CHƯƠNG XIV. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA MINA HARKER

Ngày 23 tháng 9.-Jonathan đã dần hồi phục sau một đêm tồi tệ. Tôi thấy trong lòng nhẹ nhõm biết bao khi anh bận rộn với công việc, bởi điều đó giúp tâm trí anh thoát khỏi những ám ảnh kinh hoàng; và ôi, tôi hạnh phúc vô ngần khi thấy gánh nặng trách nhiệm từ cương vị mới không còn oán vị lên vai anh nữa. Tôi biết anh sẽ luôn là chính mình, một Jonathan bảnh bao và vững chãi, và giờ đây, niềm tự hào trong tôi cứ dâng trào khi chứng kiến người chồng yêu dấu bước lên đỉnh cao sự nghiệp, theo kịp mọi phương diện với những trọng trách được giao. Hôm nay anh sẽ đi vắng đến tận khuya, vì anh đã dặn sẽ không về nhà dùng bữa trưa. Việc nhà đã tinh tươm đâu vào đấy, nên tôi sẽ mang cuốn nhật ký viết ở nước ngoài của anh ra, tự nhốt mình trong phòng và bắt đầu đọc...

Ngày 24 tháng 9.-Đêm qua, tôi chẳng còn chút tâm trí nào để viết lách; những dòng ghi chép rợn người của Jonathan đã khiến tôi bàng hoàng tột độ. Tội nghiệp anh! Dù tất cả những điều đó là sự thật hay chỉ là ảo giác, thì anh cũng đã phải chịu đựng những nỗi đớn đau khôn cùng. Tôi tự hỏi liệu có phần nào sự thật ẩn giấu trong những trang giấy ấy không. Phải chăng một cơn sốt màng não đã xui khiến anh viết ra những điều kinh khủng đến vậy, hay thực sự có một lý do nào khác? Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ biết được, vì tôi đâu dám mở lời gặng hỏi anh... Nhưng còn gã đàn ông chúng tôi vô tình bắt gặp hôm qua thì sao! Anh ấy có vẻ quả quyết đó chính là hắn... Tội nghiệp anh! Tôi cho rằng chính đám tang ấy đã làm anh suy sụp, kéo tâm trí anh quay cuồng trong một mớ suy tư đáng sợ nào đó... Bản thân anh cũng tin vào những điều phi lý ấy. Tôi lại nhớ đến câu nói của anh trong ngày cưới: “Trừ phi có một sứ mệnh thiêng liêng nào đó buộc anh phải đối mặt với những giờ phút cay đắng ấy, dù thức hay ngủ, dù điên hay tỉnh.” Dường như có một sợi dây vô hình kết nối mọi chuyện với nhau... Gã Bá tước gieo rắc nỗi kinh hoàng đó đang trên đường đến London... Nếu quả đúng như vậy, và hắn thực sự đặt chân đến London, mang theo hàng triệu sinh vật gớm ghiếc của mình... Biết đâu sẽ có một sứ mệnh thiêng liêng vẫy gọi; và nếu ngày đó đến, chúng tôi quyết không chùn bước... Tôi phải chuẩn bị sẵn sàng. Ngay bây giờ, tôi sẽ mang máy đánh chữ ra và bắt đầu chép lại mọi thứ. Khi ấy, chúng tôi sẽ có sẵn tài liệu để những người khác xem xét nếu tình huống bắt buộc. Và nếu thời khắc đó đến, có lẽ, với sự chuẩn bị của tôi, Jonathan tội nghiệp sẽ không phải suy sụp thêm lần nào nữa, vì tôi có thể lên tiếng thay anh và vĩnh viễn không để anh phải bận tâm hay dằn vặt vì chuyện này. Nếu có một ngày Jonathan hoàn toàn rũ bỏ được nỗi hoảng loạn bủa vây, biết đâu anh sẽ muốn trút bầu tâm sự cùng tôi, và khi ấy, tôi có thể hỏi han, tìm hiểu ngọn ngành và xem mình có thể xoa dịu vết thương lòng của anh ra sao.

Thư, Van Helsing gửi phu nhân Harker.

Ngày 24 tháng 9. (Bảo mật)

“Thưa phu nhân,-

“Tôi cúi xin phu nhân rộng lòng thứ lỗi cho việc tôi mạo muội viết bức thư này, với tư cách là một người bạn từng báo tin buồn về sự ra đi của cô Lucy Westenra. Nhờ ân tình của ngài Godalming, tôi được trao quyền xem xét các thư từ và giấy tờ của cô ấy, bởi tôi đang vô cùng bận tâm đến một số vấn đề trọng đại mang tính sống còn. Trong số đó, tôi tìm thấy những bức thư của phu nhân, minh chứng cho một tình bạn tuyệt đẹp và tình yêu thương sâu sắc mà phu nhân dành cho cô ấy. Ôi, phu nhân Mina, nhân danh tình yêu ấy, tôi khẩn khoản cầu xin phu nhân, hãy giúp tôi. Tôi cầu xin vì sự bình yên của người khác-để vãn hồi một sai lầm nghiêm trọng, và để hóa giải những kiếp nạn to lớn và kinh hoàng-mà tầm vóc của chúng có lẽ còn vượt xa những gì phu nhân có thể tưởng tượng. Liệu tôi có thể đến bái phỏng phu nhân không? Phu nhân hoàn toàn có thể tin tưởng nơi tôi. Tôi là bạn giao hảo của bác sĩ John Seward và ngài Godalming (chính là vị hôn phu Arthur của cô Lucy). Hiện tại, tôi buộc phải giữ kín chuyện này với tất cả mọi người. Nếu phu nhân cho phép, tôi sẽ lập tức bắt chuyến tàu tới Exeter để diện kiến phu nhân, xin hãy cho tôi biết địa điểm và thời gian. Tôi cúi xin phu nhân tha thứ cho sự đường đột này. Đọc những dòng thư phu nhân gửi cho Lucy tội nghiệp, tôi thấu hiểu trái tim nhân hậu của phu nhân cũng như những nỗi thống khổ mà chồng phu nhân đã phải gánh chịu; vì thế, tôi cúi xin phu nhân, nếu có thể, xin đừng để anh ấy biết chuyện này, e rằng sẽ mang lại những hậu quả khôn lường. Một lần nữa, mong phu nhân rộng lượng thứ tha, và tha thứ cho tôi.

“Van Helsing.”

Điện tín, phu nhân Harker gửi Van Helsing.

Ngày 25 tháng 9.-Hãy đến ngay hôm nay bằng chuyến tàu lúc mười giờ mười lăm phút nếu giáo sư có thể bắt kịp. Tôi có thể tiếp đón giáo sư vào bất cứ lúc nào giáo sư đến.

“Wilhelmina Harker.”

NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER.

Ngày 25 tháng 9.-Tôi không thể ngăn lòng mình khỏi cảm giác vô cùng bồn chồn khi thời khắc chuyến viếng thăm của giáo sư Van Helsing đang đến gần, bởi thẳm sâu trong lòng, tôi cứ mong mỏi rằng cuộc gặp gỡ này sẽ soi rọi ánh sáng vào trải nghiệm bi thương của Jonathan; và vì ông từng tận tình chăm sóc Lucy thân yêu tội nghiệp trong căn bệnh cuối cùng của cô ấy, ông có thể kể cho tôi nghe mọi chuyện. Phải rồi, đó mới là lý do ông đến; là vì Lucy và chứng mộng du của cô ấy, chứ đâu phải vì Jonathan. Vậy là tôi sẽ chẳng bao giờ chạm tới được sự thật cuối cùng nữa rồi! Tôi mới thật ngốc nghếch làm sao. Cuốn nhật ký kinh hoàng kia đã ám ảnh trí tưởng tượng của tôi, phủ lên mọi thứ sắc màu hắc ám của riêng nó. Chắc chắn là về Lucy rồi. Thói quen đó đã quay lại hành hạ cô gái thân yêu đáng thương, và cái đêm kinh hoàng trên vách đá hẳn đã khiến cô ấy đổ bệnh. Bị cuốn vào guồng quay công việc, tôi suýt chút nữa đã quên mất sau dạo đó, cô ấy đã ốm thập tử nhất sinh như thế nào. Chắc hẳn cô ấy đã kể cho ông nghe về chuyến phiêu lưu mộng du của mình trên vách đá, và rằng tôi là người biết rõ mọi chuyện; nên giờ đây, ông muốn tôi kể lại những gì cô ấy đã trải qua để ông có thể thấu tỏ ngọn ngành. Tôi thầm mong mình đã làm đúng khi không hé nửa lời về chuyện đó với bà Westenra; tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu bất kỳ hành động nào của mình, dù chỉ là thụ động, lại mang đến tổn thương cho Lucy thân yêu tội nghiệp. Tôi cũng hy vọng giáo sư Van Helsing sẽ không buông lời trách cứ; thời gian qua, tôi đã phải gánh chịu quá nhiều muộn phiền và âu lo, đến mức tôi cảm thấy sức chịu đựng của mình đã chạm đến giới hạn vào lúc này.

Tôi cho rằng đôi khi khóc một trận òa lại là liều thuốc tốt cho tất cả chúng ta-như những cơn mưa rào gột rửa bầu không khí thêm trong trẻo. Có lẽ việc đọc cuốn nhật ký ngày hôm qua đã đánh gục tôi, và sáng nay, Jonathan lại phải đi vắng, rời xa tôi trọn vẹn một ngày một đêm. Đây là lần đầu tiên chúng tôi chia xa kể từ ngày kết hôn. Tôi vô cùng mong mỏi người chồng thân yêu sẽ biết tự chăm sóc bản thân, và không có chuyện gì bất trắc xảy ra khiến anh muộn phiền. Đã hai giờ rồi, và giáo sư sẽ có mặt ở đây sớm thôi. Tôi sẽ không nói gì về nhật ký của Jonathan trừ khi ông ấy hỏi. Thật may là tôi đã đánh máy xong cuốn nhật ký của chính mình, để phòng trường hợp ông hỏi về Lucy, tôi có thể đưa nó cho ông; điều đó sẽ tiết kiệm được biết bao câu hỏi dông dài.

Sau đó.-Ông đã đến và đã đi. Ôi, một cuộc hội ngộ kỳ lạ làm sao, và tất cả khiến tâm trí tôi quay cuồng điên đảo! Tôi cảm thấy như một người đang lạc bước trong giấc mộng. Liệu tất cả những điều đó có thể là sự thật, hay thậm chí chỉ một phần của nó? Nếu tôi không đọc nhật ký của Jonathan trước, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận dẫu chỉ là một khả năng. Jonathan thân yêu, tội nghiệp, tội nghiệp của em! Anh hẳn đã phải chịu đựng những nỗi đau thấu tận tâm can. Cầu xin Đức Chúa nhân từ, xin đừng để những chuyện này đánh gục anh thêm một lần nữa. Tôi sẽ dốc cạn sức lực để cứu anh thoát khỏi nó; nhưng biết đâu, việc nhận ra tai mắt và tâm trí mình không hề đánh lừa mình, và rằng tất cả đều là sự thật, lại chính là niềm an ủi và sự giúp đỡ đối với anh-dẫu cho sự thật ấy có tàn khốc và để lại những hậu quả nặng nề đến mức nào. Có thể chính sự hoài nghi đang ám ảnh anh; rằng khi sự hoài nghi được xóa bỏ, bất kể thế nào-thức hay mơ-có thể chứng minh được sự thật, anh sẽ cảm thấy thanh thản hơn và có thể chịu đựng cú sốc tốt hơn. Giáo sư Van Helsing hẳn phải là một người đức độ cũng như uyên bác nếu ông là bạn của Arthur và của bác sĩ Seward, và nếu họ đã đưa ông từ Hà Lan xa xôi đến đây để chăm sóc Lucy. Ngay từ lúc gặp ông, tôi đã cảm nhận được rằng ông thực sự tốt bụng, ân cần và có một bản chất cao quý. Ngày mai, khi ông quay lại, tôi sẽ hỏi ông về Jonathan; và sau đó, cầu xin Chúa, mọi nỗi buồn và sự lo âu này có thể dẫn đến một kết cục tốt đẹp. Tôi từng nghĩ mình muốn rèn giũa kỹ năng phỏng vấn; bạn của Jonathan làm ở tờ “The Exeter News” từng bảo anh rằng trí nhớ là mọi thứ trong công việc như vậy-rằng bạn phải có khả năng ghi lại chính xác gần như từng từ được nói ra, ngay cả khi sau đó bạn phải tinh chỉnh lại một số phần. Đây là một cuộc phỏng vấn hiếm hoi; tôi sẽ cố gắng ghi lại nó nguyên văn.

Đúng hai giờ rưỡi, một tiếng gõ cửa vang lên. Tôi thu hết can đảm, nín thở chờ đợi. Vài phút sau, cô hầu phòng Mary mở cửa và cất tiếng thông báo: “Giáo sư Van Helsing.”

Tôi đứng dậy, cúi chào khi ông từ tốn bước tới. Đó là một người đàn ông có vóc dáng trung bình nhưng vạm vỡ, đôi vai hơi ngả về phía sau, nổi bật trên khuôn ngực rộng, sâu và một chiếc cổ vững chãi như bệ đỡ hoàn hảo cho cái đầu. Chỉ cần nhìn dáng vẻ của cái đầu ấy, người ta đã cảm nhận ngay được một trí tuệ sâu sắc và một sức mạnh nội tâm đáng nể. Đó là một cái đầu cao quý, cân đối, rộng và nở nang ở phần sau tai. Khuôn mặt nhẵn nhụi, được cạo sạch râu để lộ một chiếc cằm vuông vức cứng cỏi, cùng một khuôn miệng rộng, kiên quyết nhưng cũng đầy linh hoạt. Chiếc mũi khá to, hơi thẳng, với hai cánh mũi nhạy cảm, linh động dường như khẽ mở rộng ra mỗi khi hàng lông mày rậm rạp cau lại và đôi môi mím chặt. Vầng trán ông rộng và đẹp, vút lên gần như thẳng đứng trước khi dốc ngược ra phía sau qua hai gờ xương mày cách xa nhau. Vầng trán ấy khiến mái tóc màu hung đỏ không thể xõa xuống trước mặt mà tự nhiên buông thõng ra phía sau và sang hai bên. Đôi mắt to, mang sắc xanh thẫm, tinh anh nhưng có thể lập tức trở nên dịu dàng hay nghiêm nghị tùy theo tâm trạng của ông. Ông lên tiếng trước:-

“Là phu nhân Harker, phải không?” Tôi cúi đầu xác nhận.

“Trước đây là cô Mina Murray?” Tôi lại gật đầu.

“Chính Mina Murray là người tôi cần gặp, người từng là bạn tri kỷ của đứa trẻ thân yêu tội nghiệp Lucy Westenra. Phu nhân Mina à, tôi cất bước đến đây vì những người đã khuất.”

“Thưa giáo sư,” tôi cất lời, “giáo sư không cần phải có một lý do nào chính đáng hơn để gặp tôi ngoài việc ngài là một người bạn và là ân nhân của Lucy Westenra.” Nói rồi, tôi chìa tay ra. Ông nắm lấy tay tôi, dịu dàng đáp:-

“Ôi, phu nhân Mina, tôi biết rằng người bạn của cô gái trong trắng, tội nghiệp ấy hẳn phải là một người vô cùng lương thiện, nhưng tôi vẫn chưa rõ--” Ông kết thúc câu nói bằng một cái cúi chào đầy nhã nhặn. Tôi bèn hỏi xem ông muốn gặp tôi vì chuyện gì, và ông đi ngay vào vấn đề:-

“Tôi đã đọc những bức thư phu nhân gửi cho cô Lucy. Xin phu nhân thứ lỗi, nhưng tôi phải bắt đầu dò hỏi từ đâu đó, và chẳng có ai khác để tôi tìm đến cả. Tôi biết phu nhân đã ở cùng cô ấy tại Whitby. Thỉnh thoảng cô ấy có viết nhật ký-phu nhân không cần phải tỏ ra ngạc nhiên đâu, phu nhân Mina; cuốn nhật ký ấy được bắt đầu sau khi phu nhân rời đi, và chủ yếu là để học theo phu nhân thôi-và trong đó, qua những dòng suy tư, cô ấy đã kể lại vài chuyện về việc mộng du, và cả việc phu nhân đã cứu cô ấy. Trong nỗi bối rối tột cùng, tôi đành đến tìm phu nhân, khẩn cầu lòng tốt to lớn của phu nhân hãy kể lại cho tôi nghe mọi điều về chuyện đó mà phu nhân còn nhớ được.”

“Tôi nghĩ mình có thể kể cho giáo sư nghe mọi chuyện về sự việc ấy, thưa giáo sư Van Helsing.”

“À, vậy phu nhân có một trí nhớ tốt về các sự kiện và chi tiết sao? Các quý cô trẻ không phải lúc nào cũng được như vậy đâu.”

“Không hẳn đâu, thưa giáo sư, nhưng tôi đã ghi chép lại tất cả vào thời điểm đó. Tôi có thể cho giáo sư xem nếu ngài muốn.”

“Ôi, phu nhân Mina, tôi sẽ vô cùng biết ơn; phu nhân đang ban cho tôi một đặc ân lớn đấy.” Tôi không thể cưỡng lại sự cám dỗ muốn trêu chọc ông một chút-tôi cho rằng đó là chút dư vị tinh nghịch của trái táo cấm vẫn còn vương vấn trong mỗi chúng ta-vì vậy, tôi đã đưa cho ông cuốn nhật ký viết bằng tốc ký. Ông đón lấy nó, cúi đầu biết ơn và nói:-

“Tôi có thể đọc nó chứ?”

“Nếu giáo sư muốn,” tôi đáp lại với vẻ nghiêm trang nhất có thể. Ông mở cuốn sổ ra, và trong chớp mắt, nét mặt ông bỗng chùng xuống. Sau đó, ông đứng dậy và cúi chào tôi.

“Ôi, phu nhân quả là một người phụ nữ vô cùng thông minh!” ông thốt lên. “Từ lâu tôi đã biết anh Jonathan là một người đàn ông may mắn đáng ghen tị; nhưng hãy nhìn xem, vợ anh ấy mới là người hội tụ mọi điều tuyệt vời. Liệu phu nhân có sẵn lòng ban cho tôi một ân huệ nữa và giúp tôi bằng cách đọc nó cho tôi nghe không? Than ôi! Tôi lại không biết đọc tốc ký.” Lúc này trò đùa nhỏ của tôi đã kết thúc, và tôi gần như cảm thấy xấu hổ; vì vậy, tôi lấy bản sao đánh máy từ giỏ đồ khâu và đưa cho ông.

“Xin giáo sư thứ lỗi cho tôi,” tôi nói, “tôi không thể kìm lòng được; nhưng tôi biết rằng chính vì Lucy thân yêu mà giáo sư muốn hỏi thăm, và để giáo sư không phải tốn thời gian chờ đợi-không phải vì tôi, mà vì tôi biết thời gian của ngài vô cùng quý giá-tôi đã tự tay đánh máy nó ra cho giáo sư rồi.”

Ông nhận lấy xấp giấy, đôi mắt sáng rực lên. “Phu nhân thật tốt bụng,” ông nói. “Và tôi có thể đọc nó ngay bây giờ chứ? Có thể tôi sẽ muốn hỏi phu nhân một vài điều sau khi đọc xong.”

“Tất nhiên rồi,” tôi đáp lời, “giáo sư cứ thong thả đọc trong lúc tôi đi chuẩn bị bữa trưa; và sau đó ngài có thể hỏi tôi trong khi chúng ta dùng bữa.” Ông cúi chào rồi ngồi xuống chiếc ghế quay lưng lại với ánh sáng, chìm đắm vào xấp giấy tờ, trong khi tôi rời đi lo liệu bữa trưa, chủ yếu là để ông không bị ai quấy rầy. Khi quay lại, tôi thấy ông đang bước đi vội vã qua lại trong phòng, khuôn mặt bừng sáng vì phấn khích. Ông lao đến và nắm lấy hai tay tôi.

“Ôi, phu nhân Mina,” ông xúc động, “làm sao tôi có thể diễn tả hết sự hàm ơn của mình đối với phu nhân? Tập giấy này giống như một tia nắng rực rỡ vậy. Nó đã mở ra một cánh cổng cho tôi. Tôi đang choáng váng, tôi chói mắt trước quá nhiều ánh sáng, dẫu rằng những đám mây vẫn cuộn theo sau mỗi tia sáng ấy. Nhưng điều đó phu nhân không thể, không thể nào hiểu được. Ôi, tôi vô cùng biết ơn phu nhân, một người phụ nữ vô cùng thông minh. Thưa phu nhân”-ông nói điều này với vẻ vô cùng trang trọng-“nếu như Abraham Van Helsing này có thể làm được bất cứ điều gì cho phu nhân hoặc những người phu nhân yêu thương, tôi mong phu nhân đừng ngần ngại cho tôi biết. Sẽ là một niềm vinh hạnh và vui sướng tột bậc nếu tôi có thể phục vụ phu nhân như một người bạn; như một người bạn chân thành, tất cả những gì tôi từng học được, tất cả những gì tôi có thể làm được, sẽ dành trọn cho phu nhân và những người phu nhân trân quý. Trong cuộc sống có những khoảng tối tĩnh mịch, và có những tia sáng rạng ngời; phu nhân chính là một trong những tia sáng đó. Phu nhân sẽ có một cuộc đời ngập tràn hạnh phúc và tốt đẹp, và chồng phu nhân sẽ luôn được ban phước nhờ có phu nhân bên cạnh.”

“Nhưng, thưa giáo sư, ngài đã khen ngợi tôi quá lời rồi, và-và giáo sư vốn dĩ đâu có biết tôi.”

“Không biết phu nhân ư-tôi, một kẻ đã già, một người đã dành trọn cả cuộc đời để nghiên cứu về đàn ông và phụ nữ; tôi, người đã lấy bộ não, lấy mọi thứ thuộc về nó và mọi thứ xuất phát từ nó làm chuyên môn của mình! Và tôi đã đọc nhật ký của phu nhân, cuốn nhật ký mà phu nhân đã tử tế sao chép cho tôi, một văn bản toát lên sự chân thật trong từng dòng chữ. Tôi, người đã đọc bức thư vô cùng ngọt ngào của phu nhân gửi cho Lucy tội nghiệp về cuộc hôn nhân và niềm tin yêu của phu nhân, mà lại không biết phu nhân sao! Ôi, phu nhân Mina, những người phụ nữ tốt lành luôn kể lại cả cuộc đời họ, từng ngày, từng giờ, từng phút, những điều thánh thiện mà các thiên thần có thể thấu hiểu; và những người đàn ông chúng tôi, những kẻ khao khát cái biết, lại may mắn mang trong mình đôi chút nhãn quan của thiên thần. Chồng phu nhân là một người có bản chất cao quý, và phu nhân cũng vô cùng cao quý, vì phu nhân có niềm tin, và niềm tin thì không thể đâm chồi ở những nơi mang bản chất thấp hèn. Và chồng phu nhân-hãy kể cho tôi nghe về anh ấy đi. Cậu ấy đã hoàn toàn khỏe lại chưa? Cơn sốt ác nghiệt đó đã dứt hẳn, và cậu ấy đã mạnh khỏe, tráng kiện lại chưa?” Tôi nhận thấy đây là một cơ hội tốt để hỏi ông về bệnh tình của Jonathan, vì vậy tôi bèn nói:-

“Anh ấy gần như đã bình phục, nhưng anh ấy vô cùng suy sụp trước sự ra đi của ngài Hawkins.” Ông ngắt lời:-

“Ôi, vâng, tôi biết, tôi biết chứ. Tôi đã đọc hai bức thư gần đây nhất của phu nhân rồi.” Tôi tiếp tục:-

“Tôi cho rằng chính chuyện đó đã khiến anh ấy suy sụp, vì khi chúng tôi dạo bước trong thị trấn vào thứ Năm tuần trước, anh ấy đã phải chịu một cú sốc nặng nề.”

“Một cú sốc ư, lại ngay sau cơn sốt màng não chưa dứt hẳn! Điều đó không tốt chút nào. Đó là loại sốc gì vậy?”

“Anh ấy tưởng mình đã nhìn thấy một người gợi lại điều gì đó vô cùng khủng khiếp, một điều gì đó đã trực tiếp dẫn đến cơn sốt màng não của anh ấy.” Và ngay lúc này, mọi chuyện dường như đổ ập xuống khiến tôi choáng ngợp trong một cơn bão cảm xúc. Nỗi xót xa nghẹn ngào dành cho Jonathan, nỗi kinh hoàng mà anh ấy đã trải qua, toàn bộ bí ẩn đáng sợ bị giấu kín trong cuốn nhật ký của anh ấy, và nỗi sợ hãi đã bủa vây lấy tôi kể từ dạo đó, tất cả cuộn trào thành một mớ hỗn độn. Có lẽ tôi đã bị kích động quá mức, vì tôi quỳ sụp xuống, tuyệt vọng giơ hai tay về phía ông và khẩn cầu ông hãy cứu lấy chồng tôi, làm cho anh ấy khỏe lại. Ông nắm lấy tay tôi, ân cần đỡ tôi dậy, để tôi ngồi tựa trên chiếc ghế sofa và ngồi xuống bên cạnh; ông giữ chặt lấy tay tôi và cất lời với một sự dịu dàng vô hạn:-

“Cuộc đời tôi là một chuỗi ngày khô cằn và cô độc, bận rộn với công việc đến mức tôi chẳng có nhiều thời gian dành cho tình bạn; nhưng kể từ khi được người bạn John Seward gọi đến đây, tôi đã quen biết quá nhiều người tốt và chứng kiến những nghĩa cử cao đẹp đến mức tôi cảm nhận sâu sắc hơn bao giờ hết-và cảm giác ấy ngày càng lớn dần theo tuổi tác-sự cô đơn tột cùng trong cuộc đời mình. Vậy thì, hãy tin tôi, rằng tôi đến đây mang theo sự tôn trọng tuyệt đối dành cho phu nhân, và chính phu nhân đã thắp lên cho tôi niềm hy vọng-không phải niềm hy vọng về những gì tôi đang cất công tìm kiếm, mà là niềm hy vọng rằng trên đời vẫn còn những người phụ nữ tốt đẹp để làm cho cuộc sống này thêm phần hạnh phúc-những người phụ nữ tốt, mà cuộc đời và sự chân thật của họ sẽ là bài học sáng ngời cho những đứa trẻ sắp chào đời. Tôi rất vui, vô cùng vui sướng, vì tôi có thể giúp ích được chút gì đó cho phu nhân ở đây; bởi nếu chồng phu nhân đang phải chịu đựng nỗi đau, thì nỗi đau của cậu ấy hoàn toàn nằm trong phạm vi nghiên cứu và kinh nghiệm của tôi. Tôi xin hứa với phu nhân rằng tôi sẽ sẵn lòng làm tất cả những gì có thể cho cậu ấy-tất cả để đưa cuộc sống của cậu ấy trở lại mạnh mẽ và đầy nam tính, và để cuộc đời của phu nhân là một chuỗi ngày hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng bây giờ phu nhân phải dùng bữa đi đã. Phu nhân đang quá căng thẳng và có lẽ là đã lo lắng quá nhiều. Chồng Jonathan sẽ không vui khi thấy phu nhân xanh xao, tiều tụy thế này đâu; và điều anh ấy không thích ở người anh ấy yêu thương, thì chắc chắn là không tốt cho anh ấy. Do đó, vì lợi ích của chính anh ấy, phu nhân phải ăn và mỉm cười trở lại. Phu nhân đã kể cho tôi nghe mọi chuyện về Lucy, vì vậy bây giờ chúng ta sẽ tạm gác lại chuyện đó, e rằng sẽ lại khơi dậy những nỗi đau. Tôi sẽ nán lại Exeter đêm nay, vì tôi muốn suy nghĩ thật thấu đáo về những gì phu nhân đã chia sẻ, và khi suy nghĩ xong, tôi sẽ hỏi phu nhân vài câu hỏi, nếu tôi có thể. Và khi đó, phu nhân cũng sẽ kể cho tôi nghe về rắc rối của chồng Jonathan trong khả năng của phu nhân, nhưng không phải bây giờ. Phu nhân phải ăn bây giờ đã; sau đó phu nhân sẽ kể cho tôi nghe tất cả.”

Sau bữa trưa, khi chúng tôi quay lại phòng khách, ông nhẹ nhàng bảo tôi:-

“Và bây giờ, hãy kể cho tôi nghe mọi chuyện về cậu ấy đi.” Khi phải đối thoại với người đàn ông thông thái vĩ đại này, tôi bắt đầu lo sợ rằng ông sẽ coi tôi là một kẻ yếu đuối ngốc nghếch, còn Jonathan là một gã điên-cuốn nhật ký đó thực sự quá đỗi kỳ lạ-và tôi ngập ngừng, lưỡng lự không muốn nói tiếp. Nhưng ông lại quá đỗi ngọt ngào và tốt bụng, ông đã hứa sẽ giúp đỡ, và tôi đặt trọn niềm tin vào ông, vì vậy tôi cất lời:-

“Thưa giáo sư Van Helsing, những gì tôi sắp sửa kể cho giáo sư nghe kỳ quái đến mức giáo sư không được cười nhạo tôi hay chồng tôi. Từ hôm qua tôi đã như chìm trong một cơn sốt của sự hoài nghi; giáo sư phải bao dung với tôi, và đừng nghĩ tôi là kẻ ngốc nghếch chỉ vì tôi đã trót tin một nửa vào những điều vô cùng dị thường ấy.” Ông đã lập tức trấn an tôi bằng thái độ cũng như lời nói từ tốn của mình:-

“Ôi, cô gái thân mến của tôi, nếu phu nhân biết được rằng cái vấn đề mà tôi đang phải đối mặt kỳ lạ đến mức nào, chính phu nhân mới là người sẽ phải bật cười. Tôi đã học được cách không bao giờ coi thường niềm tin của bất kỳ ai, bất kể nó có kỳ lạ đến đâu. Tôi luôn cố gắng giữ cho mình một tâm trí cởi mở; và thứ có thể đóng nó lại không phải là những điều bình thường bé nhỏ của cuộc sống, mà chính là những điều kỳ lạ, những điều phi thường, những điều khiến con người ta phải hoài nghi liệu mình đã hóa điên hay vẫn còn tỉnh táo.”

“Cảm ơn giáo sư, cảm ơn giáo sư một ngàn lần! Ngài đã giúp tôi trút bỏ được một gánh nặng khổng lồ đè nặng trong tâm trí. Nếu giáo sư cho phép, tôi sẽ đưa cho giáo sư một tập tài liệu để ngài đọc. Nó có hơi dài, nhưng tôi đã đánh máy nó ra cẩn thận. Nó sẽ phơi bày cho giáo sư biết rắc rối của tôi và của Jonathan. Đó là bản sao cuốn nhật ký của anh ấy khi ở nước ngoài, ghi chép lại tất cả những gì đã xảy ra. Tôi không dám nói thêm bất cứ điều gì về nó; giáo sư sẽ tự mình đọc và đưa ra phán xét. Và sau đó khi tôi gặp giáo sư, có lẽ, ngài sẽ mở lòng từ bi mà cho tôi biết ngài nghĩ gì.”

“Tôi hứa,” ông nói khi tôi trao tập tài liệu cho ông; “sáng mai, ngay khi có thể, tôi sẽ đến thăm phu nhân và chồng phu nhân, nếu tôi có thể sắp xếp được.”

“Jonathan sẽ có mặt ở đây lúc mười một giờ rưỡi, giáo sư phải đến ăn trưa cùng chúng tôi và gặp anh ấy lúc đó nhé; giáo sư có thể kịp bắt chuyến tàu nhanh lúc 3:34, chuyến tàu này sẽ thả giáo sư ở Paddington1 trước tám giờ.” Ông tỏ ra ngạc nhiên trước kiến thức cặn kẽ về các chuyến tàu của tôi được thốt ra một cách bột phát, nhưng ông không hề biết rằng tôi đã ghi chép lại cẩn thận tất cả các chuyến tàu đến và đi khỏi Exeter, để tôi có thể hỗ trợ Jonathan trong trường hợp anh ấy đang vội.

Thế là ông cầm tập tài liệu rời đi, còn tôi ngồi lại đây chìm trong suy nghĩ-suy nghĩ mà không biết rốt cuộc mình đang nghĩ về cái gì.

Thư (trao tay), Van Helsing gửi phu nhân Harker.

Ngày 25 tháng 9, 6 giờ.

“Phu nhân Mina thân mến,-

“Tôi đã đọc xong cuốn nhật ký vô cùng tuyệt vời của chồng phu nhân. Phu nhân có thể an giấc mà không còn phải hoài nghi gì nữa. Nó dù có kỳ lạ và khủng khiếp đến đâu thì vẫn là sự thật! Tôi xin lấy sinh mạng mình ra để đảm bảo cho điều đó. Nó có thể tồi tệ hơn đối với những người khác; nhưng đối với cậu ấy và phu nhân thì không có gì phải sợ hãi cả. Cậu ấy là một người đàn ông có phẩm chất cao quý; và hãy để tôi nói cho phu nhân biết từ kinh nghiệm nhìn người của mình, rằng một người có thể hành động quả cảm như cậu ấy khi trèo xuống bức tường đó và tiến vào căn phòng đó-đúng vậy, và đi lần thứ hai-không phải là một người dễ dàng bị tổn thương vĩnh viễn bởi một cú sốc. Cả trí óc và trái tim cậu ấy đều rất ổn; tôi dám thề điều này, ngay cả khi tôi chưa từng gặp cậu ấy; vì vậy phu nhân hãy cứ yên tâm. Tôi sẽ có nhiều điều muốn hỏi cậu ấy về những chuyện khác. Tôi thật có phúc phần khi hôm nay được đến gặp phu nhân, vì tôi đã cùng một lúc học được quá nhiều điều khiến tâm trí tôi lại bị lóa mắt-lóa mắt hơn bao giờ hết, và tôi cần phải suy nghĩ.

“Người bạn trung thành nhất của phu nhân, “Abraham Van Helsing.”

Thư, phu nhân Harker gửi Van Helsing.

Ngày 25 tháng 9, 6:30 chiều.

“Giáo sư Van Helsing thân mến,-

“Một ngàn lời cảm ơn vì bức thư đầy ân tình của giáo sư, nó thực sự đã trút bỏ một gánh nặng ngàn cân trong tâm trí tôi. Thế nhưng, nếu điều đó là sự thật, thì trên đời này còn biết bao điều khủng khiếp, và sẽ tồi tệ biết nhường nào nếu gã đàn ông đó, con quái vật đó, thực sự đang ẩn nấp ở London! Tôi rùng mình khi nghĩ đến điều đó. Ngay lúc này, trong khi đang viết những dòng này, tôi đã nhận được một bức điện từ Jonathan, nói rằng anh ấy sẽ rời Launceston bằng chuyến tàu lúc 6:25 tối nay và sẽ có mặt ở đây lúc 10:18, do đó tôi sẽ không còn phải thao thức trong sợ hãi đêm nay nữa. Vậy nên, thay vì dùng bữa trưa cùng chúng tôi, giáo sư có vui lòng đến dùng bữa sáng lúc tám giờ không, nếu giờ này không quá sớm đối với giáo sư? Giáo sư có thể rời đi, nếu đang vội, bằng chuyến tàu lúc 10:30, chuyến tàu này sẽ đưa giáo sư đến Paddington lúc 2:35. Giáo sư không cần phải hồi âm thư này đâu, vì tôi sẽ hiểu rằng, nếu tôi không nghe thấy gì, giáo sư chắc chắn sẽ đến dùng bữa sáng.

“Tin tôi đi, “Người bạn trung thành và biết ơn của giáo sư, “Mina Harker.”

Nhật ký của Jonathan Harker.

Ngày 26 tháng 9.-Tôi từng đinh ninh mình sẽ chẳng bao giờ viết lại vào cuốn nhật ký này nữa, nhưng thời khắc ấy đã đến. Tối qua, khi tôi về đến nhà, Mina đã chuẩn bị tươm tất bữa tối. Sau khi dùng bữa xong, em kể cho tôi nghe về chuyến viếng thăm của giáo sư Van Helsing. Em đã trao cho ông hai bản sao cuốn nhật ký, đồng thời thổ lộ nỗi lo âu em dành cho tôi nhiều đến nhường nào. Em đưa tôi xem lá thư giáo sư gửi, minh chứng rằng mọi điều tôi viết ra đều là sự thật. Cảm giác như bức thư ấy đã tái sinh tôi thành một con người hoàn toàn mới. Bấy lâu nay, chính sự hoài nghi bóp nghẹt tâm trí về tính chân thực của chuỗi ác mộng kia đã đánh gục tôi. Tôi từng thấy mình thật bất lực, chìm nghỉm giữa màn đêm tăm tối và những mối hoài nghi không dứt. Nhưng giờ đây, khi tôi đã thực sự biết, tôi chẳng còn mảy may sợ hãi nữa, kể cả có phải đối đầu với gã Bá tước. Rốt cuộc thì hắn cũng đã toại nguyện với âm mưu xâm nhập London, và bóng hình tôi thoáng thấy chính là hắn. Hắn ta đã cải lão hoàn đồng, nhưng bằng thủ đoạn quỷ quyệt nào cơ chứ? Nếu giáo sư Van Helsing quả thực tài ba như lời Mina miêu tả, ông ấy chính là người sẽ lật tẩy và săn lùng gã. Vợ chồng tôi đã thao thức thâu đêm để bàn tính cặn kẽ mọi bề. Lúc này, Mina đang sửa soạn trang phục, còn tôi sẽ tạt qua khách sạn trong chốc lát để đón ông tới đây...

Tôi đồ rằng giáo sư đã vô cùng kinh ngạc khi gặp tôi. Vừa bước vào phòng ông và cất lời tự giới thiệu, ông liền tiến tới nắm chặt lấy bờ vai tôi, xoay mặt tôi hướng ra phía ánh sáng. Sau một thoáng dò xét bằng ánh nhìn sắc lẹm, ông cất lời:-

“Nhưng phu nhân Mina bảo tôi là anh đang ốm, rằng anh vừa trải qua một cú sốc.” Thật thú vị làm sao khi nghe người vợ yêu dấu của mình được một ông lão đôn hậu với gương mặt cương nghị gọi là “Phu nhân Mina”. Tôi mỉm cười và đáp lời:-

“Tôi đã ốm, tôi đã trải qua một cú sốc kinh hoàng; nhưng thưa giáo sư, chính ông đã chữa lành cho tôi rồi.”

“Bằng cách nào cơ chứ?”

“Nhờ bức thư giáo sư gửi cho Mina tối qua. Bấy lâu nay tôi đã luôn tự vấn, để rồi vạn vật xung quanh đều nhuốm một sắc màu hư ảo đến mức tôi chẳng biết phải vin vào đâu, đánh mất niềm tin vào cả những gì chính mắt mình chứng kiến. Khi không biết phải tin vào điều gì, tôi cũng chẳng biết mình nên làm gì; đành quẩn quanh với guồng quay công việc quen thuộc như một cỗ máy vô hồn. Nhưng thói quen ấy chẳng cứu rỗi nổi tôi, và tôi bắt đầu hoài nghi chính bản ngã của mình. Thưa giáo sư, giáo sư không thể thấu hiểu cảm giác tồi tệ nhường nào khi phải ngờ vực vạn vật, ngờ vực cả chính bản thân mình đâu. Không, giáo sư không biết đâu; với đôi chân mày uy nghi nhường ấy, sao giáo sư có thể trải qua cảm giác đó chứ.” Ông có vẻ rất hài lòng, và bật cười sảng khoái:-

“Chà chà! Anh quả là một nhà tướng số học. Từng giờ trôi qua ở đây, tôi lại học thêm được bao điều mới mẻ. Tôi sẽ vô cùng hân hạnh được đến dùng bữa sáng cùng anh; và, ôi, thưa anh, mong anh hãy lượng thứ cho lời khen ngợi từ một ông già này, nhưng anh quả thật có phúc lớn khi cưới được người vợ như thế.” Tôi có thể đứng nghe ông tán dương Mina cả ngày cũng không chán, nên tôi chỉ khẽ gật đầu và lặng im lắng nghe.

“Phu nhân là một trong những kiệt tác của Đấng Tạo Hóa, được đích thân Người tạc nên để minh chứng cho những gã đàn ông chúng ta và những người phụ nữ khác thấy rằng: thiên đường là có thật, chúng ta hoàn toàn có thể bước vào đó, và ánh sáng thánh thiện ấy có thể tỏa rạng ngay chốn trần gian này. Phu nhân quá đỗi chân thành, vô cùng ngọt ngào, vô cùng cao quý, và hiếm có mảy may ích kỷ-điều đó, để tôi nói cho anh hay, là một báu vật vô giá giữa cái thời đại quá đỗi hoài nghi và đầy rẫy tư lợi này. Còn về phần anh, thưa anh-tôi đã đọc cặn kẽ những bức thư gửi cho cô Lucy tội nghiệp, và một số trong đó có nhắc tới anh, nhờ thế mà tôi đã biết anh từ vài ngày trước qua lăng kính của những người khác; nhưng tôi chỉ thực sự nhìn thấu con người thật của anh từ tối hôm qua. Anh sẽ trao tay cho tôi chứ, phải không? Và từ nay, hãy để chúng ta trở thành những người bạn tri kỷ suốt đời.”

Chúng tôi siết chặt tay nhau. Sự chân thành và lòng tốt bao la của ông khiến tôi xúc động nghẹn ngào.

“Và bây giờ,” ông tiếp lời, “tôi có thể thỉnh cầu anh giúp thêm một việc được không? Tôi đang gánh vác một sứ mệnh trọng đại, và bước đầu tiên là phải thấu tỏ mọi chuyện. Anh chính là người có thể giúp tôi ở bước này. Anh có thể thuật lại cho tôi nghe những sự kiện đã diễn ra trước khi anh đến Transylvania được chứ? Về sau, tôi có thể sẽ phải nhờ cậy anh nhiều hơn, và theo một cách thức khác; nhưng trong lúc này, như vậy là quá đủ rồi.”

“Xin giáo sư hãy nghe đây,” tôi quả quyết đáp, “có phải những gì giáo sư đang trù tính đều liên quan đến gã Bá tước kia không?”

“Chính xác là vậy,” ông đáp lại bằng giọng trang nghiêm.

“Vậy thì tôi xin nguyện kề vai sát cánh cùng giáo sư bằng trọn vẹn trái tim và linh hồn mình. Vì giáo sư phải khởi hành trên chuyến tàu lúc 10 giờ rưỡi, giáo sư sẽ không kịp đọc chúng ngay bây giờ đâu; nhưng tôi sẽ đi lấy tập tài liệu đó. Giáo sư có thể mang theo và nghiên cứu trên tàu.”

Dùng xong bữa điểm tâm, tôi tiễn ông ra ga tàu. Lúc chia tay, ông dặn dò:-

“Có lẽ anh sẽ lên thị trấn nếu tôi nhắn gọi, và nhớ đưa cả phu nhân Mina đi cùng nhé.”

“Cả hai vợ chồng tôi sẽ có mặt bất cứ khi nào giáo sư cần,” tôi đáp lời.

Trước đó tôi đã mua cho ông vài tờ báo buổi sáng cùng những tờ báo phát hành ở London từ tối hôm qua. Trong lúc chúng tôi trò chuyện qua ô cửa sổ toa xe để chờ tàu lăn bánh, ông lật mở chúng ra xem. Đột nhiên, ánh mắt ông dường như khựng lại trước một tin tức nào đó trên tờ “The Westminster Gazette2”-tôi nhận ra ngay tờ báo nhờ màu sắc đặc trưng-và sắc mặt ông thoắt cái trở nên trắng bệch. Ông dán mắt vào bài báo, lẩm bẩm rên rỉ: “Mein Gott! Mein Gott! Nhanh quá! Thật quá đỗi nhanh chóng!” Tôi đồ rằng khoảnh khắc ấy ông chẳng còn mảy may bận tâm đến sự hiện diện của tôi nữa. Đúng lúc đó, tiếng còi rít lên xé tai, và đoàn tàu xình xịch lăn bánh. Âm thanh ấy kéo ông bừng tỉnh khỏi cơn chấn động; ông nhoài người ra khỏi cửa sổ, vẫy tay chào và gọi lớn: “Gửi lời chào thương mến của tôi đến phu nhân Mina nhé; tôi sẽ viết thư cho hai người ngay khi có thể!”

Nhật ký của bác sĩ Seward.

Ngày 26 tháng 9.-Hóa ra mọi chuyện vẫn chưa thực sự kết thúc. Chưa đầy một tuần kể từ khi tôi viết chữ "Hết", vậy mà giờ đây tôi lại phải bắt đầu lại, hay đúng hơn là viết tiếp những dòng ghi chép này. Cho đến tận chiều nay, tôi chẳng có mảy may lý do nào để vương vấn về những chuyện đã qua. Mọi biểu hiện của Renfield đều cho thấy anh ta đã tỉnh táo trở lại như xưa. Công việc kinh doanh ruồi của anh ta đang tiến triển rất tốt; và anh ta cũng vừa chuyển sang đầu tư vào nhện, nhờ vậy mà anh ta chẳng gây ra cho tôi chút rắc rối nào.

Tôi nhận được một bức thư từ Arthur, viết vào Chủ nhật. Qua đó, tôi biết rằng anh ấy đang gắng gượng vượt qua nỗi đau một cách đáng kinh ngạc. Quincey Morris hiện đang ở cùng Arthur, và đó quả thực là một nguồn an ủi lớn lao, bởi bản thân Quincey luôn tỏa ra một nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ và lạc quan. Quincey cũng viết cho tôi vài dòng ngắn ngủi, báo tin rằng Arthur đang dần tìm lại được sự phấn chấn ngày trước. Nhờ vậy, tâm trí tôi cũng phần nào nhẹ nhõm khi nghĩ về bọn họ.

Về phần mình, tôi đang quay trở lại với guồng quay công việc bằng tất cả lòng nhiệt huyết vốn có. Tôi có thể tự tin nói rằng, vết thương lòng mà Lucy tội nghiệp để lại đang dần kéo da non. Thế nhưng, giờ đây, mọi thứ lại bị đào xới lên một lần nữa; và kết cục sẽ trôi dạt về đâu, có lẽ chỉ Chúa mới thấu tỏ. Tôi có linh cảm rằng giáo sư Van Helsing biết điều gì sắp xảy ra, nhưng ông chỉ hé lộ từng chút một, đủ để khơi gợi trí tò mò đến tột độ.

Hôm qua, giáo sư đã đi Exeter và nghỉ lại đó qua đêm. Chiều nay, ông quay về. Khoảng năm giờ rưỡi, ông gần như lao sầm vào phòng tôi, rồi dúi ngay tờ “Westminster Gazette” ấn bản tối qua vào tay tôi.

"Anh nghĩ sao về chuyện này?" ông hỏi, lùi lại một bước và khoanh tay trước ngực.

Tôi chỉ đưa mắt nhìn lướt qua tờ báo, bởi quả thực tôi chẳng hiểu ông đang ám chỉ điều gì. Nhưng ông bất ngờ giật lại tờ báo từ tay tôi, chỉ thẳng vào một đoạn tin ngắn nói về những đứa trẻ bị dụ dỗ đưa đi ở Hampstead. Mẩu tin ấy chẳng đọng lại trong tôi nhiều ý nghĩa, cho đến khi tôi đọc được những dòng mô tả về các vết thương nhỏ như những lỗ châm trên cổ họng bọn trẻ. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu, tôi ngước nhìn ông.

"Sao nào?" ông gặng hỏi.

"Giống hệt những vết thương của Lucy tội nghiệp."

"Và anh suy ra được điều gì từ đó?"

"Đơn giản là chúng bắt nguồn từ cùng một nguyên nhân. Bất kể thứ gì đã làm tổn thương cô ấy cũng chính là thứ đã làm hại lũ trẻ."

Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không hiểu nổi câu trả lời của ông ngay sau đó:

"Điều anh nói chỉ đúng một cách gián tiếp, chứ không trực tiếp."

"Ý giáo sư là sao thưa giáo sư?" tôi hỏi, pha chút bỡn cợt để xua đi sự căng thẳng của ông-bởi lẽ, suy cho cùng, bốn ngày được nghỉ ngơi và giải thoát khỏi những lo âu mòn mỏi đã giúp tinh thần tôi hồi phục phần nào. Nhưng khi chạm phải ánh mắt của ông, tôi lập tức tỉnh ngộ. Chưa bao giờ, ngay cả trong những khoảnh khắc tuyệt vọng nhất khi chúng tôi cố gắng cứu chữa cho Lucy, tôi lại thấy ông nghiêm nghị đến vậy.

"Xin giáo sư hãy nói cho tôi biết!" tôi khẩn khoản. "Tôi chẳng thể đưa ra được ý kiến nào cả. Tôi không biết phải nghĩ sao, cũng chẳng có dữ liệu nào để dựa vào mà phỏng đoán."

"Anh định nói với tôi, anh bạn John, rằng anh không hề mảy may nghi ngờ về nguyên nhân dẫn đến cái chết của Lucy sao? Dù cho tôi và cả những sự việc diễn ra trước mắt đã đưa ra biết bao nhiêu gợi ý?"

"Vì chứng suy nhược thần kinh sau khi cô ấy mất đi, hoặc bị tiêu hao một lượng máu quá lớn."

"Và lượng máu đó bị mất đi hay tiêu hao bằng cách nào?"

Tôi khẽ lắc đầu. Ông bước tới, kéo ghế ngồi xuống cạnh tôi, rồi tiếp tục:

"Anh là một người thông minh, anh bạn John ạ; anh có khả năng lập luận sắc sảo, và trí tuệ của anh cũng rất táo bạo. Nhưng anh lại quá thành kiến. Anh không để cho đôi mắt mình được nhìn, cũng chẳng để cho đôi tai mình được nghe. Anh gạt bỏ tất cả những gì nằm ngoài cuộc sống thường nhật của mình. Chẳng lẽ anh không nghĩ rằng trên đời này có những thứ dù anh không thể thấu hiểu nhưng chúng vẫn đang hiện hữu sao? Rằng có những người nhìn thấy được những thứ mà kẻ khác không thể thấy? Nhưng người ta lại không cho phép con người được nhìn thấy những điều kỳ bí, cả mới lẫn cũ, chỉ vì họ tin-hay tự huyễn hoặc bản thân-vào những định lý mà những người khác đã dạy họ. Ôi chao, đó chính là điểm yếu chí mạng của thứ khoa học mà chúng ta đang tôn thờ. Nó tham vọng muốn giải thích mọi thứ; và khi thất bại, nó vội vã kết luận rằng chẳng có gì để giải thích cả. Thế nhưng, ngày qua ngày, chúng ta vẫn chứng kiến sự trỗi dậy của những niềm tin mới quanh mình, những thứ luôn tự xưng là tân tiến; mà thực chất đó chỉ là những tàn dư cũ rích, đang cố khoác lên mình tấm áo thanh xuân-giống hệt những quý phu nhân đài các trên sân khấu opera vậy. Tôi đồ rằng lúc này anh chẳng thèm tin vào sự dịch chuyển thể xác. Chẳng sao cả! Không tin vào hồn ma hiện hình. Chẳng sao cả! Không tin vào thể vía. Chẳng sao cả! Không tin vào khả năng đọc thấu tâm can. Chẳng sao cả! Không tin vào thuật thôi miên..."

"Có chứ," tôi ngắt lời. "Charcot3 đã chứng minh điều đó quá rõ ràng rồi."

Ông mỉm cười và nói tiếp: "Vậy là anh hài lòng với điều đó. Phải không? Và dĩ nhiên, khi đó anh hiểu cơ chế hoạt động của nó, và có thể dõi theo tâm trí của ngài Charcot vĩ đại-than ôi, ông ấy không còn trên cõi đời này nữa!-lặn sâu vào tận cùng tâm hồn của những bệnh nhân mà ông ấy đang điều trị. Chẳng sao cả! Vậy thì, anh bạn John, liệu tôi có thể cho rằng anh chỉ đơn giản chấp nhận bề nổi của sự thật, và bằng lòng với một khoảng trống mênh mông giữa tiền đề và kết luận không? Chẳng sao cả! Vậy hãy nói cho tôi biết-vì tôi là một người chuyên nghiên cứu về não bộ-làm thế nào anh có thể chấp nhận thuật thôi miên mà lại chối bỏ khả năng đọc thấu tâm can? Hãy để tôi nói cho anh biết, anh bạn của tôi, trong lĩnh vực khoa học điện lực ngày nay, người ta đang thực hiện những điều mà chính những nhà tiên phong phát minh ra dòng điện cũng phải coi là báng bổ-những người mà chỉ mới đây thôi còn suýt bị thiêu sống trên giàn hỏa thiêu vì bị kết án là phù thủy. Cuộc sống này vốn dĩ luôn đầy rẫy những điều bí ẩn. Tại sao ông lão Methuselah4 có thể sống tới chín trăm năm, và 'Old Parr5' thọ một trăm sáu mươi chín tuổi, trong khi Lucy tội nghiệp, với dòng máu của bốn người đàn ông cuộn chảy trong huyết quản, lại chẳng thể cầm cự thêm dù chỉ một ngày? Bởi vì, giá như cô ấy sống thêm một ngày nữa thôi, chúng ta đã có thể cứu được cô ấy rồi. Anh có thấu tận cùng mọi bí ẩn của sự sống và cái chết không? Anh có hiểu trọn vẹn về giải phẫu học so sánh, và có thể giải thích vì sao một số người lại mang trong mình bản tính của loài thú, trong khi những người khác thì không? Anh có thể giải thích cho tôi tại sao, trong khi bao con nhện khác chết yếu ớt lúc còn non, thì lại có một con nhện khổng lồ sống qua hàng thế kỷ trong tháp của một nhà thờ cổ ở Tây Ban Nha? Nó lớn lên, lớn lên mãi, cho đến khi bò xuống và uống cạn sạch dầu của tất cả những ngọn đèn trong nhà thờ. Anh có thể giải thích cho tôi tại sao ở thảo nguyên Pampas, hay ở nhiều nơi khác, lại có loài dơi chuyên bay đến vào ban đêm, dùng nanh xé toạc tĩnh mạch của ngựa, của gia súc để hút cạn máu chúng? Làm thế nào mà ở một số hòn đảo trên vùng biển phương Tây, có những con dơi treo mình lủng lẳng trên cành cây suốt cả ngày, trông hệt như những quả hạch hay vỏ đậu khổng lồ theo lời kể của những người từng thấy chúng. Và rồi khi màn đêm buông xuống, lúc các thủy thủ ngủ say trên boong tàu để tránh cái nóng oi bức, chúng sà xuống người họ. Để rồi đến sáng hôm sau, người ta phát hiện họ đã chết, nhợt nhạt và trắng bệch như thi thể của cô Lucy vậy. Anh có giải thích được không?"

"Lạy Chúa tôi, thưa giáo sư!" tôi bật dậy, kinh hãi thốt lên. "Giáo sư định nói với tôi rằng Lucy đã bị một con dơi như thế cắn sao? Rằng một sinh vật kinh tởm như vậy đang tồn tại ngay giữa lòng London, ngay trong thế kỷ mười chín này sao?"

Ông vẫy tay ra hiệu cho tôi im lặng, rồi trầm giọng nói tiếp:

"Anh có thể giải thích cho tôi tại sao loài rùa lại sống lâu hơn rất nhiều thế hệ con người; tại sao loài voi cứ bước đi mãi, sống mãi cho đến khi chứng kiến biết bao triều đại suy tàn; và tại sao loài vẹt lại chẳng bao giờ gục ngã trước vết cắn của chó mèo hay những căn bệnh thông thường không? Anh có thể giải thích cho tôi tại sao con người ở mọi thời đại, mọi miền đất đều tin rằng có một số ít người sẽ trường sinh bất tử nếu họ muốn; rằng có những người đàn ông và phụ nữ không bao giờ phải nếm mùi cái chết không? Tất cả chúng ta đều biết-bởi vì khoa học đã chứng minh sự thật này-rằng có những con cóc bị giam cầm trong những phiến đá suốt hàng ngàn năm, bị mắc kẹt trong một cái lỗ nhỏ bé vừa vặn với cơ thể nó kể từ thuở sơ khai của thế giới. Anh có thể giải thích cho tôi làm thế nào một tu sĩ Ấn Độ có thể tự đưa mình vào trạng thái chết lâm sàng và để người ta chôn cất, rồi ngôi mộ của ông ta được niêm phong cẩn thận. Người ta gieo ngô lên đó, thu hoạch, rồi lại gieo và thu hoạch hết mùa này qua mùa khác. Cuối cùng, khi người ta đến phá vỡ lớp phong ấn còn nguyên vẹn, vị tu sĩ ấy vẫn nằm đó, chưa hề chết đi. Ông ta sống lại và bước đi giữa họ như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Anh giải thích được không?"

Đến đây, tôi buộc phải ngắt lời ông. Đầu óc tôi đang dần trở nên hoảng loạn. Ông đã nhồi nhét vào tâm trí tôi một danh sách quá dài những điều kỳ dị và những thứ tưởng chừng như không thể xảy ra trong tự nhiên, khiến trí tưởng tượng của tôi bùng cháy dữ dội. Tôi lờ mờ nhận ra rằng ông đang cố dạy cho tôi một bài học nào đó, giống hệt như những gì ông từng làm trong phòng làm việc tại Amsterdam. Nhưng ngày trước, ông thường nói thẳng vấn đề để tôi có thể ghi nhớ và nghiền ngẫm. Còn bây giờ, không có sự trợ giúp ấy, tôi lại rất muốn hiểu ông đang nghĩ gì. Vì vậy, tôi cất lời:

"Thưa giáo sư, xin hãy để tôi làm cậu học trò cưng của giáo sư thêm một lần nữa. Hãy cho tôi biết luận điểm chính của ngài, để tôi có thể dùng vốn kiến thức ít ỏi của mình mà theo kịp những lời ngài nói. Ngay lúc này đây, tâm trí tôi đang nhảy múa từ điểm này sang điểm khác như một kẻ điên, chứ chẳng phải là một người tỉnh táo đang theo đuổi một ý tưởng rành mạch. Tôi cảm thấy mình giống hệt một kẻ mới vào nghề đang lóng ngóng dò dẫm bước qua một bãi lầy chìm trong sương mù dày đặc. Tôi cứ nhảy bừa từ bụi cỏ này sang bụi cỏ khác trong nỗ lực mù quáng, cốt chỉ để tiến lên mà chẳng mường tượng được mình đang đi đâu về đâu."

"Đó là một hình ảnh ẩn dụ rất hay," ông đáp lời. "Chà, tôi sẽ nói cho anh nghe. Luận điểm của tôi là thế này: Tôi muốn anh hãy tin."

"Tin vào điều gì thưa ngài?"

"Tin vào những điều mà anh cho là không thể tin được. Để tôi minh họa nhé. Tôi từng nghe kể về một người Mỹ đã định nghĩa 'niềm tin' như thế này: ‘Đó là khả năng cho phép chúng ta tin vào những điều mà chúng ta biết mười mươi là không có thật.’ Về phần mình, tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của người đàn ông đó. Ý anh ta là chúng ta phải luôn giữ cho mình một tâm trí cởi mở, và đừng bao giờ để một mảnh vỡ nhỏ nhoi của sự thật cản đường một chân lý lớn lao, cũng giống như đừng để một hòn đá nhỏ bé làm trật bánh một toa xe lửa vậy. Chúng ta nắm bắt được sự thật nhỏ bé trước. Rất tốt! Chúng ta giữ lấy nó, chúng ta trân trọng nó; nhưng dẫu vậy, chúng ta không được phép để nó tự huyễn hoặc rằng bản thân nó là toàn bộ chân lý của vũ trụ bao la này."

"Vậy là giáo sư muốn tôi đừng để cho những niềm tin vững chắc cắm rễ từ trước làm cùn nhụt đi khả năng tiếp thu của tâm trí mình trước những sự việc kỳ lạ. Tôi hiểu bài học của giáo sư như vậy có đúng không?"

"À, cậu vẫn mãi là cậu học trò cưng của tôi. Thật bõ công dạy dỗ cậu. Bây giờ, khi cậu đã sẵn sàng mở lòng ra để thấu hiểu, cậu đã bước được bước đầu tiên trên con đường tìm ra sự thật. Vậy, cậu nghĩ rằng những vết đâm nhỏ xíu trên cổ họng lũ trẻ là do chính thứ đã cướp đi sinh mạng của cô Lucy gây ra sao?"

"Tôi cho là vậy."

Ông đứng dậy, khuôn mặt toát lên vẻ trang nghiêm và nặng nề:

"Vậy thì cậu đã sai rồi. Ôi, giá như chỉ là vậy! Nhưng than ôi! Không đâu. Sự thật còn tồi tệ hơn thế, tồi tệ hơn rất nhiều, rất nhiều."

"Nhân danh Chúa, giáo sư Van Helsing, ý ngài là gì?" tôi kinh hoàng thốt lên.

Ông gieo mình xuống ghế với một cử chỉ tuyệt vọng tột cùng. Ông chống hai khuỷu tay lên bàn, gục mặt vào đôi bàn tay run rẩy, rồi cất giọng đầy chua xót:

"Chúng là do chính Lucy gây ra!"



  1. Tên một nhà ga đường sắt lớn và quan trọng nằm ở trung tâm London, đóng vai trò là nhà ga cuối của tuyến đường sắt Great Western Railway chuyên nối liền thủ đô với các khu vực phía tây nước Anh. 

  2. Một tờ báo buổi tối nổi tiếng theo đường lối tự do tại London, xuất bản từ năm 1893 đến 1928. Tờ báo này đặc trưng bởi việc được in trên giấy màu xanh lục nhạt, giải thích cho chi tiết 'nhận ra ngay tờ báo nhờ màu sắc đặc trưng'. 

  3. Jean-Martin Charcot (1825-1893) là một bác sĩ thần kinh học nổi tiếng người Pháp, được mệnh danh là cha đẻ của thần kinh học hiện đại. Thời bấy giờ, ông rất nổi tiếng với những nghiên cứu dùng thuật thôi miên để điều trị chứng cuồng loạn tâm lý. 

  4. Một nhân vật trong Kinh Thánh Cựu Ước, được ghi chép là người sống thọ nhất trần gian (969 tuổi). Cái tên Methuselah thường được dùng trong văn hóa phương Tây như một biểu tượng cho sự trường thọ phi thường. 

  5. Thomas Parr (thường gọi là Old Parr), một người đàn ông người Anh từng được đồn đại là đã sống tới 152 tuổi vào thế kỷ 16-17. Câu chuyện về tuổi thọ của ông rất nổi tiếng ở Anh và trở thành một biểu tượng dân gian.