dùng để mỉa mai việc con sói sau khi gây náo loạn lại được người giữ thú ân cần chào đón. 

  4. Câu nói trích từ sách Phục Truyền Luật Lệ Ký trong Kinh Thánh với ý nghĩa tôn giáo cấm ăn huyết. Tuy nhiên, gã điên Renfield lại hiểu lệch lạc thành việc uống máu để hấp thụ sinh lực của sinh vật khác. 

  5. Một loại cồn thuốc phiện lỏng rất phổ biến ở thế kỷ 19, được sử dụng rộng rãi làm thuốc giảm đau hoặc an thần, nhưng cực kỳ độc hại và dễ gây tử vong nếu dùng quá liều.