CHƯƠNG XVIII. NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD

Ngày 30 tháng 9.-Tôi về đến nhà lúc năm giờ. Godalming và Morris không chỉ đã tới nơi, mà họ còn đang say sưa nghiên cứu bản sao của những cuốn nhật ký cùng thư từ, những thứ vừa được Harker và người vợ tuyệt vời của anh cất công sắp xếp. Harker vẫn chưa về sau chuyến đi tìm gặp những người phu khuân vác mà Bác sĩ Hennessey đã nhắc đến trong thư gửi cho tôi. Phu nhân Harker tự tay pha cho chúng tôi mỗi người một tách trà. Lần đầu tiên kể từ ngày chuyển đến sống tại đây, tôi mới có thể thành thực thốt lên rằng, ngôi nhà cũ kỹ này đã thực sự mang hơi ấm của một mái ấm. Khi chúng tôi vừa cạn chén trà, phu nhân Harker liền cất lời:-

“Bác sĩ Seward, tôi có thể nhờ ông một việc được không? Tôi rất muốn gặp bệnh nhân của ông, ngài Renfield. Xin ông hãy cho tôi gặp ngài ấy. Những dòng nhật ký ông viết về con người này khiến tôi vô cùng tò mò!” Cô trông thật khẩn khoản và xinh đẹp đến nỗi tôi chẳng nỡ chối từ. Hơn nữa, tôi cũng chẳng có lý do gì để từ chối yêu cầu đó, thế là tôi dẫn cô đi cùng. Bước vào phòng, tôi báo với anh ta rằng có một quý phu nhân muốn gặp. Anh ta chỉ buông thõng một câu: “Tại sao?”

“Cô ấy đang đi tham quan ngôi nhà, và muốn gặp mọi người ở đây,” tôi đáp.

“Ồ, được thôi,” anh ta nói, “cứ để cô ấy vào, nhưng hãy đợi một lát để tôi dọn dẹp chỗ này đã.”

Cách dọn dẹp của anh ta quả thật kỳ quái: anh ta nuốt chửng toàn bộ lũ ruồi và nhện nhốt trong các hộp trước khi tôi kịp ra tay ngăn cản. Rõ ràng anh ta đang sợ hãi, hoặc nảy sinh lòng ghen tị, vì e rằng có người sẽ can thiệp vào thú vui của mình. Khi đã hoàn tất cái công việc kinh tởm đó, anh ta vui vẻ lên tiếng: “Mời quý phu nhân vào.” Sau đó, anh ta ngồi xuống mép giường, gục đầu nhưng ánh mắt vẫn ngước lên để chằm chằm nhìn cô bước vào. Trong một thoáng, tôi chợt rùng mình lo sợ anh ta nảy sinh ý đồ sát nhân. Tôi nhớ lại vẻ im lìm của anh ta ngay trước khoảnh khắc lao vào tấn công tôi trong phòng làm việc. Thế là tôi cẩn trọng chọn sẵn một vị trí để có thể tóm chặt lấy anh ta ngay lập tức, phòng khi anh ta định lao vào hãm hại cô. Cô bước vào phòng với vẻ duyên dáng toát ra từ tận cốt cách, một sự tự nhiên có thể thu phục ngay sự tôn trọng của bất kỳ kẻ điên loạn nào-bởi lẽ sự tự nhiên chính là một trong những phẩm chất mà người điên nể trọng nhất. Cô nở một nụ cười thân thiện, bước tới chỗ anh ta và khẽ đưa tay ra.

“Chào buổi tối, ngài Renfield,” cô nói. “Ông thấy đấy, tôi biết ông, vì Bác sĩ Seward đã kể cho tôi nghe rất nhiều về ông.”

Anh ta không đáp lời ngay, mà chỉ chăm chăm dò xét cô từ đầu đến chân với hàng lông mày nhíu chặt quen thuộc. Ánh nhìn chằm chằm ấy dần chuyển sang vẻ ngạc nhiên, pha lẫn đôi chút nghi ngờ. Rồi, trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, anh ta cất giọng:-

“Phu nhân không phải là cô gái mà bác sĩ đây từng muốn cưới, đúng không? Chắc chắn là không thể nào rồi, phu nhân biết đấy, bởi vì cô ấy đã qua đời.”

Phu nhân Harker mỉm cười ngọt ngào đáp lời:-

“Ồ không! Tôi đã có chồng, và chúng tôi kết hôn từ trước khi tôi quen biết Bác sĩ Seward, hay ông ấy biết đến tôi. Tôi là phu nhân Harker.”

“Vậy phu nhân đang làm gì ở đây?”

“Chồng tôi và tôi đang nán lại chốn này trong chuyến ghé thăm Bác sĩ Seward.”

“Nếu vậy thì đừng ở lại.”

“Nhưng tại sao lại không chứ?”

Nhận thấy chiều hướng của cuộc trò chuyện có lẽ chẳng mấy dễ chịu với phu nhân Harker, cũng như với chính bản thân mình, tôi bèn lên tiếng can thiệp:-

“Làm sao anh biết tôi từng muốn cưới một ai đó?”

Câu trả lời của anh ta chỉ đơn thuần là một thái độ khinh bỉ. Anh ta lướt mắt khỏi phu nhân Harker chừng một khoảnh khắc để ném cái nhìn đầy coi thường về phía tôi, rồi lập tức quay lại nhìn cô chằm chằm:-

“Thật là một câu hỏi ngu xuẩn!”

“Tôi thì lại chẳng thấy thế chút nào đâu, ngài Renfield,” phu nhân Harker lên tiếng, ngay lập tức đứng ra bênh vực tôi.

Anh ta đáp lời cô bằng một thái độ lịch thiệp và mực thước, hoàn toàn đối lập với sự khinh bỉ vừa giáng xuống đầu tôi:-

“Lẽ dĩ nhiên, phu nhân Harker sẽ hiểu rằng khi một con người được yêu mến và kính trọng nhường ấy như vị chủ nhà của chúng ta, mọi thứ xoay quanh ông ấy đều sẽ trở thành mối bận tâm của cái cộng đồng nhỏ bé này. Bác sĩ Seward không chỉ nhận được tình cảm từ gia đình và bằng hữu, mà ngay cả các bệnh nhân cũng hết mực yêu quý ông. Dẫu cho một vài người trong số họ có trạng thái tinh thần không mấy ổn định, thường hay bóp méo nguyên nhân và kết quả của mọi việc. Kể từ khi bước chân vào làm bệnh nhân trong cái nhà thương điên này, tôi không thể không nhận ra rằng xu hướng ngụy biện của một số bệnh nhân thường sa vào những lối mòn của non causaignoratio elenchi1.”

Tôi thực sự trố mắt kinh ngạc trước diễn biến mới mẻ này. Gã điên cưng của tôi-một ca bệnh điển hình nhất mà tôi từng giáp mặt-đang cao đàm khoát luận về triết học cơ bản, lại còn đi kèm phong thái của một quý ông lịch thiệp. Tôi tự hỏi, liệu có phải sự hiện diện của phu nhân Harker đã vô tình chạm đến một sợi dây liên kết nào đó nơi sâu thẳm ký ức anh ta hay không. Nếu chu kỳ mới này nảy sinh một cách tự phát, hoặc bằng một cách vô thức nào đó bắt nguồn từ sức ảnh hưởng của cô ấy, thì ắt hẳn cô phải sở hữu một tài năng thiên bẩm hay một nguồn sức mạnh hiếm có nào đó.

Chúng tôi tiếp tục hàn huyên thêm một lúc. Nhận thấy anh ta có vẻ khá tỉnh táo và rành mạch, cô bèn đánh bạo đưa ánh mắt dò hỏi về phía tôi, rồi khéo léo dẫn dắt anh ta vào chủ đề yêu thích của chính mình. Tôi lại thêm một phen kinh ngạc, bởi anh ta đón nhận câu hỏi với sự vô tư của một người hoàn toàn minh mẫn. Thậm chí, anh ta còn lấy chính bản thân mình ra làm ví dụ minh họa khi nhắc đến một vài khía cạnh cụ thể.

“Chà, bản thân tôi vốn dĩ là một ví dụ về kiểu người ôm ấp một niềm tin kỳ lạ. Thực ra, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bạn bè tôi hốt hoảng, khăng khăng đòi tống tôi vào nơi quản chế. Tôi từng đắm chìm trong ảo tưởng rằng sự sống là một thực thể tích cực và vĩnh cửu. Rằng chỉ cần nuốt chửng vô số những sinh vật sống, dẫu cho chúng có nằm ở nấc thang thấp kém nhất của tạo hóa, con người vẫn có thể kéo dài sự sống đến vô tận. Đã có những lúc niềm tin ấy cháy bỏng đến mức tôi thực sự rắp tâm tước đoạt mạng người. Bác sĩ ở đây có thể làm chứng cho tôi. Đã có lần tôi ra tay cố sát ông ấy, cốt chỉ để cường hóa sinh lực của bản thân bằng cách đồng hóa sự sống của ông ấy vào cơ thể tôi thông qua những giọt máu-tất nhiên là dựa trên câu Kinh Thánh: ‘Vì máu là sự sống2’. Dù trên thực tế, một gã bán thuốc lang băm nào đó đã biến cái chân lý ấy trở nên tầm thường đến mức thật đáng khinh bỉ. Không đúng sao, bác sĩ?”

Tôi khẽ gật đầu đồng tình, lòng dâng lên nỗi kinh ngạc đến mức chẳng biết phải nghĩ ngợi hay thốt ra lời nào. Thật quá đỗi khó tin khi chỉ mới chưa đầy năm phút trước thôi, chính mắt tôi vừa thấy anh ta nuốt sống nhện và ruồi. Lướt nhìn đồng hồ, tôi nhận ra đã đến giờ ra ga đón Giáo sư Van Helsing. Tôi bèn bảo phu nhân Harker rằng đã đến lúc chúng tôi phải rời đi. Cô ngoan ngoãn nối gót theo tôi, không quên để lại một lời chào vui vẻ với ngài Renfield:

“Tạm biệt, tôi hy vọng sẽ thường xuyên được gặp ông, trong những hoàn cảnh dễ chịu hơn đối với ông.”

Và anh ta đáp lời, lại một lần nữa khiến tôi sửng sốt:-

“Tạm biệt, phu nhân. Tôi thành tâm cầu xin Chúa ban ơn, để tôi vĩnh viễn không bao giờ phải nhìn thấy khuôn mặt ngọt ngào của phu nhân chốn này nữa. Nguyện cầu Người rủ lòng ban phước và chở che cho phu nhân!”

Khi tôi rời đi để ra ga đón Giáo sư Van Helsing, mấy chàng trai vẫn nán lại ở nhà. Art tội nghiệp trông có vẻ rạng rỡ hơn hẳn so với cái ngày Lucy bắt đầu đổ bệnh, còn Quincey thì cũng đã tìm lại được nét hoạt bát vốn có của mình sau nhiều ngày ròng ủ rũ.

Giáo sư Van Helsing nhẹ bước xuống xe lửa với sự nhanh nhẹn và háo hức hệt như một cậu thanh niên. Vừa thoáng thấy tôi, ông lập tức rảo bước lại gần, cất lời:-

“À, anh bạn John, mọi chuyện thế nào rồi? Vẫn ổn thỏa chứ? Tốt lắm! Tôi đã chuẩn bị vô cùng chu đáo, bởi tôi đến đây với tâm thế sẽ nán lại dài ngày nếu tình thế bắt buộc. Mọi công việc của tôi đều đã được sắp xếp êm xuôi, và tôi có hằng hà sa số chuyện để kể với cậu đây. Phu nhân Mina vẫn đang ở cùng cậu chứ? Vâng. Cả người chồng tuyệt vời của cô ấy nữa? Cả Arthur và anh bạn Quincey của tôi, họ cũng đang ở cùng cậu chứ? Rất tốt!”

Trên quãng đường lái xe trở về nhà, tôi kể cho ông nghe tường tận những gì đã xảy ra, và cuốn nhật ký của tôi đã phát huy tác dụng tuyệt vời đến thế nào nhờ vào lời gợi ý của phu nhân Harker. Nghe đến đây, Giáo sư liền ngắt lời tôi:-

“Ôi, quý phu nhân Mina thật tuyệt vời! Cô ấy sở hữu trí tuệ của một người đàn ông-một bộ óc sắc sảo mà bất kỳ đấng mày râu tài năng nào cũng phải ao ước-và trái tim dịu dàng của một người phụ nữ. Chúa nhân từ đã tạo ra cô ấy với một sứ mệnh thiêng liêng, hãy tin tôi đi, bởi Người đã nhào nặn nên một sự kết hợp thật hoàn mỹ. Anh bạn John ạ, cho đến lúc này, bánh xe vận mệnh đã khiến người phụ nữ ấy trở thành trợ thủ đắc lực cho chúng ta. Thế nhưng, sau đêm nay, cô ấy tuyệt đối không được phép can dự vào tấn bi kịch kinh hoàng này thêm một lần nào nữa. Để cô ấy đối mặt với một mối hiểm nguy khôn lường như vậy là điều không nên chút nào. Những gã đàn ông chúng ta đã hạ quyết tâm-không, chẳng phải chúng ta đã thề độc rồi sao?-rằng phải tiêu diệt cho bằng được con quái vật này. Nhưng đó vốn dĩ không phải là phần việc dành cho một người phụ nữ. Ngay cả khi thể xác cô ấy không mảy may sứt mẻ, thì trái tim mỏng manh ấy cũng có thể vỡ vụn giữa muôn vàn nỗi kinh hoàng. Để rồi sau này, cô ấy sẽ phải gánh chịu những cơn đau khổ day dứt-khi thức giấc với hệ thần kinh suy sụp, và khi chìm vào giấc ngủ với những cơn ác mộng bủa vây. Hơn thế nữa, cô ấy vẫn còn là một phụ nữ trẻ và chỉ vừa mới lập gia đình chưa được bao lâu; có thể sẽ còn nhiều điều quan trọng khác cần bận tâm vào một lúc nào đó, dù chưa phải là ngay lúc này. Cậu bảo rằng cô ấy đã ghi chép lại mọi thứ, vậy thì cô ấy bắt buộc phải tham gia thảo luận cùng chúng ta. Nhưng đến ngày mai, cô ấy sẽ phải nói lời cáo từ với công việc này, và chỉ còn lại những người đàn ông chúng ta tự mình bước tiếp.”

Tôi chân thành tán đồng với ý kiến của ông. Sau đó, tôi liền kể cho ông nghe về những manh mối mà chúng tôi đã khám phá ra trong lúc ông đi vắng: rằng cái cơ ngơi mà gã Dracula kia vừa thu tóm lại nằm ngay sát vách nhà tôi. Ông sững sờ kinh ngạc, và một nỗi lo âu trĩu nặng dường như ngay lập tức bủa vây lấy ông.

“Ôi, giá như chúng ta biết được điều đó sớm hơn!” ông thốt lên, “vì nếu thế, chúng ta đã có thể tiếp cận hắn kịp thời để cứu vãn mạng sống của Lucy tội nghiệp. Dẫu vậy, ‘sữa đã đổ thì có khóc cũng vô ích,’ như cách các cậu vẫn thường nói. Chúng ta sẽ không dằn vặt về chuyện đó nữa, mà hãy kiên định bước tiếp trên con đường của mình cho đến tận phút cuối cùng.”

Rồi ông chìm vào một sự im lặng kéo dài lê thê cho đến tận lúc chúng tôi bước qua cổng nhà. Trước khi lui về chuẩn bị cho bữa tối, ông quay sang nói với phu nhân Harker:-

“Anh bạn John của ta vừa bảo rằng, thưa cô Mina, cô và chồng đã cất công sắp xếp lại mọi diễn biến đã xảy ra một cách cực kỳ chuẩn xác, cho đến tận thời điểm này.”

“Không phải cho đến thời điểm này đâu, thưa giáo sư,” cô bốc đồng lên tiếng, “mà chỉ là cho đến sáng ngày hôm nay thôi.”

“Nhưng tại sao lại không phải là cho đến tận bây giờ? Chúng ta đã thấy rõ những tiểu tiết nhỏ nhặt ấy có thể soi rọi ánh sáng tuyệt vời đến nhường nào cơ mà. Chúng ta đã chia sẻ những bí mật thầm kín nhất của nhau, và cũng chẳng có ai cảm thấy tồi tệ hơn vì đã trút bầu tâm sự cả.”

Gương mặt phu nhân Harker bỗng ửng đỏ, cô vội vã rút một tờ giấy từ trong túi ra, rụt rè cất lời:-

“Giáo sư Van Helsing, giáo sư có thể đọc cái này, và cho cháu biết liệu nó có thực sự cần thiết phải được đưa vào hay không. Đây là bản ghi chép của cháu về ngày hôm nay. Cháu cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ghi chép lại mọi thứ đang diễn ra ở hiện tại, dẫu cho đó chỉ là những điều vụn vặt nhất. Thế nhưng, trong bản chép tay này lại có quá ít thông tin, ngoại trừ một vài chuyện cá nhân. Nó có cần phải được đưa vào không thưa giáo sư?”

Giáo sư đón lấy tờ giấy, nghiêm túc đọc lướt qua rồi trao lại cho cô, ôn tồn nói:-

“Nó không nhất thiết phải được đưa vào nếu như cô không muốn. Nhưng ta thành tâm cầu xin cô hãy giữ lại nó. Nó sẽ chỉ càng khiến chồng cô yêu cô sâu đậm hơn, và khiến tất cả chúng ta, những người bạn đồng hành của cô, thêm phần kính trọng cô-cũng như quý mến và trân trọng cô hơn thôi.”

Cô đón lấy tờ giấy với đôi gò má lại ửng hồng thêm một lần nữa, kèm theo một nụ cười tỏa nắng rạng rỡ.

Và giờ đây, cho đến tận giờ phút này, toàn bộ những bản ghi chép của chúng tôi đều đã trở nên đầy đủ và được sắp xếp vô cùng có trật tự. Giáo sư đã mang đi một bản sao để nghiên cứu sau bữa tối, trước khi cuộc họp của chúng tôi diễn ra, vốn đã được ấn định vào lúc chín giờ. Những người còn lại trong chúng tôi cũng đã đọc thấu mọi ngóc ngách của vấn đề. Vì thế, khi tất cả cùng tề tựu trong phòng làm việc, mỗi người đều đã nắm rõ mọi diễn biến của sự việc, từ đó có thể vạch ra một kế hoạch tác chiến hoàn hảo để đối phó với kẻ thù kinh hoàng và đầy bí ẩn này.

Nhật ký của Mina Harker.

Ngày 30 tháng 9.-Khoảng hai giờ sau bữa tối (vốn bắt đầu lúc sáu giờ), chúng tôi cùng tề tựu trong phòng làm việc của Bác sĩ Seward và vô tình tạo nên một bầu không khí tựa như một ủy ban trang trọng. Ngay khi bước vào phòng, Bác sĩ Seward đã ra hiệu mời Giáo sư Van Helsing ngồi vào vị trí chủ tọa. Giáo sư bảo cháu ngồi bên tay phải ông và giao cho cháu nhiệm vụ ghi chép; Jonathan thì ngồi ngay cạnh cháu. Đối diện chúng tôi là Lãnh chúa Godalming, Bác sĩ Seward và ngài Morris-trong đó Lãnh chúa Godalming ngồi cạnh Giáo sư, còn Bác sĩ Seward ngồi ở giữa. Giáo sư cất lời:-

"Ta trộm nghĩ, có lẽ tất cả chúng ta đều đã tường tận những sự thật ẩn giấu trong đống giấy tờ này." Cả bọn đều gật đầu tán đồng, và ông tiếp lời:-

"Vậy thì, ta thấy cần phải hé lộ cho các bạn biết đôi điều về kẻ thù mà chúng ta sắp sửa đối mặt. Sau đó, ta sẽ kể thêm về lai lịch của hắn, qua những thông tin đã được kiểm chứng. Nhờ vậy, chúng ta mới có thể bàn bạc đường đi nước bước và vạch ra những đối sách cho phù hợp.

"Trên đời này quả thực tồn tại ma cà rồng; vài người trong chúng ta có bằng chứng về sự hiện diện của chúng. Dẫu cho chúng ta chưa từng nếm trải cảm giác đau thương từ kinh nghiệm của chính mình, thì những lời răn dạy và vô vàn ghi chép từ ngàn xưa cũng thừa sức thuyết phục những cái đầu tỉnh táo nhất. Ta thừa nhận, thuở ban đầu, chính ta cũng đầy hoài nghi. Nếu không nhờ bao năm tháng tự rèn luyện để giữ cho tâm trí luôn cởi mở, ta đã chẳng thể tin được cho đến khi sự thật cay đắng ấy vang vọng bên tai. 'Nhìn xem! Hãy nhìn xem! Ta sẽ chứng minh; ta sẽ chứng minh.' Than ôi! Giá như ngay từ đầu ta thấu hiểu những gì ta đang biết lúc này-không, giá như ta chỉ cần lờ mờ đoán được dã tâm của hắn-thì một sinh mệnh vô giá, người mà biết bao kẻ trong chúng ta hằng yêu thương, hẳn đã được cứu rỗi. Nhưng chuyện đã qua rồi; giờ đây, chúng ta phải dốc hết sức mình để cứu vãn những linh hồn tội nghiệp khác khỏi cảnh diệt vong, khi thời gian vẫn còn cho phép. Một con Nosferatu không hề chết đi như loài ong sau khi vung mũi đốt. Hắn chỉ càng trở nên mạnh mẽ hơn; và chính nhờ sức mạnh ấy, hắn lại càng tích tụ thêm cuồng vọng làm điều ác. Con ma cà rồng đang lẩn khuất giữa chúng ta sở hữu thứ sức mạnh bằng hai mươi người gộp lại; sự xảo quyệt của hắn vượt xa trí tưởng tượng của phàm nhân, bởi lẽ nó đã được tôi luyện qua lớp lớp thời đại; hắn còn nắm trong tay tà thuật gọi hồn3, đúng như tên gọi của nó, thuật bói toán thông qua người chết, và mọi linh hồn khuất bóng mà hắn chạm đến đều phải ngoan ngoãn cúi đầu nghe lệnh; hắn là một con thú, và thậm chí còn tàn độc hơn cả dã thú; hắn là một ác quỷ máu lạnh, mang trong lồng ngực một cõi trống không chứ chẳng hề có trái tim; trong một số giới hạn nhất định, hắn có thể xuất hiện theo ý muốn bất kể lúc nào, ở đâu, và dưới bất kỳ hình thù nào hắn chọn; trong lãnh địa của mình, hắn có tài hô mưa gọi gió, điều khiển cả bão tố, sương mù và sấm sét; hắn có thể ra lệnh cho những sinh vật thấp hèn như chuột, cú, dơi-bướm đêm, cáo và lũ sói; hắn có thể biến hóa to nhỏ tùy ý; và có những lúc hắn tàng hình đi lại như bóng ma. Vậy, chúng ta phải tung đòn tấn công như thế nào để tiêu diệt hắn? Làm sao để lùng ra hang ổ của hắn; và khi đã tìm thấy, bằng cách nào chúng ta có thể triệt hạ hắn? Các bạn của ta, đây quả là một gánh nặng ngàn cân; một nhiệm vụ kinh hoàng mà chúng ta đang gánh vác, mang theo những hậu quả có thể khiến những trái tim dũng cảm nhất cũng phải sởn gai ốc. Bởi lẽ, nếu thất bại trong cuộc chiến này, phần thắng chắc chắn sẽ thuộc về hắn; và rồi số phận của chúng ta sẽ trôi dạt về đâu? Cuộc đời này phỏng có nghĩa lý gì; ta chẳng màng bận tâm. Thế nhưng, thất bại trong cuộc chiến này không chỉ đơn thuần là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Mà là chúng ta sẽ biến thành ác quỷ hệt như hắn; từ nay trở đi, chúng ta sẽ trở thành những sinh vật gớm ghiếc của màn đêm-không trái tim, không lương tri, chuyên săn lùng thể xác và đục khoét linh hồn của những người chúng ta yêu thương nhất. Đối với chúng ta, cánh cổng thiên đường sẽ khép lại vĩnh viễn; vì ai sẽ là người mở nó ra đón chúng ta nữa đây? Chúng ta sẽ vĩnh viễn bị thế gian kinh tởm; một vết nhơ làm vấy bẩn ánh mặt trời của Chúa; một mũi tên găm sâu vào cạnh sườn của Đấng Cứu Thế đã xả thân vì nhân loại. Nhưng chúng ta đang gánh vác sứ mệnh này; và trong tình cảnh ấy, liệu chúng ta có chịu lùi bước? Về phần ta, ta nói 'Không!'; dẫu sao ta cũng đã già, phần đời tươi đẹp với ánh nắng chan hòa, những chốn bình yên, tiếng chim hót, những bản nhạc và cả tình yêu-tất thảy đều đã nằm lại phía sau. Các bạn vẫn còn trẻ. Một vài người đã phải nếm trải niềm đau; nhưng chặng đường rực rỡ phía trước vẫn còn đang đón đợi. Các bạn nghĩ sao?"

Trong lúc ông cất lời, Jonathan khẽ nắm lấy tay cháu. Cháu đã sợ, ôi, vô cùng sợ hãi, rằng bản chất kinh hoàng của mối nguy hiểm kia đang nghiền nát anh ấy khi cháu thấy bàn tay anh đưa ra; nhưng ngay khi cảm nhận được cái chạm đó, một luồng sinh khí đã truyền sang cháu-thật mạnh mẽ, vững vàng và kiên định. Bàn tay của một người đàn ông dũng cảm tự nó đã nói lên tất cả; chẳng cần đến tình yêu của một người phụ nữ cũng có thể lắng nghe được bản nhạc kiên cường từ nó.

Khi Giáo sư vừa dứt lời, chồng cháu nhìn sâu vào mắt cháu, và cháu cũng đắm chìm vào ánh mắt anh; chẳng cần lời nào để thấu hiểu nhau.

"Tôi xin trả lời thay cho cả Mina và bản thân mình," anh dõng dạc nói.

"Hãy tính cả tôi vào, thưa Giáo sư," ngài Quincey Morris lên tiếng, vẫn ngắn gọn và dứt khoát như thường lệ.

"Tôi đi cùng ông," Lãnh chúa Godalming tiếp lời, "vì Lucy, nếu không vì lý do nào khác."

Bác sĩ Seward chỉ lặng lẽ gật đầu. Giáo sư đứng dậy, đặt cây thánh giá bằng vàng của mình lên mặt bàn, rồi dang rộng hai tay. Cháu nắm lấy tay phải của ông, và Lãnh chúa Godalming nắm lấy tay trái; Jonathan dùng tay trái nắm lấy tay phải của cháu, đồng thời rướn người qua nắm lấy tay ngài Morris. Cứ thế, khi những bàn tay đan vào nhau, giao ước trang trọng của chúng tôi đã được thiết lập. Trái kế tim cháu lạnh toát, nhưng chưa bao giờ cháu mảy may nghĩ đến chuyện lùi bước. Chúng tôi quay lại chỗ ngồi, và Giáo sư Van Helsing tiếp tục với một vẻ phấn chấn, ngầm báo hiệu rằng công việc hệ trọng đã thực sự bắt đầu. Nó phải được thực hiện một cách nghiêm túc và rạch ròi, tựa như bất kỳ thương vụ làm ăn nào khác trong đời:-

"Chà, các bạn đã rõ chúng ta phải đối đầu với thứ gì; nhưng chúng ta cũng không hề yếu thế. Chúng ta nắm trong tay sức mạnh của sự đoàn kết-thứ sức mạnh mà loài ma cà rồng bị tước đoạt; chúng ta có các nguồn lực của khoa học; chúng ta được tự do hành động và tư duy; cả thời gian ban ngày lẫn ban đêm đều thuộc về chúng ta. Thực tế, trong phạm vi quyền hạn của mình, những sức mạnh ấy không hề bị trói buộc, và chúng ta hoàn toàn tự do sử dụng. Chúng ta có lòng cống hiến cho một lý tưởng, và một mục tiêu cao cả hoàn toàn không vướng bận tư lợi. Những điều đó mới quý giá làm sao.

"Bây giờ, hãy cùng xem xét những sức mạnh chung đang chĩa mũi giáo vào chúng ta bị hạn chế đến mức nào, và cá nhân hắn không thể làm gì. Nói tóm lại, hãy mổ xẻ những yếu điểm của loài ma cà rồng nói chung, và của con quỷ này nói riêng.

"Tất cả những gì chúng ta có thể dựa vào lúc này chỉ là truyền thuyết và những điều mê tín. Mới nghe qua thì có vẻ như chúng chẳng giúp ích được gì nhiều, nhất là khi vấn đề được đặt lên bàn cân là sự sống và cái chết-không, còn lớn lao hơn cả sự sống và cái chết. Thế nhưng, chúng ta đành phải hài lòng với chúng; thứ nhất, bởi vì chúng ta không còn lựa chọn nào khác-chẳng còn phương tiện nào khác nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta-và thứ hai, suy cho cùng, thì truyền thuyết và tín ngưỡng cũng chính là tất cả những gì chúng ta có. Chẳng phải niềm tin vào ma cà rồng của những kẻ khác-dù thật đáng tiếc, lại không dành cho chúng ta-cũng được xây dựng từ chúng sao? Thử hỏi một năm trước, ai trong chúng ta dám chấp nhận một khả năng phi lý đến vậy, giữa bối cảnh thế kỷ mười chín đầy rẫy chủ nghĩa thực dụng, thói hoài nghi và nền khoa học thực chứng? Thậm chí, chúng ta còn phủ nhận một niềm tin đã được minh chứng rành rành ngay trước mắt. Vậy thì, hãy xem như ma cà rồng, cùng với những niềm tin về điểm yếu và cách tiêu diệt hắn, hiện tại đều chung một nền tảng. Bởi lẽ, để ta nói cho các bạn hay, tên tuổi hắn đã vang danh khắp chốn có bóng dáng con người. Từ thời Hy Lạp cổ đại cho đến La Mã cổ kính; hắn hoành hành khắp nước Đức, càn quét nước Pháp, vươn vòi rồng sang Ấn Độ, thậm chí đến tận vùng Chernosese; và ở đất nước Trung Hoa xa xôi vạn dặm về mọi phương diện, hắn cũng hiện diện ở đó, gieo rắc nỗi kinh hoàng cho người dân mãi đến tận ngày nay. Hắn đã bám theo gót chân của người Iceland hung hãn, loài Hun sinh ra từ quỷ dữ4, người Slav, người Saxon và cả người Magyar. Cho đến lúc này, đó là toàn bộ những gì chúng ta có thể dựa vào để hành động; và hãy để ta khẳng định rằng rất nhiều trong số những niềm tin đó đã được chứng minh qua chính những trải nghiệm đau thương của chúng ta. Ma cà rồng sống mãi, chúng không tàn lụi theo dòng chảy thời gian; hắn có thể hồi sinh mạnh mẽ chỉ cần được no say máu của người sống. Hơn thế nữa, chúng ta đã tận mắt chứng kiến ngay giữa cộng đồng mình, rằng hắn thậm chí có thể cải lão hoàn đồng; rằng sinh lực của hắn trở nên sung mãn, và dường như tự tái tạo khi được tiếp nhận nguồn thức ăn đặc biệt một cách dồi dào. Thế nhưng, hắn không thể tồn tại nếu thiếu đi chế độ ăn dị thường này; hắn không ăn như những người bình thường. Ngay cả cậu Jonathan đây, người đã chung sống với hắn suốt nhiều tuần liền, cũng chưa từng một lần thấy hắn ăn, chưa bao giờ! Hắn không có bóng đổ; hắn chẳng hề phản chiếu trong gương, như Jonathan đã từng quan sát thấy. Hắn sở hữu sức mạnh bằng sức lực của nhiều bàn tay gộp lại-lại là nhân chứng Jonathan đã xác nhận điều này khi chứng kiến hắn đóng sập cánh cửa chặn bầy sói, hay lúc anh giúp hắn dỡ hàng xuống từ cỗ xe ngựa chở khách. Hắn có thể hóa thân thành chó sói, như chúng ta đã chắp vá được từ sự kiện con tàu cập cảng Whitby, khi hắn xé toạc cổ một con chó; hắn có thể biến thành dơi, như cô Mina từng bắt gặp hắn lấp ló bên cửa sổ ở Whitby, như cậu bạn John đã thấy hắn bay vút ra từ chính ngôi nhà cạnh bên này, và như anh bạn Quincey của ta đã chạm trán hắn ở cửa sổ phòng cô Lucy. Hắn có thể xuất hiện trong lớp sương mù do chính hắn tạo ra-vị thuyền trưởng quả cảm của con tàu kia đã chứng thực quyền năng này; thế nhưng, theo những gì chúng ta được biết, phạm vi mà hắn có thể tạo ra sương mù khá hạn hẹp, và nó chỉ có thể bao bọc lấy bản thân hắn. Hắn có thể nương theo ánh trăng vỡ vụn thành lớp bụi mờ-như Jonathan đã từng thấy ba ả nữ nhi kia biểu diễn trong lâu đài của Dracula. Hắn có thể thu mình nhỏ bé lại-chính chúng ta đã tận mắt chứng kiến cô Lucy, trước khi tâm hồn cô được bình yên, luồn lách qua một khe hở chỉ bé bằng sợi tóc nơi cửa hầm mộ. Một khi đã tìm được kẽ hở, hắn có thể chui ra hoặc lọt vào bất cứ đâu, bất chấp cánh cửa có bị khóa chặt hay thậm chí bị nung chảy bằng ngọn lửa-cái mà các bạn gọi là hàn kín. Hắn có thể nhìn thấu trong bóng tối-thứ quyền năng không hề nhỏ bé chút nào, trong một thế giới mà một nửa bề mặt luôn bị che khuất khỏi ánh sáng. À, nhưng hãy nghe ta nói cho hết. Hắn có thể làm tất thảy những điều dị thường đó, nhưng hắn lại không hề tự do. Không đâu; hắn thậm chí còn sống ngột ngạt hơn cả một tên nô lệ chèo thuyền, hay một kẻ điên bị giam lỏng trong buồng biệt giam. Hắn không thể đi đến bất cứ nơi nào hắn muốn; những sinh vật đi ngược lại tự nhiên rốt cuộc vẫn phải khuất phục trước một số quy luật của tạo hóa-dù lý do sâu xa thì chúng ta không thể thấu tận. Thoạt tiên, hắn không thể bước chân vào bất kỳ nơi đâu, trừ phi có ai đó trong gia đình lên tiếng mời hắn vào; dẫu rằng sau lời mời ấy, hắn có thể ra vào tự do. Quyền năng của hắn, cũng giống như mọi thế lực tà ác khác, đều sẽ tiêu biến khi bình minh ló rạng. Chỉ vào những khoảng thời gian nhất định, hắn mới có được một chút tự do cỏn con. Nếu không ở đúng nơi mà hắn bị trói buộc, hắn chỉ có thể biến hình vào thời khắc giữa trưa, hoặc đúng vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn. Đó là những gì chúng ta được truyền tai, và thông qua hồ sơ của chúng ta, chúng đã được chứng thực bằng những suy luận sắc bén. Vì vậy, mặc dù hắn có thể tác oai tác quái trong giới hạn của mình, đặc biệt là khi lẩn trốn dưới lòng đất, trong chiếc quan tài, hay hang ổ địa ngục của hắn-những nơi không được thánh hóa, tựa như lúc chúng ta chứng kiến hắn mò đến ngôi mộ của kẻ tự sát ở Whitby; nhưng vào những khoảng thời gian khác, hắn chỉ có thể biến hình khi thời cơ chín muồi. Người ta cũng kháo nhau rằng, hắn chỉ có thể băng qua những dòng nước đang chảy siết vào lúc thủy triều dâng lên hoặc rút xuống. Lại có những thứ khiến hắn vô cùng đau đớn, tước đoạt toàn bộ sức mạnh của hắn, chẳng hạn như tỏi; và đối với những thánh tích, như biểu tượng này, cây thánh giá của ta, thứ đã hiện diện giữa chúng ta ngay tại khoảnh khắc quyết định này, đối với chúng, hắn chẳng là cái thá gì, sự hiện diện của chúng buộc hắn phải lùi bước và câm nín trong sự kính sợ. Vẫn còn những vật phẩm khác nữa mà ta sẽ tiết lộ cho các bạn, e rằng trong quá trình truy lùng, chúng ta sẽ cần dùng đến. Nhành hoa hồng dại đặt trên nắp quan tài sẽ ghim chặt hắn ở đó, khiến hắn không thể nhúc nhích; một viên đạn đã được ban phước xuyên qua nắp quan tài sẽ kết liễu hắn để hắn chết đi thực sự; và đối với hình phạt đóng cọc xuyên tim, chúng ta đã chứng kiến sự thanh thản mà nó mang lại; hay việc chặt đầu sẽ mang đến sự an nghỉ cuối cùng. Chúng ta đã tận mắt kiểm chứng điều đó.

"Như vậy, một khi tìm thấy nơi ẩn náu của kẻ từng mang hình hài con người này, chúng ta có thể nhốt hắn vào quan tài và tiêu diệt hắn, miễn là tuân thủ sát sao những gì chúng ta đã biết. Nhưng hắn xảo quyệt vô cùng. Ta đã nhờ người bạn Arminius của ta, hiện đang công tác ở Đại học Buda-Pesth, lập một hồ sơ chi tiết về hắn; và, tổng hợp từ mọi nguồn tin, anh ấy đã tiết lộ cho ta biết hắn từng là ai. Quả thực, hắn chính là Lãnh chúa Dracula, vị thống soái đã khắc tên mình vào lịch sử khi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Thổ, vượt qua dòng sông lớn nằm vắt ngang biên giới lãnh thổ của kẻ thù. Nếu đúng là vậy, thì hắn hoàn toàn không phải là một kẻ tầm thường; bởi lẽ vào thời khắc đó, và trong suốt nhiều thế kỷ sau này, người ta vẫn nhắc đến hắn như một kẻ sở hữu trí tuệ uyên bác nhất, xảo quyệt nhất, đồng thời cũng là người con dũng mãnh nhất của 'vùng đất xa xôi sau khu rừng.'5 Trí tuệ kiệt xuất và ý chí sắt đá ấy đã theo hắn xuống tận nấm mồ, và ngay lúc này đây, chúng đang được huy động để chống lại chúng ta. Theo lời Arminius, gia tộc Dracula từng là một dòng giống vô cùng vĩ đại và cao quý, mặc cho thỉnh thoảng vẫn xuất hiện những hậu duệ bị người đương thời lên án là đã giao du với Kẻ Thù Ác. Bọn chúng đã học mót được những bí thuật đen tối trong Scholomance6, ẩn sâu giữa những ngọn núi sừng sững phía trên Hồ Hermanstadt, nơi quỷ dữ luôn đòi hỏi người học trò thứ mười để làm vật hiến tế. Trong các văn bản cổ có nhắc đến những từ như 'stregoica'-phù thủy, 'ordog,' và 'pokol'-Satan và địa ngục7; và trong một cuộn giấy da, chính Lãnh chúa Dracula này được gọi là 'wampyr,' cái danh xưng mà tất cả chúng ta đều đã quá rõ. Từ hậu duệ của chính kẻ này, cũng đã từng xuất hiện những vĩ nhân và những người phụ nữ đức hạnh, và chính những ngôi mộ của họ đã thánh hóa vùng đất ấy, cũng là nơi duy nhất mà mầm mống nhơ nhuốc này có thể trú ngụ. Bởi lẽ, còn gì kinh khủng hơn khi hạt giống cái ác cắm rễ sâu vào mọi điều tốt đẹp; trên mảnh đất cằn cỗi vắng bóng những ký ức thiêng liêng, nó mãi mãi không thể chợp mắt."

Trong lúc họ đang trò chuyện, ngài Morris cứ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, và giờ anh lặng lẽ đứng dậy, rồi bước thẳng ra khỏi phòng. Không gian chìm vào một khoảnh khắc tĩnh lặng ngắn ngủi, rồi Giáo sư lại tiếp lời:-

"Và bây giờ, chúng ta phải quyết định bước đi tiếp theo của mình. Dữ liệu đã nắm trong tay, đã đến lúc chúng ta phải vạch ra chiến dịch tác chiến. Nhờ cuộc điều tra của Jonathan, chúng ta biết rằng có năm mươi thùng đất đã được chuyển từ lâu đài đến Whitby, và tất cả đều đã cập bến Carfax; chúng ta cũng nắm được thông tin rằng ít nhất một số trong những thùng đất này đã bị di dời. Theo ta thấy, bước đầu tiên là phải xác minh xem liệu toàn bộ số lượng còn lại có vẫn nằm yên trong ngôi nhà phía bên kia bức tường mà chúng ta đã quan sát ngày hôm nay hay không; hoặc liệu có thêm bất kỳ thùng nào khác bị mang đi nơi khác không. Nếu rơi vào trường hợp thứ hai, chúng ta buộc phải lần theo dấu vết--"

Ngay khoảnh khắc ấy, một tiếng động đinh tai nhức óc cắt ngang cuộc trò chuyện, khiến tất cả thót tim. Tiếng nổ khô khốc của một khẩu súng lục vang lên từ bên ngoài; một viên đạn lao tới, đập vào bậu cửa sổ, găm thẳng vào bức tường đối diện khiến những mảnh kính vỡ vụn văng tung tóe. Cháu e rằng tự trong thâm tâm, cháu đích thị là một kẻ hèn nhát, bởi lẽ cháu đã hét lên thất thanh. Những người đàn ông đồng loạt bật dậy; Lãnh chúa Godalming lao vụt đến bên cửa sổ, hất tung cánh cửa kính lên. Vừa lúc đó, chúng tôi nghe thấy giọng ngài Morris vang lên từ bên ngoài:-

"Xin lỗi! Tôi e rằng tôi đã làm các vị hoảng hốt. Tôi sẽ vào và giải thích cho các vị nghe ngay đây." Một phút sau, anh bước vào và thanh minh:-

"Quả là một hành động thiếu suy nghĩ của tôi, tôi thành thật xin phu nhân thứ lỗi, phu nhân Harker; tôi e rằng mình đã làm phu nhân hoảng sợ. Nhưng sự thật là, trong lúc Giáo sư đang nói, có một con dơi khổng lồ sà đến và đậu ngay trên bậu cửa sổ. Kể từ sau những biến cố gần đây, tôi đâm ra kinh tởm lũ súc sinh chết tiệt này đến tận cổ, đến mức không thể nào chịu đựng nổi sự hiện diện của chúng, nên tôi đã bước ra ngoài nã một phát đạn, cũng giống như thói quen của tôi trong mấy buổi tối gần đây, hễ thấy con nào là bắn con đó. Art, lúc đó anh vẫn hay cười nhạo thói quen đó của tôi mà."

"Thế anh có bắn trúng nó không?" Bác sĩ Van Helsing gặng hỏi.

"Tôi không rõ; tôi e là trượt rồi, vì nó đã bay vụt vào rừng." Không nói thêm lời nào, anh quay về chỗ ngồi, và Giáo sư lại tiếp tục bài phát biểu còn dang dở:-

"Chúng ta phải lần theo dấu vết của từng chiếc thùng này; và khi thời cơ chín muồi, chúng ta phải bắt sống hoặc tiêu diệt con quái vật này ngay trong sào huyệt của hắn; hoặc chí ít, nói một cách hình tượng, chúng chúng ta phải thanh tẩy vùng đất đó, để hắn không còn chốn dung thân an toàn nào nữa. Có như vậy, cuối cùng chúng ta mới có thể tóm được hắn dưới hình hài con người trong khoảng thời gian từ giữa trưa đến hoàng hôn, và giao chiến với hắn vào lúc hắn yếu ớt nhất.

"Và bây giờ, cô Mina, đêm nay là điểm kết thúc cho đến khi mọi sóng gió qua đi. Cô quá đỗi quý giá đối với chúng tôi để phải mạo hiểm dấn thân vào hiểm nguy. Khi chúng ta chia tay đêm nay, cô không được phép đặt thêm bất cứ câu hỏi nào nữa. Tới thời điểm thích hợp, chúng tôi sẽ kể cho cô nghe tất cả. Chúng tôi là đàn ông, chúng tôi có thể gánh vác; nhưng cô phải là ngôi sao sáng và là niềm hy vọng của chúng tôi, chúng tôi sẽ chiến đấu kiên cường và tự do hơn khi biết rằng cô luôn được an toàn, không bị bủa vây bởi nguy hiểm như chúng tôi."

Tất thảy những người đàn ông, ngay cả Jonathan, đều lộ rõ vẻ nhẹ nhõm; nhưng đối với cháu, việc họ phải lao mình vào hiểm nguy và, có lẽ, làm suy giảm sự an toàn của chính mình-bởi sức mạnh lớn nhất chính là sự an toàn-để đổi lấy sự bình an cho cháu, quả thực không phải là điều tốt đẹp gì; nhưng tâm trí họ đã quyết, và dẫu cho đó có là một viên thuốc đắng mà cháu buộc phải nuốt, cháu chẳng thể nói gì hơn ngoài việc miễn cưỡng chấp nhận sự che chở hào hiệp mà họ dành cho cháu.

Ngài Morris tiếp tục cuộc hội ý:-

"Vì không còn nhiều thời gian để chần chừ, tôi bỏ phiếu chúng ta nên sang xem xét ngôi nhà của hắn ngay bây giờ. Đối với hắn, thời gian là tất cả; hành động chớp nhoáng của chúng ta lúc này rất có thể sẽ cứu được một sinh mạng vô tội khác."

Cháu thừa nhận rằng trái tim cháu bắt đầu trĩu nặng khi thời khắc hành động cận kề, nhưng cháu vẫn giữ im lặng, vì cháu mang trong mình một nỗi sợ lớn hơn: sợ rằng nếu cháu tỏ ra yếu đuối, trở thành gánh nặng hay vật cản đường họ, họ có thể sẽ gạt cháu ra khỏi mọi cuộc thảo luận sau này. Giờ đây, họ đã khởi hành đến Carfax, mang theo những dụng cụ cần thiết để đột nhập vào sào huyệt của hắn.

Giống như bao người đàn ông khác, họ bảo cháu hãy đi ngủ; cứ làm như thể một người phụ nữ có thể chợp mắt khi những người cô ấy yêu thương đang trần mình trong hiểm nguy! Cháu sẽ nằm xuống và vờ như đang ngủ, để khi Jonathan trở về, anh ấy không phải thêm phần bận tâm hay lo lắng vì cháu.

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 1 tháng 10, 4 giờ sáng.-Ngay khi chúng tôi chuẩn bị rời khỏi nhà, một tin nhắn khẩn cấp được mang đến cho tôi từ Renfield để hỏi xem tôi có thể gặp anh ta ngay lập tức không, vì anh ta có điều tối quan trọng muốn nói với tôi. Tôi bảo người đưa tin báo lại rằng tôi sẽ đáp ứng nguyện vọng của anh ta vào buổi sáng; hiện tại tôi đang bận. Người phục vụ nói thêm:-

“Anh ta có vẻ rất khẩn thiết, thưa bác sĩ. Tôi chưa bao giờ thấy anh ta háo hức như vậy. Tôi không biết, nhưng nếu bác sĩ không gặp anh ta sớm, anh ta có thể lên một cơn kích động dữ dội.” Tôi biết người đàn ông này sẽ không buông lời như vậy nếu không có lý do, nên tôi đáp: “Được rồi; tôi sẽ đi ngay bây giờ”; và tôi yêu cầu những người khác nán lại vài phút, vì tôi phải đi gặp “bệnh nhân” của mình.

“Cho tôi đi cùng, anh bạn John,” Giáo sư nói. “Trường hợp của anh ta trong nhật ký của anh khiến tôi rất quan tâm, và đôi khi nó cũng liên quan đến trường hợp của chúng ta. Tôi rất muốn gặp anh ta, nhất là lúc tâm trí anh ta đang xáo động.”

“Tôi có thể đi cùng không?” Lãnh chúa Godalming hỏi.

“Cả tôi nữa chứ?” Quincey Morris lên tiếng. “Tôi có thể đi cùng không?” Harker tiếp lời. Tôi gật đầu, rồi tất cả chúng tôi cùng sải bước dọc hành lang.

Chúng tôi thấy anh ta trong trạng thái khá phấn khích, nhưng cách ăn nói và cử chỉ lại mực thước, hợp lý hơn nhiều so với tất cả những gì tôi từng chứng kiến. Ở anh ta toát lên một sự tự nhận thức khác thường, hoàn toàn không giống với bất kỳ người điên nào tôi từng tiếp xúc; và anh ta đinh ninh rằng những lý lẽ của mình sẽ dư sức thuyết phục những con người hoàn toàn tỉnh táo khác. Cả bốn người chúng tôi bước vào phòng, nhưng ban đầu, không ai cất lời. Yêu cầu của anh ta là tôi phải lập tức giải phóng anh ta khỏi trại tị nạn và đưa anh ta về nhà. Để củng cố thỉnh nguyện ấy, anh ta đưa ra hàng loạt lập luận chứng minh bản thân đã bình phục hoàn toàn, kèm theo những bằng chứng về sự minh mẫn hiện tại. “Tôi thỉnh cầu những người bạn của bác sĩ,” anh ta lên tiếng, “hẳn họ sẽ không phiền khi ngồi xét xử trường hợp của tôi. À nhân tiện, bác sĩ vẫn chưa giới thiệu tôi.” Tôi đã quá đỗi kinh ngạc, đến mức sự kỳ quặc của việc giới thiệu một gã điên trong nhà thương điên không mảy may làm tôi bận tâm vào khoảnh khắc ấy; và, hơn thế nữa, phong thái của người đàn ông này mang một vẻ đàng hoàng nhất định, phảng phất thói quen cư xử bình đẳng, đến độ tôi lập tức giới thiệu: “Lãnh chúa Godalming; Giáo sư Van Helsing; ngài Quincey Morris, đến từ Texas; ngài Renfield.” Anh ta bắt tay từng người trong số họ, và lần lượt nói:-

“Lãnh chúa Godalming, tôi từng có vinh hạnh làm phụ tá cho thân phụ ngài tại Windham; tôi vô cùng đau buồn khi biết rằng, qua việc ngài kế thừa tước vị, ông ấy không còn nữa. Ông là một người được tất cả những ai quen biết hết mực yêu mến và kính trọng; và thời trẻ, tôi nghe đồn, ông là người đã sáng chế ra món rượu rum punch nướng lừng danh, rất được ưa chuộng vào đêm Derby8. Ngài Morris, ngài hẳn rất tự hào về tiểu bang vĩ đại của mình. Sự sáp nhập của tiểu bang vào Liên bang là một tiền lệ có thể mang lại những tác động sâu rộng mai sau, khi cả Cực Bắc và Vùng nhiệt đới có thể liên minh dưới lá cờ Sao và Sọc. Quyền lực của Hiệp ước có lẽ sẽ chứng tỏ là một cỗ máy khổng lồ cho sự bành trướng, khi học thuyết Monroe9 đảm nhận vị thế đích thực của nó như một câu chuyện ngụ ngôn chính trị. Còn niềm hân hoan nào bằng khi được hội ngộ Van Helsing? Thưa ngài, tôi không xin lỗi vì đã bỏ qua mọi kính ngữ thông thường. Khi một cá nhân đã tạo ra cuộc cách mạng trong phương pháp điều trị bằng khám phá vĩ đại về sự tiến hóa liên tục của chất não, thì mọi hình thức thông thường đều trở nên gượng gạo, bởi chúng dường như chỉ gò bó ngài trong một tầng lớp nhất định. Thưa các quý ông, những người nhờ quốc tịch, nhờ di truyền, hoặc nhờ thụ hưởng những năng khiếu thiên bẩm, được sinh ra để nắm giữ vị trí xứng đáng của mình trong một thế giới không ngừng vận động, tôi xin lấy làm nhân chứng rằng tôi cũng minh mẫn chẳng kém gì phần lớn những người đang được tận hưởng trọn vẹn quyền tự do. Và tôi tin chắc rằng bác sĩ, Bác sĩ Seward, một nhà nhân đạo học, một bác sĩ pháp y kiêm một nhà khoa học, sẽ coi việc đối xử với tôi như một người đang trong hoàn cảnh ngoại lệ là một nghĩa vụ đạo đức.” Anh ta khép lại lời kêu gọi bằng một phong thái lịch thiệp và đầy tự tin, mang một sức hút lạ kỳ không thể phủ nhận.

Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều choáng váng. Về phần mình, bất chấp mọi hiểu biết về tính cách và quá khứ của người đàn ông này, tôi gần như tin chắc rằng lý trí của anh ta đã hoàn toàn hồi phục; và tôi cảm thấy một sự thôi thúc mãnh liệt muốn nói với anh ta rằng tôi hài lòng với sự tỉnh táo ấy, và sẽ xem xét các thủ tục cần thiết để phóng thích anh ta vào sáng mai. Tuy nhiên, tôi cho rằng tốt hơn hết là nên trì hoãn trước khi đưa ra một phán quyết nghiêm trọng như vậy, bởi tôi đã nhẵn mặt với những chuyển biến tâm lý đột ngột mà bệnh nhân đặc biệt này có thể mắc phải. Vì vậy, tôi tự bằng lòng với việc đưa ra một tuyên bố chung chung rằng anh ta dường như đang tiến triển rất tốt; rằng tôi sẽ có một cuộc trò chuyện dài hơn với anh ta vào buổi sáng, và sau đó sẽ xem xét những gì mình có thể làm để đáp ứng nguyện vọng của anh ta. Điều này không hề làm anh ta hài lòng chút nào, bởi anh ta đáp lời rất nhanh:-

“Nhưng tôi e rằng, Bác sĩ Seward, bác sĩ hầu như không hiểu nguyện vọng của tôi. Tôi khao khát được rời khỏi đây ngay lập tức-ở đây-bây giờ-ngay giờ phút này-ngay khoảnh khắc này, nếu tôi có thể. Thời gian đang vô cùng cấp bách, và trong thỏa thuận ngầm của chúng ta với Tử thần cầm lưỡi hái già cỗi10, thời gian chính là bản chất của hợp đồng. Tôi tin chắc rằng chỉ cần đặt trước một vị bác sĩ đáng kính như Bác sĩ Seward một nguyện vọng đơn giản, nhưng vô cùng trọng đại như vậy, là đủ để đảm bảo nó được thực thi.” Anh ta nhìn tôi sắc lẹm, và khi bắt gặp sự khước từ hằn rõ trên gương mặt tôi, anh ta quay sang những người khác, dò xét họ cẩn thận. Không nhận được phản hồi thỏa đáng nào, anh ta tiếp tục:-

“Có khả năng nào tôi đã sai lầm trong những giả định của mình không?”

“Anh đã sai,” tôi đáp lời thẳng thắn, nhưng thâm tâm lại cảm thấy, có phần tàn nhẫn. Một khoảng lặng khá dài bao trùm, và rồi anh ta chậm rãi cất tiếng:-

“Vậy thì tôi cho rằng tôi chỉ có thể thay đổi cơ sở yêu cầu của mình. Xin cho phép tôi đòi hỏi sự nhượng bộ này-đặc ân, phước lành, tùy các vị gọi. Tôi sẵn lòng cầu xin trong trường hợp này, không phải vì tư lợi cá nhân, mà vì lợi ích của người khác. Tôi không được phép nói cho các vị toàn bộ lý do của mình; nhưng tôi cam đoan với các vị, hãy tin lời tôi, rằng chúng là những lý do chính đáng, hợp lý và vị tha, xuất phát từ ý thức trách nhiệm cao thượng nhất. Thưa ngài, nếu ngài có thể thấu thị trái tim tôi, ngài sẽ hoàn toàn tán thành những tình cảm đang thôi thúc tôi. Không, hơn thế nữa, ngài sẽ coi tôi là một trong những người bạn tốt nhất và chân thành nhất của ngài.” Anh ta lại phóng ánh nhìn sắc sảo về phía tất cả chúng tôi. Niềm tin trong tôi ngày một mãnh liệt rằng sự thay đổi đột ngột trong toàn bộ tư duy của anh ta chỉ là một hình thái hoặc một giai đoạn khác của chứng điên loạn, và do đó tôi quyết định để anh ta tiếp tục thêm một chút, bởi kinh nghiệm xương máu cho thấy, giống như mọi kẻ điên khác, cuối cùng anh ta cũng sẽ lộ nguyên hình. Van Helsing đang chằm chằm nhìn anh ta với sự tập trung cao độ nhất, đôi lông mày rậm rạp của ông gần như nhíu chặt lại vì quá chăm chú. Ông nói với Renfield bằng một chất giọng không làm tôi ngạc nhiên lúc bấy giờ, mà chỉ kinh ngạc khi ngẫm lại sau này-bởi đó là giọng điệu của một người đang đàm đạo với một người ngang hàng:-

“Ngài không thể nói thẳng thắn lý do thực sự của mình khi muốn được tự do đêm nay sao? Tôi cam đoan rằng nếu ngài làm hài lòng ngay cả tôi-một người lạ, không thành kiến, và luôn giữ tâm trí cởi mở-Bác sĩ Seward sẽ ban cho ngài, với rủi ro và trách nhiệm của chính anh ấy, cái đặc ân mà ngài tìm kiếm.” Anh ta lắc đầu buồn bã, với vẻ hối tiếc sâu sắc hằn trên khuôn mặt. Giáo sư tiếp tục:-

“Nào, thưa ngài, hãy suy nghĩ lại. Ngài đòi hỏi đặc quyền của lý trí ở mức độ cao nhất, bởi ngài tìm cách gây ấn tượng với chúng tôi bằng sự hợp lý hoàn hảo của ngài. Ngài làm điều này, trong khi sự tỉnh táo của ngài khiến chúng tôi có lý do để hoài nghi, vì ngài vẫn chưa được xuất viện sau quá trình điều trị chứng khiếm khuyết này. Nếu ngài không giúp chúng tôi trong nỗ lực lựa chọn phương án khôn ngoan nhất, làm sao chúng tôi có thể thực thi nhiệm vụ mà ngài tự đặt lên vai chúng tôi? Hãy khôn ngoan, và giúp chúng tôi; và nếu có thể, chúng tôi sẽ hỗ trợ ngài đạt được nguyện vọng của mình.” Anh ta vẫn lắc đầu khi nói:-

“Bác sĩ Van Helsing, tôi không có gì để nói. Lập luận của ngài rất hoàn hảo, và nếu tôi được tự do nói ra, tôi sẽ không do dự một giây phút nào; nhưng tôi không phải là người có quyền quyết định trong vấn đề này. Tôi chỉ có thể khẩn khoản yêu cầu ngài tin tưởng tôi. Nếu tôi bị khước từ, trách nhiệm không thuộc về tôi.” Tôi cho rằng đã đến lúc phải kết thúc cảnh tượng vốn đang trở nên bi hài một cách nghiêm trọng này, vì vậy tôi cất bước về phía cửa, buông lời gọn lỏn:-

“Đi thôi, các bạn của tôi, chúng ta có việc phải làm. Chúc ngủ ngon.”

Tuy nhiên, khi tôi vừa chạm tay đến nắm cửa, một sự biến chuyển mới lại ập đến với bệnh nhân. Anh ta lao về phía tôi nhanh như chớp đến mức trong một khoảnh khắc tôi kinh hãi ngỡ rằng anh ta sắp sửa thực hiện một cuộc tấn công sát nhân khác. Dù vậy, nỗi sợ hãi của tôi hoàn toàn vô căn cứ, bởi anh ta giơ hai tay lên khẩn khoản, và dâng lời thỉnh nguyện một cách vô cùng bi thương. Khi anh ta nhận ra rằng chính sự bùng nổ thái quá trong cảm xúc đang phản tác dụng, đưa chúng tôi trở lại với những mối quan hệ cũ, thái độ của anh ta càng bộc lộ rõ rệt hơn. Tôi liếc nhìn Van Helsing, và thấy niềm tin của mình được phản chiếu trong mắt ông; nên tôi trở nên kiên định hơn đôi chút, nếu không muốn nói là nghiêm khắc hơn, và ra hiệu cho anh ta rằng mọi nỗ lực của anh ta chỉ là hoài công vô ích. Trước đây tôi đã từng chứng kiến vài dấu hiệu tương tự về sự phấn khích không ngừng leo thang trong anh ta mỗi khi anh ta đưa ra một yêu cầu nào đó mà lúc bấy giờ anh ta đã suy tính rất nhiều, chẳng hạn như khi anh ta đòi một con mèo; và tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần để chứng kiến sự sụp đổ trong cùng một thái độ cam chịu hờn dỗi như lần ấy. Kỳ vọng của tôi đã không thành hiện thực, bởi khi anh ta nhận ra rằng lời cầu xin của mình sẽ không đơm hoa kết trái, anh ta rơi vào trạng thái hoàn toàn điên loạn. Anh ta quỳ sụp xuống, giơ hai tay lên, vặn vẹo chúng trong lời cầu xin thảm thiết, và tuôn ra một dòng van vỉ, với những giọt nước mắt giàn giụa lăn dài trên má, và toàn bộ khuôn mặt cùng dáng vẻ toát lên thứ cảm xúc sâu thẳm nhất:-

“Xin hãy cho phép tôi cầu xin bác sĩ, Bác sĩ Seward, ôi, xin hãy cho tôi van xin bác sĩ, hãy để tôi rời khỏi ngôi nhà này ngay lập tức. Đưa tôi đi bằng cách nào bác sĩ muốn và đi đâu bác sĩ muốn; cử những người quản giáo đi cùng tôi bằng roi vọt và xiềng xích; hãy để họ đưa tôi đi trong chiếc áo trói tay11, bị còng tay và còng chân, thậm chí là tống vào ngục tối; nhưng hãy để tôi thoát khỏi chốn này. Bác sĩ không biết bác sĩ đang làm gì khi giam giữ tôi ở đây đâu. Tôi đang nói từ tận đáy lòng-từ chính linh hồn tôi. Bác sĩ không biết bác sĩ đang làm sai với ai, hay như thế nào đâu; và tôi không thể nói ra. Khốn khổ thân tôi! Tôi không thể nói ra. Bằng tất cả những gì bác sĩ coi là thiêng liêng-bằng tất cả những gì bác sĩ trân quý-bằng tình yêu mà bác sĩ đã đánh mất-bằng niềm hy vọng đang sục sôi trong bác sĩ-vì Đấng Tối Cao, hãy đưa tôi ra khỏi đây và cứu rỗi linh hồn tôi khỏi muôn vàn tội lỗi! Bác sĩ không nghe thấy tôi sao, chàng trai? Bác sĩ không hiểu sao? Bác sĩ sẽ không bao giờ học được sao? Bác sĩ không biết rằng bây giờ tôi đang tỉnh táo và cực kỳ nghiêm túc sao; rằng tôi không phải là kẻ điên trong cơn loạn trí, mà là một con người tỉnh táo đang chiến đấu cho chính linh hồn mình sao? Ôi, hãy nghe tôi! hãy nghe tôi! Hãy để tôi đi! hãy để tôi đi! hãy để tôi đi!”

Tôi nghĩ rằng trò này càng kéo dài thì anh ta sẽ càng trở nên hoang dại hơn, và như thế chắc chắn sẽ dẫn đến một cơn kích động điên cuồng; nên tôi túm lấy tay anh ta và xốc anh ta đứng dậy.

“Nào,” tôi gằn giọng nghiêm khắc, “không nói thêm lời nào nữa; chúng ta đã có quá đủ rồi. Lên giường và cố gắng cư xử cho phải phép hơn đi.”

Anh ta đột ngột im bặt và nhìn tôi chằm chằm trong vài khoảnh khắc. Sau đó, không một lời oán thán, anh ta đứng dậy và lững thững bước tới, gieo mình ngồi xuống mép giường. Sự sụp đổ đã đến, hệt như những lần trước, đúng như tôi dự đoán.

Khi tôi rời khỏi phòng, là người cuối cùng trong nhóm, anh ta cất lời với tôi bằng một chất giọng trầm tĩnh, vô cùng lịch sự:-

“Tôi hy vọng bác sĩ sẽ cư xử công bằng mà ghi nhớ, sau này, thưa Bác sĩ Seward, rằng tôi đã làm tất cả những gì có thể để thuyết phục bác sĩ đêm nay.”



  1. Non causa (pro causa) là ngụy biện lấy một nguyên nhân sai làm nguyên nhân thật. Ignoratio elenchi là ngụy biện lạc đề, lảng tránh vấn đề chính. Đây là các thuật ngữ logic học kinh điển bằng tiếng Latin, cho thấy Renfield rất uyên bác. 

  2. Trích từ Kinh Thánh (Phục Truyền Luật Lệ Ký 12:23), mang ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng nhưng lại bị Renfield bóp méo thành sự biện minh cho hành vi hút máu điên loạn. 

  3. Nguyên gốc là 'necromancy', một hình thức tà thuật cổ đại giao tiếp với người chết để tiên đoán tương lai hoặc điều khiển linh hồn. 

  4. Người Hun là một liên minh các bộ lạc du mục hung hãn ở Âu Á thế kỷ 4-5. Truyền thuyết phương Tây thời trung cổ thường miêu tả họ tàn ác đến mức được cho là hậu duệ của quỷ. 

  5. Bản dịch nghĩa đen của từ 'Transylvania' (tiếng Latin: trans- có nghĩa là 'vượt qua, sau', và silva là 'khu rừng'). Đây là vùng đất quê hương của Bá tước Dracula. 

  6. Trong thần thoại Romania, Scholomance là một trường học phép thuật hắc ám do quỷ dữ điều hành, giấu kín trên núi. Cứ mười học trò thì ác quỷ sẽ giữ lại một người để phục vụ. 

  7. Đây là các từ mượn từ ngôn ngữ địa phương Đông Âu: 'stregoica' (tiếng Romania: phù thủy), 'ördög' và 'pokol' (tiếng Hungary: ác quỷ và địa ngục), nhấn mạnh nguồn gốc thực sự của các truyền thuyết ma quỷ này. 

  8. Epsom Derby là một trong những giải đua ngựa danh giá và lâu đời nhất nước Anh, được tổ chức hàng năm. 'Đêm Derby' ám chỉ buổi tối ăn mừng sau giải đua của giới thượng lưu Anh thế kỷ 19. 

  9. Chính sách đối ngoại của Mỹ do Tổng thống James Monroe đưa ra năm 1823, phản đối sự can thiệp của châu Âu vào châu Mỹ, cho thấy Renfield rất am hiểu chính trị quốc tế đương thời. 

  10. Hình ảnh nhân hóa của Thời gian hoặc Cái chết trong văn hóa phương Tây (Grim Reaper/Father Time), thường được khắc họa là một bộ xương cầm lưỡi hái lớn. 

  11. Bản dịch của 'straitjacket', một loại áo thiết kế đặc biệt với ống tay dài quá cỡ để trói chéo tay bệnh nhân tâm thần ra sau lưng, ngăn họ tự hoại hoặc làm hại người khác.