CHƯƠNG XIII. NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD-tiếp theo.

Lễ tang được ấn định vào ngày hôm sau, để Lucy và mẹ có thể yên nghỉ bên nhau. Tôi đã đứng ra lo liệu toàn bộ những thủ tục tang tóc đầy ám ảnh này. Gã lo việc tang lễ vốn luôn nhã nhặn, nay lại chứng tỏ rằng đám nhân viên của hắn cũng được thừa hưởng-hay đúng hơn là mắc phải-cái lối xu nịnh ngọt nhạt y hệt như hắn. Ngay cả người đàn bà phụ trách khâm liệm thi hài, khi vừa bước ra khỏi căn phòng tử thần, cũng ghé tai tâm tình với tôi như thể những người đồng nghiệp:-

“Cô ấy quả là một thi thể tuyệt mỹ, thưa ngài. Thật vinh hạnh biết bao khi được phục vụ cô ấy. Không quá lời khi nói rằng người chết đẹp như thế sẽ làm rạng danh cho cơ sở của chúng tôi!”

Tôi nhận ra Giáo sư Van Helsing không bao giờ đi đâu quá xa. Ông luôn túc trực gần đó, dễ dàng hòa vào sự xáo trộn của mọi thứ trong nhà. Chẳng có người họ hàng nào ở gần đây cả; lại thêm Arthur phải vội vã quay về ngay hôm sau để dự tang lễ của cha cậu. Vì vậy, chúng tôi đành gác lại chuyện báo tin cho những người lẽ ra phải được mời đến. Trong tình cảnh đó, Giáo sư Van Helsing và tôi tự mình gánh vác toàn bộ việc rà soát giấy tờ, tài liệu. Giáo sư khăng khăng đòi tự tay kiểm tra mọi di vật của Lucy. Tôi buột miệng hỏi lý do, e ngại rằng một người ngoại quốc như ông có thể không nắm rõ luật pháp nước Anh, rồi vì thiếu hiểu biết mà chuốc lấy những phiền toái không đáng có. Giáo sư điềm đạm đáp:-

“Tôi hiểu; tôi biết rõ điều đó. Anh quên mất rằng ngoài danh xưng bác sĩ, tôi còn là một luật sư ư. Nhưng chuyện này chẳng dính dáng gì đến luật pháp cả. Anh thừa biết tôi phải làm vậy, nhất là khi anh cố tình lảng tránh tay nhân viên điều tra. Tôi còn nhiều thứ phải đề phòng hơn gã đó. Rất có thể sẽ có những mảnh giấy khác-chẳng hạn như thứ này đây.”

Vừa nói, giáo sư vừa rút từ cuốn sổ tay ra tờ ghi chú từng được đặt trên ngực Lucy, tờ giấy mà cô đã tuyệt vọng xé nát trong cơn mê ngủ.

“Khi anh tìm thấy bất cứ tài liệu nào của vị luật sư đại diện cho phu nhân Westenra quá cố, hãy lập tức niêm phong toàn bộ, và viết thư báo ngay cho ông ta trong tối nay. Về phần tôi, tôi sẽ thức trắng ở đây, giữa căn phòng này và phòng ngủ cũ của cô Lucy, để tự mình dò tìm những manh mối còn sót lại. Sẽ là thảm họa nếu những tâm tư sâu kín nhất của cô ấy lại lọt vào tay kẻ xa lạ.”

Tôi tiếp tục phần việc của mình. Chỉ nửa giờ sau, tôi đã mò ra được tên tuổi và địa chỉ vị luật sư của phu nhân Westenra, liền thảo ngay một lá thư cho ông ta. Mọi giấy tờ của người phụ nữ đáng thương ấy đều được sắp xếp vô cùng ngăn nắp; những chỉ dẫn rõ ràng về nơi an nghỉ cũng đã được vạch sẵn. Tôi vừa mới đóng dấu niêm phong lá thư, thì thật ngạc nhiên, Giáo sư Van Helsing bước vào phòng, lên tiếng:-

“Tôi có thể giúp anh một tay không, anh bạn John? Tôi đang rảnh, và nếu anh cho phép, tôi sẵn lòng phục vụ.”

“Giáo sư đã tìm thấy thứ ngài muốn chưa?” tôi hỏi, và giáo sư đáp lại:-

“Tôi vốn không chủ đích tìm một thứ gì cụ thể. Tôi chỉ mong tìm thấy, và quả nhiên đã tìm thấy, toàn bộ những gì còn hiện diện ở đó-chỉ vài bức thư, đôi ba tờ ghi chú, cùng một cuốn nhật ký mới bắt đầu viết dở. Nhưng tôi đã giữ rịt lấy chúng, và tạm thời chúng ta tuyệt đối không bàn luận thêm về chuyện này. Tôi sẽ gặp gỡ chàng trai tội nghiệp đó vào tối mai, và chỉ khi cậu ấy đồng thuận, tôi mới sử dụng đến một vài món trong số đó.”

Khi chúng tôi thu xếp xong xuôi những công việc dang dở, giáo sư vỗ vai tôi:-

“Và bây giờ, anh bạn John, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta chợp mắt. Chúng ta cần một giấc ngủ sâu, cả anh và tôi, cần nghỉ ngơi để khôi phục sức lực. Ngày mai bộn bề những việc phải làm, nhưng đêm nay thì chẳng cần đến sự hiện diện của chúng ta nữa. Than ôi!”

Trước khi về phòng, chúng tôi ghé qua để nhìn mặt Lucy đáng thương lần cuối. Gã hộ tang hiển nhiên đã dốc hết tâm sức cho công việc, bởi căn phòng giờ đây đã hóa thành một nhà nguyện rực sáng thu nhỏ. Một rừng hoa trắng tinh khôi nở rộ, xua tan đi phần nào sự ghê rợn của cái chết. Phần vạt của tấm khăn liệm được đắp phủ lên gương mặt; lúc Giáo sư cúi người, nhẹ nhàng vén nó lên, cả hai chúng tôi đều giật mình sửng sốt trước vẻ đẹp hiện ra dưới ánh sáng hắt hiu từ những ngọn nến sáp cao lớn. Trọn vẹn vẻ kiều diễm của Lucy đã quay về bên cô dẫu đang trong vòng tay tử thần; và những giờ phút trôi qua, thay vì in hằn dấu vết tàn phá của “những ngón tay thối rữa,” lại kỳ diệu khôi phục sinh khí của sự sống. Thậm chí, tôi quả quyết đến mức chẳng dám tin vào mắt mình rằng thứ đang nằm đó lại là một xác chết vô hồn.

Giáo sư mang vẻ mặt trang nghiêm tột độ. Ông chưa từng dành tình cảm cho cô sâu nặng như tôi, nên đôi mắt già nua ấy chẳng vương chút ngấn lệ. Giáo sư bảo tôi: “Hãy nán lại đây cho đến khi tôi quay lại,” rồi lặng lẽ rời khỏi phòng. Lát sau, ông trở vào với một nắm tỏi dại lấy từ chiếc hộp vẫn còn nằm chờ ở sảnh, chưa kịp mở ra. Ông tỉ mẩn xếp những nhành tỏi hoang ấy xen lẫn vào những đóa hoa khác đang rải rác trên và quanh giường. Đoạn, giáo sư luồn tay vào cổ áo, tháo từ cổ mình xuống một cây thánh giá nhỏ bằng vàng, trân trọng đặt nó lên đôi môi cô. Cuối cùng, ông vuốt lại tấm khăn liệm về chỗ cũ, rồi hai chúng tôi cùng bước ra ngoài.

Tôi đang thay dở quần áo trong phòng riêng, thì một tiếng gõ cửa vang lên. Giáo sư bước vào, đi thẳng vào vấn đề:-

“Ngày mai tôi muốn anh chuẩn bị cho tôi, trước khi trời sập tối, một bộ dao phẫu thuật tử thi.”

“Chúng ta phải khám nghiệm tử thi sao?” tôi bàng hoàng hỏi.

“Đúng và không. Tôi muốn thực hiện một ca phẫu thuật, nhưng tuyệt nhiên không giống như những gì anh đang hình dung. Hãy để tôi nói thẳng với anh ngay bây giờ, nhưng anh không được hé răng nửa lời với bất kỳ ai. Tôi muốn cắt lìa đầu cô ấy và moi lấy trái tim. A! Anh là một bác sĩ phẫu thuật, vậy mà lại sốc đến thế ư! Anh, con người mà tôi từng chứng kiến chưa bao giờ chùn tay hay mềm lòng, kẻ từng tiến hành những ca mổ sinh tử khiến bao người khác phải rùng mình khiếp đảm. Ôi, nhưng tôi đâu có quên, anh bạn John thân mến của tôi, rằng anh đã trót yêu cô ấy; tôi chưa từng quên điều đó. Bởi vậy, chính tôi sẽ là người vung dao phẫu thuật, còn anh chỉ cần đứng phụ tá. Tôi muốn làm ngay việc đó tối nay, nhưng vì Arthur, tôi đành nén lại; cậu ấy sẽ rảnh rỗi sau tang lễ của cha vào ngày mai, và chắc chắn cậu ấy sẽ muốn nhìn cô ấy-để chứng kiến điều đó. Sau đó, khi cô ấy đã được khâm liệm tươm tất cho ngày hôm sau, anh và tôi sẽ lẻn vào lúc mọi người đã say giấc. Chúng ta sẽ vặn đinh ốc nắp quan tài, tiến hành ca phẫu thuật của mình; rồi tỉ mẩn sắp xếp mọi thứ lại y như cũ, để chẳng một ai hay biết sự tình, ngoại trừ hai chúng ta.”

“Nhưng tại sao lại làm cái trò kinh khủng đó cơ chứ? Cô gái đã chết rồi mà. Tại sao lại phải băm vằm cái thân xác đáng thương ấy một cách vô cớ? Và nếu chẳng có lý do gì để khám nghiệm, chẳng mang lại mảy may lợi ích nào-không tốt cho cô ấy, cho chúng ta, cho nền y học, hay tri thức nhân loại-thì cớ gì phải làm thế? Không có những điều đó, việc này quả thực là một hành động quái dị và man rợ.”

Thay cho câu trả lời, giáo sư đặt tay lên vai tôi, thủ thỉ với sự dịu dàng vô bờ bến:-

“Anh bạn John, tôi vô cùng thương xót cho trái tim rỉ máu đáng thương của anh; và chính vì nó rỉ máu đến vậy, tôi lại càng thêm quý trọng anh. Nếu có thể, tôi sẵn lòng tự mình gánh vác lấy gánh nặng cay đắng mà anh đang oằn lưng chịu đựng. Nhưng có những sự thật anh chưa thấu tỏ; rồi anh sẽ biết, và anh sẽ ngợi ca tôi vì đã trao cho anh sự thật ấy, dẫu chúng chẳng mấy êm tai. John, con trai của tôi, anh đã là người bạn chí cốt của tôi ròng rã suốt bao năm tháng, và có bao giờ anh thấy tôi làm điều xằng bậy mà không có một lý do chính đáng? Tôi cũng có lúc sai lầm-bởi tôi cũng chỉ là một con người bằng xương bằng thịt; nhưng tôi luôn đặt trọn niềm tin vào mọi hành động của mình. Chẳng phải vì chính những lẽ đó mà anh đã phải cầu viện đến tôi khi thảm kịch giáng xuống hay sao? Đúng thế! Anh đã không hề kinh ngạc, thậm chí kinh hãi, lúc tôi ngăn cản Arthur hôn người yêu của cậu ấy-dù cô ấy đang trút những hơi thở cuối cùng-và đã dùng hết sức bình sinh giật tung cậu ấy ra ư? Đúng thế! Và anh có thấy cô ấy đã hàm ơn tôi ra sao không, với ánh nhìn vĩnh biệt tuyệt đẹp hắt lên từ đôi mắt hấp hối, giọng nói thều thào yếu ớt, khi cô ấy đặt nụ hôn lên bàn tay già nua thô ráp này và ban phước cho tôi? Đúng thế! Và anh có nghe thấy tôi cất lời thề son sắt với cô ấy, để cô ấy có thể nhắm mắt xuôi tay trong niềm tri ân mãn nguyện không? Đúng thế!

“Chà, giờ đây tôi đã nắm trong tay một lý do chính đáng và toàn vẹn cho mọi hành động tôi định làm. Anh đã tin tưởng tôi bao năm qua; anh vẫn tin tôi trong suốt những tuần lễ giông bão này, ngay cả khi có những sự việc kỳ quái đến mức anh hoàn toàn có quyền hoài nghi. Hãy cố tin tôi thêm chút nữa, anh bạn John. Nếu anh chối bỏ niềm tin ấy, thì tôi đành phải phơi bày tất cả những suy tính trong đầu; mà như thế thì e chẳng tốt đẹp gì. Và nếu tôi cứ thế tiến hành công việc-như tôi chắc chắn sẽ làm, bất luận có được tin tưởng hay không-mà vắng đi sự đồng thuận từ bạn tôi, tôi sẽ phải đơn độc làm việc với trái tim nặng trĩu. Ôi! thật cô quạnh biết bao khi tôi đang khao khát đến nhường nào mọi sự trợ lực và lòng can đảm! Giáo sư ngừng lời trong thoáng chốc, rồi tiếp tục bằng một âm sắc trang nghiêm đầy uy lực: “Anh bạn John, những ngày tháng kỳ lạ và kinh hoàng nhất vẫn còn đang chực chờ phía trước. Hãy đừng tách rời thành hai, mà hãy hòa làm một khối, để chúng ta cùng kề vai sát cánh vì một cái kết tốt đẹp. Chẳng lẽ anh lại không thể trao cho tôi chút niềm tin sao?”

Tôi xiết chặt lấy tay giáo sư, và dâng lên ông lời hứa của mình. Tôi giữ cửa mở khi ông bước ra, dõi mắt nhìn ông tiến vào phòng riêng rồi khép cửa lại. Giữa lúc tôi đứng chết trân bất động, tôi chợt thấy một trong những cô hầu gái rón rén lướt qua dọc hành lang-cô ta quay lưng lại, nên chẳng mảy may chú ý đến sự hiện diện của tôi-rồi rẽ vào căn phòng nơi Lucy đang thiếp ngủ ngàn thu. Cảnh tượng ấy khiến tim tôi rung lên thổn thức. Sự tận tâm chân thành quả là món quà vô giá hiếm hoi, và chúng ta phải vô cùng biết ơn những tâm hồn đã tự nguyện dâng hiến tình cảm ấy cho những người ta thương yêu. Đây, một cô gái bần hàn đã kiên cường gạt sang một bên những nỗi sợ hãi bản năng trước cái chết, chỉ để thầm lặng túc trực một mình bên linh cữu người chủ mà cô hết lòng kính trọng; để cái thân xác đáng thương kia không phải chịu cảnh hiu quạnh cho đến lúc được an nghỉ đời đời....

Tôi hẳn đã chìm vào một giấc ngủ sâu và dài, bởi lúc giáo sư Van Helsing bước vào phòng đánh thức, trời đã sáng bạch. Giáo sư tiến thẳng đến bên giường tôi, cất giọng:-

“Anh chẳng cần bận tâm đến mớ dao phẫu thuật nữa đâu; chúng ta sẽ không làm chuyện đó.”

“Tại sao lại không?” tôi gặng hỏi. Sự trang nghiêm rợn người của giáo sư đêm hôm trước đã in hằn một dấu ấn quá sâu đậm trong tâm trí tôi.

“Bởi vì,” giáo sư trầm giọng, lạnh lùng đáp, “đã quá muộn-hoặc có lẽ, quá sớm. Nhìn xem!” Dứt lời, giáo sư giơ lên không trung cây thánh giá nhỏ bằng vàng. “Thứ này đã bị cướp đi ngay trong đêm.”

“Sao cơ, bị lấy cắp,” tôi thốt lên kinh ngạc, “khi mà chính giáo sư đang cất giữ nó cơ mà?”

“Vì tôi đã giật lại được nó từ con mụ khốn khiếp vô liêm sỉ đã cả gan đánh cắp, từ một kẻ đã táo tợn ăn cướp của cả người chết lẫn kẻ sống. Sự trừng phạt giáng xuống đầu mụ ta là điều chắc chắn, nhưng sẽ không phải qua tay tôi; mụ ta hoàn toàn chẳng ý thức được những gì mình đã làm, và do vô tri, mụ ta chỉ đơn thuần thực hiện một vụ trộm vặt. Bây giờ, chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi.”

Giáo sư vừa nói vừa nện bước rời đi, quẳng lại cho tôi một bí ẩn mới phải mải miết suy ngẫm, một câu đố hóc búa mới phải trăn trở kiếm tìm lời giải.

Buổi sáng trôi qua ảm đạm và u buồn, nhưng đến trưa, vị luật sư đã xuất hiện: Ông Marquand, người của văn phòng Wholeman, Sons, Marquand & Lidderdale. Ông ta tỏ ra vô cùng nhã nhặn và liên tục bày tỏ sự cảm kích trước những gì chúng tôi đã gánh vác, đồng thời dỡ bỏ khỏi vai chúng tôi gánh nặng lo toan về những tiểu tiết phiền toái. Trong bữa trưa, ông ta tiết lộ rằng phu nhân Westenra từ lâu đã linh cảm về cái chết đột ngột do căn bệnh tim quái ác, và đã âm thầm sắp xếp mọi công việc vào một trật tự hoàn hảo tuyệt đối; ông ta trang trọng thông báo cho chúng tôi hay, ngoại trừ một phần tài sản thế tập của cha Lucy mà giờ đây, do không còn người thừa kế trực hệ, sẽ phải hoàn trả lại cho một nhánh họ hàng xa, thì toàn bộ điền sản, bao trùm cả bất động sản lẫn tài sản cá nhân, đều được để lại trọn vẹn cho Arthur Holmwood. Sau khi dốc bầu tâm sự, ông ta nói tiếp:-

“Thú thật là chúng tôi đã dùng hết lời lẽ để khuyên can một bản di chúc được định đoạt như vậy. Chúng tôi đã vạch ra những tình huống bất trắc, những rủi ro có thể đẩy con gái bà vào cảnh trắng tay không một xu dính túi, hoặc tước đi của cô ấy sự tự do đáng lẽ phải có để tự chủ trong những quyết định liên quan đến hôn nhân. Thậm chí, chúng tôi đã đẩy vấn đề trở nên căng thẳng đến mức suýt xảy ra xung đột, bởi bà ấy gắt gao chất vấn liệu chúng tôi có sẵn sàng thực thi những nguyện vọng của bà hay không. Lẽ dĩ nhiên, tình thế đó buộc chúng tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc quy thuận. Đứng trên phương diện nguyên tắc, chúng tôi đã hoàn toàn đúng, và trong chín mươi chín trên một trăm trường hợp, thông qua logic chặt chẽ của các sự kiện, chúng tôi sẽ chứng minh được phán đoán của mình là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, thú thật, tôi buộc lòng phải thừa nhận rằng, trong trường hợp nghiệt ngã này, bất kỳ hình thức định đoạt nào khác cũng sẽ biến việc thực thi những ước nguyện của bà ấy thành một điều hoàn toàn bất khả thi. Bởi vì, do bà qua đời trước con gái, lẽ ra người con gái sẽ danh chính ngôn thuận thừa hưởng khối tài sản. Và, dẫu cô ấy chỉ sống sót sau mẹ mình vỏn vẹn năm phút đồng hồ, thì khối tài sản ấy-trong bối cảnh không có di chúc, mà việc lập di chúc lại là điều hoàn toàn bất khả thi trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy-sẽ bị xử lý theo diện vắng di chúc khi cô qua đời. Đứng trước tình thế đó, Ngài Godalming, dẫu có là một người bạn thân thiết đến mấy, cũng sẽ bị tước đoạt mọi quyền lợi đòi hỏi trên đời; và những kẻ thừa kế, vốn chỉ là bọn họ hàng xa bắn đại bác không tới, đời nào lại dễ dàng từ bỏ những quyền lợi béo bở của mình, chỉ vì một lý do tình cảm viển vông dành cho một gã hoàn toàn xa lạ. Tôi xin cam đoan với các ngài, thưa các ngài thân mến, tôi vô cùng hoan hỉ trước kết cục này, hoàn toàn hoan hỉ.”

Ông ta là một con người tử tế, nhưng cái sự hoan hỉ của ông ta trước một mảnh ghép quá đỗi nhỏ bé-mà ông ta chỉ dính líu đôi chút trên phương diện pháp lý-của một thảm kịch khốc liệt dường này, lại là một bài học nhãn tiền phơi bày những giới hạn nghiệt ngã của sự thấu cảm đồng loại.

Ông ta không nán lại lâu, chỉ hứa hẹn sẽ ghé qua vào buổi chiều muộn để gặp gỡ Ngài Godalming. Dẫu vậy, sự xuất hiện của ông ta cũng mang lại một niềm an ủi nhất định, xua tan đi nỗi lo sợ về những lời đàm tiếu ác ý nhắm vào mọi hành động của chúng tôi. Arthur được dự kiến sẽ đến vào lúc năm giờ; do đó, một lúc trước thời hạn ấy, chúng tôi đã ghé thăm căn phòng tử thần. Khái niệm ấy giờ đây đã thành sự thật cay đắng, khi cả hai mẹ con đều đang nằm đó. Gã hộ tang, với sự trung thành tận tụy hiếm thấy dành cho nghề nghiệp, đã dọn dẹp và bài trí tốt nhất có thể những món đồ tang lễ của hắn; chính cái bầu không khí sặc mùi nhà xác bao trùm quanh nơi đó đã lập tức đánh gục tinh thần chúng tôi. Giáo sư Van Helsing dõng dạc ra lệnh phải giữ nguyên mọi sự sắp xếp từ trước. Ông giải thích rằng, khi Ngài Godalming bước vào, nỗi đau giằng xé trong cậu ấy sẽ phần nào được xoa dịu nếu cậu chỉ nhìn thấy những gì còn lại của vị hôn thê mình trong một không gian hoàn toàn đơn độc. Gã hộ tang tỏ ra bàng hoàng trước sự ngu xuẩn của chính mình; hắn cuống cuồng nỗ lực khôi phục mọi thứ về đúng hiện trạng mà chúng tôi đã thiết lập vào đêm hôm trước, để khi Arthur xuất hiện, những cú sốc đâm nát trái tim cậu ấy có thể được chặn đứng.

Chàng trai tội nghiệp! Cậu ấy trông vô cùng đau đớn và suy sụp tột độ; ngay cả vẻ nam tính vạm vỡ cường tráng ngày nào dường như cũng đang co rúm lại, chực chờ vỡ nát dưới áp lực của những cảm xúc bị đẩy đến ranh giới tột cùng. Tôi hiểu rõ, cậu ấy đã từng gắn bó máu thịt, vô cùng chân thành và tận tụy với cha mình; sự ra đi của ông, lại giáng xuống ngay giữa thời khắc u ám này, quả là một đòn chí mạng đẫm máu. Với tôi, cậu ấy vẫn giữ trọn sự nồng ấm thân tình; và với Giáo sư Van Helsing, cậu vẫn cư xử vô cùng lịch thiệp; thế nhưng, tôi không thể gạt bỏ sự thật rằng dường như có một sự gượng gạo đang len lỏi trong cậu. Giáo sư cũng tinh ý nhận ra điều đó; ông ra hiệu cho tôi dẫn cậu ấy lên gác. Tôi làm theo, rồi dừng bước tại cửa phòng, bởi tôi cảm nhận được cậu đang khao khát chìm vào không gian riêng tư, được hoàn toàn trơ trọi một mình với cô ấy. Thế nhưng, cậu ấy bỗng níu lấy tay tôi, kéo dạt tôi vào trong, giọng khàn đặc:-

“Cậu cũng yêu cô ấy mà, anh bạn cũ ạ; cô ấy đã kể cho tôi nghe mọi chuyện rồi, và không có một người bạn nào chiếm giữ vị trí thân thuộc trong trái tim cô ấy hơn cậu. Tôi thực không biết phải dùng lời nào để tạ ơn cậu vì tất thảy những gì cậu đã làm cho cô ấy. Đầu óc tôi giờ đây đã trống rỗng hoàn toàn....”

Nói đến đây, cậu ấy đột nhiên sụp đổ. Hai cánh tay vạm vỡ ném quanh vai tôi, cậu gục đầu lên ngực tôi, tiếng khóc vỡ òa:-

“Ôi, Jack! Jack! Tôi phải sống sao đây! Toàn bộ nhựa sống dường như đã bị tước đoạt khỏi tôi trong cùng một khoảnh khắc, và giữa thế giới mênh mông rợn ngợp này, chẳng còn một thứ gì để tôi bấu víu mà tồn tại nữa.”

Tôi ra sức an ủi cậu ấy bằng tất cả tấm lòng. Trong những khoảnh khắc bi thương dường này, đàn ông không cần dùng đến quá nhiều ngôn từ. Một cái siết tay thật chặt, sự trì níu của cánh tay vắt ngang bờ vai, một tiếng nấc nghẹn ngào đồng điệu-tất cả đều là những biểu đạt vô giá của sự thấu cảm, xoa dịu trái tim rỉ máu của một người đàn ông. Tôi đứng chết lặng, không hề nhúc nhích cho đến khi những tiếng nấc tức tưởi của cậu dần lịm đi; rồi tôi thì thầm bằng một giọng nhẹ bẫng:-

“Hãy đến nhìn cô ấy đi.”

Cùng nhau, chúng tôi chầm chậm bước lại phía giường, và tôi khẽ lật tấm vải lanh mỏng tang che phủ khuôn mặt cô. Lạy Chúa chí thánh! Cô ấy mới lộng lẫy làm sao. Mỗi canh giờ trôi qua dường như lại càng bồi đắp thêm vẻ diễm lệ vô ngần ấy. Điều đó phần nào gieo vào lòng tôi một nỗi sợ hãi pha lẫn kinh ngạc; và về phần Arthur, cậu ấy bắt đầu run rẩy bần bật, rồi cuối cùng bị chấn động dữ dội bởi một nỗi hoài nghi điên cuồng, cứ như thể đang lên cơn sốt rét. Cuối cùng, sau một quãng lặng dài đằng đẵng, cậu thì thào với tôi bằng một thanh âm yếu ớt, mỏng manh:-

“Jack, cô ấy đã thực sự chết chưa?”

Tôi xót xa cam đoan với cậu ấy rằng đó là một sự thật cay đắng; rồi tôi tiếp tục lý giải-bởi tôi hiểu rằng, một sự nghi ngờ rùng rợn đến vậy không được phép tồn tại lâu hơn một khoảnh khắc nào, chừng nào tôi còn khả năng can thiệp-rằng, thông thường, sau khi cái chết gõ cửa, những nét mặt đau đớn sẽ dần dịu lại, thậm chí hồi sinh vẻ kiều diễm của thanh xuân; điều này đặc biệt linh nghiệm đối với những trường hợp phải trải qua một cơn đau đớn cấp tính hoặc dai dẳng. Lời giải thích ấy dường như đã nhổ tận gốc mọi hoài nghi; và, sau khi quỳ gối trầm ngâm bên giường một lúc lâu để ngắm nhìn cô bằng đôi mắt ngập tràn âu yếm, cậu ấy cất bước quay đi. Tôi nhỏ giọng nhắc nhở cậu rằng đó hẳn là lời từ biệt cuối cùng, vì cỗ quan tài đã đến giờ phải được niêm phong; thế là cậu ấy quay gót, nắm chặt bàn tay giá buốt của cô trong tay mình và trân trọng đặt lên đó một nụ hôn, rồi cúi người hôn nốt lên vầng trán. Cậu ấy rời đi, vừa đi vừa âu yếm ngoái nhìn lại cô qua bờ vai.

Tôi để mặc cậu ấy trong phòng khách, rồi quay sang thông báo với Giáo sư Van Helsing rằng cậu ấy đã nói lời vĩnh biệt; nghe vậy, giáo sư sải bước vào bếp, sai đám thợ của người khâm liệm bắt tay vào việc chuẩn bị và vặn đinh ốc quan tài. Lúc giáo sư bước ra khỏi phòng lần nữa, tôi thuật lại cho ông nghe về câu hỏi ám ảnh của Arthur, và giáo sư trầm ngâm đáp:-

“Tôi không hề ngạc nhiên. Vừa nãy, chính tôi cũng đã ngờ vực trong một khoảnh khắc!”

Tất cả chúng tôi cùng ngồi vào bàn dùng bữa tối. Tôi thấu hiểu nỗ lực tuyệt vọng của Art đáng thương đang cố gắng giữ cho mọi thứ diễn ra tốt đẹp nhất có thể. Giáo sư Van Helsing đã giữ một sự im lặng chết chóc trong suốt bữa ăn; nhưng khi chúng tôi châm điếu xì gà, giáo sư lên tiếng-

“Ngài--”; nhưng Arthur vội vàng ngắt lời ông:-

“Không, không, xin đừng gọi cháu như thế, vì Chúa! Ít nhất là chưa phải lúc này. Xin hãy lượng thứ cho cháu, thưa giáo sư: cháu tuyệt nhiên không có ý hỗn hào; chỉ là vết thương lòng của cháu vẫn còn rỉ máu quá xót xa.”

Giáo sư đáp lời bằng một giọng điệu vô cùng trìu mến:-

“Tôi gọi cậu bằng cái danh xưng ấy chỉ vì tôi đang ngập ngừng do dự. Tôi không được phép gọi cậu là ‘Ngài,’ vì tôi đã trót yêu mến cậu mất rồi-đúng vậy, cậu bé thân mến, yêu quý cậu-như một Arthur của riêng tôi.”

Arthur giơ tay ra, nồng ấm siết chặt lấy bàn tay sần sùi của ông già.

“Hãy gọi cháu bằng bất cứ cái tên nào giáo sư muốn,” cậu ấy thốt lên. “Cháu hằng mong mình luôn xứng đáng mang danh hiệu của một người bạn. Và xin cho phép cháu được bày tỏ rằng, cháu không tìm thấy thứ ngôn từ nào đủ sức diễn tả lòng biết ơn trước sự tử tế mà giáo sư đã dành cho người thương bé nhỏ đáng thương của cháu.” Cậu ấy khựng lại một nhịp, rồi chậm rãi tiếp lời: “Cháu thấu tỏ rằng, cô ấy còn hiểu rõ lòng tốt của giáo sư hơn cả cháu; và nếu cháu có trót cư xử thô lỗ hay bộc lộ bất kỳ sự khiếm khuyết nào vào cái thời khắc mà giáo sư đã hành động... như vậy-giáo sư nhớ chứ”-Giáo sư khẽ gật đầu-“xin giáo sư hãy tha thứ cho cháu.”

Giáo sư trả lời bằng một sự uy nghiêm nhưng nhuốm màu khoan dung:-

“Tôi hiểu thấu sự giằng xé lúc đó, khi cậu phải dốc lòng tin tưởng tôi. Bởi lẽ, để chấp nhận một hành động bạo lực nhường ấy, người ta cần phải có sự thấu cảm tận cùng; và tôi biết cậu không-rằng cậu hoàn toàn không thể-tin tưởng tôi ngay lúc này, vì cậu vẫn chưa hiểu. Rồi sẽ còn rất nhiều lần nữa, tôi đòi hỏi cậu phải đặt cược niềm tin vào tôi, ngay cả khi cậu không thể-và không được phép-và chưa được cấp quyền để hiểu thấu vấn đề. Nhưng thời khắc định mệnh ấy chắc chắn sẽ điểm, khi niềm tin của cậu đâm chồi trọn vẹn và tuyệt đối nơi tôi, khi mọi góc khuất đều được phơi bày rực rỡ như thể ánh mặt trời xé toạc màn đêm. Chờ đến lúc đó, cậu sẽ cất lời ban phước cho tôi từ đầu chí cuối; vì lợi ích của chính cậu, vì lợi ích của biết bao sinh mạng khác, và trên hết, vì linh hồn của cô gái thân yêu mà tôi đã thề sẽ dùng cả sinh mạng này để bảo vệ.”

“Và, quả thực, thưa giáo sư, quả thực là như vậy,” Arthur thốt lên một cách nhiệt thành, “cháu sẽ luôn một lòng tin tưởng giáo sư. Cháu biết rõ, và một mực tin rằng giáo sư sở hữu một trái tim cao cả vô ngần, rằng giáo sư là bằng hữu của Jack, và cũng từng là bạn của cô ấy. Giáo sư cứ tự nhiên làm bất cứ điều gì giáo sư muốn.”

Giáo sư hắng giọng vài lần, như thể đang dồn sức chuẩn bị cất lời, rồi cuối cùng buông tiếng:-

“Bây giờ, tôi có thể hỏi cậu một điều được không?”

“Chắc chắn rồi.”

“Cậu có biết rằng phu nhân Westenra đã di chúc lại cho cậu toàn bộ tài sản của bà ấy không?”

“Không, người đàn bà đáng thương; cháu chưa một lần mảy may nghĩ đến điều đó.”

“Và vì tất cả giờ đã thuộc về cậu, cậu hoàn toàn có đặc quyền định đoạt nó theo ý muốn. Tôi thiết tha mong cậu ban cho tôi sự cho phép, để tôi được quyền đọc tất cả các giấy tờ và thư từ của cô Lucy. Xin hãy tin tôi, đây tuyệt nhiên không phải là thói tọc mạch vô bổ. Tôi ấp ủ một động cơ mà, xin hãy vững tin, cô ấy chắc chắn sẽ gật đầu đồng ý. Tôi đã cất giữ tất cả chúng ở đây. Tôi chủ động thu giữ chúng ngay từ lúc chúng ta chưa hay biết tài sản này thuộc về cậu, để đảm bảo không một bàn tay nhơ bẩn nào có cơ hội chạm vào-không một ánh mắt xa lạ nào có thể soi mói xuyên qua những dòng chữ, đâm sầm vào tâm hồn cô ấy. Tôi sẽ tiếp tục gìn giữ chúng, nếu cậu ân chuẩn; ngay cả cậu lúc này cũng chưa nên xem đến chúng, nhưng tôi sẽ bảo quản chúng an toàn tuyệt đối. Sẽ chẳng có mảy may một chữ nào bị thất lạc; và khi thời điểm thích hợp gõ cửa, tôi sẽ hoàn trả tất cả lại cho cậu. Lời thỉnh cầu này quả thực vô cùng khó khăn, nhưng cậu sẽ bằng lòng chứ, vì Lucy?”

Arthur cất cao giọng, chân thành như chính bản ngã thuần khiết vốn có của cậu:-

“Giáo sư Van Helsing, giáo sư có quyền làm bất cứ điều gì giáo sư muốn. Cháu cảm nhận được rằng, khi thốt ra những lời này, cháu đang thực thi điều mà người yêu dấu của cháu sẽ hoàn toàn tán đồng. Cháu thề sẽ không quấy rầy giáo sư bằng bất kỳ câu hỏi nào cho đến khi thời điểm ấy tới.”

Giáo sư già chậm rãi đứng thẳng người lên, giọng nói vang vọng sự trang nghiêm tột đỉnh:-

“Và cậu đã hành động vô cùng đúng đắn. Nỗi đau sẽ giáng xuống đầu tất cả chúng ta; nhưng thế giới này đâu chỉ toàn là niềm đau, và bi kịch này chắc chắn chưa phải là dấu chấm hết. Chúng tôi, và cả cậu nữa-cậu là người phải gánh chịu nhiều hơn bất kỳ ai, cậu bé thân mến-sẽ phải dũng cảm lội qua dòng nước xiết đắng cay trước khi chạm chân đến bờ bến ngọt ngào. Nhưng chúng ta phải giữ cho trái tim mình quả cảm và vị tha, hiên ngang thực thi bổn phận của mình, rồi mọi chuyện cũng sẽ ổn thỏa thôi!”

Đêm đó, tôi co cụm ngủ trên chiếc ghế dài trong phòng Arthur. Giáo sư Van Helsing hoàn toàn thức trắng. Ông đi lại không ngừng, tựa hồ đang tuần tra canh gác quanh ngôi nhà, và không một khoảnh khắc nào rời mắt khỏi căn phòng nơi Lucy đang nằm ngoan trong quan tài, vây quanh bởi những đóa hoa tỏi dại, thứ mùi hăng hắc ấy quấn quít lấy hương thơm của hoa ly và hoa hồng, lan tỏa một bầu không khí nghẹt thở khắp màn đêm tĩnh mịch.

Nhật ký của Mina Harker.

Ngày 22 tháng Chín.-Trên chuyến tàu đến Exeter. Jonathan đang ngủ.

Dường như mới hôm qua thôi tôi vừa nắn nót dòng nhật ký cuối cùng, vậy mà kể từ độ ấy, biết bao biến cố đã dồn dập ập đến. Từ những ngày mòn mỏi ngóng trông tin tức của Jonathan ở Whitby, cho đến thế giới hoàn toàn mới mở ra trước mắt. Giờ đây, chúng tôi đã kết hôn. Jonathan đã trở thành một luật sư thực thụ, một đối tác kinh doanh, rủng rỉnh tiền bạc và hoàn toàn làm chủ công việc của mình. Ông Hawkins kính mến đã qua đời và an nghỉ. Nhưng nỗi lo lớn nhất là chứng bệnh của Jonathan lại tái phát, đe dọa trực tiếp đến sinh lực của anh. Có lẽ một ngày nào đó anh sẽ hỏi tôi về nó. Mọi thứ cứ thế vụt trôi. Kỹ năng viết tốc ký của tôi đang dần mai một-hãy xem sự giàu sang bất ngờ đã biến đổi chúng tôi thế nào-vì thế, có lẽ tôi nên ôn lại bằng một bài tập nhỏ thì hơn...

Tang lễ diễn ra thật giản dị nhưng vô cùng trang nghiêm. Chỉ có vợ chồng tôi cùng những người hầu trong nhà, một vài người bạn cũ của ông từ Exeter, vị đại diện ở London, và một quý ông đại diện cho Ngài John Paxton, Chủ tịch Hiệp hội Luật sư Hợp nhất1. Jonathan và tôi đứng đó, tay đan chặt vào nhau, cùng mang chung một nỗi mất mát vô bờ. Người bạn tuyệt vời nhất, thân thiết nhất của chúng tôi đã vĩnh viễn ra đi...

Chúng tôi trở lại trung tâm thị trấn trong sự thinh lặng, đón một chuyến xe buýt đến Hyde Park Corner2. Jonathan đoán tôi muốn tản bộ qua khu Row3 đôi chút, nên chúng tôi tìm một chỗ ngồi. Nơi đây vắng lặng đến nao lòng, khung cảnh đượm vẻ hoang vắng bủa vây những hàng ghế trống không. Nó lại gợi nhắc chúng tôi về chiếc ghế trống trải ở nhà. Chẳng thể chịu đựng thêm, chúng tôi đứng dậy và rảo bước về phía Piccadilly. Jonathan siết chặt cánh tay tôi, hệt như những ngày tháng êm đềm trước khi tôi đến trường. Dù đôi chút ngượng ngùng-sau ngần ấy năm trời dạy dỗ người khác về lễ nghi phép tắc, những khuôn vàng thước ngọc ít nhiều cũng thấm vào máu-nhưng đây là Jonathan, là người chồng thương yêu của tôi. Chẳng có người quen nào bắt gặp chúng tôi, mà dù có, chúng tôi cũng chẳng bận lòng. Chúng tôi cứ thế sóng bước. Tôi đang mãi ngắm nhìn một cô gái tuyệt sắc trong bộ váy xòe lộng lẫy, ngồi kiêu kỳ trên chiếc xe ngựa victoria4 đỗ trước tiệm Guiliano's, thì đột nhiên, vòng tay Jonathan siết chặt đến mức khiến tôi điếng người. Anh nghẹn ngào thốt lên: "Lạy Chúa!" Nỗi bất an về Jonathan luôn thường trực trong tôi. Tôi sợ một cơn hoảng loạn thần kinh nào đó lại đánh gục anh, vội vã quay sang hỏi xem điều gì đã khiến anh kinh động đến vậy.

Khuôn mặt anh nhợt nhạt như xác chết, đôi mắt mở trừng trừng, hằn rõ sự kinh hoàng và sửng sốt tột độ. Anh đang dán mắt vào một gã đàn ông cao gầy, mũi khoằm, để ria mép đen và râu cằm nhọn hoắt. Kẻ lạ mặt đó cũng đang mải miết dõi theo cô gái xinh đẹp kia. Hắn say sưa đến mức chẳng hề mảy may nhận ra sự hiện diện của vợ chồng tôi, nhờ thế tôi có cơ hội quan sát rõ diện mạo hắn. Đó tuyệt nhiên không phải là khuôn mặt của một kẻ lương thiện. Nó thô kệch, tàn độc và toát lên vẻ nhục dục đê hèn. Hàm răng to bản của hắn trắng ởn, càng thêm nổi bật trên nền đôi môi đỏ chót, nhọn hoắt tựa răng nanh dã thú. Jonathan cứ trân trân nhìn hắn, khiến tôi chỉ sợ hắn sẽ phát giác. Bộ dạng hung tợn và gớm ghiếc của hắn làm tôi lo sợ một phản ứng bạo lực. Tôi gặng hỏi Jonathan nguyên cớ gì khiến anh bàng hoàng, và anh đáp lại như đinh ninh rằng tôi cũng thấu hiểu mọi chuyện: "Em có thấy đó là ai không?"

"Không, anh à," tôi khẽ đáp, "em không biết hắn. Hắn là ai vậy?" Câu trả lời của anh giáng xuống người tôi một nỗi ớn lạnh kinh hoàng. Nó tuôn ra vô thức, như thể anh chẳng hề bận tâm mình đang nói chuyện với Mina, vợ anh:-

"Chính là hắn!"

Thật tội nghiệp, rõ ràng anh đang bị một thế lực vô hình nào đó làm cho khiếp đảm-một nỗi khiếp đảm tột cùng. Tôi đoan chắc nếu không có tôi làm chỗ dựa, anh đã ngã quỵ. Anh vẫn trừng trừng nhìn gã lạ mặt. Một người đàn ông bước ra từ cửa tiệm, trao gói hàng nhỏ cho vị phu nhân trên xe, rồi chiếc xe ngựa lăn bánh. Gã đàn ông hắc ám kia vẫn dán chặt con mắt thèm thuồng vào cô gái. Khi cỗ xe rẽ lên đường Piccadilly, hắn lập tức bám đuôi và vẫy vội một chiếc xe ngựa hansom5. Jonathan thẫn thờ nhìn theo, miệng lầm bầm như kẻ mộng du:-

"Tôi tin đó chính là gã Bá tước, nhưng hắn đã trẻ lại. Lạy Chúa tôi, nếu đây là sự thật! Ôi, lạy Chúa! Lạy Chúa! Giá như tôi biết! Giá như tôi biết!" Anh tự giày vò bản thân đến mức tôi không dám buông lời gạn hỏi, e rằng tâm trí anh sẽ mãi kẹt trong mớ bòng bong này. Tôi đành lặng im. Khẽ khàng kéo tay anh, tôi dẫn bước đi, và anh cũng ngoan ngoãn đi theo, bàn tay vẫn đan chặt. Đi thêm một đỗi ngắn, chúng tôi tiến vào Green Park6 và tìm một bóng râm yên tĩnh để nghỉ ngơi. Tiết trời mùa thu hôm ấy thật oi ả, may mắn sao có một chiếc ghế dài đặt dưới tán cây mát rượi. Đờ đẫn nhìn vào cõi hư vô chốc lát, mi mắt Jonathan từ từ khép lại. Anh tựa đầu lên vai tôi, êm đềm chìm vào giấc ngủ. Biết rằng đây là liều thuốc tốt nhất cho anh lúc này, tôi lặng yên không đánh thức. Chừng hai mươi phút sau, anh bừng tỉnh, giọng nói lại reo vui rạng rỡ:-

"Chà, Mina, anh đã ngủ gật mất rồi! Ồ, xin em thứ lỗi vì sự thất lễ này nhé. Đi nào, chúng ta kiếm chỗ nào đó uống tách trà đi." Trí nhớ của anh dường như đã bị quét sạch hình bóng gã xa lạ hắc ám kia, y hệt như cơn bạo bệnh đã tước đi mọi ký ức kinh hoàng mà sự kiện ban nãy vừa gợi về. Tôi chẳng hề vui vẻ gì trước sự lãng quên này; nó có thể gieo rắc hoặc khoét sâu thêm những tổn thương trong não bộ anh. Tôi không dám gạn hỏi, chỉ sợ chữa lợn lành thành lợn què. Nhưng bằng cách nào đó, tôi nhất định phải phơi bày sự thật về chuyến đi nước ngoài của anh. Có lẽ, thời khắc phải mở phong thư định mệnh kia và phanh phui những bí mật ẩn giấu bên trong đã điểm. Ôi, Jonathan, em biết anh sẽ thứ tha nếu em có hành xử sai lầm, nhưng tất cả cũng chỉ vì sự an nguy của người em yêu thương nhất.

Lúc sau.-Một chuyến hồi hương trĩu nặng ưu phiền. Căn nhà giờ đây quạnh quẽ, thiếu vắng đi linh hồn đáng kính luôn che chở chúng tôi. Jonathan vẫn xanh xao, lảo đảo vì cơn bạo bệnh vừa tái phát. Và giờ đây, lại thêm một bức điện tín từ Van Helsing gửi tới, dẫu tôi chẳng hay vị giáo sư này là ai:-

"Cô sẽ vô cùng đau xót khi hay tin phu nhân Westenra đã qua đời cách đây năm ngày, và Lucy cũng đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày hôm kia. Cả hai người họ đã được an táng vào hôm nay."

Ôi, một khối bi thương khổng lồ nén lại chỉ trong vài dòng ngắn ngủi! Phu nhân Westenra đáng thương! Lucy tội nghiệp của tôi! Đi rồi, đi mãi, vĩnh viễn chẳng còn trở lại bên chúng tôi nữa! Và cả Arthur đáng thương, cậu ấy lại phải gánh chịu nỗi đau tước đoạt mất điều ngọt ngào nhất thế gian khỏi cuộc đời! Xin Chúa lòng lành hãy rủ lòng thương, dẫn dắt chúng con vượt qua bể khổ trầm luân này.

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

22 tháng Chín.-Mọi chuyện đã kết thúc. Arthur đã trở về Ring, và đưa cả Quincey Morris đi cùng. Quincey quả là một chàng trai tuyệt vời! Tự đáy lòng, tôi tin rằng anh ấy cũng hứng chịu nỗi đau đớn trước cái chết của Lucy nhiều chẳng kém bất cứ ai trong chúng tôi; nhưng anh đã gánh vác mọi chuyện với dáng vẻ kiên cường của một chiến binh Viking7. Nếu nước Mỹ có thể tiếp tục sản sinh ra những người đàn ông như thế, họ thực sự sẽ trở thành một cường quốc trên thế giới. Giáo sư Van Helsing đang nằm nghỉ ngơi để chuẩn bị cho chuyến đi sắp tới. Đêm nay, giáo sư sẽ vượt biển đến Amsterdam, nhưng ông bảo rằng sẽ quay lại ngay vào tối mai; ông chỉ muốn thu xếp vài công việc đòi hỏi phải đích thân giải quyết. Sau đó, giáo sư sẽ ở lại với tôi nếu điều kiện cho phép; ông nói mình còn vài việc phải làm ở London, có thể sẽ mất vài ngày. Ông lão đáng thương! Tôi e rằng những áp lực nặng nề trong tuần qua đã quật ngã ngay cả sức chịu đựng sắt đá của ông. Xuyên suốt tang lễ, tôi có thể thấy giáo sư đã phải dồn nén cảm xúc bằng một nỗ lực phi thường. Khi mọi việc xong xuôi, chúng tôi đứng cạnh Arthur. Chàng trai đáng thương ấy đang nhắc lại phần việc của mình trong cuộc phẫu thuật, khi dòng máu của cậu được truyền sang huyết quản của Lucy. Tôi để ý thấy nét mặt giáo sư Van Helsing cứ luân phiên chuyển từ tái nhợt sang tím bầm. Arthur thổ lộ rằng kể từ khoảnh khắc ấy, cậu cảm thấy như hai người đã thực sự kết hôn, và dưới sự chứng giám của Chúa, cô ấy đã là vợ cậu. Không một ai trong chúng tôi hé môi nửa lời về những ca truyền máu sau đó, và sẽ vĩnh viễn chẳng có ai nhắc đến. Arthur cùng Quincey ra ga tàu, còn giáo sư Van Helsing và tôi cùng nhau đi đến đây. Ngay khoảnh khắc chỉ còn lại hai người chúng tôi trong cỗ xe ngựa, giáo sư bỗng bùng nổ trong một cơn kích động điên cuồng. Mãi về sau, ông vẫn một mực phủ nhận với tôi đó không phải là sự mất kiểm soát, mà khăng khăng cho rằng đó chỉ là khiếu hài hước trỗi dậy trong một hoàn cảnh vô cùng tồi tệ. Giáo sư cười cho đến khi bật khóc, buộc tôi phải kéo rèm cửa sổ cỗ xe xuống để người ngoài khỏi nhìn thấy mà đánh giá sai lệch; rồi ông lại khóc, cho đến khi bật cười rũ rượi; những giọt nước mắt và tiếng cười cứ thế đan xen, y như một người phụ nữ. Tôi đã cố tỏ ra nghiêm khắc với ông, như cách người ta vẫn thường làm với phái yếu trong hoàn cảnh tương tự, nhưng chẳng mảy may có tác dụng. Đàn ông và phụ nữ quả thực khác nhau quá đỗi trong cách biểu lộ sự mạnh mẽ hay yếu đuối của thần kinh! Cho đến khi nét mặt ông trở nên trang nghiêm và tĩnh lặng trở lại, tôi mới lên tiếng hỏi vì sao ông lại thấy vui vẻ, và tại sao lại vào một lúc bi thương như thế này. Câu trả lời của ông, theo một cách nào đó, mang đậm dấu ấn tính cách của chính ông: logic, sắc sảo và đầy vẻ bí ẩn. Giáo sư nói:-

“A, anh không hiểu đâu, anh bạn John. Đừng nghĩ rằng tôi không buồn, cho dù tôi có cười. Anh thấy không, tôi đã khóc ngay cả khi tiếng cười bóp nghẹn lấy tôi. Nhưng cũng đừng nghĩ rằng tôi hoàn toàn chìm trong đau thương khi tôi khóc, bởi nụ cười cũng ập đến ngay khoảnh khắc ấy. Hãy luôn nhớ lấy điều này: tiếng cười mà gõ cửa nhà anh rồi hỏi 'Tôi có thể vào không?' thì chẳng phải là tiếng cười chân thật. Không! Tiếng cười là một vị vua, hắn đến lúc nào và ra sao là tùy ý hắn. Hắn chẳng buồn hỏi ai; hắn cũng chẳng màng chọn thời điểm thích hợp. Hắn chỉ tuyên bố, 'Ta ở đây.' Anh xem, lấy một ví dụ, trái tim tôi xót xa khôn tả cho cô gái trẻ ngọt ngào ấy; tôi đã hiến dâng dòng máu của mình cho cô ấy dù tấm thân này đã già nua và mỏi mệt; tôi đã cống hiến thời gian, kỹ năng và cả những giấc ngủ của mình; tôi để mặc những bệnh nhân khác phải chịu bề thiếu thốn hầu mong cô ấy có được mọi thứ. Vậy mà tôi lại có thể cười ngay trước chính ngôi mộ của cô ấy-cười khi những tảng đất sét từ chiếc xẻng của người đào huyệt ném xuống quan tài kêu 'Bịch! Bịch!' vọng thẳng vào tim tôi, tống dòng máu từ má tôi chảy ngược về buồng tim. Trái tim tôi như rỉ máu vì chàng trai đáng thương ấy-chàng trai xúi quẩy, trạc tuổi con trai tôi nếu tôi còn cái diễm phúc nhìn thằng bé lớn khôn, với mái tóc và đôi mắt giống hệt. Anh thấy đó, giờ thì anh đã hiểu tại sao tôi lại thương yêu cậu ấy đến vậy. Vậy mà, khi cậu ấy thốt lên những lời chạm đến tận cùng sâu thẳm trái tim người chồng trong tôi, khiến trái tim người cha trong tôi hướng về cậu ấy hơn bất cứ người đàn ông nào khác-thậm chí còn hơn cả anh, anh bạn John, vì chúng ta giống những kẻ đồng trang lứa về vốn sống hơn là cha và con-thế nhưng, ngay tại khoảnh khắc ấy, Vua Cười lại tìm đến tôi, gào thét và rống vào tai tôi, 'Ta ở đây! Ta ở đây!' cho đến khi dòng máu nhảy múa quay về, mang theo chút ánh dương của hắn thắp sáng gò má tôi. Ôi, anh bạn John, thế giới này sao mà kỳ lạ, một thế giới buồn bã, một thế giới đầy rẫy khổ đau, bi ai và rắc rối; vậy mà khi Vua Cười xuất hiện, hắn khiến tất cả phải nhảy múa theo điệu nhạc của hắn. Những trái tim rỉ máu, những khúc xương khô khốc ngoài nghĩa địa, và những giọt nước mắt rát bỏng tuôn rơi-tất cả đều khiêu vũ theo điệu nhạc mà hắn xướng lên bằng cái miệng chẳng biết mỉm cười đó. Và tin tôi đi, anh bạn John, thật tốt lành và tử tế biết bao khi hắn hiện diện. A, đàn ông và phụ nữ chúng ta giống như những sợi dây bị kéo căng bởi những thế lực đang giằng xé ta về đủ mọi hướng. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi; và, tựa như cơn mưa trút xuống những sợi dây, chúng khiến chúng ta co rút lại, cho đến khi áp lực có thể trở nên quá ngưỡng và chúng ta đứt phăng. Nhưng Vua Cười thì đến như ánh mặt trời, hắn lại làm dịu đi sự căng thẳng; để rồi chúng ta lại có thể gượng dậy, gánh vác mà bước tiếp với công việc của mình, dẫu đó có là gì đi chăng nữa.”

Tôi không muốn làm tổn thương giáo sư bằng cách vờ như đã thấu hiểu tâm tư ông; nhưng vì quả thực tôi vẫn chưa nắm bắt được nguyên do thực sự khiến ông bật cười, nên tôi bèn cất tiếng hỏi. Khi trả lời tôi, khuôn mặt ông chợt đanh lại, và ông nói bằng một âm sắc hoàn toàn khác biệt:-

“Ôi, sự mỉa mai nghiệt ngã của tất cả những chuyện này-quý cô xinh đẹp tuyệt trần ấy được kết vòng hoa, trông kiều diễm hệt như lúc sinh thời, đến mức từng người một trong chúng ta phải tự hỏi liệu cô ấy đã thực sự lìa đời hay chưa; cô ấy nằm trong ngôi nhà cẩm thạch tráng lệ tại nghĩa trang hoang vắng nọ, nơi an nghỉ của bao người thân thuộc, nằm đó cùng người mẹ đã hết lòng yêu thương cô, và cả người mà cô hằng yêu dấu; rồi tiếng chuông thánh thót vang lên 'Kính coong! Kính coong! Kính coong!' nghe sao mà não nề và chậm rãi; còn những người đàn ông thánh thiện kia, khoác trên mình những bộ áo choàng trắng tinh khôi của thiên thần, vờ vịt đang đọc kinh, nhưng thực ra suốt chừng ấy thời gian mắt họ có hề dán vào trang sách; và tất cả chúng ta thì cứ cúi gầm mặt. Thế nhưng tất cả những thứ đó là vì lẽ gì? Cô ấy đã chết; ừ thì vậy đó! Liệu có phải không?”

“Chà, thưa Giáo sư, có đánh chết tôi,” tôi nói, “tôi cũng chẳng tài nào tìm thấy chút đáng cười nào trong toàn bộ câu chuyện đó. Mà này, lời giải thích của giáo sư lại càng biến nó thành một câu đố hóc búa hơn cả ban đầu. Thế nhưng, giả như buổi lễ an táng ấy có mang vẻ hài hước đi chăng nữa, thì chuyện của Art đáng thương và tấn bi kịch của cậu ấy thì sao? Này giáo sư, trái tim cậu ấy đơn giản là đang vỡ vụn.”

“Đúng là vậy. Chẳng phải cậu ấy đã nói rằng việc truyền máu của mình vào huyết quản của cô ấy đã thực sự biến cô ấy trở thành cô dâu của cậu ấy sao?”

“Phải, và đó quả là một ý nghĩ ngọt ngào mang đầy niềm an ủi đối với cậu ấy.”

“Hoàn toàn đúng đắn. Thế nhưng lại có một rắc rối đấy, anh bạn John ạ. Nếu đúng là vậy, thì còn những người khác thì sao? Hô, hô! Thế hóa ra cô gái vô cùng ngọt ngào này lại là kẻ đa phu, và tôi, với người vợ đáng thương vốn đã chết trong tâm trí tôi, dẫu vẫn còn sống rành rành theo luật của Nhà thờ dù cho bà ấy đã mất hết lý trí, đều đã trở nên điên rồ-ngay cả tôi, một người chồng một mực chung thủy với người-giờ-chẳng-còn-là-vợ này, cũng hóa thành kẻ phạm tội trùng hôn.”

“Tôi cũng chẳng thấy có gì đáng đùa cợt trong chuyện đó cả!” tôi đáp lời; và quả tình tôi cảm thấy không mấy vui vẻ với giáo sư khi ông thốt ra những lời như vậy. Giáo sư đặt bàn tay lên tay tôi, xoa dịu:-

“Anh bạn John, xin hãy lượng thứ nếu tôi có lỡ làm anh đau lòng. Tôi đã cố không bộc lộ cảm xúc của mình trước mặt người khác khi biết nó có thể gây tổn thương, mà chỉ dám tỏ bày với anh, người bạn già mà tôi hằng tin tưởng. Giá như lúc đó anh có thể nhìn thấu tận đáy lòng tôi cái khoảnh khắc tôi muốn chực cười; giá như anh có thể làm thế khi tiếng cười kia bật ra; và giá như anh có thể làm điều đó ngay lúc này, khi Vua Cười đã thu dọn vương miện cùng tất thảy những gì thuộc về hắn-bởi lẽ hắn đã đi rồi, rời xa tôi, và trong một khoảng thời gian dài, rất dài sắp tới-thì có lẽ anh mới là người thương hại tôi nhiều nhất.”

Sự dịu dàng trong thanh âm của giáo sư đã thực sự làm tôi xúc động, tôi bèn khẽ hỏi lý do tại sao.

“Bởi vì tôi biết rõ mọi chuyện!”

Và giờ đây tất cả chúng tôi lại mỗi người mỗi ngả; để rồi trong những tháng ngày dài đằng đẵng sắp tới, nỗi cô đơn sẽ sải đôi cánh ủ rũ ngự trị trên từng mái nhà của chúng tôi. Lucy đang yên nghỉ trong hầm mộ dòng tộc, một nhà mồ tráng lệ giữa nghĩa trang hoang vắng, cách xa một London huyên náo ồn ào; một nơi có bầu không khí trong lành, có mặt trời ló rạng phía trên ngọn Đồi Hampstead, và có cả những thảm hoa dại tự do bung nở.

Vậy là tôi có thể khép lại cuốn nhật ký này tại đây; và chỉ có Chúa mới thấu liệu tôi có bao giờ lật mở một cuốn mới hay không. Nếu tôi có viết tiếp, hoặc thậm chí mở lại những trang này, thì hẳn nó sẽ gắn liền với những con người khác và những chủ đề hoàn toàn khác biệt; bởi vì ngay tại dòng cuối cùng này, nơi những câu chuyện lãng mạn lướt qua đời tôi đã được giãi bày trọn vẹn, ngay trước khi tôi quay trở lại để tiếp nối sợi dây công việc dang dở của đời mình, tôi xin buông lời trong một nỗi buồn tủi bẽ bàng và chẳng còn chút vương vấn hy vọng:

“KẾT THÚC.”

“Báo Westminster Gazette,” 25 Tháng Chín.

MỘT BÍ ẨN Ở HAMPSTEAD.

Khu vực Hampstead dạo gần đây đang xôn xao vì một loạt sự việc kỳ lạ. Chuyện này khiến người ta liên tưởng đến những vụ án giật gân mà báo giới hay gọi là "Sự kinh hoàng ở Kensington,"8 "Người phụ nữ đâm chém," hay "Người phụ nữ áo đen." Trong hai, ba ngày qua, vài đứa trẻ đã đi lạc khỏi nhà, hoặc mải chơi trên bãi Heath đến quên cả đường về. Tất cả các bé đều còn quá nhỏ nên không thể kể lại sự tình cho rành mạch. Dù vậy, điểm chung trong lời bào chữa của bọn trẻ là chúng đã đi dạo cùng một "quý cô xinh đẹp". Những vụ mất tích này luôn được phát hiện vào tận tối muộn. Thậm chí, có hai lần người ta phải tìm kiếm mãi đến tận sáng sớm hôm sau mới thấy lũ trẻ.

Dư luận quanh vùng bàn tán rằng, có lẽ vì đứa trẻ đầu tiên đi lạc đã bịa ra lý do được một "quý cô xinh đẹp" rủ đi chơi, nên những đứa trẻ khác nghe lỏm được và bắt chước theo mỗi khi có dịp. Lời đồn này càng có cơ sở khi dạo gần đây, trò chơi yêu thích nhất của bọn trẻ là dụ dỗ nhau bằng những lời đường mật. Một phóng viên viết thư về cho tòa soạn kể rằng, nhìn những cô cậu bé tí hon giả làm "quý cô xinh đẹp" trông thật vô cùng ngộ nghĩnh. Anh ấy còn đùa rằng, có lẽ họa sĩ vẽ tranh biếm họa của chúng tôi sẽ học được thế nào là nghệ thuật trào phúng đích thực nếu mang những bức tranh ra so sánh với thực tế. Dĩ nhiên, xét theo tâm lý chung của con người, việc đóng vai "quý cô xinh đẹp" đã nhanh chóng trở thành tiết mục được yêu thích nhất trong các buổi diễn kịch ngoài trời của chúng. Chàng phóng viên ngây thơ của chúng tôi còn phải thốt lên rằng, ngay cả nữ minh tinh lừng danh Ellen Terry9 chắc cũng khó lòng toát ra vẻ quyến rũ mê hồn bằng mấy đứa trẻ với khuôn mặt nhem nhuốc đang cố gồng mình diễn xuất-và thậm chí còn ảo tưởng rằng mình thực sự lộng lẫy-như vậy.

Thế nhưng, đằng sau trò chơi con trẻ ấy lại ẩn chứa một sự thật đáng lo ngại. Một số đứa trẻ, mà thực chất là tất cả những đứa bị mất tích trong đêm, đều có những vết rách hoặc vết thương nhỏ trên cổ. Những vết cắn này trông như do chuột hoặc một con chó nhỏ gây ra. Dù thoạt nhìn vết thương trên từng đứa trẻ không quá nghiêm trọng, nhưng cách chúng xuất hiện lặp đi lặp lại cho thấy con vật bí ẩn này dường như có một thói quen hay phương thức tấn công rất bài bản. Cảnh sát khu vực đã nhận lệnh phải tăng cường giám sát chặt chẽ những đứa trẻ đi lạc, nhất là các bé còn quá nhỏ, ở trong và xung quanh khu vực Hampstead Heath10. Đồng thời, họ cũng được yêu cầu phải để mắt tới bất kỳ con chó hoang nào lảng vảng quanh vùng.

“Báo Westminster Gazette,” 25 Tháng Chín.

Tin Đặc Biệt.

SỰ KINH HOÀNG Ở HAMPSTEAD.

THÊM MỘT ĐỨA TRẺ BỊ THƯƠNG.

“Quý cô xinh đẹp.”

Chúng tôi vừa nhận được tin báo khẩn cấp: thêm một đứa trẻ bị mất tích vào đêm qua. Đến tận sáng muộn hôm nay, người ta mới tìm thấy đứa bé nằm rạp dưới một bụi cây kim tước trên sườn Đồi Shooter thuộc Hampstead Heath. Khu vực này vốn hoang vắng và ít người qua lại hơn những nơi khác. Đứa bé này cũng mang một vết thương nhỏ trên cổ y hệt như những nạn nhân trước đó. Tình trạng của em vô cùng yếu ớt và trông khá tiều tụy. Sau khi hồi phục đôi chút, đứa bé cũng lặp lại điệp khúc quen thuộc: em đã bị một "quý cô xinh đẹp" dụ dỗ.



  1. Nguyên gốc là 'Incorporated Law Society', tổ chức tiền thân của Hiệp hội Luật sư (The Law Society) ở Anh, chịu trách nhiệm quản lý và đại diện cho các luật sư cố vấn (solicitors). 

  2. Một giao lộ lớn ở trung tâm London, nằm ở góc đông nam của Công viên Hyde (Hyde Park), khu vực nổi tiếng nhộn nhịp và mang tính biểu tượng của thành phố. 

  3. Chỉ 'Rotten Row', một con đường nổi tiếng nằm trong Công viên Hyde ở London, từng là nơi giới thượng lưu Anh cưỡi ngựa tản bộ và giao lưu vào thế kỷ 18 và 19. 

  4. Loại xe ngựa mui trần, thấp và thanh lịch, có bốn bánh, được thiết kế cho hai hành khách ngồi phía sau và một người đánh xe ngồi phía trước, rất thịnh hành vào thời Nữ hoàng Victoria. 

  5. Hansom cab là loại xe ngựa hai bánh, do một con ngựa kéo và có người đánh xe ngồi ở một ghế cao phía sau. Đây là phương tiện di chuyển công cộng rất phổ biến ở London thời Victoria. 

  6. Một trong những Công viên Hoàng gia (Royal Parks) ở London, nằm giữa Hyde Park và Công viên St. James, nổi tiếng với không gian xanh mát và yên bình. 

  7. Viking là những chiến binh, nhà thám hiểm và thương nhân hàng hải người Bắc Âu thời Trung cổ, nổi tiếng với sự dũng mãnh, kiên cường và tinh thần can trường trước nghịch cảnh. 

  8. Đây là những cách đặt tiêu đề giật gân (sensationalism) đặc trưng của báo chí Anh và truyền thông đại chúng thời Victoria nhằm thu hút độc giả, tương tự như các ấn phẩm 'Penny Dreadful' rẻ tiền chuyên khai thác yếu tố kinh dị và tội ác. 

  9. Dame Ellen Terry (1847-1928) là một trong những nữ diễn viên kịch Shakespearean vĩ đại và nổi tiếng nhất của sân khấu Anh thời Victoria. 

  10. Một khu công viên công cộng rộng lớn, cổ kính và có nhiều đồi hoang dã nằm ở phía bắc London. Nơi đây thường xuất hiện trong văn học Anh như một địa điểm có chút hoang sơ và hẻo lánh so với phần còn lại của thành phố.