CHAPTER X. GHI CHÉP CÁ NHÂN CỦA MINA MURRAY

Letter, Dr. Seward to Hon. Arthur Holmwood.

6 September.

“Art thân mến,-

“Tin tức hôm nay của tôi chẳng mấy khả quan. Sáng nay, Lucy lại yếu đi đôi chút. Dẫu vậy, trong cái rủi vẫn le lói một tia sáng; bà Westenra vì quá đỗi âu lo cho con gái nên đã nhờ tôi đích thân chẩn bệnh cho em. Tận dụng cơ hội này, tôi bèn cho bà hay rằng Giáo sư Van Helsing, một chuyên gia lỗi lạc và cũng là người thầy cũ khả kính của tôi, sắp tới đây tá túc. Tôi sẽ cùng ông dốc lòng chữa trị cho Lucy. Nhờ vậy, chúng tôi có thể tự do ra vào thăm khám mà không làm bà hoảng sợ vô cớ. Bởi lẽ, trong tình cảnh ngặt nghèo hiện tại, một cú sốc dù nhỏ nhất cũng đủ cướp đi sinh mệnh của bà, và kéo theo đó là một thảm kịch giáng xuống cô gái đang mỏng manh như chiếc lá úa của chúng ta. Vô vàn trắc trở đang bủa vây tứ phía, anh bạn già khốn khổ của tôi ạ; nhưng nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ vượt qua tất cả. Tôi sẽ lập tức gửi thư nếu có biến chuyển, vậy nên, chừng nào chưa nhận được tin tức từ tôi, cậu cứ an tâm rằng tôi chỉ đang chờ đợi tình hình. Viết vội,

Mãi là bạn của cậu,
“John Seward.”

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 7 tháng 9.-Ngay khi vừa chạm mặt tôi tại ga phố Liverpool1, câu đầu tiên Van Helsing hỏi là:-

“Anh đã báo tin gì cho người bạn trẻ của chúng ta, vị hôn phu của cháu nó chưa?”

“Dạ chưa,” tôi đáp. “Tôi đã đợi cho đến khi gặp giáo sư, đúng như những gì tôi nói trong điện tín. Tôi chỉ mới viết một lá thư ngắn, báo cậu ấy biết giáo sư sắp đến vì bệnh tình của cô Westenra chưa được cải thiện, và hứa sẽ báo ngay nếu có bề gì.”

“Tốt lắm, anh bạn,” ông gật gù, “rất đúng mực! Tốt nhất là cậu ấy chưa nên biết gì cả; mà có khi, cậu ấy sẽ chẳng bao giờ phải biết đâu. Ta tha thiết cầu mong là vậy; nhưng nếu tình thế bắt buộc, cậu ấy sẽ tường tận tất cả. Và này, anh bạn John tốt bụng của ta, để ta nhắc nhở anh một chút. Anh vẫn hằng ngày đối mặt với những kẻ điên. Thật ra, phàm là con người thì ai cũng điên rồ theo một cách nào đó; và vì anh luôn hành xử vô cùng thận trọng với những bệnh nhân điên loạn của mình, hãy dùng chính sự thận trọng ấy để đối đãi với những kẻ điên của Chúa-tức là toàn bộ phần còn lại của thế giới này. Anh đâu có kể cho bệnh nhân nghe anh đang làm gì hay tại sao anh làm vậy; anh cũng chẳng bao giờ phơi bày suy nghĩ của mình cho họ. Thế nên, hãy chôn giấu những điều anh biết ở đúng nơi nó thuộc về, nơi nó có thể an giấc ngàn thu-nơi nó tự do hội tụ và sinh sôi nảy nở cùng những ý niệm đồng điệu. Anh và ta, tạm thời hãy phong ấn những bí mật này ở đây, và ở đây.” Ông lần lượt chạm nhẹ vào ngực trái và trán tôi, rồi tự lặp lại cử chỉ ấy với chính mình. “Bản thân ta hiện tại đang nung nấu vài suy tính riêng. Sau này ta sẽ giãi bày cùng anh.”

“Tại sao không phải là lúc này?” tôi nôn nóng. “Biết đâu lại hữu ích; có khi chúng ta sẽ đưa ra được một quyết định sáng suốt nào đó.” Ông chợt khựng lại, xoáy sâu ánh nhìn vào tôi rồi cất lời:-

“Anh bạn John à, khi những bắp ngô non đang độ sinh trưởng, thậm chí trước cả lúc chúng kịp chín-khi dòng sữa của đất mẹ vẫn còn căng tràn trong từng kẽ lá, và ánh nắng mặt trời chưa kịp nhuộm vàng lớp vỏ, liệu có người nông dân nào lại bẻ bắp ngô, vò xát nó giữa đôi bàn tay thô ráp, rồi thổi bay lớp áo xanh mướt mà khoe với anh: ‘Nhìn xem! Ngô tốt lắm đây; đến vụ chắc chắn sẽ bội thu!’ không?” Tôi mù mờ trước ẩn ý sâu xa ấy, đành thú thực là mình không hiểu. Đáp lại, ông rướn người tới, đưa tay véo tai tôi trêu chọc-y hệt cái cách ông vẫn làm trong những giờ giảng bài từ thuở nảo thuở nào-rồi cười bảo: “Một người nông dân lão luyện chỉ nói những lời đó khi ông ta đã tường tận mọi lẽ, chứ tuyệt đối không hồ đồ phán bừa. Và anh cũng chẳng bao giờ thấy một người nông dân khôn ngoan lại đi đào bới hạt giống mình vừa gieo xuống chỉ để xem nó đã nảy mầm hay chưa; đó là trò chơi trồng trọt của đám con nít ranh, chứ đâu phải của những kẻ lấy đồng áng làm lẽ sống. Anh đã thấu chưa, bạn John? Ta đã gieo xuống những hạt ngô của mình, và phần việc của Tạo hóa là âm thầm ươm mầm cho chúng; nếu mầm xanh nhú lên, hy vọng sẽ đơm hoa; và ta đành kiên nhẫn đợi chờ cho đến khi bắp ngô bắt đầu lớn dần.” Ông ngừng bặt, hẳn vì đã nhận ra tôi dần vỡ lẽ. Rồi ông tiếp lời, khuôn mặt bỗng chốc đanh lại đầy vẻ nghiêm trọng:-

“Anh vẫn luôn là một học trò cẩn trọng, và cuốn sổ ghi chép bệnh án của anh lúc nào cũng tỉ mỉ hơn hẳn bạn đồng môn. Thuở ấy anh chỉ là một sinh viên; nay anh đã thành một bậc thầy, và ta tin chắc thói quen đáng quý ấy vẫn chưa mai một. Nhớ lấy điều này, anh bạn, kiến thức luôn uyên thâm và bền vững hơn trí nhớ bọt bèo, ta chớ nên phó thác niềm tin cho thứ phù du hơn. Giả như anh có trót quên đi thói quen ấy, thì hãy để ta nhắc cho anh nhớ rằng căn bệnh của cô gái trẻ đáng mến của chúng ta là một trường hợp có thể-hãy nhớ kỹ, ta nhấn mạnh là có thể-thú vị đối với chúng ta và những người khác đến mức khiến mọi thứ còn lại trên đời bỗng chốc trở nên vô nghĩa, như người ta vẫn thường nói. Vậy nên, hãy ghi chép thật cẩn thận. Đừng bỏ sót dù chỉ là một chi tiết vụn vặt nhất. Ta khuyên anh, hãy chép lại cả những hoài nghi và phỏng đoán mơ hồ nhất của mình. Rồi sau này, anh sẽ thấy kinh ngạc khi nhận ra những linh cảm ấy chuẩn xác đến nhường nào. Chúng ta trưởng thành từ trong thất bại, chứ đâu phải trên đỉnh vinh quang!”

Khi tôi tường thuật lại các triệu chứng của Lucy-vẫn y như cũ, nhưng mức độ nghiêm trọng đã tăng lên gấp bội-sắc mặt ông trở nên đăm chiêu tĩnh mịch, tuyệt nhiên không hé nửa lời. Ông xách theo một chiếc túi đen lỉnh kỉnh đủ loại y cụ và bình thuốc, thứ mà ông từng gọi đùa trong một bài giảng là “những món đồ nghề rùng rợn chuyên gieo rắc sự sống.” Khi chúng tôi được dẫn vào trong, bà Westenra đon đả ra đón. Ánh mắt bà hằn lên vẻ lo âu, nhưng xem chừng không đến mức hoảng loạn như tôi vẫn tưởng. Dường như Tạo hóa, trong một thoáng rủ lòng thương xót, đã khéo léo gài gắm vào ngay cả cái chết những liều thuốc giải mầu nhiệm để xoa dịu nỗi kinh hoàng tột độ. Giữa hoàn cảnh ngặt nghèo này, nơi một cú sốc mảy may cũng đủ cướp đi sinh mệnh, mọi thứ lại được sắp đặt một cách tài tình để những yếu tố khách quan-thậm chí là sự thay đổi đáng sợ đang gặm nhấm cô con gái bà hằng trân quý-có vẻ như chẳng thể mảy may chạm đến tâm trí bà. Cứ như thể Mẹ Thiên nhiên đã cẩn thận bao bọc một dị vật sắc nhọn bằng lớp mô mềm mại vô cảm, che chắn cho cơ thể khỏi những tổn thương chí mạng. Nếu ta coi đó là một dạng ích kỷ được lập trình sẵn, thì có lẽ con người nên cẩn trọng trước khi buông lời chỉ trích thói vị kỷ của đồng loại, bởi đằng sau nó biết đâu lại ẩn chứa những nguồn cơn sâu thẳm mà chúng ta chưa từng thấu hiểu.

Dựa vào vốn kiến thức về tâm lý học thần kinh, tôi kiên quyết đưa ra quy định rằng bà tuyệt đối không được túc trực bên Lucy hay đắm chìm vào những suy nghĩ tiêu cực về bệnh tình của cô hơn mức cần thiết. Bà ngoan ngoãn gật đầu, một sự thuận tình dễ dàng đến mức tôi lại mơ hồ cảm nhận được bàn tay vô hình của Tạo hóa đang giành giật lấy sự sống mong manh. Van Helsing và tôi được dẫn lên phòng Lucy. Nếu hôm qua tôi đã thấy sốc trước vẻ tiều tụy của cô, thì hôm nay, nỗi kinh hoàng đã hoàn toàn xâm chiếm lấy tôi. Cô ấy xanh xao, trắng bệch như một bức tượng thạch cao; sắc hồng dường như đã bị vắt kiệt khỏi đôi môi và nướu, khiến những đường nét xương xẩu trên gương mặt hằn lên rõ rệt; từng nhịp thở thoi thóp, nhọc nhằn đến xé lòng. Khuôn mặt Van Helsing đanh lại, lạnh lẽo như đá cẩm thạch, đôi lông mày rậm cau chặt tưởng chừng sắp chạm vào nhau trên sống mũi. Lucy nằm im lìm bất động, dường như chẳng còn đủ sức để thốt nên lời. Một sự im lặng nặng nề bao trùm lấy tất cả. Bất chợt, Van Helsing ra hiệu, và chúng tôi rón rén lui ra ngoài. Vừa khép lại cánh cửa phòng, ông sải bước thật nhanh dọc theo hành lang, lao vào một căn phòng đang mở toang cửa bên cạnh. Nhanh như cắt, ông kéo tuột tôi vào trong rồi sập cửa lại. “Lạy Chúa lòng lành!” ông thốt lên; “Thật kinh khủng quá sức tưởng tượng. Không còn thì giờ để lãng phí nữa. Cháu nó sẽ kiệt sức mà chết nếu không có máu để duy trì nhịp đập của trái tim. Phải truyền máu ngay lập tức! Là anh hay ta đây?”

“Tôi trẻ và khỏe hơn, thưa Giáo sư. Phải là tôi.”

“Vậy xắn tay áo lên mà chuẩn bị ngay đi. Ta sẽ xách túi lên. Mọi thứ đã sẵn sàng.”

Tôi cùng ông hối hả bước xuống lầu, và khi vừa chạm chân xuống bậc thang cuối cùng, một tiếng gõ cửa dồn dập vang lên từ phía sảnh chính. Lúc chúng tôi bước ra, người hầu gái vừa vặn mở cửa, và Arthur phóng vụt vào trong như một cơn lốc. Cậu ấy nhào thẳng về phía tôi, cất giọng thì thào đầy khẩn thiết:-

“Jack, tôi lo phát điên lên được. Tôi đã lờ mờ đoán ra ẩn ý trong thư cậu, lòng dạ tôi như bị ai vò xé. Cha tôi vừa thuyên giảm chút đỉnh là tôi tức tốc lao ngay xuống đây để tận mắt xem tình hình thế nào. Kia... kia có phải là Bác sĩ Van Helsing không? Cháu vô cùng biết ơn giáo sư đã cất công lặn lội tới đây.” Lần đầu tiên ánh mắt Giáo sư dừng lại trên người cậu ấy, ông đã rất bực dọc vì sự quấy rầy đường đột giữa lúc dầu sôi lửa bỏng; nhưng rồi, khi thu vào tầm mắt vóc dáng cao lớn, vạm vỡ cùng nguồn sinh lực nam tính cuộn trào bừng bừng nơi cậu thanh niên, đôi mắt ông chợt bừng sáng. Chẳng chút chần chừ, ông nghiêm nghị nói với cậu trong khi chìa tay ra:-

“Thưa cậu, cậu đến thật vô cùng đúng lúc. Cậu là vị hôn phu của cô gái nhỏ đáng thương kia phải không. Cháu nó đang trong cơn nguy kịch, ranh giới sinh tử chỉ mành treo chuông. Kìa, chàng trai trẻ, xin cậu đừng kích động thế.” Bởi vì cậu ấy đột nhiên biến sắc trắng bệch, lảo đảo thả phịch người xuống ghế, tưởng chừng như sắp ngất lịm. “Cậu phải ra tay cứu cháu nó. Lúc này đây, cậu có thể làm được nhiều điều hơn bất kỳ ai trên cõi đời này, và lòng can đảm của cậu chính là phương thuốc cứu rỗi màu nhiệm nhất.”

“Cháu có thể làm gì cơ chứ?” Arthur cất giọng khàn đặc, đứt quãng. “Giáo sư cứ căn dặn, dẫu có phải lên núi đao xuống biển lửa cháu cũng cam lòng. Mạng sống của cháu thuộc về cô ấy, cháu sẵn sàng hiến dâng đến giọt máu cuối cùng trong huyết quản rần rật này vì cô ấy.” Giáo sư vốn là người có óc khôi hài ngầm, và bằng sự am tường từ những ngày tháng cũ, tôi lờ mờ nhận ra một nét hóm hỉnh tinh tế lấp ló trong câu trả lời của ông:-

“Chàng trai trẻ, tôi đâu có đòi hỏi nhiều đến mức ấy-chắc chắn không phải là giọt máu cuối cùng đâu!”

“Cháu phải làm gì đây?” Một ngọn lửa hừng hực bùng lên trong đáy mắt cậu, và hai cánh mũi phập phồng run rẩy phô bày một ý chí sắt đá. Van Helsing vỗ mạnh lên vai cậu thanh niên. “Theo tôi!” ông hạ lệnh. “Cậu là một đấng nam nhi, và thứ chúng tôi khao khát lúc này chính là bầu nhiệt huyết của một đấng nam nhi. Cậu tốt hơn tôi, tốt hơn cả anh bạn John của tôi đây.” Trái với sự ngơ ngác tột độ của Arthur, Giáo sư tiếp tục ôn tồn giải thích:-

“Cô gái nhỏ đang trượt dài trên bờ vực thẳm. Cháu nó khao khát máu, và bắt buộc phải có máu nếu không muốn bị tử thần mang đi. Anh bạn John đây và tôi đã bàn bạc kỹ lưỡng; chúng tôi chuẩn bị tiến hành một thủ thuật gọi là truyền máu-nhằm chuyển dòng huyết quản cuộn chảy từ những tĩnh mạch sung mãn sang những đoạn mạch trống rỗng, khô cằn đang gào thét vì khát khao. John định hy sinh dòng máu của anh ấy, vì dẫu sao anh ấy cũng trẻ trung và cường tráng hơn tôi”-nghe đến đây, Arthur bất thần nắm chặt lấy tay tôi, siết mạnh đầy xúc động trong một sự im lặng hàm ơn-“nhưng, giờ thì cậu đã có mặt ở đây, cậu là sự lựa chọn tuyệt vời hơn cả hai chúng tôi, bất kể già hay trẻ, những kẻ quanh năm suốt tháng chỉ biết giam mình đày ải tâm trí trong thế giới xám ngoét của suy tư. Dây thần kinh của chúng tôi chẳng thể nào vững vàng, và dòng máu chảy trong cơ thể chúng tôi cũng đâu thể rạng rỡ và tràn trề sinh lực bằng cậu!” Arthur quay ngoắt sang Giáo sư, giọng rưng rưng:-

“Nếu giáo sư thấu hiểu cháu khao khát được chết thay cô ấy nhường nào, giáo sư sẽ rõ--”

Cậu đột ngột khựng lại, nghẹn ngào không nói nên lời.

“Chàng trai ngoan!” Van Helsing khen ngợi. “Một ngày không xa, cậu sẽ thấy vô cùng mãn nguyện vì những gì cậu đã dâng hiến cho người mình yêu. Còn bây giờ, đi theo tôi và giữ im lặng. Cậu sẽ được hôn cháu nó một lần duy nhất trước khi thủ thuật bắt đầu, nhưng sau đó, cậu bắt buộc phải lùi ra; và khi tôi ra hiệu, cậu phải lập tức rời đi ngay. Tuyệt đối không hé răng nửa lời với phu nhân; cậu thừa biết tính khí của bà ấy rồi đấy! Không được phép gây ra bất kỳ cú sốc nào; sự thật về việc này dẫu có giấu giếm thế nào thì tự thân nó cũng đã là một đòn đả kích chí mạng rồi. Tới đây!”

Cả ba chúng tôi rảo bước lên phòng Lucy. Tuân lệnh, Arthur ngoan ngoãn đứng chờ bên ngoài cánh cửa khép hờ. Lucy khó nhọc xoay đầu nhìn chúng tôi, nhưng đôi môi nhợt nhạt chẳng thể mấp máy. Cô không ngủ, chỉ đơn giản là đã quá kiệt quệ để có thể kháng cự. Ánh mắt cô thay lời muốn nói; và thế là đủ. Van Helsing lặng lẽ lấy vài món đồ nghề từ trong túi xách, cẩn thận đặt lên một chiếc bàn nhỏ nằm khuất tầm nhìn. Xong xuôi, ông điệu nghệ pha một liều thuốc an thần, bước tới bên giường bệnh, nở nụ cười hiền từ:-

“Nào, cô bé ngoan, thuốc của cháu đây. Uống một hơi cạn sạch nhé, như một đứa trẻ ngoan vậy. Cháu xem, ta nâng đầu cháu lên thế này cho dễ nuốt nhé. Phải rồi, giỏi lắm.” Cô gái nhỏ nhoài người gắng gượng, và cuối cùng cũng nuốt trôi thứ chất lỏng đắng ngắt.

Tôi ngạc nhiên đến sững sờ khi thấy thuốc ngấm quá đỗi chậm chạp. Sự thật phũ phàng này càng tô đậm thêm vẻ suy nhược cùng cực nơi cô. Quỹ thời gian dường như bị kéo giãn ra thành những thế kỷ đằng đẵng, mòn mỏi chờ đợi giấc ngủ từ từ buông rèm trên hàng mi trĩu nặng của bệnh nhân. Dẫu vậy, sau một hồi lâu, liều thuốc an thần cũng bắt đầu phát huy ma lực; cô gái dần chìm sâu vào cõi mộng mị. Khi đã hoàn toàn yên tâm, Giáo sư mới khẽ khàng vẫy tay gọi Arthur vào phòng, nhẹ giọng bảo cậu cởi bỏ chiếc áo khoác vướng víu. Sau đó ông bồi thêm: “Cậu có thể đặt lên trán cháu nó một nụ hôn thật nhẹ trong lúc tôi kéo chiếc bàn này lại gần. Bạn John, giúp tôi một tay nào!” Thế là, cả hai chúng tôi đều ý nhị quay đi, để mặc cậu thanh niên cúi xuống bên người thương.

Van Helsing quay sang tôi, thì thầm:

“Cậu ấy còn tràn trề nhựa sống, cường tráng và dòng máu lại vô cùng tinh khiết, thế nên chúng ta chẳng cần phải bận tâm đến việc loại bỏ fibrin2 làm gì cho mất công.”

Ngay sau đó, bằng những thao tác dứt khoát, mau lẹ nhưng tuân thủ chuẩn xác mọi nguyên tắc y khoa khắt khe nhất, Van Helsing thoăn thoắt tiến hành ca phẫu thuật. Khi dòng máu ấm nóng bắt đầu luân chuyển, một thứ gì đó tựa như mầm sống dường như đang từ từ hồi sinh trên đôi gò má gầy guộc của Lucy đáng thương. Cùng lúc ấy, bất chấp sắc diện ngày một nhợt nhạt, một niềm hoan hỉ tột độ lại bừng sáng rạng rỡ trên khuôn mặt Arthur. Nhưng chẳng bao lâu sau, nỗi bất an bắt đầu nhen nhóm trong tôi; việc mất đi một lượng máu đáng kể đang dần vắt kiệt sinh lực của Arthur, dẫu cậu ấy có là một thanh niên lực lưỡng đến nhường nào đi chăng nữa. Chừng đó thôi cũng đủ cho tôi mường tượng ra một bức tranh rùng rợn về sức tàn phá khủng khiếp mà cơ thể nhỏ bé của Lucy đã phải cắn răng gánh chịu, khi mà chính phần máu mủ đã bào mòn Arthur đến tiều tụy lại chỉ đủ sức nhen nhóm chút sinh khí lẻ loi cho cô. Thế nhưng, gương mặt Giáo sư vẫn lạnh tanh, ông sừng sững đứng đó, một tay cầm chiếc đồng hồ quả quýt, đôi mắt sắc lẹm đảo liên hồi từ bệnh nhân sang người hiến máu. Tôi thậm chí có thể nghe rõ mồn một tiếng trống ngực mình đang đập liên hồi. Một lát sau, ông cất giọng trầm tĩnh: “Tuyệt đối không được cử động dẫu chỉ một giây. Đủ rồi đấy. Anh hãy chăm sóc cho cậu ấy; phần cháu nó để ta lo.” Khi mọi thủ thuật đã hoàn tất, tôi bàng hoàng nhận ra Arthur đã suy sụp đến mức nào. Tôi vội bắt quấn băng gạc quanh vết thương, dìu cậu đứng dậy, thì chợt giọng nói của Van Helsing vang lên từ phía sau-ông ta chẳng thèm ngoái đầu lại, cứ như thể mọc thêm một đôi mắt sau gáy vậy:-

“Vị hôn phu dũng cảm này, tôi thiết nghĩ, hoàn toàn xứng đáng được ân thưởng thêm một nụ hôn nữa, và cậu ấy sẽ có nó ngay lúc này.” Và khi đã hoàn thành xong xuôi mọi phận sự y khoa, ông cẩn thận nâng chiếc gối của bệnh nhân lên đôi chút. Vô tình thay, dải ruy băng nhung đen thanh mảnh mà cô luôn nâng niu đeo sát cổ, được cài hờ bằng chiếc trâm kim cương cổ viền tinh xảo-món quà định tình của người yêu-bị xô lệch đi đôi phần, để lộ ra một vết tấy đỏ chót ngay trên vùng cổ ráo hoảnh. Arthur không hề hay biết điều này, nhưng tôi thì nghe rõ mồn một một tiếng rít sâu, lạnh lẽo thoát ra từ lồng ngực Van Helsing-thứ âm thanh đặc trưng tố cáo những xao động dữ dội trong tâm trí ông. Ngay lúc ấy, ông tuyệt nhiên không đả động gì đến chuyện đó, chỉ trầm ngâm quay sang dặn dò tôi: “Nào, bây giờ hãy đưa chàng trai trẻ dũng cảm của chúng ta xuống lầu, rót cho cậu ấy chút rượu vang hảo hạng, và để cậu ngả lưng một lát. Sau đó, cậu ấy phải tức tốc trở về nhà, ngủ một giấc thật sâu và bồi bổ thật nhiều, để bù đắp lại dòng máu tươi mà cậu đã tự nguyện hiến dâng cho tình yêu của đời mình. Cậu ấy tuyệt đối không được nán lại đây. À khoan! Chờ một chút. Thưa cậu, tôi thấu hiểu nỗi cồn cào lo lắng của cậu về kết quả ca phẫu thuật. Vậy thì, xin cậu hãy gác lại mọi âu lo, bởi lẽ trên mọi phương diện, chúng ta đã thành công mỹ mãn. Lần này, chính cậu đã giật lại mạng sống cho cháu nó từ tay tử thần, và cậu hoàn toàn có thể kiêu hãnh bước về nhà với tâm thế an yên rằng chúng ta đã dốc hết tâm can làm những điều tuyệt vời nhất. Khi cháu nó bình phục, tôi sẽ kể cho cháu nghe ngọn ngành câu chuyện; hẳn cháu nó sẽ càng thêm trân quý cậu vì sự hy sinh cao cả này. Chào cậu.”

Khi Arthur đã khuất bóng, tôi vội vã quay trở lại phòng. Lucy đang say giấc nồng, nhịp thở đã mạnh mẽ và đều đặn hơn trước; tôi thậm chí có thể nhìn rõ lớp khăn phủ giường khẽ phập phồng theo từng nhịp thở của cô. Túc trực bên giường, Van Helsing vẫn dán mắt vào bệnh nhân với một sự tập trung cao độ. Dải ruy băng nhung đã ngoan ngoãn nằm lại chỗ cũ, che khuất vết tấy đỏ. Tôi ghé tai Giáo sư thì thầm:-

“Giáo sư có suy nghĩ gì về vết tấy đỏ trên cổ cô ấy không?”

“Thế còn anh, anh nghĩ sao về nó?”

“Tôi vẫn chưa kịp xem xét kỹ lưỡng,” tôi buột miệng, rồi vội vàng bước tới, nhẹ nhàng nới lỏng dải ruy băng. Nằm vắt vẻo ngay trên tĩnh mạch cảnh ngoài là hai vết đâm xuyên thủng, không lớn lắm, nhưng lại toát lên một vẻ dị thường đáng sợ. Chẳng hề có bất kỳ dấu hiệu bệnh lý nào, nhưng phần rìa vết thương lại trắng bệch và sờn rách, như thể bị một vật gì đó cọ xát liên tục. Ngay tắp lự, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: vết thương quái gở này, hay bất cứ thứ ma quỷ nào gây ra nó, biết đâu lại chính là thủ phạm tước đoạt lượng máu khổng lồ kia; nhưng tôi lập tức bóp nghẹt cái suy nghĩ hoang đường ấy ngay từ trong trứng nước, bởi điều đó phi lý đến nực cười. Nếu đúng là vậy, thì cả chiếc giường này lẽ ra đã phải nhuộm một màu đỏ thẫm đầm đìa bởi lượng máu mà cô gái đã đánh mất để đổi lấy cái vẻ nhợt nhạt kinh hồn trước ca phẫu thuật.

“Sao rồi?” Van Helsing cất giọng hỏi.

“Chà,” tôi ngập ngừng, “tôi thực sự không thể giải thích nổi hiện tượng này.” Giáo sư chậm rãi đứng dậy. “Ngay đêm nay, ta phải tức tốc trở lại Amsterdam,” ông kiên quyết. “Có vài tài liệu tham khảo và dụng cụ đặc biệt ở đó mà ta đang rất cần. Đêm nay, anh buộc phải thức trắng ở đây, và tuyệt đối không được rời mắt khỏi cháu nó nửa bước.”

“Tôi có nên mướn một cô y tá không?” tôi ướm hỏi.

“Chính chúng ta mới là những y tá tận tụy nhất, anh và ta. Anh sẽ gác đêm nay; hãy đảm bảo rằng cháu nó được ăn uống no nê, và không một ai hay thứ gì được phép quấy nhiễu giấc ngủ của cháu. Anh không được phép chợp mắt dù chỉ một giây. Đợi mọi chuyện êm xuôi, chúng ta sẽ tha hồ mà ngủ, cả anh và ta. Ta sẽ cố gắng quay lại trong thời gian sớm nhất. Và sau đó, chúng ta có thể bắt đầu.”

“Có thể bắt đầu?” tôi thắc mắc. “Giáo sư nói vậy là có ý gì?”

“Rồi chúng ta sẽ rõ ngọn ngành!” ông buông thõng một câu, đoạn hối hả quay gót bước ra. Nhưng chỉ một chớp mắt sau, ông đã quay lại, thò đầu qua khe cửa, giơ ngón tay trỏ lên đầy vẻ cảnh cáo:-

“Nên nhớ, mạng sống của cháu nó giờ hoàn toàn nằm trong tay anh. Nếu anh cả gan lơ là để xảy ra bất cứ mệnh hệ nào, phần đời còn lại của anh sẽ chẳng bao giờ có nổi một giấc ngủ yên bình đâu!”

Nhật ký của Bác sĩ Seward-tiếp tục.

Ngày 8 tháng 9.-Tôi thức trắng cả đêm cùng Lucy. Khi bóng hoàng hôn chạng vạng buông xuống, tác dụng của thuốc ngủ cũng vừa tan, em tỉnh giấc một cách tự nhiên. Em trông như thể đã lột xác hoàn toàn so với trước ca phẫu thuật. Tinh thần của em phấn chấn hẳn lên, dường như tràn trề nhựa sống, dẫu tôi vẫn có thể lờ mờ nhận ra những dấu vết của sự suy nhược cùng cực mà em vừa trải qua. Khi tôi thuật lại cho bà Westenra nghe rằng Giáo sư Van Helsing đã dặn dò tôi phải thức trông em, bà gần như gạt phăng ý định đó đi, chỉ tay về phía con gái để chứng minh rằng sức khỏe em đã phục hồi và tinh thần đang vô cùng rạng rỡ. Dẫu vậy, tôi vẫn giữ thái độ kiên quyết và lặng lẽ chuẩn bị cho một đêm trường thức trắng. Sau khi người hầu gái giúp em thay đồ chuẩn bị đi ngủ và tôi cũng kịp dùng bữa tối, tôi bước vào phòng, ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường em. Em chẳng hề mảy may phản đối, mà chỉ dành cho tôi những ánh nhìn đầy biết ơn mỗi khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Một lúc lâu sau, có vẻ như em đang dần chìm vào cõi mộng, nhưng rồi lại thảng thốt giật mình, cố gắng gồng mình để xua đi cơn buồn ngủ. Tình trạng này cứ lặp đi lặp lại mấy bận, với sự chật vật ngày một lớn hơn và những quãng nghỉ cũng ngắn dần theo nhịp thời gian tích tắc. Rõ ràng là em đang cố cưỡng lại giấc ngủ, thế nên tôi quyết định đi thẳng vào vấn đề:-

“Em không muốn đi ngủ à?”

“Vâng; em sợ.”

“Sợ đi ngủ sao! Tại sao lại thế? Đó vốn dĩ là đặc ân mà tất cả chúng ta đều ngày đêm khao khát cơ mà.”

“Chao ôi, sẽ không phải là đặc ân nếu anh rơi vào hoàn cảnh của em-nếu giấc ngủ đối với anh là một điềm báo của sự kinh hoàng!”

“Một điềm báo của sự kinh hoàng! Ý em là sao?”

“Em không biết; ôi, em thực sự không biết. Và đó mới chính là điều đáng sợ nhất. Tất thảy sự yếu ớt bòn rút sinh lực này đều ập xuống bủa vây lấy em trong những giấc ngủ; cho đến tận bây giờ, em vẫn còn rùng mình khiếp đảm ngay cả khi mới thoáng nghĩ đến nó.”

“Nhưng, cô gái bé nhỏ của anh, đêm nay em hoàn toàn có thể yên tâm an giấc. Anh sẽ ở đây canh chừng cho em, và anh xin hứa sẽ không có bất kỳ chuyện gì tồi tệ xảy đến đâu.”

“Ôi, em có thể tin anh chứ!” Nắm ngay lấy cơ hội, tôi quả quyết: “Anh xin hứa với em rằng nếu anh phát hiện ra dù chỉ là một dấu hiệu nhỏ bé nhất của những cơn ác mộng, anh sẽ lập tức đánh thức em dậy ngay.”

“Thật sao? Ôi, anh sẽ thực sự làm thế chứ? Anh đối với em tốt quá. Vậy thì em sẽ ngủ!” Và gần như ngay khi lời vừa dứt, em thở phào một tiếng nhẹ nhõm cất đi gánh nặng ngàn cân, rồi từ từ ngả đầu ra sau, chìm sâu vào giấc mộng êm đềm.

Xuyên suốt đêm dài, tôi thức canh bên em. Em nằm im lìm không một cái cựa mình, say sưa trong một giấc ngủ sâu lắng, bình yên, mang theo dòng nhựa sống sinh cơ đang không ngừng bồi đắp. Đôi môi em he hé mở, và lồng ngực em nhịp nhàng phập phồng như nhịp điệu đều đặn của một chiếc con lắc đồng hồ. Một nụ cười phảng phất đọng trên môi em, và hiển nhiên là chẳng có cơn ác mộng quái gở nào dám đến quấy rầy sự thanh tĩnh trong tâm trí em.

Khi bình minh vừa rạng, người hầu gái của em bước vào. Tôi giao em lại cho cô ấy chăm sóc rồi quay trở về nhà, lòng mang nặng nhiều nỗi lo toan vương vấn. Tôi đánh một bức điện tín ngắn gửi cho Van Helsing và Arthur, báo tin mừng về kết quả mỹ mãn của ca phẫu thuật. Trở lại với công việc cá nhân, hàng tá thứ tồn đọng chất núi khiến tôi phải vùi đầu suốt cả ngày mới giải quyết ổn thỏa; trời đã chập choạng tối lúc tôi rảnh rỗi để hỏi han về người bệnh nhân zoöphagous (kẻ thích ăn thịt sống) của mình. Báo cáo trả về khá khả quan; anh ta đã ngoan ngoãn nằm im trong suốt cả ngày lẫn đêm qua. Một bức điện tín từ Amsterdam của Van Helsing gửi tới đúng lúc tôi đang dùng bữa tối, ông khuyên tôi đêm nay nên túc trực tại Hillingham, bởi lẽ tốt hơn hết là tôi nên ở gần em, đồng thời báo cho tôi biết ông sẽ bắt chuyến tàu đêm để kịp hội ngộ cùng tôi vào sáng sớm ngày mai.

Ngày 9 tháng 9.-Khi đến Hillingham, tôi đã khá mệt mỏi và rã rời. Hai đêm ròng tôi gần như chưa hề chợp mắt, và đầu óc tôi bắt đầu xuất hiện những cơn tê dại, điềm báo cho sự kiệt quệ của trí não. Lucy đã thức dậy, tinh thần vô cùng hưng phấn. Khi đưa tay ra bắt lấy tay tôi, em nhìn sâu vào đôi mắt tôi và nói:-

“Đêm nay anh tuyệt đối không được thức nữa đâu nhé. Anh đã kiệt sức rồi. Em đã hoàn toàn bình phục; thật đấy; và nếu có ai cần phải thức, thì chính em sẽ thức cùng anh.” Không muốn đôi co thêm về chuyện này, tôi liền đi ăn tối. Lucy sánh bước cùng tôi, và nhờ có sự hiện diện đầy quyến rũ rạng rỡ của em mà tâm trạng tôi trở nên vui vẻ, tôi đã thưởng thức một bữa ăn tuyệt hảo cùng vài ly vang đỏ hương vị trên cả tuyệt vời. Sau đó, Lucy dẫn tôi lên lầu, chỉ cho tôi một căn phòng nằm kế bên phòng em, nơi ngọn lửa lò sưởi đang cháy rực ấm cúng. “Bây giờ,” em cất lời, “anh phải ở lại phòng này. Em sẽ để mở cửa phòng này và cả phòng em nữa. Anh có thể ngả lưng trên chiếc ghế sofa kia, bởi em biết tỏng chẳng có gì trên đời này thuyết phục được mấy vị bác sĩ các anh đi ngủ yên khi lấp ló một bệnh nhân ở phía chân trời. Nếu cần bất cứ điều gì, em sẽ gọi, và anh có thể chạy qua với em ngay lập tức.” Tôi đành gật đầu ưng thuận, bởi quả thực tôi đã “mệt lả người,” và dẫu có cố đến mấy cũng chẳng thể ngồi vững nổi nữa. Vì vậy, khi em một lần nữa nhắc lại lời hứa sẽ gọi nếu có mệnh hệ gì, tôi thả mình xuống chiếc sofa, và để tâm trí chìm vào cõi hư vô.

Nhật ký của Lucy Westenra.

Ngày 9 tháng 9.-Đêm nay em cảm thấy mình thật đắm chìm trong hạnh phúc. Có những lúc em đã yếu đuối đến độ thảm thương, thế nên cảm giác giờ đây lại có thể tự mình suy nghĩ và đi đứng dung dăng dung dẻ chẳng khác nào cảm nhận được tia nắng mặt trời ấm áp sau những trận gió đông buốt giá lê thê từ bầu trời xám xịt nhạt nhòa. Chẳng hiểu sao em lại cảm thấy Arthur như đang ở rất, rất gần bên em. Dường như em có thể cảm nhận được hơi ấm hiện diện của anh ấy đang bao bọc quanh mình. Em cứ ngỡ rằng ốm đau và bệnh tật là những thứ vô cùng ích kỷ, chúng bắt ánh mắt ta và cả sự thương cảm trong ta phải hướng vào bên trong chính mình, trong khi sức khỏe và sự dẻo dai lại chắp thêm đôi cánh cho Tình yêu, và để tâm trí lẫn những cảm xúc trong ta được tự do bay bổng đến bất cứ chân trời nào nó muốn. Em biết rõ những suy tư của mình đang trôi dạt về nơi nao. Giá như Arthur biết được! Anh yêu, anh yêu dấu của em, hẳn là tai anh đang ngứa ngáy trong lúc ngủ say, hệt như tai em vào những lúc em thức giấc thế này. Chao ôi, em mới hạnh phúc làm sao với giấc ngủ đêm qua! Em đã say giấc nồng một cách tuyệt vời, với người bác sĩ Seward tử tế và đầy tình thân đang túc trực canh chừng cho em. Và đêm nay, em sẽ chẳng còn phải sợ hãi giấc ngủ nữa, bởi anh ấy đang ở ngay sát vách, chỉ cần một tiếng gọi là có mặt tức thì. Cảm tạ mọi người vì đã đối đãi với tôi quá đỗi tuyệt vời! Tạ ơn Chúa lòng lành! Chúc ngủ ngon, Arthur của em.

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 10 tháng 9.-Tôi chợt cảm nhận được bàn tay của Giáo sư đặt nhẹ lên đầu mình, và choàng tỉnh giấc chỉ trong một chớp mắt. Suy cho cùng, đó cũng là một trong những phản xạ nhạy bén mà chúng tôi rèn giũa được trong những tháng ngày làm việc tại nhà thương điên.

“Bệnh nhân của chúng ta thế nào rồi?” ông cất lời.

“Rất ổn, ít nhất là vào lúc tôi rời đi, hay đúng hơn là khi cô ấy thiếp đi để tôi ra ngoài,” tôi đáp lại.

“Nào, hãy cùng xem thử,” ông nói. Rồi hai chúng tôi bước vào phòng.

Rèm cửa vẫn đang buông thõng. Tôi bước tới định kéo lên nhè nhẹ, trong khi Van Helsing tiến lại gần giường với những bước chân êm ái tựa loài miêu khoa.

Khi tôi vừa kéo rèm lên, ánh nắng ban mai lập tức ùa vào ngập tràn căn phòng. Cùng lúc ấy, tôi chợt nghe thấy một tiếng rít nghẹn ngào từ Giáo sư. Vốn hiểu rõ tính cách điềm tĩnh hiếm hoi của ông, âm thanh ấy khiến một luồng khí lạnh buốt của nỗi sợ hãi chết chóc chạy dọc sống lưng tôi. Lúc tôi vội vã chạy qua, ông đang lùi lại. Tiếng kêu kinh hoàng thốt lên từ miệng ông: “Gott in Himmel!” (Lạy Chúa tôi!) dường như chẳng cần đến khuôn mặt đang rúm ró và tái nhợt như tro tàn kia để minh chứng cho nỗi bàng hoàng tột độ. Ông run rẩy giơ tay chỉ thẳng vào giường. Đầu gối tôi bắt đầu bủn rủn.

Trên giường, Lucy tội nghiệp nằm đó, tưởng chừng như đã chết ngất, với vẻ mặt nhợt nhạt và tiều tụy đến mức rùng mình. Ngay cả đôi môi em cũng trắng bệch, còn phần nướu dường như đã co rút lại làm lộ ra những chân răng, y hệt như hình ảnh thường thấy ở những tử thi sau một cơn bạo bệnh kéo dài. Cơn phẫn nộ trào dâng khiến Van Helsing giơ chân định dậm mạnh xuống sàn, nhưng rồi bản năng sinh tồn và thói quen cẩn trọng trui rèn suốt bao năm tháng đã kịp thời kìm hãm ông lại; ông nhẹ nhàng đặt chân xuống. “Nhanh lên!” ông khẽ quát. “Lấy rượu mạnh tới đây.” Tôi lao như bay về phía phòng ăn, rồi tức tốc quay lại mang theo bình rượu. Ông cẩn thận thấm ướt đôi môi nhợt nhạt đáng thương kia bằng rượu, rồi hai chúng tôi cùng nhau xoa bóp lòng bàn tay, cổ tay và xoa vùng ngực cho em. Ông chăm chú bắt mạch, và sau vài phút căng thẳng tột độ, cuối cùng ông lên tiếng:-

“Vẫn chưa quá muộn. Tim còn đập, dù chỉ rất mong manh. Bao nhiêu công sức của chúng ta đều đã đổ sông đổ biển; giờ phải bắt đầu lại từ đầu. Hiện giờ chàng trai Arthur không có ở đây; lần này ta phải nhờ cậy chính anh thôi, anh bạn John ạ.” Vừa dứt lời, ông liền thò tay vào túi xách y tế lấy ra bộ dụng cụ truyền máu; còn tôi thì lập tức cởi áo khoác ngoài và xắn tay áo sơ mi lên. Tình thế cấp bách không cho phép dùng thuốc ngủ, vả lại cũng chẳng cần thiết; thế là, không một giây trễ nải, chúng tôi bắt tay vào ca phẫu thuật. Trôi qua một chốc-mà với tôi lại dài như cả thế kỷ, bởi cái cảm giác bị rút kiệt sinh khí từ cơ thể mình, dẫu cho người ta có tự nguyện đến đâu đi chăng nữa, vẫn là một trải nghiệm rùng rợn-Van Helsing chợt giơ ngón tay lên cảnh báo. “Đừng cử động,” ông thì thầm, “ta e rằng khi sinh lực dần hồi phục, cháu nó có thể sẽ thức giấc; điều đó sẽ vô cùng nguy hiểm, ôi, vô cùng nguy hiểm. Nhưng ta phải đề phòng thôi. Ta sẽ tiêm thêm morphin dưới da cho cháu nó.” Tiếp đó, ông nhanh nhẹn và khéo léo tiến hành thủ thuật. Tác dụng của thuốc đối với Lucy cũng không đến nỗi tệ, cơn ngất lịm của em dần dà chuyển một cách êm ái sang giấc ngủ say nồng nhờ dược lực. Trái tim tôi bỗng len lỏi một niềm tự hào khó tả, khi tận mắt chứng kiến chút sắc hồng mong manh đang từ từ trở lại trên đôi má và bờ môi xanh xao ấy. Sẽ chẳng có người đàn ông nào hiểu được, trừ phi tự mình trải qua, cái cảm giác thiêng liêng tột cùng khi dòng máu nóng hổi của chính mình chảy tràn vào huyết quản của người phụ nữ mình hằng yêu thương.

Giáo sư đưa mắt nhìn tôi đầy vẻ dò xét. “Thế là đủ rồi,” ông nói. “Xong rồi sao?” tôi lên tiếng phản đối. “Giáo sư đã lấy từ cậu Art nhiều hơn thế kia mà.” Ông khẽ mỉm cười buồn bã đáp lời:-

“Cậu ấy là người yêu của cháu nó, vị hôn phu của cháu nó. Anh còn có công việc, rất nhiều công việc bề bộn phía trước, phải gánh vác cho cháu nó và cho cả những người khác nữa; hiện tại như thế này là đủ rồi.”

Sau khi ca phẫu thuật kết thúc, ông ở lại chăm sóc cho Lucy, trong khi tôi tự mình dùng ngón tay ấn chặt vào vết mổ. Tôi ngả lưng xuống nghỉ ngơi, đợi lúc ông rảnh tay sẽ quay sang kiểm tra cho tôi, bởi tôi bắt đầu thấy đầu óc choáng váng và hơi buồn nôn. Một lát sau, ông cẩn thận băng bó vết thương cho tôi, dặn dò tôi xuống nhà tự rót một ly rượu vang mà uống. Khi tôi vừa bước ra khỏi cửa, ông liền theo sát gót, rồi khẽ thì thầm dặn dò:-

“Hãy nhớ kỹ, tuyệt đối không được hé lộ một lời nào về chuyện này. Nếu chàng tình nhân trẻ tuổi của chúng ta bất ngờ xuất hiện như lần trước, đừng nói gì với cậu ấy cả. Sự việc sẽ chỉ khiến cậu ấy hoảng loạn và sinh lòng ghen tuông mà thôi. Tuyệt đối không được để chuyện đó xảy ra. Nhớ nhé!”

Lúc tôi quay lại, ông chăm chú nhìn tôi một lượt, rồi gật gù:-

“Anh trông không đến nỗi tệ đâu. Vào phòng, ngả lưng lên chiếc ghế sofa của anh, và nghỉ ngơi một lát đi; sau đó hãy ăn một bữa sáng thật thịnh soạn, rồi đến đây thay ca cho ta.”

Tôi ngoan ngoãn nghe theo lời căn dặn của ông, vì tôi biết những lời khuyên ấy sáng suốt và đúng đắn đến nhường nào. Tôi đã hoàn thành phần việc của mình, và nhiệm vụ thiết yếu lúc này là phải giữ gìn sức khỏe. Cả cơ thể tôi rã rời, và chính sự suy kiệt ấy dường như đã xoa dịu đi phần nào nỗi bàng hoàng tột độ trước những gì vừa diễn ra. Tuy nhiên, tôi vẫn trằn trọc thiếp đi trên ghế sofa, tâm trí không ngừng tự hỏi tại sao tình trạng của Lucy lại sa sút một cách chóng vánh đến vậy, và bằng cách nào mà em lại bị rút đi một lượng máu khổng lồ như thế mà chẳng hề lưu lại một dấu vết khả nghi nào. Có lẽ sự bàng hoàng ấy đã len lỏi vào tận trong giấc mộng của tôi, bởi dẫu thức hay ngủ, những dòng suy nghĩ của tôi vẫn cứ luẩn quẩn quanh hai vết thủng nhỏ xíu trên cổ em cùng rìa vết thương trông rách rưới, tơi tả kia-dù chúng thực sự rất nhỏ bé.

Lucy chìm sâu vào giấc ngủ cho đến tận giữa trưa. Khi thức giấc, em trông có vẻ khỏe khoắn và đầy sinh khí, dẫu không được rạng rỡ như ngày hôm qua. Sau khi kiểm tra sức khỏe cho em, Van Helsing đi dạo một lát, giao lại trọng trách chăm sóc em cho tôi, cùng với mệnh lệnh nghiêm ngặt rằng không được phép rời mắt khỏi em nửa bước. Tôi có thể nghe loáng thoáng tiếng ông dưới sảnh, đang hỏi đường tới bưu điện gần nhất.

Lucy trò chuyện với tôi vô cùng thoải mái, dường như em chẳng hề hay biết về cơn thập tử nhất sinh vừa trải qua. Tôi cố gắng pha trò để giữ cho em luôn vui vẻ và thoải mái. Lúc bà Westenra lên thăm, bà ấy cũng không hề mảy may nhận ra bất kỳ sự thay đổi nào, mà chỉ biết ơn nắm lấy tay tôi:-

“Chúng tôi thật sự nợ bác sĩ rất nhiều, Bác sĩ Seward, vì tất cả những gì bác sĩ đã cống hiến, nhưng quả thực bây giờ bác sĩ phải chú ý đừng làm việc quá sức nhé. Trông bác sĩ cũng xanh xao lắm đấy. Bác sĩ cần một người vợ để chăm sóc và để mắt đến bác sĩ một chút; thật sự là vậy đấy!” Lời bà vừa thốt ra, khuôn mặt Lucy bỗng đỏ bừng lên ngượng ngùng, dẫu chỉ là thoáng qua, bởi những mạch máu gầy guộc đáng thương của em vốn chẳng thể chịu đựng nổi việc máu dồn lên não một cách bất thường lâu đến thế. Phản ứng ấy lập tức biến mất, nhường chỗ cho sự nhợt nhạt tột độ khi em hướng đôi mắt đầy vẻ van lơn về phía tôi. Tôi khẽ mỉm cười, gật đầu, và đưa ngón tay lên môi ra hiệu im lặng; kèm theo một tiếng thở dài nhẹ nhõm, em ngoan ngoãn ngả đầu ra sau giữa những lớp gối êm ái.

Van Helsing quay về sau vài giờ, và ngay lập tức bảo tôi: “Bây giờ anh hãy về nhà, ăn uống cho thật no say. Phải tẩm bổ cho khỏe mạnh vào. Đêm nay ta sẽ ở lại đây, và đích thân ta sẽ thức canh cho cô bé. Hai chúng ta phải theo dõi sát sao ca bệnh này, và tuyệt đối không được để bất kỳ ai khác xen vào. Ta có những lý do vô cùng hệ trọng. Đừng, đừng hỏi thêm gì cả; anh muốn suy đoán thế nào cũng được. Đừng ngần ngại nghĩ đến cả những viễn cảnh hoang đường nhất. Chúc anh ngủ ngon.”

Bước ra sảnh, tôi bắt gặp hai cô hầu gái đang rụt rè tiến lại gần, họ ngỏ ý hỏi xem liệu cả hai, hoặc ít nhất một trong hai người, có thể thức đêm để trông chừng cô Lucy hay không. Họ tha thiết van nài tôi cho phép; và khi tôi giải thích rằng Bác sĩ Van Helsing đã yêu cầu một trong hai chúng tôi phải đích thân túc trực, họ lại khẩn khoản nhờ tôi nói đỡ một tiếng với “vị quý ông ngoại quốc”. Tấm chân tình của họ thực sự khiến tôi vô cùng xúc động. Có lẽ vì bản thân tôi lúc này đang quá đỗi yếu ớt, hay có lẽ vì đó là tình cảm họ dành cho Lucy, mà sự tận tụy ấy mới hiện rõ mồn một đến vậy; bởi đã không ít lần tôi được chứng kiến những hành động đẹp đẽ tương tự từ lòng trắc ẩn của người phụ nữ. Tôi quay trở về đây vừa kịp lúc để dùng bữa tối muộn màng; đảo một vòng đi thăm khám bệnh nhân-mọi việc đều suôn sẻ; và giờ thì ngồi nán lại ghi chép những dòng này trong lúc mòn mỏi chờ đợi giấc ngủ kéo đến. Nó đang đến đây rồi.

Ngày 11 tháng 9.-Chiều nay tôi tạt qua Hillingham. Bắt gặp Giáo sư Van Helsing trong tâm trạng hân hoan thấy rõ, còn tình trạng của Lucy thì đã khởi sắc hơn bội phần. Chẳng bao lâu sau khi tôi đặt chân đến, một bưu kiện lớn gửi từ hải ngoại được chuyển tới tay Giáo sư. Bằng vẻ trịnh trọng-dĩ nhiên là có phần cường điệu-ông từ tốn mở bọc giấy, nhẹ nhàng nhấc ra một bó hoa trắng muốt khổng lồ.

"Món quà này dành tặng cháu đấy, cô bé Lucy ạ," ông cất lời.

"Cho cháu sao? Ôi, Giáo sư Van Helsing!"

"Đúng vậy, cháu yêu, nhưng đây chẳng phải thứ đồ chơi đâu nhé. Đây là một phương thuốc đấy." Vừa nghe đến đó, Lucy khẽ nhăn mặt. "Này, đừng vội lo, thứ này không cần phải sắc lên hay pha thành thứ nước thuốc ớn lạnh đâu. Thế nên cháu chẳng việc gì phải chun cái mũi duyên dáng ấy lại, kẻo ta lại gọi anh bạn Arthur đến xem, để cậu ấy biết mình sẽ phải xót xa chừng nào khi chứng kiến nhan sắc rạng ngời mà cậu ấy hằng say đắm bị bóp méo đến thế kia. Aha, cô bé xinh đẹp của ta, chiếc mũi diễm lệ lại thẳng thớm như cũ rồi kìa. Đây đúng là một phương thuốc, nhưng là một loại thuốc bí ẩn. Ta sẽ đặt nó bên cửa sổ phòng cháu, rồi ta sẽ kết một vòng hoa thật đẹp quàng lên chiếc cổ trắng ngần kia, để cháu có một giấc ngủ thật an lành. Ồ, có chứ! Loài hoa này mang quyền năng của đóa sen3, có thể xua tan mọi muộn phiền vào cõi hư vô. Mùi hương của nó quyện đẫm hơi thở của dòng sông Lethe4 quên lãng, và cả thứ hương thơm từ suối nguồn tươi trẻ5 mà những kẻ chinh phục từng khao khát kiếm tìm ở vùng Florida xa xôi, chỉ tiếc là khi tìm thấy thì mọi sự đã quá muộn màng."

Trong lúc Giáo sư còn đang say sưa diễn giải, Lucy đã cầm những nụ hoa lên xem xét và đưa lên mũi ngửi. Nhưng ngay lập tức, cô quăng chúng xuống nệm, bật cười rũ rượi xen lẫn chút ghê tởm:-

"Ôi, Giáo sư, cháu cá là ông lại đang trêu đùa cháu thôi. Gì chứ, mấy thứ này rành rành chỉ là mấy bông hoa tỏi tầm thường mà!"

Tôi vô cùng sửng sốt khi thấy Giáo sư Van Helsing bật dậy, đanh giọng lại với một vẻ uy nghiêm tột độ. Quai hàm ông bạnh ra, và đôi lông mày rậm xếch lại giao nhau thành một đường đáng sợ:-

"Đừng lấy ta ra làm trò đùa! Ta không bao giờ đùa cợt! Ẩn sau mọi việc ta làm là một mục đích sinh tử nghiệt ngã; và ta nghiêm khắc cảnh báo cháu, tuyệt đối không được cản trở ta. Hãy cẩn trọng, dẫu không vì bản thân thì cũng vì lợi ích của những người thương yêu cháu." Đoạn, nhận ra Lucy tội nghiệp đang co rúm lại vì sợ hãi-một phản ứng hoàn toàn dễ hiểu-ông dịu giọng, tiếp tục tuôn những lời mềm mỏng hơn: "Ôi, cô bé, cháu yêu, đừng sợ hãi ông già này làm gì. Mọi việc ta làm chỉ nhằm bảo vệ cháu mà thôi; bởi những đóa hoa tưởng chừng tầm thường kia lại mang đến phép màu cứu rỗi cháu đấy. Thấy không, tự tay ta sẽ đặt chúng khắp căn phòng này. Tự tay ta sẽ kết vòng hoa cho cháu mang. Nhưng, suỵt! Đừng rò rỉ nửa lời với bất kỳ ai, cũng đừng buông những câu hỏi tọc mạch như thế nữa. Chúng ta phải tuyệt đối tuân phục, và sự tĩnh lặng chính là một phần của sự vâng lời; và sự vâng lời ấy sẽ dẫn dắt cháu bình an, khỏe mạnh trở về với vòng tay yêu thương đang ngày đêm trông ngóng. Nào, bây giờ hãy ngoan ngoãn ngồi yên một lát. Đi theo ta, anh bạn John, anh sẽ giúp ta giăng đầy thứ tỏi này khắp phòng. Nó được vận chuyển hỏa tốc từ tận Haarlem6, nơi người bạn Vanderpool của ta ươm trồng đủ loại thảo mộc trong nhà kính quanh năm ròng rã. Hôm qua ta đã phải cấp tốc đánh điện tín, nếu không thì chúng làm sao mà có mặt ở đây lúc này được."

Chúng tôi ôm những khóm hoa bước vào phòng của Lucy. Chuỗi hành động tiếp theo của Giáo sư quả thực lập dị đến khó tin, thứ mà tôi dám chắc không một cuốn dược điển nào trên đời từng ghi chép lại. Đầu tiên, ông sập chặt tất cả các cửa sổ rồi cài then vô cùng cẩn mật; tiếp đó, ông túm lấy một nắm hoa, chà xát thật mạnh lên mọi ngóc ngách của khung cửa sổ, hệt như muốn đoan chắc rằng mọi luồng gió lọt qua đều phải quyện đặc mùi tỏi nồng nặc. Chưa dừng lại ở đó, ông lại vốc thêm một nắm hoa, tiếp tục chà miết dọc theo các nẹp cửa ra vào, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, rồi tiện tay bôi trát cả vào quanh khu vực lò sưởi theo đúng cái phương thức quái gở ấy. Mọi thứ diễn ra trước mắt tôi lố bịch đến mức chẳng bao lâu sau, tôi không kiềm nổi mà bật thốt:-

"Chà, Giáo sư à, tôi thừa biết ngài luôn giấu một lý do xác đáng sau mỗi việc mình làm, nhưng hành động vừa rồi quả thực khiến tôi không khỏi hoang mang. Cũng may là ở đây chẳng có kẻ nào hay đa nghi, nếu không hắn ta sẽ phao tin rằng giáo sư đang lập bùa ếm chú để xua đuổi tà ma ác quỷ mất."

"Biết đâu ta lại đang làm cái việc đó thật đấy chứ!" ông điềm nhiên đáp trả, đôi tay điêu luyện bắt đầu tết những nhánh hoa thành chiếc vòng mà Lucy sẽ mang trên cổ.

Sau đó, chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi Lucy hoàn tất việc sửa soạn cá nhân trước khi đi ngủ. Khi cô gái nhỏ đã yên vị trên giường, ông bước tới, tự tay cẩn thận choàng chiếc vòng hoa tỏi qua bờ vai thanh mảnh của cô. Những lời dặn dò cuối cùng mà ông để lại là:-

"Phải hết sức cẩn thận, đừng để chiếc vòng bị xô lệch nhé; và hãy nhớ kỹ, dù cho đêm nay căn phòng có trở nên ngột ngạt đến đâu, tuyệt đối không được hé mở bất kỳ cánh cửa sổ hay cửa ra vào nào."

"Cháu xin hứa," Lucy ngoan ngoãn đáp lời, "và xin gửi đến hai người ngàn vạn lời cảm ơn vì muôn vàn ân tình mọi người đã dành cho cháu! Ôi, cháu đã tu tu đức hạnh thế nào để được đấng trên ban phước cho những người bạn tuyệt vời đến nhường này cơ chứ?"

Lúc chúng tôi rời khỏi dinh thự trên chiếc xe ngựa mui trần của tôi đã đỗ sẵn ngoài cổng, Van Helsing rầm rì:-

"Đêm nay cuối cùng ta cũng có thể chìm vào một giấc ngủ bình yên, và ta thực sự cần nó-hai đêm ròng rã dầm sương dãi nắng trên đường, ban ngày lại vùi đầu vào đống tài liệu, cộng thêm muôn vàn nỗi lo âu trĩu nặng cho những ngày sắp tới, lại thêm một đêm trắng thao thức chẳng chợp mắt lấy một giây. Sáng mai anh hãy đến đánh thức ta từ sớm nhé, và chúng ta sẽ cùng nhau đến thăm cô bé xinh đẹp của chúng ta, người chắn chắn sẽ bình phục hơn rất nhiều nhờ vào 'tấm bùa chú' mà ta vừa giăng ra. Hô! hô!"

Trông ông ấy tràn trề tự tin, tự tin đến độ trí óc tôi bất giác dội lại hình ảnh ngạo nghễ của chính mình trong hai đêm trước, kéo theo sau đó là cái hậu quả tai hại khôn lường, khiến tôi không khỏi rùng mình sợ hãi trước một nỗi kinh hoàng mơ hồ và vô định. Hẳn chính sự yếu đuối hèn mọn đã trói buộc tôi, khiến tôi do dự không dám giãi bày nỗi lo ấy với người bạn lớn của mình. Nhưng sâu thẳm bên trong, tôi vẫn cảm nhận trọn vẹn sức nặng của tấn bi kịch ấy, nặng trĩu và buốt nhói, tựa như những giọt nước mắt cay đắng đang chực chờ lăn dài mà chẳng thể tuôn rơi.



  1. Liverpool Street (ga phố Liverpool) là một nhà ga đường sắt lớn và sầm uất tại London (Anh), mở cửa từ năm 1874. Việc Van Helsing đến đây cho thấy ông vừa hoàn thành chuyến tàu từ lục địa châu Âu sang Anh. 

  2. Fibrin là một loại protein có tác dụng làm đông máu. Vào thế kỷ 19, khi kỹ thuật truyền máu còn sơ khai và chưa có chất chống đông hiện đại, các bác sĩ thường phải tìm cách khuấy và loại bỏ chất này (defibrination) để máu không bị đông cục khi truyền. 

  3. Ở đây tác giả mượn điển tích về những 'Người ăn hoa sen' (Lotus-eaters) trong thần thoại Hy Lạp cổ đại. Kẻ nào ăn loài hoa này sẽ rơi vào trạng thái đê mê êm ái, quên đi mọi sầu lo và không còn thiết tha nhớ về quê hương. 

  4. Trong thần thoại Hy Lạp, Lethe là một trong năm con sông của địa ngục Hades. Các linh hồn người chết khi uống nước sông này sẽ bị xóa sạch hoàn toàn ký ức về cõi trần thế trước khi bước sang thế giới bên kia hoặc đi đầu thai. 

  5. Ám chỉ truyền thuyết về Suối nguồn Tuổi trẻ (Fountain of Youth). Vào thế kỷ 16, nhà thám hiểm Tây Ban Nha Juan Ponce de León đã dẫn đầu những chuyến viễn chinh đến Florida (Mỹ) để tìm kiếm dòng suối huyền thoại có khả năng cải lão hoàn đồng. 

  6. Một thành phố lịch sử nằm ở Hà Lan. Từ thế kỷ 17, Haarlem đã nổi tiếng toàn cầu như là một trung tâm sầm uất của nghề trồng trọt, lai tạo và xuất khẩu hoa (đặc biệt là hoa tulip) cùng các loại thực vật, thảo mộc.