CHƯƠNG IV. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA JONATHAN HARKER-tiếp theo

Tôi choàng tỉnh trên chính chiếc giường của mình. Nếu những gì vừa trải qua không phải là ảo ảnh, hẳn ngài Bá tước đã bế tôi về đây. Tôi cố vin vào muôn vàn lý lẽ để giải thích cho sự tình, song rốt cuộc vẫn chẳng bấu víu được vào một kết luận nào xác đáng. Quả thực, có vài dấu vết vặt vãnh sót lại, tựa như bộ y phục của tôi được gấp ghém ngay ngắn rồi cất đi theo một lề thói mà tôi chưa từng quen tay. Chiếc đồng hồ quả quýt vẫn nằm im lìm chưa được lên cót, dẫu tôi vốn giữ thói quen nề nếp là luôn vặn cót cho nó trước lúc ngả lưng, cùng vô vàn những chi tiết nhỏ nhặt khác. Tuy nhiên, những điều ấy cũng chẳng chứng minh được gì, bởi chúng hoàn toàn có thể là hệ quả cho thấy tâm trí tôi lúc đó đã rơi vào trạng thái hoảng loạn, và hẳn nhiên, tôi đã phải chịu một cú sốc tinh thần vô cùng tàn khốc. Tôi buộc lòng phải chờ đợi thêm những manh mối rõ ràng hơn. Song, có một điều khiến tôi khấp khởi mừng thầm: nếu đúng là ngài Bá tước đã vác tôi về đây và cởi bỏ đồ đạc cho tôi, thì hẳn ngài ấy đã làm trong một sự vội vã cùng cực, bởi mọi thứ trong túi áo tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tôi dám chắc cuốn nhật ký này sẽ là một vật thể đầy bí ẩn mà ngài ấy tuyệt nhiên chẳng thể nhắm mắt làm ngơ. Lẽ ra ngài ấy đã tước đoạt hoặc tiêu huỷ nó. Giờ đây, khi liếc mắt quanh quất căn phòng này, dẫu trước đó nó từng gieo rắc vào hồn tôi bao nỗi kinh hoàng, thì ngay khoảnh khắc này, nó lại hiện lên như một thánh đường bảo bọc tôi. Bởi lẽ, chẳng còn gì rùng rợn hơn những ả đàn bà gớm ghiếc kia, những kẻ đã-và đang-chực chờ để rút cạn máu trong huyết quản của tôi.

Ngày 18 tháng 5.-Dưới ánh ban mai, tôi đã mò mẫm xuống xem lại căn phòng ấy, bởi tôi phải tường tận sự thật. Khi tới trước ngưỡng cửa ngay đầu cầu thang, tôi thấy nó đã bị đóng kín bưng. Nó bị sập mạnh vào khung cửa với một lực tàn bạo đến mức một thớ gỗ đã nứt toác ra. Dù chốt khóa không hề được kéo ngang, tôi vẫn nhận ra cánh cửa đã bị khóa chặt từ bên trong. Nỗi sợ hãi ập tới, tôi e rằng đó chẳng phải là một cơn ác mộng, và tôi buộc phải tự cứu lấy mình dựa trên cái dự cảm nghiệt ngã này.

Ngày 19 tháng 5.-Chắc chắn tôi đã sa chân vào bẫy. Đêm qua, ngài Bá tước đã rót vào tai tôi những lời lẽ đường mật nhất, yêu cầu tôi viết ba bức thư. Bức thứ nhất thông báo rằng công việc của tôi tại đây đã gần hoàn tất, và tôi sẽ lên đường trở về nhà trong vài ngày tới; bức thứ hai viết rằng tôi sẽ khởi hành vào sáng hôm sau kể từ ngày đề trên thư; và bức thứ ba báo tin tôi đã rời khỏi lâu đài để đến Bistritz. Thoạt đầu, tôi toan cưỡng lại, nhưng chợt nhận ra trong tình cảnh cá chậu chim lồng này, việc công khai đối đầu với ngài Bá tước khi bản thân hoàn toàn nằm trong nanh vuốt của ngài ấy quả là một sự điên rồ tột bậc. Hơn nữa, nếu tôi cự tuyệt, tôi sẽ chỉ gieo rắc thêm mầm mống nghi ngờ và thổi bùng lên cơn thịnh nộ của ngài ấy. Ngài ấy biết tỏng rằng tôi đã nắm được quá nhiều bí mật, và tôi sẽ không được phép tồn tại trên cõi đời này nữa, kẻo lại trở thành cái gai trong mắt ngài ấy. Cơ hội mong manh duy nhất của tôi lúc này là phải câu giờ. Biết đâu một phép màu nào đó sẽ giáng xuống và ban cho tôi một con đường thoát thân. Tôi đã kịp bắt gặp tia nhìn sắc lẹm, cuồn cuộn phẫn nộ lóe lên trong đáy mắt ngài ấy, hệt như cái khoảnh khắc ngài ấy hất văng người đàn bà kiều diễm kia ra xa. Ngài ấy ôn tồn giải thích với tôi rằng bưu điện ở vùng này vừa thưa thớt lại vừa thất thường, nên việc tôi viết thư ngay lúc này sẽ giúp bạn bè tôi trút bỏ được gánh nặng lo âu. Ngài ấy còn khéo léo buông lời thuyết phục, hứa hẹn sẽ giữ lại những bức thư đề ngày sau cùng ở Bistritz, để nhỡ đâu tôi muốn kéo dài chuyến viếng thăm, ngài ấy sẽ hủy chúng đi. Thế nên, việc chống đối ngài ấy lúc này sẽ chỉ rước thêm những mối họa khôn lường. Bởi vậy, tôi đành giả lả thuận theo ý ngài ấy, và dò hỏi xem mình nên ghi ngày tháng nào lên những phong thư kia. Ngài ấy nhẩm tính trong thoáng chốc, rồi cất giọng:-

"Bức đầu tiên cậu nên ghi ngày 12 tháng 6, bức thứ hai ngày 19 tháng 6, và bức thứ ba ngày 29 tháng 6."

Giờ thì tôi đã thấu rõ lằn ranh cuối cùng của cuộc đời mình. Cúi xin Chúa rủ lòng thương xót cứu rỗi con!

Ngày 28 tháng 5.-Có một tia hy vọng để trốn thoát, hoặc chí ít là gửi được một lời nhắn nhủ về nhà. Một toán người Szgany1 đã kéo đến lâu đài và dựng trại ngay ngoài khoảng sân. Đám người Szgany này vốn là dân Digan; tôi từng ghi chép tỉ mỉ về họ trong cuốn sổ tay của mình. Họ là một bộ tộc dị biệt ở vùng đất này, dẫu vẫn mang chung dòng máu với những người Digan vất vưởng khắp cõi nhân gian. Có hàng ngàn kẻ như thế sống rải rác ở Hungary và Transylvania, những kẻ gần như chà đạp lên mọi luật lệ. Theo thông lệ, họ thường nương nhờ vào một vị quý tộc hoặc boyar thế lực nào đó, rồi tự nhận mình mang họ của vị chủ nhân ấy. Họ là những kẻ vô thần và không biết sợ là gì, họa chăng chỉ quỳ gối trước những đức tin nhuốm màu mê tín, và họ chỉ giao tiếp bằng mớ ngôn ngữ Romany pha tạp của riêng mình.

Tôi sẽ viết vài bức thư gửi về nhà, và sẽ tìm cách nài nỉ họ mang đi gửi giúp. Tôi đã chủ động bắt chuyện với họ qua khung cửa sổ để làm quen trước. Họ ngả mũ, cúi mình và làm nhiều cử chỉ tay chân đủ trò, nhưng ngoài thứ ngôn ngữ nói kỳ lạ của họ ra, tôi chẳng thể hiểu thêm được điều gì....

Tôi đã chắp bút xong những bức thư. Bức gửi cho em, Mina, tôi cẩn thận viết bằng tốc ký, và chỉ đơn giản cậy nhờ ông Hawkins chuyển lời tới em. Tôi đã bộc bạch cho em hay về tình cảnh bế tắc của mình, nhưng tuyệt nhiên giấu nhẹm đi những điều kinh hoàng mà tôi mới chỉ dám mường tượng trong đầu. Sẽ là một cú sốc chí mạng khiến em sợ đến hồn xiêu phách lạc nếu tôi phơi bày toàn bộ góc khuất trong cõi lòng mình cho em thấy. Nếu lỡ những bức thư này không đến được tay người nhận, thì ngài Bá tước cũng chẳng thể nào nắm thóp được bí mật của tôi hay đo lường được những gì tôi đã biết....

Tôi đã ném những bức thư ra ngoài; tôi tuồn chúng qua khe chấn song cửa sổ cùng với một đồng tiền vàng, rồi khua chân múa tay làm mọi ám hiệu để nhờ họ đem gửi. Gã đàn ông nhặt chúng lên đã ép chặt những phong thư vào ngực, cúi gập người chào, rồi giấu nhẹm chúng vào trong chiếc mũ của mình. Tôi chẳng thể làm gì hơn được nữa. Tôi đành rón rén quay lại phòng làm việc và vùi đầu vào những trang sách. Nhờ ngài Bá tước không bước vào, tôi mới có cơ hội nắn nót những dòng này....

Ngài Bá tước đã xuất hiện. Ngài ấy thong thả ngồi xuống cạnh tôi, và cất lên chất giọng ngọt lịm như đường khi mở tung hai bức thư ra:-

"Đám người Szgany đã đưa cho tôi những thứ này, dù chẳng rõ chúng từ đâu chui ra, nhưng tất nhiên tôi sẽ giữ gìn chúng thật cẩn thận. Nhìn xem!"-chắc mẩm ngài ấy đã săm soi qua chúng rồi-"một bức là của cậu, gửi cho người bạn Peter Hawkins của tôi; còn bức kia"-đúng khoảnh khắc ấy, ngài ấy bắt gặp những ký hiệu kỳ quái khi xé toạc phong bì, một nét u ám đen ngòm phủ kín khuôn mặt, và đôi mắt ngài ấy rực lên ngọn lửa độc ác-"bức còn lại là một thứ rác rưởi, một sự báng bổ đối với tình bạn và lòng hiếu khách! Nó chẳng hề có chữ ký. Chà! vậy thì nó cũng chẳng mang lại chút ý nghĩa nào cho chúng ta cả." Rồi ngài ấy thản nhiên cầm cả bức thư lẫn phong bì hơ trên ngọn lửa đèn cho đến khi chúng hóa thành tro bụi. Sau đó, ngài ấy thủng thẳng nói tiếp:-

"Bức thư gửi cho Hawkins-tất nhiên tôi sẽ gửi đi, vì nó là của cậu. Thư từ của cậu luôn là thứ bất khả xâm phạm đối với tôi. Mong cậu lượng thứ, người bạn của tôi, vì tôi đã trót lỡ tay bóc mất lớp niêm phong. Cậu có muốn bọc lại nó không?" Ngài ấy chìa bức thư về phía tôi, và kèm theo một cái cúi chào đầy tao nhã, ngài ấy đưa cho tôi một chiếc phong bì sạch sẽ. Tôi chỉ biết lẳng lặng ghi lại địa chỉ rồi đưa trả lại cho ngài ấy. Khi ngài ấy vừa bước ra khỏi phòng, tôi có thể nghe thấy tiếng chìa khóa xoay nhẹ nhàng êm ái. Một phút sau, tôi bước tới và thử vặn tay nắm, cánh cửa đã bị khóa chặt cứng.

Một hay hai giờ sau, ngài Bá tước lặng lẽ lướt vào phòng. Sự xuất hiện của ngài ấy đã kéo tôi ra khỏi cơn mơ, vì tôi đã trót ngủ thiếp đi trên chiếc ghế sô pha. Ngài ấy tỏ ra vô cùng lịch thiệp và rạng rỡ, và khi thấy tôi vừa mới bừng tỉnh, ngài ấy liền cất lời:-

"Chà, người bạn của tôi, cậu mệt rồi sao? Đi ngủ đi. Đó là cách nghỉ ngơi tuyệt vời nhất. Tôi e là tối nay không có hân hạnh được đàm đạo cùng cậu, vì tôi còn bộn bề công việc phải lo; nhưng mong cậu hãy an giấc." Tôi thất thểu lê bước về phòng mình và ngả lưng xuống giường. Lạ lùng thay, tôi đã chìm vào một giấc ngủ sâu không mộng mị. Có lẽ, tuyệt vọng cũng có sự tĩnh lặng của riêng nó.

Ngày 31 tháng 5.-Sáng nay khi vừa bừng tỉnh, tôi đã định rút vài tờ giấy và phong bì từ trong túi xách để nhét vào túi áo, phòng khi có cơ hội sẽ chắp bút viết thư. Nhưng hỡi ôi, lại một điều bất ngờ nữa, một cú sốc giáng xuống đầu tôi!

Mọi mẩu giấy đều không cánh mà bay, và cùng với chúng là tất thảy những ghi chép, sổ tay của tôi liên quan đến lịch trình tàu hỏa và việc đi lại, rồi cả thư tín dụng của tôi nữa, tóm lại là tất cả những thứ có thể làm phao cứu sinh cho tôi nếu tôi thoát ra khỏi tòa lâu đài này. Tôi ngồi thừ ra, vắt óc suy nghĩ một hồi, rồi một ý nghĩ xẹt qua đầu, và tôi lao vào lục tung chiếc vali cùng với tủ quần áo, nơi tôi cất giữ trang phục của mình.

Bộ đồ tôi mặc lúc đi đường đã biến mất tăm, cùng với chiếc áo khoác và tấm thảm của tôi; tôi tuyệt nhiên không thể tìm thấy dấu vết của chúng ở bất cứ ngóc ngách nào. Chuyện này hệt như một âm mưu tàn độc mới đang bủa vây lấy tôi....

Ngày 17 tháng 6.-Sáng nay, khi tôi đang ngồi thẫn thờ trên mép giường vắt óc suy nghĩ, bỗng lọt vào tai tôi tiếng roi quất vun vút hòa cùng tiếng vó ngựa dậm lộp cộp trên con đường đá dẫn lên khoảng sân bên ngoài. Tôi mừng rỡ lao vụt tới cửa sổ, và nhìn thấy hai cỗ xe ngựa chở hàng khổng lồ đang rầm rập tiến vào sân. Mỗi cỗ do tám con ngựa lực lưỡng kéo, và dẫn đầu mỗi cặp ngựa là một gã người Slovak, đầu đội chiếc mũ rộng vành, ngang lưng thắt chiếc nịt nạm đinh to bản, mình khoác chiếc áo da cừu bám đầy cáu bẩn và chân đi đôi bốt cao nghều. Trên tay họ còn lăm lăm những cây gậy dài. Tôi ba chân bốn cẳng chạy ra cửa, toan bước xuống để tìm cách trà trộn vào đám người họ qua đại sảnh, vì tôi đinh ninh rằng con đường đó có thể đang được mở ra cho họ. Nhưng hỡi ôi, lại một đòn giáng kinh hoàng nữa: cửa phòng tôi đã bị khóa chặt từ bên ngoài.

Sau đó tôi lại chạy ùa ra cửa sổ và gào thét gọi họ. Họ ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt ngây dại và trỏ tay về phía tôi. Nhưng đúng lúc đó, tên "thủ lĩnh" của đám Szgany bước ra, và thấy họ đang chỉ trỏ về phía cửa sổ phòng tôi, hắn liền thốt ra điều gì đó khiến cả đám cười rống lên. Kể từ giây phút ấy, mọi nỗ lực của tôi, mọi tiếng khóc lóc thảm thiết hay lời khẩn cầu tuyệt vọng đều chẳng thể khiến họ ban cho tôi lấy một cái nhìn. Họ lạnh lùng quay mặt đi chỗ khác. Những cỗ xe chở hàng chất đầy những chiếc rương vuông vức, có quai xách bện bằng những sợi thừng thô ráp; chúng hiển nhiên trống rỗng, thể hiện qua sự dễ dàng đến khó tin khi những gã Slovak vác chúng lên vai, và cả âm thanh vang dội phát ra khi chúng bị ném ầm ầm xuống đất. Khi mọi thứ đã được dỡ xuống và chất thành một đống lù lù ở góc sân, những gã Slovak nhận lấy vài đồng bạc lẻ từ đám Szgany, nhổ toẹt nước bọt lên đó để cầu may, rồi uể oải rảo bước về phía đầu ngựa của mình. Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng roi quất của họ chìm dần rồi mất hút vào khoảng không xa xăm.

Ngày 24 tháng 6, trước lúc tảng sáng.-Đêm qua ngài Bá tước đã rời đi từ sớm và tự nhốt mình trong phòng riêng. Ngay khi lấy lại được chút can đảm, tôi vội vã chạy lên chiếc cầu thang xoắn ốc và nhìn ra khung cửa sổ mở về hướng nam. Tôi muốn nán lại canh chừng ngài Bá tước, bởi linh tính mách bảo tôi rằng một chuyện gì đó mờ ám đang diễn ra. Đám người Szgany đã được cắm chốt ở một góc nào đó trong lâu đài và đang hì hục làm việc. Tôi dám chắc điều này, vì thi thoảng những âm thanh trầm đục, vang vọng từ nơi xa xăm lại dội đến, nghe như tiếng cuốc xẻng nện xuống đất. Dù đó là gì đi chăng nữa, thì nó cũng báo hiệu hồi kết của một âm mưu nhẫn tâm, tàn độc.

Tôi đứng tựa bên cửa sổ chưa đầy nửa giờ thì kinh ngạc phát hiện một bóng đen trườn ra từ cửa sổ phòng ngài Bá tước. Tôi vội lùi lại, nín thở quan sát, và bàng hoàng nhận ra toàn thân ngài ấy đang đu bám ngoài gờ tường. Một cú sốc nữa lại giáng xuống khi tôi thấy ngài ấy đang khoác trên mình chính bộ y phục mà tôi đã mặc khi mới đặt chân tới đây. Hơn thế nữa, chiếc túi gớm ghiếc mà lũ quỷ cái kia từng mang đi nay lại đang lủng lẳng trên vai ngài. Chẳng còn lấy một mảy may nghi ngờ về dã tâm của ngài ấy khi cố tình cải trang thành tôi! Ra là vậy, đây chính là âm mưu hiểm độc mới của ngài: ngài ấy muốn bêu rếu hình ảnh của tôi cho bàn dân thiên hạ thấy-hoặc chí ít là để họ lầm tưởng như vậy. Bằng cách đó, ngài ấy vừa tạo ra những bằng chứng giả tạo rằng tôi đã lang thang ở các thị trấn, làng mạc để tự tay gửi thư, vừa có thể gắp lửa bỏ tay người, đổ vấy lên đầu tôi mọi tội ác tày trời mà ngài ấy sắp sửa gây ra.

Cơn phẫn nộ trào dâng trong tôi đến tột độ khi nghĩ tới cảnh những chuyện đồi bại này cứ tiếp diễn, trong khi bản thân tôi thì bị giam cầm ở đây như một kẻ tù đày đúng nghĩa. Thậm chí tôi còn chẳng có lấy sự bảo vệ của pháp luật-thứ quyền lợi và niềm an ủi cơ bản nhất mà ngay cả một tên tội phạm cũng được hưởng.

Tôi quyết định sẽ kiên nhẫn ngồi phục ở bệ cửa sổ thật lâu để đợi ngài Bá tước trở về. Chợt, tôi chú ý tới những hạt lấm tấm kỳ lạ đang trôi lơ lửng giữa những tia sáng mặt trăng. Chúng nom như những hạt bụi li ti nhất, cuộn tròn rồi từ từ tụ lại thành từng đám sương mờ ảo. Tôi dõi theo vũ điệu của chúng với một cảm giác nhẹ nhõm, và rồi sự bình yên bắt đầu len lỏi khắp tâm trí. Tôi ngả người ra hõm cửa, tìm một tư thế thoải mái hơn để có thể tận hưởng trọn vẹn những vòng xoáy tuyệt đẹp trên không trung.

Nhưng bỗng nhiên, một tiếng chó tru thảm thiết, trầm thấp vọng lên từ đáy thung lũng sâu thẳm-nơi khuất lấp khỏi tầm mắt-đã giật tung tôi khỏi cơn mộng mị. Tiếng tru ấy mỗi lúc một gầm réo bên tai, và đám bụi lơ lửng kia bắt đầu uốn lượn thành những hình thù quái gở, nhảy múa điên cuồng dưới ánh trăng. Tôi cảm nhận rõ bản thân mình đang vùng vẫy để đánh thức một bản năng nguyên thủy nào đó; không, chính linh hồn tôi đang giãy giụa, và những giác quan tưởng chừng đã chai sạn của tôi đang cố vươn mình đáp lại tiếng gọi ma quái ấy. Tôi đang bị thôi miên! Bụi nhảy múa ngày một cuồng loạn; những tia sáng mặt trăng tựa như đang rung lên bần bật khi chúng sượt qua người tôi, lao thẳng vào màn sương mù mờ ảo chốn xa xăm. Chúng tụ lại mỗi lúc một dày đặc cho đến khi đúc kết thành những ảo ảnh chập chờn. Rồi tôi giật nảy mình, tỉnh táo hoàn toàn, các giác quan sắc bén trở lại, và tôi bỏ chạy thục mạng khỏi nơi đó. Những bóng ma đang dần hiện nguyên hình từ ánh trăng kia chính là ba ả đàn bà ma quái mà ngài Bá tước đã định đoạt tôi làm vật hiến tế cho chúng. Tôi cắm đầu bỏ chạy, chỉ thấy đôi chút an tâm khi đã yên vị trong căn phòng riêng, nơi ánh trăng không thể chạm tới và ngọn đèn vẫn cháy sáng tỏ.

Vài giờ đồng hồ nặng nề trôi qua, tôi chợt nghe thấy tiếng rục rịch vang lên từ phòng ngài Bá tước. Kế đến là một tiếng rên rỉ chói tai nhưng nhanh chóng bị bóp nghẹt, rồi vạn vật chìm vào một sự câm lặng kinh hoàng-thứ im lặng sâu thẳm, lạnh buốt dọc sống lưng. Trái tim đập liên hồi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, tôi thử vặn chốt cửa; nhưng tôi đã bị khóa chặt trong nhà ngục của mình, bất lực hoàn toàn. Tôi suy sụp ngồi bệt xuống đất và bật khóc nức nở.

Giữa lúc đó, một âm thanh xé lòng dội lên từ khoảng sân ngoài kia-tiếng gào khóc đau đớn tột cùng của một người phụ nữ. Tôi lao như điên tới cửa sổ, hất tung chốt, và trân trân nhìn qua những chấn song sắt. Quả thực, một người phụ nữ đang đứng đó với mái tóc rũ rượi, hai tay ôm ghì lấy ngực tựa như vừa trải qua một cuộc trốn chạy vắt kiệt sinh lực. Cô tựa lưng vào một góc cổng. Khi nhìn thấy khuôn mặt tôi lấp ló sau khung cửa sổ, cô ấy nhào người về phía trước, cất tiếng gào thét đầy đe dọa:

"Đồ quái vật, trả con cho ta!"

Cô ấy quỵ gối xuống đất, giơ hai tay lên trời, khóc lóc và gào thét những lời cay nghiệt ấy bằng một giọng điệu khiến trái tim tôi như bị bóp nghẹt. Rồi cô vò đầu bứt tóc, tự đấm thùm thụp vào ngực mình, buông tuồng bản thân chìm nghỉm trong bão tố của những cảm xúc bi thương và phẫn uất tột cùng. Cuối cùng, cô nhoài người tới trước, và dù bị khuất tầm nhìn, tôi vẫn nghe rõ mồn một tiếng đập cửa thình thịch từ đôi tay trần rướm máu của cô.

Chợt, từ một nơi nào đó chót vót trên cao-có lẽ là trên đỉnh tháp-giọng nói của ngài Bá tước rít lên, sắc lẹm và lạnh lẽo như kim loại. Lời hiệu triệu ma quái của ngài dường như ngay lập tức được đáp lời bằng những tiếng sói tru rợn gáy vang dội từ khắp bốn phương tám hướng. Chỉ vài phút sau, một bầy sói đói đã tràn tới, như một con đập vỡ tuôn trào dòng nước, chúng lao qua lối vào thênh thang để tràn ngập khoảng sân.

Không có lấy một tiếng kêu cứu nào từ người mẹ khốn khổ, và tiếng sói tru cũng nhanh chóng lụi tàn. Chỉ một chốc sau, lũ thú hoang bắt đầu tản ra, chúng vừa đi vừa liếm mép khuất dạng.

Tôi không thể xót thương cho cô ấy, bởi giờ đây tôi đã hiểu rõ số phận bi thảm của đứa con thơ kia, và cái chết đối với cô ấy lúc này âu cũng là một sự giải thoát nhẹ nhàng hơn.

Tôi phải làm gì đây? Tôi có thể làm gì? Bằng cách nào tôi có thể thoát khỏi sự kinh hoàng của bóng đêm, của sự u ám và nỗi sợ hãi tột độ này?

Ngày 25 tháng 6, buổi sáng.-Chẳng ai thấu hiểu được buổi mai có thể ngọt ngào và quý giá đến nhường nào cho tới khi họ nếm trải những đọa đày từ bóng tối. Sáng nay, khi vầng dương lên đủ cao để rọi những tia nắng xuống đỉnh vòm cổng khổng lồ đối diện cửa sổ phòng tôi, cái mỏm đá chót vót được ánh sáng chạm tới ấy bỗng hiện ra trước mắt tôi tựa như cánh chim bồ câu mang theo nhánh ô liu bay về chiếc tàu của Noah2. Nỗi kinh hoàng trong tôi tức thì tan biến, hệt như lớp sương mù tan chảy dưới hơi ấm mặt trời. Tôi phải hành động ngay lúc này, khi lồng ngực vẫn còn sục sôi dũng khí của ánh ban mai. Đêm qua, một trong những bức thư lùi ngày của tôi đã bị gửi đi, chính thức khởi động chuỗi sự kiện định mệnh hòng xóa sạch mọi dấu vết về sự tồn tại của tôi trên cõi đời này.

Đừng nghĩ ngợi thêm nữa. Hành động thôi!

Lâu nay, tôi luôn bị quấy rầy hay đe dọa, hoặc bị bủa vây bởi hiểm nguy và hoang mang tột độ mỗi khi đêm buông. Chưa một lần nào tôi bắt gặp ngài Bá tước vào ban ngày. Phải chăng ngài ấy chọn cách say giấc khi nhân loại thức tỉnh, để rồi rình rập khi mọi người đã chìm vào cõi mộng? Giá mà tôi lọt được vào căn phòng ấy! Nhưng lối đi nào cũng vô vọng. Cánh cửa luôn đóng chặt, chẳng chừa lại cho tôi dù chỉ một khe hở.

Khoan đã, vẫn còn một cách, nếu tôi đủ mạo hiểm để thực hiện. Nơi nào cơ thể ngài ấy có thể chui lọt, cớ sao một cơ thể khác lại không? Chính mắt tôi đã thấy ngài ấy bò ra ngoài qua khung cửa sổ. Tại sao tôi không thể bắt chước ngài ấy, đột nhập trở lại bằng chính con đường đó? Cơ hội tuy mỏng manh, nhưng sự khao khát sống còn trong tôi lại mãnh liệt hơn tất thảy. Tôi sẽ liều mạng. Cùng lắm thì chỉ là cái chết; mà cái chết của một con người, nào phải tầm thường như cái chết của một con bê chờ làm thịt, và chốn Vĩnh hằng đáng sợ kia biết đâu vẫn đang rộng cửa đón chờ tôi. Xin Chúa rủ lòng thương, tiếp sức cho con hoàn thành tâm nguyện này! Tạm biệt em, Mina, nếu anh gục ngã; tạm biệt ông, người bạn trung thành và cũng là người cha thứ hai của cháu; tạm biệt tất cả, và lời từ biệt cuối cùng anh xin gửi gắm nơi em, Mina!

Cùng ngày hôm đó, muộn hơn.-Tôi đã thực hiện nỗ lực liều lĩnh ấy, và tạ ơn Chúa, tôi đã an toàn trở lại căn phòng này. Tôi phải ghi chép lại mọi chi tiết thật rành mạch. Khi máu can trường vẫn đang rần rật chảy, tôi tiến thẳng ra khung cửa sổ hướng nam, và ngay lập tức đu mình ra ngoài, đặt chân lên gờ đá hẹp chạy dọc theo tòa nhà. Những phiến đá tảng thô ráp và khổng lồ, lớp vữa kết dính giữa chúng đã bị thời gian bào mòn không thương tiếc. Tôi cởi bốt ra, dấn thân vào con đường tuyệt vọng ấy. Tôi chỉ liếc nhìn xuống vực thẳm duy nhất một lần, cốt để chắc chắn rằng nỗi kinh hoàng trước độ sâu hun hút kia sẽ không quật ngã mình, rồi sau đó dứt khoát không nhìn xuống thêm nữa. Nắm khá rõ hướng đi và khoảng cách tới phòng ngài Bá tước, tôi cố hết sức nhích từng bước một, men theo những chỗ bám víu ít ỏi. Tôi không hề thấy chóng mặt-có lẽ do sự kích động đã lấn át mọi giác quan-và khoảng thời gian chênh vênh ấy trôi qua dường như chớp nhoáng tới nực cười cho tới khi tôi nhận ra mình đang đứng trên bậu cửa sổ, ra sức nạy bưng khung kính. Tuy nhiên, lòng tôi lại trào dâng một nỗi bất an tột độ khi cúi người, trượt hai chân vào trong ô cửa. Tôi vội vã đưa mắt quét quanh tìm ngài Bá tước, nhưng rồi bàng hoàng xen lẫn mừng rỡ nhận ra một sự thật. Căn phòng hoàn toàn trống không! Vài món đồ nội thất cọc cạch vứt chỏng chơ dường như chưa từng được ai động tới; kiểu dáng thì hệt như đồ đạc ở các gian phòng phía nam, phủ một lớp bụi dày cộp. Tôi cất công tìm kiếm chiếc chìa khóa, nhưng nó không cắm trong ổ, và cũng chẳng lẩn khuất ở đâu quanh đó. Thứ duy nhất tôi phát hiện ra là một đống vàng khổng lồ chất đống nơi góc phòng-đủ mọi chủng loại, từ tiền xu La Mã, Anh, Áo, Hungary, cho đến Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ3, tất thảy đều bị phủ một lớp màng bụi mờ xỉn, tựa như chúng đã bị chôn vùi dưới lòng đất sâu từ hằng bao thế kỷ. Theo những gì tôi quan sát, chẳng có đồng xu nào ở đây có tuổi đời dưới ba trăm năm. Đó là chưa kể đến vô số dây chuyền và đồ trang sức, một vài món còn đính đá quý, nhưng tất cả đều đã cũ kỹ và hoen ố vì thời gian.

Ở một góc khác hiện ra một cánh cửa gỗ nặng nề. Tôi thử vặn chốt, bởi tôi không tìm thấy chìa khóa phòng hay chìa khóa cửa ngoài-mục tiêu tối thượng trong cuộc đột nhập này, nên tôi buộc phải liều mình lục soát thêm, bằng không mọi nỗ lực nãy giờ sẽ đổ sông đổ bể. Cánh cửa vốn đã mở sẵn, dẫn qua một hành lang lát đá tới một chiếc cầu thang xoắn ốc dốc ngược. Tôi bước xuống, cẩn trọng dò dẫm từng bậc, bởi cầu thang ngập trong bóng tối, chỉ le lói chút ánh sáng hắt qua những lỗ châu mai đục xuyên bức tường đá vôi dày cộp. Dưới chân cầu thang là một lối đi hun hút tựa như đường hầm, phả ra thứ mùi chết chóc, lợm giọng, cái mùi của lớp đất cũ rích vừa mới bị xới tung. Càng lùi sâu vào hành lang, thứ mùi hôi thối ấy càng trở nên đậm đặc và ngột ngạt đến bức bối. Cuối cùng, tôi dốc sức kéo mạnh một cánh cửa đang khép hờ, và nhận ra mình đang đứng trong một tàn tích nhà nguyện hoang tàn, đổ nát, rõ ràng từng được sử dụng làm hầm mộ. Mái nhà đã vỡ toác, và có hai nơi hở ra những bậc thang dẫn xuống các gian hầm, nhưng nền đất lại vừa mới bị cày xới, đám đất đó được xúc vào những chiếc rương gỗ lớn, chắc chắn là những chiếc rương do đám người Slovak mang tới. Chẳng có lấy một bóng người quanh đó, tôi ráo riết sục sạo tìm kiếm một lối thoát hiểm nhưng vô vọng. Sau đó, tôi kiểm tra từng tấc đất để không bỏ sót bất kỳ cơ hội nào. Tôi thậm chí còn rùng mình bước xuống các hầm mộ, nơi chút ánh sáng nhợt nhạt đang cố chen lỏi vào, dẫu cho hành động ấy khiến linh hồn tôi kinh hãi tột cùng. Tôi đã lẻn vào hai trong số những hầm mộ đó, nhưng chẳng thấy gì ngoài những mảnh vỡ từ đám quan tài mục nát và bụi bặm chất đống; tuy nhiên, dưới hầm mộ thứ ba, tôi đã phát hiện ra một sự thật kinh hoàng.

Ở đó, bên trong một chiếc rương lớn, trong tổng số năm mươi chiếc như vậy, đặt trên một đống đất mới đào, chính là ngài Bá tước! Tôi không thể phân biệt nổi ngài ấy đang ngủ hay đã chết-bởi đôi mắt ngài mở trừng trừng và vô hồn, nhưng lại không vương nét đờ đẫn của tử thi-đôi má vẫn giữ được hơi ấm của sự sống ửng lên xuyên qua làn da nhợt nhạt; đôi môi thì đỏ thắm như máu. Nhưng tuyệt nhiên không có dấu hiệu cử động nào, không có mạch đập, không có hơi thở, không có nhịp tim. Tôi cúi rạp xuống nhìn ngài ấy, cố gắng bấu víu lấy bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống, nhưng hoàn toàn vô vọng. Ngài ấy không thể nằm đó quá lâu, bởi thứ mùi đất chết chóc kia đáng lẽ phải tan biến sau vài giờ. Bên cạnh chiếc rương là phần nắp bị đục lỗ lốm đốm. Tôi chợt lóe lên suy nghĩ ngài ấy có thể cất giấu chùm chìa khóa trong người, nhưng khi vừa định thò tay lục soát, tôi vô tình chạm phải đôi mắt vô hồn kia, và trong đó, dù cho ngài ấy đã chết đi chăng nữa, vẫn toát ra một ánh nhìn thù hận đến tột độ, đến mức, dù chẳng biết ngài ấy có nhận thức được sự hiện diện của tôi hay không, tôi đã phải hoảng loạn tháo chạy khỏi nơi quỷ quái đó, trốn thoát khỏi phòng ngài Bá tước qua đường cửa sổ, và lại bò trườn trên bức tường lâu đài lạnh lẽo. Về đến phòng mình, tôi gieo mình xuống giường, thở dốc và cố gắng trấn tĩnh lại mọi chuyện....

Ngày 29 tháng 6.-Hôm nay chính là ngày tháng ấn định trên bức thư cuối cùng của tôi. Và ngài Bá tước đã thực sự ra tay để chứng minh rằng đó là một bức thư thật, bởi tôi lại thấy ngài ấy rời khỏi lâu đài qua chính ô cửa sổ đó, khoác trên mình bộ quần áo của tôi. Nhìn ngài ấy trườn dọc theo bức tường thành hệt như loài thằn lằn, tôi chỉ ước sao mình có một khẩu súng hay món vũ khí sát thương nào đó để có thể tiêu diệt ngài ấy; nhưng tôi e rằng chẳng có thứ vũ khí nào do bàn tay con người chế tạo ra lại mảy may tác dụng với ngài ấy. Tôi không dám nán lại chờ ngài ấy quay về, vì sợ phải giáp mặt với những mụ phù thủy quái đản kia. Tôi đành trở lại thư viện, ngồi đọc sách cho đến khi thiếp đi lúc nào không hay.

Tôi bị đánh thức bởi ngài Bá tước. Ngài nhìn tôi bằng vẻ dữ tợn tột bậc mà một con người có thể có, rồi cất giọng:-

"Ngày mai, bạn của tôi, chúng ta phải chia tay thôi. Cậu sẽ trở về nước Anh xinh đẹp của mình, còn tôi phải lên đường lo liệu một công việc mà kết cục của nó có thể khiến chúng ta chẳng bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Bức thư gửi về nhà của cậu đã được phái đi; ngày mai tôi sẽ không có mặt ở đây, nhưng mọi thứ sẽ được chuẩn bị tươm tất cho chuyến hành trình của cậu. Sáng mai sẽ có nhóm người Szgany đến, họ có một vài việc riêng phải làm ở đây, cùng với một vài người Slovak nữa. Khi họ rời đi, cỗ xe ngựa của tôi sẽ đến đón cậu, và đưa cậu tới Đèo Borgo để bắt chuyến xe khách từ Bukovina tới Bistritz. Nhưng tôi vẫn hy vọng rằng tôi sẽ còn được vinh hạnh đón tiếp cậu nhiều hơn tại Lâu đài Dracula." Tôi sinh lòng nghi ngờ ngài ấy, và quyết định thử xem lòng thành của ngài ấy đến đâu. Lòng thành ư! Viết ra hai chữ đó khi nhắc tới một con quái vật như vậy quả thực là một sự phỉ báng ngôn từ, thế nên tôi bèn hỏi thẳng:-

"Tại sao tôi không thể đi ngay đêm nay?"

"Bởi vì, thưa cậu, người đánh xe và bầy ngựa của tôi đã đi làm nhiệm vụ mất rồi."

"Nhưng tôi rất sẵn lòng đi bộ. Tôi muốn rời đi ngay lập tức." Ngài ấy mỉm cười, một nụ cười êm ái, ngọt ngào mà hiểm độc đến mức tôi biết chắc có một mưu mô nào đó đang ẩn giấu sau vẻ êm ái ấy. Ngài ấy nói:-

"Còn hành lý của cậu thì sao?"

"Tôi không bận tâm đến nó. Tôi có thể nhờ người tới lấy vào dịp khác."

Ngài Bá tước đứng dậy, và nói với một sự lịch thiệp ngọt ngào khiến tôi phải dụi mắt, bởi nó có vẻ rất đỗi chân thành:-

"Người Anh các cậu có một câu nói rất hợp ý tôi, vì tinh thần của nó cũng chính là quy tắc chi phối các boyar chúng tôi: 'Đón tiếp nồng hậu người đến; tiễn đưa mau chóng khách đi.' Đi theo tôi, người bạn trẻ yêu quý của tôi. Cậu sẽ không phải chờ đợi trong nhà tôi dù chỉ một giờ nếu trái với ý muốn của cậu, mặc dù tôi rất buồn vì cậu phải rời đi, và cậu lại muốn điều đó một cách quá đỗi đột ngột. Đi nào!" Với vẻ nghiêm trang đầy uy quyền, ngài ấy cầm chiếc đèn đi trước tôi, bước xuống cầu thang và dọc theo đại sảnh. Đột nhiên ngài ấy dừng bước.

"Nghe kìa!"

Ngay gần đó là tiếng tru tréo của cả một bầy sói. Âm thanh đó dường như đồng loạt cất lên ngay khi ngài ấy vừa vung tay, hệt như những thanh âm của một dàn nhạc lớn tuôn trào dưới chiếc đũa chỉ huy của người nhạc trưởng. Sau một khoảnh khắc ngập ngừng, ngài ấy tiến tới cánh cửa với phong thái uy nghi, kéo tung những chiếc chốt nặng nề, tháo tung những sợi dây xích khổng lồ, và bắt đầu kéo mở cánh cửa.

Trong sự kinh ngạc tột độ, tôi nhận ra nó không hề bị khóa. Bán tín bán nghi, tôi đưa mắt nhìn quanh quất, nhưng chẳng mảy may thấy có chùm chìa khóa nào.

Khi cánh cửa bắt đầu hé mở, tiếng sói tru bên ngoài càng trở nên vang dội và giận dữ hơn; những chiếc mõm đỏ lòm với hàm răng chồm chộp, cùng những đôi chân với móng vuốt cùn khi chúng nhảy chồm lên, lao sầm sập qua khe cửa mở. Lúc bấy giờ tôi mới vỡ lẽ rằng mọi sự chống cự ngài Bá tước lúc này đều là vô ích. Với những đồng minh ghê rợn như thế dưới trướng, tôi chẳng thể làm gì được. Dẫu vậy, cánh cửa vẫn tiếp tục từ từ mở ra, và chỉ có thân hình của ngài Bá tước đứng chắn ngay khoảng trống. Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi, đây có thể chính là khoảnh khắc và phương tiện định đoạt số phận của mình; tôi sẽ bị ném cho bầy sói, và đó lại là do chính tôi tự chuốc lấy. Có một sự tàn độc quỷ quyệt trong ý nghĩ đó, hoàn toàn phù hợp với bản chất của ngài Bá tước, và như một cơ hội cuối cùng, tôi hét lên:-

"Đóng cửa lại; tôi sẽ đợi đến sáng mai!" rồi đưa tay ôm mặt để giấu đi những giọt nước mắt tuyệt vọng đắng cay. Chỉ bằng một cú gạt tay đầy uy lực, ngài Bá tước đã đóng sầm cánh cửa lại, và những chiếc chốt lớn vang lên tiếng loảng xoảng vọng khắp đại sảnh khi trượt lại vào vị trí cũ.

Chúng tôi lặng lẽ trở về thư viện, và một hai phút sau tôi lui về phòng riêng. Hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy về Bá tước Dracula là cái vẫy tay chào hôn gió của ngài ấy hướng về phía tôi; với một tia sáng đỏ của sự đắc thắng ngạo nghễ ánh lên trong đôi mắt, cùng một nụ cười mà đến cả tên phản đồ Judas4 dưới địa ngục cũng phải lấy làm tự hào.

Khi đang ở trong phòng và chuẩn bị ngả lưng, tôi mơ hồ nghe thấy tiếng thì thầm ngoài cửa. Tôi rón rén bước tới và áp tai lắng nghe. Trừ khi tai tôi bị lãng, tôi đã thực sự nghe thấy giọng nói của ngài Bá tước:-

"Lùi lại, lùi về chỗ của các ngươi ngay! Chưa tới lúc của các ngươi đâu. Chờ đi! Hãy kiên nhẫn! Đêm nay là của ta. Đêm mai sẽ là của các ngươi!" Có một tràng cười rúc rích khe khẽ, ngọt ngào vang lên, và trong cơn giận dữ tột độ, tôi hất tung cánh cửa ra, nhìn thấy ba người phụ nữ khủng khiếp kia đang liếm mép bên ngoài. Khi tôi vừa xuất hiện, tất cả bọn họ đều hùa vào cười một điệu cười ghê rợn, rồi vội vã bỏ chạy.

Tôi trở lại phòng và quỳ sụp xuống. Vậy là hồi kết đã đến rất gần rồi sao? Ngày mai! ngày mai! Lạy Chúa, xin Người hãy cứu rỗi con, và những người mà con yêu thương!

Ngày 30 tháng 6, buổi sáng.-Đây có lẽ sẽ là những dòng cuối cùng tôi từng viết trong cuốn nhật ký này. Tôi đã thiếp đi cho tới ngay trước lúc rạng đông, và khi tỉnh giấc, tôi quỳ sụp xuống, bởi tôi đã hạ quyết tâm rằng nếu Tử thần có gõ cửa, thì ông ta sẽ thấy tôi đã sẵn sàng đón nhận.

Cuối cùng, tôi cũng cảm nhận được sự chuyển biến tinh tế trong không khí, và biết rằng buổi sáng đã đến. Rồi tiếng gà gáy cất lên chào đón bình minh, và tôi cảm thấy mình đã được an toàn. Với một trái tim rộn ràng hy vọng, tôi mở tung cửa phòng và chạy ùa xuống sảnh. Tôi đã từng tận mắt thấy cánh cửa đó không khóa, và giờ đây cơ hội trốn thoát đang bày ra ngay trước mắt. Bằng đôi bàn tay run rẩy vì háo hức, tôi tháo tung những sợi xích và kéo bật những chiếc chốt khổng lồ ra.

Nhưng cánh cửa không hề nhúc nhích. Nỗi tuyệt vọng bủa vây lấy tôi. Tôi kéo, kéo mãi cánh cửa, rồi lay mạnh nó đến mức, dù to lớn và nặng nề là vậy, nó vẫn kêu lạch cạch trong khung cửa. Tôi có thể thấy chốt khóa đã bị gài chặt. Nó đã bị khóa lại ngay sau khi tôi rời khỏi ngài Bá tước.

Rồi một khao khát mãnh liệt thôi thúc tôi phải đoạt bằng được chiếc chìa khóa đó bằng bất cứ giá nào, và ngay tại đó, ngay lúc đó, tôi quyết định trèo tường một lần nữa để đột nhập vào phòng ngài Bá tước. Ngài ấy có thể sẽ giết tôi, nhưng cái chết lúc này lại có vẻ là sự giải thoát nhẹ nhàng hơn trong số những điều tồi tệ. Không chút do dự, tôi lao về phía cửa sổ hướng đông, và lồm cồm trèo xuống bức tường y như lần trước, để lọt vào phòng ngài Bá tước. Căn phòng trống không, nhưng điều đó hoàn toàn nằm trong dự tính của tôi. Tôi chẳng thấy chiếc chìa khóa nào cả, chỉ có đống vàng vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Tôi bước qua cánh cửa ở góc phòng, lần bước xuống chiếc cầu thang xoắn ốc, đi dọc theo hành lang tăm tối để tiến tới nhà nguyện cũ. Giờ thì tôi đã biết quá rõ phải tìm con quái vật mà mình đang truy lùng ở đâu rồi.

Chiếc rương lớn vẫn nằm ở chỗ cũ, sát sạt vào bức tường, nhưng nắp đã được đậy lên, tuy chưa đóng chặt, mà chỉ có những chiếc đinh đã được đặt sẵn vào vị trí chờ bị đóng gập xuống. Tôi biết mình phải lục soát cái xác đó để lấy chìa khóa, nên tôi nhấc chiếc nắp lên, tựa nó vào bức tường; và rồi tôi nhìn thấy một cảnh tượng khiến tâm hồn mình ngập tràn sự kinh hoàng tột độ. Ngài Bá tước đang nằm đó, nhưng trông như thể ngài ấy đã lấy lại được phân nửa tuổi trẻ, bởi mái tóc và bộ ria mép trắng toát đã chuyển sang màu xám đen pha chút sắc sắt; đôi má đã đầy đặn hơn, và lớp da trắng bệch dường như đang ửng lên màu hồng ngọc bên dưới; khuôn miệng lại đỏ hơn bao giờ hết, bởi trên đôi môi là những vệt máu tươi đang rỉ ra từ hai khóe miệng, chảy dòng xuống tận cằm và cổ. Thậm chí đôi mắt sâu hoắm, rực lửa kia giờ đây dường như đang lọt thỏm giữa những tảng thịt sưng húp, bởi mí mắt và những bọng thịt bên dưới đã phù nề tấy đỏ. Có vẻ như toàn bộ sinh vật gớm ghiếc ấy đã được no nê bằng máu. Ngài ấy nằm đó hệt như một con đỉa bẩn thỉu, kiệt sức vì đã hút quá no mồi. Tôi rùng mình ớn lạnh khi cúi xuống chạm vào ngài ấy, và mọi giác quan trong tôi đều cảm thấy kinh tởm trước sự tiếp xúc này; nhưng tôi buộc phải lục soát, nếu không tôi sẽ nắm chắc cái chết. Đêm tới rất có thể sẽ chứng kiến chính cơ thể tôi trở thành bữa tiệc tương tự cho ba người phụ nữ kinh hãi kia. Tôi sờ soạng khắp cơ thể, nhưng chẳng mảy may tìm thấy dấu vết nào của chiếc chìa khóa. Sau đó tôi khựng lại và trân trối nhìn ngài Bá tước. Có một nụ cười nhạo báng vương trên khuôn mặt sưng húp kia dường như khiến tôi phát điên. Đây chính là sinh vật mà tôi đang góp sức để đưa tới London, nơi mà biết đâu, trong hàng thế kỷ sắp tới, hắn ta có thể len lỏi giữa hàng triệu cư dân đông đúc ở đó, thỏa mãn cơn khát máu vô tận của mình, và tạo ra một vòng tròn ngày càng mở rộng những kẻ bán rẻ linh hồn cho ác quỷ để bòn rút máu của những người vô tội. Chính cái suy nghĩ đó đã khiến tôi phát điên. Một khát khao mãnh liệt trỗi dậy trong tôi, tôi muốn giải thoát thế giới khỏi một con quái vật như vậy. Chẳng có món vũ khí sát thương nào trong tay, nhưng tôi đã với lấy một chiếc xẻng mà đám thợ làm công vừa dùng để lấp đầy những chiếc rương, tôi giương nó lên cao, và quật mạnh lưỡi xẻng giáng thẳng xuống khuôn mặt gớm ghiếc kia. Nhưng ngay khi tôi vừa vung xẻng, cái đầu đó bỗng quay ngoắt lại, và đôi mắt trừng trừng nhìn tôi, với tất cả sự bừng bừng của một nỗi kinh hoàng hệt như ánh nhìn của quái thú basilisk5. Cảnh tượng ấy dường như đã làm tôi tê liệt hoàn toàn, chiếc xẻng chệch hướng trong tay tôi và chỉ sượt qua khuôn mặt, tạo thành một vết rạch sâu hoắm phía trên trán. Chiếc xẻng rơi khỏi tay tôi đập chan chát xuống rương, và khi tôi vội vàng kéo nó ra, phần gờ của lưỡi xẻng đã móc vào cạnh của chiếc nắp khiến nó lật úp xuống, che khuất thứ gớm ghiếc kia khỏi tầm mắt của tôi. Hình ảnh cuối cùng tôi kịp nhìn thấy là khuôn mặt sưng phù, bê bết máu và đông cứng lại bằng một nụ cười ác độc mỉa mai, thứ nụ cười chỉ có thể tồn tại được ở tận cùng vực thẳm dưới địa ngục sâu nhất.

Tôi cứ suy nghĩ mãi xem bước tiếp theo mình nên làm gì, nhưng đầu óc tôi dường như đang bốc hỏa, và tôi cứ mòn mỏi chờ đợi với một cảm giác tuyệt vọng đang ngày một lớn dần. Trong lúc chờ đợi, tôi nghe thấy từ đằng xa tiếng hát của người Digan vang lên bằng những giọng điệu vui tươi đang tiến lại gần, và xen lẫn trong bài hát của họ là tiếng bánh xe lăn ầm ầm cùng tiếng roi quất vun vút; nhóm người Szgany và những người Slovak mà ngài Bá tước từng nhắc tới đang đến. Với một cái nhìn cuối cùng bao quát xung quanh và hướng về phía chiếc rương chứa cơ thể ghê tởm đó, tôi bỏ chạy khỏi nơi đó và trốn về phòng ngài Bá tước, quyết tâm lao vụt ra ngoài ngay đúng khoảnh khắc cánh cửa được mở ra. Vểnh tai lên nghe ngóng, tôi nghe thấy từ tầng dưới tiếng chìa khóa vặn chói tai trong ổ khóa khổng lồ và tiếng cánh cửa nặng nề bật mở. Ắt hẳn là phải có một lối vào nào đó khác, hoặc ai đó đã giữ chìa khóa của một trong những cánh cửa bị khóa. Sau đó là tiếng bước chân dầm dập vang lên rồi lịm dần ở một lối đi nào đó, vọng lên những âm thanh loảng xoảng vang dội. Tôi vội vã quay lại định chạy xuống hầm mộ, nơi tôi hy vọng có thể tìm thấy lối vào mới đó; nhưng ngay lúc đó dường như có một luồng gió mạnh thổi thốc qua, và cánh cửa dẫn tới chiếc cầu thang xoắn ốc bị đóng sập lại với một chấn động rung chuyển cả khung cửa, làm tung bay lớp bụi mù mịt từ trên đà ngang của cánh cửa. Khi tôi chạy tới định đẩy cửa mở, tôi cay đắng phát hiện ra nó đã bị khóa cứng đến mức vô vọng. Tôi lại trở thành một kẻ tù nhân, và tấm lưới định mệnh đang ngày càng siết chặt lấy tôi hơn bao giờ hết.

Khi tôi đang run rẩy viết những dòng này, dưới hành lang có tiếng dầm dập của rất nhiều bước chân và tiếng va đập của những vật nặng bị đặt phịch xuống, chắc chắn đó là những chiếc rương, mang theo khối lượng đất khổng lồ của chúng. Có tiếng búa nện chan chát; đó là chiếc rương đang bị đóng đinh. Bây giờ tôi có thể nghe thấy những bước chân nặng nề đó lại dầm dập đi dọc theo đại sảnh, kéo theo sau là vô số những bước chân rảnh rỗi khác.

Cánh cửa đã đóng lại, và tiếng xích loảng xoảng vang lên; có tiếng vặn chìa khóa trong ổ; tôi có thể nghe thấy tiếng chìa khóa được rút ra: sau đó một cánh cửa khác mở ra rồi đóng lại; tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt của ổ khóa và chốt cài.

Nghe kìa! ngoài sân và dưới con đường đá vang lên tiếng bánh xe lăn ầm ầm, tiếng roi quất vun vút, và dàn đồng ca của nhóm người Szgany khi họ khuất dần vào cõi xa xăm.

Tôi chỉ còn trơ trọi một mình trong lâu đài cùng với những người phụ nữ kinh khủng kia. Kinh tởm thay! Mina là phụ nữ, và chẳng có chút điểm chung nào với họ cả. Bọn chúng là lũ ác quỷ ngoi lên từ Vực thẳm!

Tôi sẽ không cam chịu ở lại một mình với chúng; tôi sẽ cố gắng trèo xuống bức tường lâu đài xa hơn những gì tôi từng nỗ lực. Tôi sẽ mang theo một chút vàng, phòng khi tôi cần tới nó sau này. Tôi hy vọng có thể tìm được một lối thoát khỏi nơi kinh hoàng này.

Và sau đó lên đường về nhà! đi tới chuyến tàu nhanh nhất và gần nhất! rời khỏi chốn chết tiệt này, khỏi vùng đất chết tiệt này, nơi ác quỷ và những đứa con của hắn vẫn đang dạo bước bằng đôi chân trần tục!

Dẫu sao thì sự khoan dung của Chúa vẫn tốt đẹp hơn gấp ngàn lần sự khoan dung của những con quái vật kia, và vách đá thì dốc đứng và cao ngất ngưởng. Dưới chân vách đá, một con người có thể yên giấc ngàn thu-như một con người. Tạm biệt tất cả mọi người! Mina!



  1. Người Szgany là một nhánh của người Romany (người Digan) sống tại vùng Đông Âu. Trong văn hóa thời bấy giờ, họ thường sống du mục, bị coi là nằm ngoài vòng pháp luật và thường phục vụ cho các thế lực phong kiến hoặc bóng tối, tạo thêm không khí bí ẩn, hoang dã. 

  2. Đây là một điển tích trong Kinh Thánh: Khi cơn đại hồng thủy sắp kết thúc, Noah thả bồ câu ra khỏi tàu và nó ngậm nhánh ô liu bay về, báo hiệu mặt đất đã hồi sinh. Hình ảnh này tượng trưng cho sự cứu rỗi và niềm hy vọng sống sót mãnh liệt giữa muôn trùng tuyệt vọng. 

  3. Chi tiết này tiết lộ bề dày lịch sử thực sự của ngài Bá tước. Nó cho thấy ngài không phải là một con người bình thường mà đã sống qua nhiều thế kỷ, chứng kiến vô số cuộc chiến tranh và sự sụp đổ của các đế chế Âu - Á để thu thập khối tài sản này. 

  4. Judas Iscariot là kẻ đã phản bội Chúa Jesus trong Kinh Thánh, biểu tượng của sự dối trá và phản trắc. Việc so sánh nụ cười của Dracula với Judas nhằm nhấn mạnh bản chất độc ác, xảo quyệt và sự phản bội trắng trợn lòng hiếu khách của ngài. 

  5. Basilisk là loài quái thú huyền thoại trong thần thoại phương Tây (Vua của loài rắn), có khả năng giết chết nạn nhân chỉ bằng một ánh mắt. Sự so sánh này làm nổi bật sức mạnh tà ác và áp lực khiếp đảm tỏa ra từ cái nhìn của ác quỷ.