CHƯƠNG XV. NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD-tiếp theo.
Trong một thoáng, nỗi phẫn nộ tột cùng dâng trào xâm chiếm lấy tôi. Lời nói của ông chẳng khác nào một cú tát giáng thẳng vào mặt Lucy khi cô còn sống. Tôi đập mạnh tay xuống bàn, đứng phắt dậy và gắt lên:-
"Giáo sư Van Helsing, giáo sư điên rồi sao?"
Ông ngẩng đầu lên nhìn tôi. Không hiểu sao, chính vẻ dịu dàng trên gương mặt ông lúc này lại khiến tôi dịu đi ngay lập tức.
"Giá mà tôi điên!" ông cất lời. "Sự điên rồ dẫu sao vẫn dễ chịu đựng hơn muôn phần so với sự thật trần trụi này. Ôi, bạn hiền, anh nghĩ xem, vì cớ gì tôi lại phải vòng vo xa xôi đến vậy? Cớ gì tôi lại đánh mất quá nhiều thời gian chỉ để thổ lộ với anh một điều tưởng chừng đơn giản? Có phải vì tôi căm ghét anh và đã luôn ôm mối hận thù ấy cả đời không? Có phải vì tôi muốn giày vò anh? Hay có phải vì tận lúc này, tôi vẫn nuôi khao khát trả thù cho cái lần anh dang tay kéo tôi về từ ranh giới của một cái chết kinh hoàng? Ôi không!"
"Xin giáo sư tha lỗi," tôi khẽ đáp. Ông lại tiếp tục:-
"Anh bạn ạ, đó là bởi tôi muốn anh làm quen với nó từng chút một, vì tôi biết anh trân quý người thiếu nữ ngọt ngào ấy đến nhường nào. Thế nhưng, cho đến tận lúc này, tôi cũng không trông mong anh sẽ tin ngay được. Lòng người vốn dĩ khó lòng chấp nhận nổi một sự thật trừu tượng nào đó-khó đến độ ta sẵn sàng hoài nghi khả năng tồn tại của nó khi tâm trí luôn bám víu vào điều ngược lại. Lại càng khó khăn gấp bội khi phải đối diện với một sự thật cụ thể xót xa nhường này, nhất là khi nó liên quan đến một người như cô Lucy. Đêm nay, tôi sẽ đi tìm bằng chứng để làm sáng tỏ điều đó. Anh có dám đi cùng tôi không?"
Câu hỏi ấy khiến tôi sững người. Thử hỏi có ai lại muốn chứng minh một sự thật cay đắng đến thế; ngoại trừ Byron1-theo cách ví von phân loại của ông-kẻ bị cuốn đi bởi lòng ghen tuông cắn rứt.
"Và lại phải đi chứng minh chính cái sự thật mà mình kinh tởm nhất."
Nhận ra sự ngập ngừng của tôi, ông lên tiếng:-
"Logic lần này vô cùng đơn giản, hoàn toàn không phải thứ logic quẩn quanh của kẻ điên, cứ nhảy từ mô đất này sang mô đất khác giữa một đầm lầy mù sương. Nếu nó sai, thì chính bằng chứng ấy sẽ mang lại sự giải thoát; chí ít, dẫu tệ nhất thì nó cũng chẳng gây ra tác hại gì. Nhưng nếu nó đúng! À, đó mới chính là nỗi kinh hoàng tột độ; song, ngay cả nỗi kinh hoàng ấy cũng sẽ phụng sự cho lý tưởng của tôi, bởi thẳm sâu trong đó luôn tồn tại nhu cầu khao khát được tin tưởng. Nào, giờ tôi sẽ nói cho anh nghe những gì tôi dự định làm. Trước hết, chúng ta sẽ đi ngay bây giờ để kiểm tra đứa trẻ trong bệnh viện. Bác sĩ Vincent ở Bệnh viện Đa khoa Bắc-nơi báo chí đưa tin đứa trẻ đang nằm điều trị-là bạn của tôi, và tôi đoán cũng là bạn học cùng lớp của anh hồi ở Amsterdam. Cậu ấy sẽ sẵn lòng để hai nhà khoa học xem xét ca bệnh này, dẫu cho có thể chẳng bao giờ cho phép hai người bạn làm thế. Chúng ta sẽ không tiết lộ gì với cậu ấy cả, chỉ nói rằng chúng ta muốn tìm hiểu thêm. Và sau đó--"
"Và sau đó?" Ông rút từ trong túi ra một chiếc chìa khóa và giơ lên trước mặt tôi. "Và sau đó, anh và tôi, chúng ta sẽ qua đêm trong nghĩa trang nơi Lucy an nghỉ. Đây là chìa khóa mở cửa lăng mộ. Tôi đã lấy nó từ người làm quan tài trước khi ông ta kịp giao lại cho Arthur."
Tim tôi thắt lại, linh tính mách bảo một thử thách khủng khiếp nào đó đang chực chờ phía trước. Dẫu vậy, tôi chẳng biết làm gì hơn ngoài việc gom góp chút can đảm còn sót lại, gật đầu đồng ý và giục ông tốt nhất nên nhanh lên, vì bóng chiều đang dần buông....
Chúng tôi đến nơi và thấy đứa trẻ đã thức. Nó vừa ngủ một giấc sâu, ăn chút lót dạ, và nhìn chung đang hồi phục khá tốt. Bác sĩ Vincent cẩn thận tháo dải băng trên cổ đứa bé, chỉ cho chúng tôi xem những vết đâm chích. Không thể nhầm lẫn được-những dấu vết này giống hệt các vết thương từng hiện diện trên cổ Lucy. Chúng chỉ nhỏ hơn, và phần rìa xung quanh trông có vẻ mới hơn; chỉ có vậy.
Chúng tôi vặn hỏi bác sĩ Vincent xem cậu ấy suy đoán nguyên nhân là do đâu. Cậu ấy cho rằng hẳn là vết cắn của một loài động vật nào đó, có lẽ là một con chuột; nhưng cá nhân cậu ấy lại nghiêng về giả thuyết thủ phạm là một trong những con dơi vốn bay lượn nhan nhản trên vùng cao phía bắc London.
"Trong số vô vàn những sinh vật vô hại ấy," cậu ấy giải thích, "biết đâu lại trà trộn vài cá thể hoang dã mang bản tính ác độc từ miền Nam trôi dạt tới. Vài thủy thủ nào đó có thể đã mang một con về nhà, rồi nó lén tìm cách trốn thoát; hoặc thậm chí một con dơi non từ Vườn Bách Thú đã sổng chuồng, hay một con vừa được sinh ra ở đó từ giống dơi quỷ (vampire bat)2 chẳng hạn. Mấy chuyện này vẫn thường xảy ra mà, giáo sư biết đấy. Mới mười ngày trước, một con sói cũng đã xổng chuồng, và tôi nghe phong thanh là người ta đã lần theo dấu vết của nó về hướng này. Suốt một tuần liền sau đó, bọn trẻ con quanh đây chẳng buồn chơi trò gì khác ngoài trò Cô Bé Quàng Khăn Đỏ trên khu đồng hoang và luồn lách khắp mọi ngõ hẻm trong khu vực. Cho đến khi vụ hoảng sợ về ‘quý cô xinh đẹp’ này nổ ra, thì từ đó trở đi, với chúng, mọi thứ lại biến thành một dịp hội hè rộn rã. Ngay cả đứa bé tội nghiệp này, khi vừa tỉnh dậy hôm nay, cũng nằng nặc đòi y tá cho ra ngoài chơi. Khi cô ấy gặng hỏi lý do, nó bảo nó muốn đi chơi với ‘quý cô xinh đẹp’."
"Tôi hy vọng," giáo sư Van Helsing cất lời, "rằng khi anh cho đứa trẻ xuất viện, anh sẽ dặn dò cha mẹ nó phải trông chừng thật cẩn thận. Những ý nghĩ đi lang thang kiểu này là cực kỳ nguy hiểm; và nếu đứa trẻ lại lang thang ngoài đường một đêm nữa, điều đó có thể tước đi mạng sống của nó. Nhưng dù sao thì tôi tin chắc anh sẽ không để nó rời đi trong vài ngày tới chứ?"
"Chắc chắn là không rồi, ít nhất là trong một tuần; có thể lâu hơn nếu vết thương chưa lành lặn hẳn."
Chuyến viếng thăm bệnh viện ngốn của chúng tôi nhiều thời gian hơn dự tính, mặt trời đã khuất bóng tự lúc nào trước khi chúng tôi bước ra ngoài. Khi giáo sư Van Helsing nhận ra màn đêm đã buông xuống, ông nói:-
"Không có gì phải vội cả. Đã muộn hơn tôi tưởng. Nào, chúng ta hãy tìm một nơi nào đó lót dạ trước đã, rồi sau đó hẵng tiếp tục lên đường."
Chúng tôi dùng bữa tại quán "Lâu đài Jack Straw3" giữa một nhóm nhỏ những người đi xe đạp và vài thực khách đang chuyện trò rôm rả. Khoảng mười giờ, cả hai rời khỏi quán trọ. Đêm buông xuống mịt mùng, những ngọn đèn đường thưa thớt dường như chỉ càng làm cho bóng tối thêm phần đặc quánh mỗi khi chúng tôi bước ra khỏi quầng sáng yếu ớt của chúng. Giáo sư hiển nhiên đã nằm lòng lộ trình, ông sải bước không chút do dự. Còn tôi, tôi hoàn toàn mất phương hướng. Càng đi xa, bóng người càng thưa thớt, cho đến khi chúng tôi đôi chút ngỡ ngàng vì chẳng còn bắt gặp cả đội cảnh sát cưỡi ngựa tuần tra quen thuộc quanh vùng ngoại ô. Rốt cuộc, chúng tôi cũng đến được bức tường nghĩa trang và leo qua. Khó khăn lắm-bởi trời tối đen như mực và khung cảnh quá đỗi xa lạ-chúng tôi mới mò mẫm tìm ra lăng mộ của gia tộc Westenra. Giáo sư rút chìa khóa, mở tung cánh cửa kêu cọt kẹt, rồi lùi lại, lịch thiệp nhưng hoàn toàn vô thức, nhường tôi bước vào trước. Thật là một sự mỉa mai đầy thú vị trong cử chỉ nhã nhặn ấy ở một thời khắc rùng rợn đến vậy. Ngay sau tôi, ông cũng bước vào, cẩn trọng khép chặt cánh cửa, không quên kiểm tra tỉ mỉ để chắc chắn rằng đó là loại khóa sập chứ không phải khóa lò xo. Nếu là khóa lò xo, hẳn chúng tôi đã tự nhốt mình trong một tình cảnh tồi tệ. Sau đó, ông lục lọi chiếc túi xách, lôi ra một hộp diêm cùng mẩu nến nhỏ, rồi bật lửa. Bản thân lăng mộ vào ban ngày, dù được trang hoàng bằng những vòng hoa tươi, trông đã đủ u uất và rợn ngợp. Nhưng giờ đây, khi vài ngày đã trôi qua, những bông hoa rủ xuống úa tàn mang đầy tử khí. Sắc trắng chuyển thành màu gỉ sét, màu xanh ngả sang nâu úa; lũ nhện và bọ cánh cứng đã giành lại quyền thống trị quen thuộc của chúng. Cùng với những phiến đá ố màu thời gian, lớp vữa bám bụi, những thanh sắt hoen rỉ ẩm ướt, đồng thau xỉn màu và lớp mạ bạc xám xịt phản chiếu ánh nến leo lét, cảnh tượng hiện ra còn thê lương và nhớp nhúa hơn mọi sức tưởng tượng. Nó gieo vào tâm trí một ý nghĩ mãnh liệt rằng sự sống-sự sống của muôn loài-chẳng phải là thứ duy nhất có thể lụi tàn.
Giáo sư Van Helsing bắt tay vào việc vô cùng bài bản. Ông giơ cao ngọn nến để rọi rõ từng tấm biển khắc trên quan tài, để mặc những giọt sáp nhỏ tỏng xuống, đông cứng thành những đốm trắng bệch trên mặt kim loại lạnh lẽo. Sau khi xác định đúng quan tài của Lucy, ông tiếp tục lục túi và rút ra một chiếc tuốc nơ vít.
"Giáo sư định làm gì vậy?" tôi gặng hỏi.
"Để mở quan tài. Anh sẽ phải bị thuyết phục." Vừa dứt lời, ông liền vặn từng chiếc đinh ốc. Cuối cùng, nắp quan tài được nhấc ra, phơi bày lớp vỏ bọc bằng chì bên dưới. Cảnh tượng ấy dường như vượt quá sức chịu đựng của tôi. Hành động này chẳng khác nào một sự báng bổ người đã khuất, tựa như lột trần áo quần của một người đang say giấc nồng. Không kìm được, tôi chộp lấy tay ông hòng ngăn lại. Nhưng giáo sư chỉ điềm nhiên đáp: "Anh sẽ thấy." Rồi ông lại thò tay vào túi, lấy ra một chiếc cưa lọng nhỏ. Bằng một cú giáng chớp nhoáng, ông cắm phập chiếc tuốc nơ vít xuyên thủng lớp chì khiến tôi không khỏi rùng mình. Xuyên qua lỗ hổng vừa đủ lọt mũi cưa, tôi nín thở, đinh ninh sẽ phải hứng chịu một luồng tử khí xộc lên từ cái xác đã nằm đó suốt một tuần. Giới bác sĩ chúng tôi, những kẻ từng nhiều phen đối mặt với tử thần, vốn đã quá quen thuộc với những thứ nặc mùi như thế, nên tôi bất giác lùi lại sát cửa lăng. Ấy vậy mà vị giáo sư không hề khựng lại lấy một giây. Ông thoăn thoắt cưa một đường dài khoảng sáu mươi phân dọc theo mép quan tài chì, rồi cưa ngang, và tiếp tục cưa dọc sang cạnh đối diện. Bám chặt vào mép mảnh kim loại vừa bị cắt đứt rời rạc, ông bẻ gập nó về phía chân quan tài. Giơ cao ngọn nến soi rọi vào khe hở tối om, ông hất đầu ra hiệu cho tôi nhìn vào.
Tôi bước tới và liếc nhìn. Chiếc quan tài trống không.
Đó quả thực là một cú sốc giáng mạnh vào tâm trí, khiến tôi sửng sốt tột độ. Nhưng giáo sư Van Helsing thì chẳng hề mảy may bận tâm. Giờ đây, ông lại càng vững tin hơn bao giờ hết vào lập trường của mình, và điều đó dường như tiếp thêm cho ông sự bạo dạn để bước tiếp nhiệm vụ. "Bây giờ thì anh đã thỏa mãn chưa, anh bạn John?" ông hỏi.
Bao nhiêu cái sự ngoan cố, thích tranh cãi trong tôi lập tức bùng lên khi tôi buông lời đáp trả:
"Tôi đã thỏa mãn rằng thi thể của Lucy không có trong chiếc quan tài đó. Nhưng điều ấy chỉ chứng minh được duy nhất một điều."
"Và điều đó là gì, anh bạn John?"
"Rằng cái xác không nằm ở đó."
"Một lập luận rất sắc sảo," ông trầm ngâm, "nhưng chỉ đúng trong giới hạn của nó. Thế anh làm sao-làm sao anh có thể-giải thích được việc thi thể lại biến mất?"
"Biết đâu là bọn trộm xác," tôi gợi ý. "Hoặc vài gã trong đội mai táng đã lẻn vào đánh cắp." Dù tự thấy miệng mình thốt ra những lời thật ngu xuẩn, song đó là nguyên do thực tế duy nhất mà tôi có thể bấu víu. Vị giáo sư thở dài não nuột. "Chà chà!" ông khẽ nói, "Chúng ta đành phải tìm thêm bằng chứng. Đi theo tôi."
Nói rồi, ông đậy nắp quan tài lại, nhặt nhạnh dụng cụ bỏ vào túi xách, thổi phụt nến và đút mẩu sáp vào túi áo. Chúng tôi mở cửa lăng và bước ra ngoài. Xoay người lại, ông cẩn thận sập cửa và khóa chặt. Chìa chiếc chìa khóa về phía tôi, ông bảo: "Anh giữ cái này nhé? Tốt nhất là anh hãy tự mình kiểm chứng." Tôi bật cười-thú thật, đó chẳng phải là một nụ cười vui vẻ gì cho cam-rồi khoát tay ra hiệu cho ông cứ việc giữ lấy. "Một chiếc chìa khóa thì có nghĩa lý gì," tôi đáp, "người ta vẫn có thể đánh thêm chìa dự phòng, và vả lại, phá một cái khóa thế này cũng chẳng khó khăn gì." Ông không buồn đáp, lặng lẽ cất chìa khóa vào túi. Đoạn, ông phân công tôi túc trực ở một góc nghĩa trang trong lúc ông canh gác ở phía đối diện. Tôi nấp vào vị trí của mình sau một gốc thủy tùng sẫm màu, đưa mắt dõi theo cái bóng đen tuyền của ông xa dần cho đến khi những bia đá và cây cối rậm rạp nuốt chửng lấy ông.
Đó quả là một đêm gác tĩnh mịch và cô liêu. Ngay khi tôi vừa yên vị, tiếng chuông đồng hồ vọng lại từ xa đã điểm mười hai tiếng. Cứ thế, thời gian nhích dần, mang theo những hồi chuông báo một giờ, rồi hai giờ sáng. Cái lạnh thấu xương ngấm vào da thịt khiến tôi bồn chồn không yên. Tôi thấy bực bội với giáo sư vì đã lôi tuột mình vào một sứ mệnh quái gở như thế này, và bực cả chính mình vì đã ngoan ngoãn đi theo. Sự rét mướt và cơn buồn ngủ bủa vây khiến giác quan tôi không còn đủ nhạy bén để quan sát, nhưng tôi cũng chưa tới nỗi ngủ gục để rồi bỏ bẵng trách nhiệm. Rốt cuộc, tôi đã phải trải qua những giờ phút canh gác thật khốn khổ và tẻ ngắt.
Chợt, lúc quay đầu lại, tôi ngờ ngợ như có một vệt sáng trắng mờ ảo đang chuyển động lấp ló giữa hai gốc thủy tùng sẫm màu nằm ở góc nghĩa trang xa lăng mộ nhất. Cùng lúc ấy, một khối đen kịt lao ra từ phía vị giáo sư canh gác, hối hả lao thẳng về hướng vệt trắng kia. Không chậm trễ, tôi cũng tức tốc chạy tới. Nhưng phải luồn lách qua hàng loạt bia đá, những lăng mộ quây rào sắt, và cả những nấm mồ thấp lè tè khiến tôi vấp ngã chúi nhụi. Bầu trời vẫn vần vũ u ám. Xa xa, tiếng gà gáy sớm bất chợt xé toạc màn đêm. Cách đó không xa, vượt qua hàng bách xù rải rác viền quanh lối vào nhà thờ, một bóng trắng lờ mờ lướt vút về phía lăng mộ. Tán cây um tùm che khuất khu lăng, khiến tôi hoàn toàn mất dấu cái bóng. Bỗng tôi nghe thấy tiếng sột soạt phát ra từ đúng vị trí vệt trắng xuất hiện ban nãy. Vội vã bước tới, tôi sững sờ thấy giáo sư đang bế trên tay một đứa trẻ bé bỏng. Vừa thấy tôi, ông liền đưa đứa nhỏ ra trước mặt tôi và cất giọng:
"Bây giờ thì anh đã thỏa mãn chưa?"
"Vẫn chưa," tôi đáp lại, giọng điệu hằn học đến mức tự tôi cũng nhận ra.
"Thế anh không thấy đứa trẻ à?"
"Có, đúng là một đứa bé. Nhưng ai đã tha nó tới tận đây? Liệu nó có hề hấn gì không?" tôi dồn dập hỏi.
"Rồi chúng ta sẽ rõ," giáo sư trầm giọng. Ngay lập tức, chúng tôi hối hả rút khỏi nghĩa trang, trên tay ông vẫn bế đứa nhỏ đang say ngủ.
Sau khi đã đi được một đoạn khá xa, chúng tôi tạt vào một lùm cây. Giáo sư quẹt diêm, rồi cẩn thận kiểm tra cổ đứa bé. Tuyệt nhiên không có lấy một vết xước xát hay tỳ vết nào.
"Tôi đã nói đúng chứ?" tôi cất cao giọng với vẻ đắc thắng.
"Nhờ trời, chúng ta đã đến vừa kịp lúc," giáo sư thở phào hàm ơn.
Vấn đề nan giải bây giờ là phải xử lý sao với đứa trẻ. Chúng tôi túm tụm lại bàn bạc. Nếu bế đứa nhỏ đến đồn cảnh sát, chúng tôi chắc chắn sẽ bị tra hỏi về tung tích của mình trong suốt đêm qua. Tệ nhất, chúng tôi sẽ phải khai báo rành rọt về nguyên cớ vì sao lại nhặt được đứa trẻ ở một nơi quái quỷ như vậy. Cân nhắc thiệt hơn, cả hai quyết định sẽ bế nó ra khu đồng hoang Heath. Chờ đến khi nghe thấy tiếng cảnh sát tuần tra tới gần, chúng tôi sẽ đặt đứa bé ở một vị trí thật dễ thấy, rồi mau chóng tìm đường về nhà. Mọi chuyện sau đó diễn ra trót lọt. Vừa rảo bước đến ven rìa Hampstead Heath, chúng tôi đã loáng thoáng nghe thấy tiếng bước chân bình bịch nặng nề của một tay cảnh sát. Cả hai nhẹ nhàng đặt đứa nhỏ ngay trên lối đi, rồi nấp vào một góc tối, nín thở theo dõi. Khi ánh đèn lồng của viên cảnh sát quét ngang qua và phát hiện ra đứa bé, anh ta thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc. Chờ có thế, chúng tôi lặng lẽ rút lui. Thật may mắn, chúng tôi vẫy được một cỗ xe ngựa ngay gần quán "Spaniards4", và lập tức lên xe trở về thị trấn.
Tôi chẳng tài nào chợp mắt nổi, đành ngồi gọt giũa những dòng nhật ký này. Dẫu vậy, tôi vẫn phải cố dỗ giấc ngủ vài tiếng đồng hồ, bởi đến trưa nay giáo sư Van Helsing sẽ lại tới gọi cửa. Ông đã khăng khăng bắt tôi phải tháp tùng ông trong một chuyến thám hiểm khác.
Ngày 27 tháng 9.-Phải mất đến hai giờ đồng hồ, chúng tôi mới tìm được cơ hội thích hợp để tiến hành kế hoạch. Tang lễ diễn ra lúc giữa trưa đã xong xuôi, và những người đưa tiễn cuối cùng cũng chậm rãi tản mác ra về. Nép mình thận trọng phía sau lùm cây tống quán sủ, chúng tôi quan sát người quản trang khóa chặt cổng sắt lại. Chúng tôi biết từ giờ đến sáng mai, cả hai sẽ hoàn toàn an toàn, muốn làm gì cũng được; nhưng vị giáo sư bảo rằng chúng tôi chẳng cần nhiều hơn một giờ đồng hồ. Lần này, cảm giác ớn lạnh trước thực tại lại ùa về, lấn át mọi sự tưởng tượng viển vông; và tôi ý thức rất rõ những hiểm họa pháp lý mà chúng tôi đang tự chuốc lấy qua hành vi đầy tính tội lỗi này. Hơn thế nữa, tôi thấy mọi việc dường như thật vô nghĩa. Việc cạy một cỗ quan tài bằng chì chỉ để xem một người phụ nữ đã khuất gần một tuần liệu có thực sự chết hay chưa vốn đã là một chuyện quá quắt, thì giờ đây, việc xâm phạm lăng mộ thêm một lần nữa lại càng giống như đỉnh điểm của sự điên rồ, nhất là khi chúng tôi đã biết chắc chắn từ những gì tận mắt chứng kiến rằng chiếc quan tài ấy hoàn toàn trống rỗng. Dẫu vậy, tôi chỉ khẽ nhún vai rồi giữ im lặng, bởi giáo sư Van Helsing xưa nay vẫn có thói quen làm theo ý mình, mặc kệ người khác phản đối ra sao. Ông lấy chìa khóa, mở toang cửa hầm mộ, rồi nhã nhặn ra hiệu cho tôi bước vào trước. Nơi này đã bớt phần rùng rợn hơn so với đêm qua, nhưng ôi chao, dưới ánh nắng mặt trời tràn vào chiếu rọi, nó mới trông điêu tàn và lạnh lẽo làm sao. Giáo sư Van Helsing tiến về phía quan tài của Lucy, tôi cất bước theo sau. Ông cúi người xuống, dùng sức bẩy lớp chì ra thêm lần nữa; và rồi, một cú sốc hòa lẫn kinh hoàng và sững sờ chạy dọc khắp cơ thể tôi.
Lucy đang nằm đó, dáng vẻ hệt như lúc chúng tôi nhìn thấy cô vào đêm trước ngày tang lễ. Thậm chí, nếu có thể nói, trông cô còn kiều diễm và rạng rỡ hơn bao giờ hết; khiến tôi không tài nào tin nổi rằng cô ấy đã qua đời. Đôi môi đỏ mọng nay còn thắm sắc hơn trước; vương trên đôi má là một nét hồng hào đầy đặn và tinh tế.
"Trò lừa gạt gì thế này?" tôi quay sang hỏi ông.
"Bây giờ thì anh đã chịu tin chưa?" giáo sư trầm giọng đáp lời. Vừa nói, ông vừa đưa tay ra, và bằng một động tác khiến tôi rợn người, ông vén đôi môi của người chết lên, để lộ ra những chiếc răng trắng lóa.
"Nhìn xem," ông tiếp lời, "hãy nhìn xem, chúng thậm chí còn sắc nhọn hơn trước. Với cái này, và cả cái này"-ông chạm vào một trong hai chiếc răng nanh cùng chiếc răng nằm ngay phía dưới nó-"những đứa trẻ hoàn toàn có thể bị cắn đứt thịt. Anh đã tin chưa, anh bạn John?" Một lần nữa, sự phản kháng và bản năng lý luận lại trỗi dậy trong tôi. Tôi không thể nào chấp nhận nổi một ý nghĩ điên rồ và áp đảo đến mức như ông ám chỉ; vì thế, mang theo một nỗ lực phản biện mà ngay chính lúc đó tôi cũng cảm thấy ngượng ngùng, tôi thốt lên:-
"Có thể ai đó đã đặt cô ấy vào đây từ đêm qua."
"Thật sao? Đúng vậy, nhưng là ai cơ chứ?"
"Tôi không biết. Chắc chắn là có ai đó đã làm chuyện này."
"Vậy mà cô ấy đã chết được một tuần rồi đấy. Phần lớn con người ta, sau ngần ấy thời gian, sẽ không giữ được hình hài như thế này đâu." Tôi hoàn toàn cứng họng, không có lấy một lý lẽ nào để phản bác lại điều đó, nên đành chìm vào im lặng. Giáo sư Van Helsing dường như chẳng hề bận tâm đến sự im lặng của tôi; dẫu sao đi nữa, ông cũng không hề tỏ ra cáu bực hay đắc ý. Ông đang chăm chú quan sát khuôn mặt của người phụ nữ đã khuất, nhấc mí mắt lên để nhìn sâu vào đôi mắt ấy, rồi lại vạch đôi môi ra để kiểm tra những chiếc răng một lần nữa. Xong xuôi, ông quay sang tôi và cất giọng:-
"Ở trường hợp này, có một điểm hoàn toàn khác biệt so với tất cả những gì từng được ghi chép lại; đây là một cuộc sống kép, dị thường và hiếm gặp. Cô ấy đã bị ma cà rồng cắn khi đang chìm trong trạng thái hôn mê, mộng du-ồ, anh giật mình sao; anh không biết chuyện đó, anh bạn John, nhưng rồi anh sẽ hiểu tất thảy mọi chuyện-và trong chính cơn hôn mê ấy, con ác quỷ có thể tiếp cận để hút đi lượng máu lớn nhất. Trong trạng thái hôn mê, cô ấy đã ra đi, và cũng trong chính trạng thái ấy, cô ấy đã hóa thành Kẻ Không Chết (Un-Dead)5. Đó là lý do tại sao cô ấy khác biệt với tất cả những kẻ còn lại. Thông thường, khi Những Kẻ Không Chết ngủ trong tổ của chúng"-khi nói đến đây, ông dang rộng vòng tay vẽ một vòng tròn lớn để ám chỉ thứ mà đối với ma cà rồng được gọi là "nhà"-"khuôn mặt chúng sẽ phơi bày bản chất thực sự của mình. Nhưng ở đây, cô gái ngọt ngào này, khi vẫn chưa hoàn toàn biến thành Kẻ Không Chết, cô ấy lại trở về với sự hư vô tĩnh lặng của những người chết bình thường. Chẳng có chút ác độc nào hiện diện trên gương mặt này cả, anh thấy không, và chính điều đó khiến việc tôi phải ra tay kết liễu cô ấy trong giấc ngủ trở nên khó khăn gấp bội." Lời nói ấy làm máu trong huyết quản tôi như đóng băng, và tôi bắt đầu lờ mờ nhận ra rằng bản thân đang dần chấp nhận các giả thuyết của giáo sư Van Helsing; nhưng nếu cô ấy thực sự đã chết, thì việc có ý định tiêu diệt cô ấy có gì mà phải khiếp sợ cơ chứ? Ông ngước lên nhìn tôi, và hẳn nhiên đã đọc được sự biến chuyển trên nét mặt tôi, bởi ông bỗng cất giọng với vẻ gần như vui sướng:-
"À, thế là bây giờ anh đã tin rồi sao?"
Tôi đáp: "Giáo sư đừng dồn ép tôi quá đáng cùng một lúc. Tôi sẵn sàng chấp nhận sự thật. Vậy ngài sẽ thực hiện công việc đẫm máu này như thế nào?"
"Tôi sẽ chặt đứt đầu cô ấy, nhét đầy tỏi vào miệng, và sau đó tôi sẽ đóng một chiếc cọc gỗ xuyên qua cơ thể này." Ý nghĩ về việc cắt xẻo thân xác của người phụ nữ mà tôi từng đem lòng yêu thương khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Thế nhưng, cảm giác ấy lại không mãnh liệt như tôi lường trước. Thực tế là, tôi đang bắt đầu run rẩy kinh tởm trước sự hiện diện của cái sinh vật này, của Kẻ Không Chết này, đúng như cách gọi của giáo sư Van Helsing. Phải chăng tình yêu vốn dĩ chỉ là điều chủ quan, hay tất cả đều bị chi phối bởi cái nhìn khách quan?
Tôi đã nán lại khá lâu, chờ đợi giáo sư Van Helsing bắt tay vào việc, nhưng ông chỉ đứng sững ở đó, dường như đang chìm đắm trong những suy tư sâu xa. Chẳng mấy chốc, ông đóng gập chốt chiếc túi xách lại với một tiếng tách sắc gọn, rồi lên tiếng:-
"Tôi vừa suy nghĩ, và đã đi đến quyết định xem điều gì là tốt nhất cho chúng ta lúc này. Nếu chỉ làm theo ý muốn của bản thân, tôi đã lập tức thực hiện những gì cần làm ngay tại đây, ngay lúc này; thế nhưng, vẫn còn đó vô vàn những hệ lụy kéo theo, cùng hàng ngàn nỗi chông gai mà chúng ta chưa thể lường trước. Việc kết liễu này thì đơn giản. Cô ấy vẫn chưa cướp đi sinh mạng của ai, dù đó chỉ là vấn đề thời gian; và nếu hành động ngay lúc này, chúng ta sẽ vĩnh viễn nhổ bỏ được mối họa từ cô ấy. Nhưng về sau, chúng ta có thể sẽ cần đến Arthur, và khi ấy, chúng ta biết ăn nói thế nào với cậu ấy về chuyện này đây? Nếu như anh, người đã tận mắt chứng kiến những vết thương trên cổ Lucy, rồi lại thấy những dấu vết y hệt trên cổ đứa bé ở bệnh viện; nếu như anh, người đã thấy chiếc quan tài trống trơn vào đêm qua và giờ đây lại thấy nó chứa một người phụ nữ không mảy may thối rữa, trái lại còn hồng hào và nhuận sắc hơn sau một tuần bị chôn vùi-nếu anh đã biết ngần ấy chuyện, biết cả việc cái bóng trắng đêm qua đã mang đứa trẻ đến nghĩa địa này, vậy mà từ thâm tâm anh vẫn không chịu tin, thì làm sao tôi có thể hy vọng Arthur, một người hoàn toàn mù tịt về những chuyện quỷ dị này, sẽ tin cho được? Cậu ấy đã từng nghi ngờ khi tôi kéo cậu ấy ra khỏi nụ hôn lúc cô ấy đang hấp hối. Tôi biết cậu ấy đã tha thứ cho tôi, dẫu trong cơn mê muội nào đó, tôi đã ngăn cản cậu ấy nói lời từ biệt cuối cùng; và rồi cậu ấy có thể sẽ nghĩ rằng, trong một sai lầm tồi tệ hơn, người phụ nữ này đã bị chôn sống; và rốt cuộc, trong một sai lầm khủng khiếp nhất, chính chúng ta đã giết cô ấy. Từ đó, cậu ấy sẽ suy diễn ngược lại rằng chính chúng ta, những kẻ lầm lạc, đã bức tử cô ấy bằng mớ lý thuyết điên rồ của mình; và nỗi dằn vặt ấy sẽ đeo bám cậu ấy mãi mãi. Tuy nhiên, cậu ấy sẽ chẳng bao giờ có thể chắc chắn; và đó mới là điều tồi tệ nhất. Rồi thỉnh thoảng, cậu ấy sẽ quặn thắt nghĩ đến cảnh người mình yêu bị chôn sống, nỗi ám ảnh đó sẽ bóp nghẹt những giấc mơ của cậu ấy bằng sự kinh hoàng về những gì cô ấy hẳn đã phải chịu đựng dưới nấm mồ. Và rồi, cậu ấy lại tự nhủ rằng biết đâu chúng ta nói đúng, và người cậu ấy yêu sâu đậm, sau rốt, lại biến thành một Kẻ Không Chết. Không được! Tôi đã nói với cậu ấy một lần, và kể từ đó tôi đã chiêm nghiệm ra nhiều điều. Giờ đây, khi tôi đã tường tận sự thật, tôi càng thấu hiểu gấp ngàn lần rằng cậu ấy phải nếm trải dòng nước đắng cay tột cùng trước khi chạm tay tới sự ngọt ngào. Chàng trai tội nghiệp ấy bắt buộc phải trải qua một thời khắc mà ngay cả bầu trời cũng sụp đổ và đen kịt lại trước mắt cậu; rồi sau đó, chúng ta mới có thể hành động vì lợi ích chung và mang lại cho cậu ấy sự bình yên thanh thản. Tôi đã quyết định rồi. Chúng ta đi thôi. Tối nay, anh hãy trở về nhà thương điên của mình và đảm bảo mọi việc ở đó đều ổn thỏa. Còn tôi, tôi sẽ dành trọn đêm nay tại nghĩa trang này, theo cách của riêng mình. Mười giờ tối mai, anh hãy đến gặp tôi tại Khách sạn Berkeley. Tôi sẽ gửi lời nhắn gọi Arthur đến, và cả chàng thanh niên người Mỹ tuyệt vời đã hiến máu dạo nọ nữa. Sau đó, tất cả chúng ta sẽ có rất nhiều việc phải làm. Tôi sẽ đi cùng anh đến tận Piccadilly6 và dùng bữa tại đó, vì tôi phải quay lại nơi này trước khi mặt trời khuất bóng."
Vậy là chúng tôi khóa kín lăng mộ và rời đi, leo qua bức tường bao quanh nghĩa trang-một việc chẳng mấy khó khăn gì-rồi bước lên xe ngựa hướng về Piccadilly.
Mảnh giấy giáo sư Van Helsing để lại trong túi hành lý tại Khách sạn Berkeley, gửi cho John Seward, Bác sĩ y khoa.
(Không được giao đi.)
"Ngày 27 tháng 9.
"Anh bạn John,-
"Tôi viết lại những dòng này phòng trường hợp có chuyện chẳng lành xảy ra. Tôi đã một mình đến canh gác tại khu nghĩa trang đó. Tôi cảm thấy an lòng vì Kẻ Không Chết-cô Lucy-sẽ không rời đi vào đêm nay, nhờ đó mà vào đêm mai, cô ấy sẽ càng thêm khát máu. Do vậy, tôi sẽ rải một vài thứ mà cô ấy kinh tởm-tỏi và một cây thánh giá-để niêm phong cánh cửa lăng mộ lại. Cô ấy vẫn còn non nớt trong lốt Kẻ Không Chết, và chắc chắn sẽ để tâm đến điều đó. Hơn nữa, những thứ này chỉ có tác dụng ngăn cản cô ấy thoát ra; chúng chưa chắc đã cản được bước chân cô ấy muốn quay vào; vì khi đó, Kẻ Không Chết sẽ rơi vào cơn tuyệt vọng, và buộc phải tìm ra con đường ít chông gai nhất, bất kể đó là gì đi chăng nữa. Tôi sẽ túc trực quanh quẩn gần đó suốt cả đêm, từ lúc hoàng hôn buông xuống cho đến khi bình minh ló rạng, và nếu có bất cứ điều gì cần phải học hỏi, tôi sẽ thâu nhận nó. Về phần cô Lucy hay những gì đến từ cô ấy, tôi không hề e ngại; nhưng kẻ kia, cái kẻ biết rõ cô ấy đã trở thành Kẻ Không Chết, hắn nay có quyền tìm đến lăng mộ của cô ấy để nương náu. Hắn vô cùng quỷ quyệt, tôi đã nhận ra điều đó qua lời kể của ngài Jonathan và qua cách hắn xảo trá lừa gạt chúng ta suốt thời gian qua, khi hắn nhởn nhơ đùa bỡn với sinh mạng của cô Lucy để rồi chúng ta phải nhận lấy thất bại; và bản thân Kẻ Không Chết cũng sở hữu sức mạnh kinh hồn theo nhiều cách. Hắn luôn mang trong mình sức mạnh sánh ngang với hai mươi người đàn ông; ngay cả bốn người chúng ta, những kẻ đã san sẻ chút sức lực cho cô Lucy, nay cũng đều thuộc về hắn. Không chỉ vậy, hắn còn có khả năng triệu hồi lũ sói và những thứ ma quỷ mà tôi chưa hề hay biết. Bởi vậy, nếu đêm nay hắn tìm đến nơi đó, hắn sẽ chạm trán tôi; nhưng ngoài tôi ra sẽ chẳng ai khác tìm thấy-cho đến khi mọi chuyện đã quá muộn. Thế nhưng, cũng rất có thể hắn sẽ chẳng nhắm đến nơi đó làm gì. Hắn hoàn toàn không có lý do để làm vậy; bãi săn trù phú của hắn còn thiếu gì con mồi ngon hơn là cái nghĩa trang nơi một người phụ nữ Không Chết đang yên giấc, và có một ông già lụ khụ đứng canh chừng.
"Vì vậy, tôi viết những dòng này đề phòng bất trắc... Hãy cầm lấy những tài liệu đi kèm với bức thư này, nhật ký của Harker và những thứ còn lại, đọc thật kỹ, rồi đi lùng sục Kẻ Không Chết vĩ đại này. Hãy chặt đầu hắn, thiêu rụi trái tim hắn hoặc đóng một nhát cọc gỗ xuyên thấu nó, để thế giới có thể vĩnh viễn rũ bỏ hắn mà yên nghỉ.
"Nếu định mệnh đã an bài, xin gửi lời từ biệt.
"Van Helsing."
Nhật ký của Bác sĩ Seward.
Ngày 28 tháng 9.-Một giấc ngủ ngon quả thực mang lại phép màu. Mới hôm qua, tôi dường như đã xiêu lòng trước những huyễn hoặc kỳ quái của giáo sư Van Helsing; nhưng lúc này đây, những suy nghĩ ấy lại chồm lên đầy rùng rợn, như một sự chà đạp trắng trợn lên lẽ thường. Tôi chẳng mảy may nghi ngờ việc ông ấy đặt trọn niềm tin vào những điều đó. Liệu tâm trí ông ấy có đang chông chênh, trật nhịp ở một góc khuất nào chăng? Chắc chắn phải có một vài lời giải thích duy lý nào đó cho toàn bộ bức màn sương mù này. Lẽ nào, chính bàn tay vị giáo sư đã dàn xếp mọi chuyện? Trí tuệ của ông ấy siêu phàm đến mức, giả như có phát điên, ông ấy vẫn dư sức thi triển những ý niệm ám ảnh trong đầu một cách tài tình, hoàn mĩ nhất. Thâm tâm tôi không hề muốn mường tượng ra viễn cảnh đó, và quả thực, nếu khám phá ra giáo sư Van Helsing đã hóa điên, thì điều đó cũng chấn động chẳng kém gì phép màu; nhưng dù thế nào, tôi cũng phải âm thầm để mắt đến ông ấy. Biết đâu tôi sẽ rọi được chút ánh sáng vào hố sâu bí ẩn này.
Ngày 29 tháng 9, buổi sáng.... Đêm qua, khi đồng hồ điểm gần mười giờ, Arthur và Quincey đã có mặt tại phòng giáo sư Van Helsing. Ông giãi bày cặn kẽ những dự định sắp tới, nhưng ánh mắt ông lại ghim chặt lấy Arthur, tựa hồ dồn toàn bộ tâm nguyện của chúng tôi vào cậu ấy. Giáo sư mở lời bằng hy vọng tất cả sẽ kề vai sát cánh cùng ông, "Bởi vì," ông trầm giọng, "ở đó đang chờ đợi một sứ mệnh vô cùng trọng đại. Chắc hẳn các cậu đã rất sửng sốt khi nhận được lá thư của ta?" Câu hỏi ấy xoáy thẳng vào Ngài Godalming.
"Đúng là như vậy. Lá thư đã làm tôi xáo động đôi chút. Gia đình tôi dạo này đã trải qua quá đủ tang thương rồi, tôi chẳng thiết tha đèo bòng thêm bất cứ rắc rối nào nữa. Dù vậy, tôi vẫn tò muốn biết ngài định ám chỉ điều gì. Tôi cùng Quincey đã mổ xẻ vấn đề này; ngặt nỗi càng bàn, mớ bòng bong càng thêm rối rắm. Giờ thì tôi xin nói thẳng, bản thân tôi hoàn toàn mờ mịt, chẳng thể vớt vát nổi một tia sáng nào từ những lời lẽ của ngài."
"Tôi cũng thế," Quincey Morris buông một câu gọn lỏn.
"Ồ," giáo sư thốt lên, "nếu vậy thì hai cậu vẫn đang đứng gần vạch xuất phát hơn là anh bạn hiền John ở đây. Cậu ấy đã phải chật vật lê bước thụt lùi một quãng rất xa, trước khi có thể rảo bước đến vạch khởi đầu."
Hiển nhiên, chẳng cần tôi phải hé răng nửa lời, ông cũng thấu tỏ trạng thái hoài nghi cố hữu đang trỗi dậy trong tôi. Đoạn, ông quay sang hai người kia, nét mặt đanh lại đầy nghiêm trọng:-
"Tôi muốn xin phép các cậu được thực thi những điều mà tôi cho là đúng đắn vào đêm nay. Tôi thừa hiểu đó là một đòi hỏi vô cùng táo bạo; nhưng chỉ khi tường tận ý định của ta, các cậu mới thấu hiểu mức độ hệ trọng của nó. Vì lẽ đó, ta xin các cậu hãy trao cho ta một lời thề son sắt, dẫu chẳng thấy đường đi nước bước ra sao. Để rồi sau này, dù các cậu có phẫn nộ với ta một thời gian-ta tuyệt nhiên không được giấu giếm khả năng ấy-thì các cậu cũng sẽ không dằn vặt bản thân về bất cứ điều gì."
"Ít ra thì ngài cũng thẳng thắn," Quincey chêm vào. "Tôi sẽ lên tiếng thay cho giáo sư. Mặc dù chưa tường tận ngụ ý của ngài, nhưng tôi dám cược ngài hoàn toàn chân thật; và đối với tôi, như thế là quá đủ."
"Tôi thành thật cảm ơn ngài, thưa ngài," giáo sư Van Helsing cất giọng tự hào. "Được xem ngài như một người bạn tri kỷ là một niềm vinh dự lớn lao; và lời bảo chứng ấy vô cùng trân quý đối với tôi." Ông chìa tay ra, và Quincey siết chặt lấy.
Liền sau đó, Arthur cất lời:-
"Giáo sư Van Helsing, người Scotland có câu 'chớ mua mèo trong bao7', và quả thực tôi rất ghét điều đó. Nếu dự định của ông có mảy may đụng chạm đến danh dự của một quý ông hay đức tin của một tín đồ Cơ đốc, thì tôi tuyệt đối không thể nhắm mắt đưa ra lời hứa hẹn. Nhưng nếu ông dám cam đoan những hành động sắp tới không dẫm đạp lên hai điều thiêng liêng ấy, tôi sẵn sàng gật đầu tắp lự; dẫu có đánh chết tôi cũng chẳng thể dò đoán nổi ông đang rắp tâm chuyện gì."
"Tôi chấp nhận giới hạn của cậu," giáo sư Van Helsing điềm tĩnh đáp, "và tất cả những gì ta kỳ vọng là: nếu cậu thấy cần thiết phải lên án bất cứ hành động nào của ta, xin hãy suy xét thật thấu đáo; để rồi chính cậu phải tự thuyết phục bản thân rằng ta chưa hề bước qua ranh giới mà cậu vừa vạch ra."
"Thỏa thuận vậy đi!" Arthur gật đầu; "Nhưng mọi thứ phải sòng phẳng. Giờ thì các cuộc đàm phán đã ngã ngũ, tôi có thể mạn phép hỏi chúng ta sẽ tiến hành việc gì không?"
"Tôi muốn các cậu bám gót theo ta, trong bóng tối tĩnh lặng tuyệt đối, tiến thẳng đến nghĩa trang Kingstead8."
Khuôn mặt Arthur sầm lại. Cậu thảng thốt bật thốt:-
"Nơi an nghỉ của Lucy đáng thương sao?" Vị giáo sư khẽ gật đầu. Arthur dồn ép: "Và khi đến đó thì sao nữa?"
"Chúng ta sẽ bước vào lăng mộ!" Arthur giật nảy mình đứng phắt dậy.
"Giáo sư, ông nghiêm túc chứ? Hay đó chỉ là một trò đùa bệnh hoạn? Ồ không, xin thứ lỗi, tôi thấy ông đang nói thật." Cậu lại thả người xuống ghế, nhưng tôi có thể nhận ra một tư thế vững chãi, ngạo nghễ, tựa hồ một con người quyết giữ gìn phẩm giá đến cùng. Bầu không khí quánh đặc sự câm lặng cho đến khi cậu lại cất lời:-
"Và khi đã ở trong lăng mộ?"
"Chúng ta sẽ bật nắp quan tài."
"Quá quắt lắm rồi!" Cậu tức giận bật tung người lên một lần nữa. "Tôi có thể cắn răng nhẫn nhịn mọi việc trên đời, miễn là nó hợp lý; nhưng chuyện này-cái trò báng bổ lăng mộ này-đối với một người mà--" Cuộn trào phẫn nộ, cậu nghẹn họng không thốt nên lời. Vị giáo sư nhìn cậu với ánh mắt chan chứa xót xa.
"Nếu ta có thể gánh thay cậu nỗi đau xé lòng này, hỡi người bạn đáng thương," ông xoa dịu, "Có Chúa thấu tỏ, ta sẵn sàng làm ngay. Nhưng đêm nay, đôi chân chúng ta bắt buộc phải giẫm lên vạn nẻo chông gai; nếu không, đôi gót ngà mà cậu hằng yêu dấu sẽ mãi mãi phải đọa đày trên con đường rực lửa!"
Arthur ngước nhìn ông, khuôn mặt cậu tái nhợt, lạnh băng:-
"Cẩn thận đấy, thưa giáo sư, hãy uốn lưỡi cho kỹ!"
"Chẳng phải sẽ khôn ngoan hơn nếu cậu bình tâm lắng nghe những gì ta sắp nói sao?" Giáo sư Van Helsing đáp lời. "Ít ra, cậu sẽ thấu đáo đâu là giới hạn trong mục đích của ta. Ta tiếp tục được chứ?"
"Hoàn toàn công bằng," Morris lại chêm vào.
Quãng lặng nặng nề trôi qua, giáo sư Van Helsing lại cất lời, rõ ràng là phải gắng gượng muôn phần:-
"Cô Lucy đã chết; chẳng phải vậy sao? Phải! Vậy thì mọi chuyện xảy đến với cô ấy chẳng thể gọi là sai trái nữa. Nhưng giả dụ như cô ấy vẫn chưa chết--"
Arthur giật nảy người.
"Lạy Chúa toàn năng!" Cậu hét lên. "Ông định ám chỉ điều gì? Liệu có nhầm lẫn nào chăng; có phải cô ấy đã bị chôn sống?" Cậu rên rỉ trong tột cùng thống khổ, một nỗi giằng xé mà dẫu là tia hy vọng mong manh nhất cũng chẳng tài nào xoa dịu.
"Ta không hề nói rằng cô ấy còn sống, cậu bé của ta; ta không nghĩ vậy. Ta chỉ dám quả quyết một điều: rất có thể, cô ấy đang là Kẻ Không Chết."
"Kẻ Không Chết! Không còn sống! Ý ông là sao? Phải chăng đây là một cơn ác mộng, hay là cái thứ quái quỷ gì vậy?"
"Có những bí ẩn mà phàm nhân chỉ dám lờ mờ phỏng đoán, những bí ẩn mà lớp lớp thế hệ đi qua mới có thể phần nào hé mở. Hãy tin ta, chúng ta đang lơ lửng ngay trên bờ vực của một điều huyễn hoặc như thế. Nhưng ta vẫn chưa dứt lời. Liệu ta có thể chặt đứt đầu cô Lucy đã khuất không?"
"Trời đất ơi, không đời nào!" Arthur gầm lên trong cơn bão cuồng nộ. "Dẫu có đổi lấy cả thế giới bao la này, tôi cũng không bao giờ dung túng cho bất kỳ sự cắt xén nào trên thi thể của cô ấy. Giáo sư Van Helsing, ông đã ép tôi đến bước đường cùng rồi đấy. Tôi đã gây thù chuốc oán gì mà ông lại đang tâm tra tấn tôi nhường này? Người con gái tội nghiệp, ngọt ngào đó đã phạm tội tình gì mà ông lại muốn phủ bóng đen ô nhục lên nơi an nghỉ của nàng? Ông đã hóa điên nên mới tuôn ra những lời man dại, hay chính tôi đã điên nên mới lọt tai những thứ đó? Đừng hòng mơ tưởng thêm về một sự báng bổ động trời như thế; tôi sẽ không dung thứ cho bất cứ hành động nào của ông. Tôi mang trọng trách bảo vệ lăng mộ của cô ấy khỏi những bàn tay nhơ bẩn; và, có Chúa chứng giám, tôi thề sẽ làm bằng được!"
Giáo sư Van Helsing đứng phắt dậy từ chiếc ghế ông ngồi nãy giờ. Cả người ông toát ra vẻ nghiêm trang và kiên quyết tột độ:-
"Thưa Ngài Godalming, tôi cũng gánh trên vai một bổn phận phải hoàn thành, một bổn phận với những người ở lại, một bổn phận với ngài, và cả một bổn phận với người đã khuất; và, có Chúa chứng giám, tôi sẽ làm đến cùng! Tất cả những gì tôi khẩn cầu ngài lúc này là: xin hãy đồng hành cùng tôi, xin hãy căng mắt ra nhìn và dỏng tai lên nghe; để rồi lát nữa thôi, nếu tôi lặp lại lời thỉnh cầu này mà ngài chẳng mảy may khao khát được thực thi nó-thậm chí còn mãnh liệt hơn cả tôi-thì... thì tôi sẽ tự tay gánh vác sứ mệnh của mình, dẫu nó có giày vò tôi đến nhường nào. Và sau đó, để thuận theo ý nguyện của Ngài, tôi xin giao nộp bản thân mình cho ngài định đoạt, tôi sẵn sàng trần tình bất cứ khi nào và ở bất cứ nơi đâu ngài muốn." Giọng ông nghẹn lại, lạc đi đôi chút, rồi ông tiếp tục bằng một âm sắc chan chứa xót xa:-
"Nhưng, ta cầu xin cậu, đừng quay lưng rời đi với bầu máu nóng hậm hực. Trải qua một cuộc đời đằng đẵng với muôn vàn quyết định chẳng mấy êm ả, những quyết định nhiều lúc khiến trái tim ta rỉ máu, ta chưa từng oằn mình dưới một trọng trách nào cay đắng như lúc này. Tin ta đi, nếu đến lúc cậu gột rửa định kiến về ta, chỉ một ánh nhìn thấu cảm từ cậu cũng đủ sức cuốn trôi đi cả giờ phút xót xa u ám này, bởi ta sẽ vắt kiệt sức lực của một người đàn ông để kéo cậu thoát khỏi hố sâu tuyệt vọng. Hãy thử ngẫm mà xem. Cớ sự gì mà ta lại tự chuốc lấy ngần ấy nhọc nhằn, ngần ấy muộn phiền vào thân? Ta lặn lội từ quê hương xa xôi dấn bước đến đây, cốt để dâng hiến những gì tinh túy nhất; ban đầu là vì tình bằng hữu với người bạn John của ta, và sau đó, là để dang tay cứu rỗi một thiếu nữ ngọt ngào, người mà ta cũng trót dành trọn lòng thương mến. Vì cô ấy-ta thấy thật hổ thẹn khi phải giãi bày cặn kẽ nhường này, nhưng ta đang thốt lên từ tận đáy lòng tử tế-ta đã trao đi hệt như những gì cậu từng trao; từng giọt máu rần rật trong huyết quản; ta đã dâng hiến chúng, dẫu ta nào phải là nhân tình của cô ấy như cậu, mà chỉ đơn thuần là một vị bác sĩ, một người bạn vong niên. Ta đã đánh đổi cả ngày lẫn đêm vì cô ấy-khi cô ấy còn thở, và cả khi cô ấy nhắm mắt xuôi tay; và nếu như cái chết của ta có thể mang lại phép màu nào đó cho cô ấy ngay lúc này, khi cô ấy đang đọa đày trong kiếp Kẻ Không Chết, thì cô ấy sẽ có được mạng sống này một cách hoàn toàn tự nguyện." Ông buông những lời ấy với một niềm tự hào thiêng liêng, ngọt ngào đến nghẹn ngào, khiến Arthur chấn động tâm can. Cậu run rẩy nắm lấy bàn tay gân guốc của ông lão, thốt lên bằng một giọng đứt quãng:-
"Ôi, thật quá đỗi kinh hoàng để mường tượng, và tôi hoàn toàn chẳng thấu hiểu nổi; nhưng ít nhất... tôi sẽ bám gót theo giáo sư và chờ đợi."
-
Ám chỉ Lord Byron (1788-1824), nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của nước Anh. 'Cách ví von phân loại' nhắc đến kiểu nhân vật 'Byronic hero' thường u uất, bị giày vò bởi tội lỗi hoặc những đam mê tối tăm, mãnh liệt. ↩
-
Loài dơi hút máu có thật ở châu Mỹ được đặt tên là 'vampire bat' dựa trên truyền thuyết ma cà rồng châu Âu. Tác giả Bram Stoker đã mượn hình ảnh loài dơi này để tạo nên sự liên kết với ác quỷ Dracula. ↩
-
Jack Straw's Castle là một quán trọ lịch sử nổi tiếng từng nằm ở khu vực Hampstead Heath của London. Tên quán được đặt theo tên của Jack Straw, một thủ lĩnh trong Cuộc nổi dậy của nông dân Anh năm 1381. ↩
-
Spaniards Inn là một trong những quán rượu lâu đời nhất ở London, nằm ngay sát khu đồng hoang Hampstead Heath. Nơi đây từng là điểm dừng chân quen thuộc của nhiều nhà văn thời Victoria. ↩
-
Thuật ngữ 'Un-Dead' do chính tác giả Bram Stoker sáng tạo để mô tả ma cà rồng: những thi thể không bao giờ phân hủy và duy trì sự sống quỷ dị nhờ hút máu. 'The Un-Dead' cũng từng là tựa đề dự kiến của tác phẩm trước khi được đổi thành Dracula. ↩
-
Một con đường huyết mạch sầm uất bậc nhất ở trung tâm London, nơi quy tụ nhiều khách sạn, câu lạc bộ, cửa hàng sang trọng và là biểu tượng cho lối sống nhộn nhịp của tầng lớp thượng lưu Anh Quốc thời bấy giờ. ↩
-
Nguyên gốc là thành ngữ tiếng Anh 'buying a pig in a poke' (mua lợn trong bao) nghĩa là chấp nhận một thỏa thuận mà không cần xem xét kỹ trước. Bản dịch đã chuyển ngữ thành 'mèo trong bao' cho gần gũi với thành ngữ Việt Nam. ↩
-
Một nghĩa trang hư cấu trong tiểu thuyết, được tác giả tạo ra dựa trên cảm hứng từ Nghĩa trang Highgate nổi tiếng ở London, nơi mang đậm không khí u ám với những lăng mộ kiến trúc Gothic. ↩
CHAPTER XV DR. SEWARD’S DIARY-continued.
FOR a while sheer anger mastered me; it was as if he had during her life struck Lucy on the face. I smote the table hard and rose up as I said to him:-
“Dr. Van Helsing, are you mad?” He raised his head and looked at me, and somehow the tenderness of his face calmed me at once. “Would I were!” he said. “Madness were easy to bear compared with truth like this. Oh, my friend, why, think you, did I go so far round, why take so long to tell you so simple a thing? Was it because I hate you and have hated you all my life? Was it because I wished to give you pain? Was it that I wanted, now so late, revenge for that time when you saved my life, and from a fearful death? Ah no!”
“Forgive me,” said I. He went on:-
“My friend, it was because I wished to be gentle in the breaking to you, for I know you have loved that so sweet lady. But even yet I do not expect you to believe. It is so hard to accept at once any abstract truth, that we may doubt such to be possible when we have always believed the ‘no’ of it; it is more hard still to accept so sad a concrete truth, and of such a one as Miss Lucy. To-night I go to prove it. Dare you come with me?”
This staggered me. A man does not like to prove such a truth; Byron excepted from the category, jealousy.
“And prove the very truth he most abhorred.”
He saw my hesitation, and spoke:-
“The logic is simple, no madman’s logic this time, jumping from tussock to tussock in a misty bog. If it be not true, then proof will be relief; at worst it will not harm. If it be true! Ah, there is the dread; yet very dread should help my cause, for in it is some need of belief. Come, I tell you what I propose: first, that we go off now and see that child in the hospital. Dr. Vincent, of the North Hospital, where the papers say the child is, is friend of mine, and I think of yours since you were in class at Amsterdam. He will let two scientists see his case, if he will not let two friends. We shall tell him nothing, but only that we wish to learn. And then--”
“And then?” He took a key from his pocket and held it up. “And then we spend the night, you and I, in the churchyard where Lucy lies. This is the key that lock the tomb. I had it from the coffin-man to give to Arthur.” My heart sank within me, for I felt that there was some fearful ordeal before us. I could do nothing, however, so I plucked up what heart I could and said that we had better hasten, as the afternoon was passing....
We found the child awake. It had had a sleep and taken some food, and altogether was going on well. Dr. Vincent took the bandage from its throat, and showed us the punctures. There was no mistaking the similarity to those which had been on Lucy’s throat. They were smaller, and the edges looked fresher; that was all. We asked Vincent to what he attributed them, and he replied that it must have been a bite of some animal, perhaps a rat; but, for his own part, he was inclined to think that it was one of the bats which are so numerous on the northern heights of London. “Out of so many harmless ones,” he said, “there may be some wild specimen from the South of a more malignant species. Some sailor may have brought one home, and it managed to escape; or even from the Zoölogical Gardens a young one may have got loose, or one be bred there from a vampire. These things do occur, you know. Only ten days ago a wolf got out, and was, I believe, traced up in this direction. For a week after, the children were playing nothing but Red Riding Hood on the Heath and in every alley in the place until this ‘bloofer lady’ scare came along, since when it has been quite a gala-time with them. Even this poor little mite, when he woke up to-day, asked the nurse if he might go away. When she asked him why he wanted to go, he said he wanted to play with the ‘bloofer lady.’”
“I hope,” said Van Helsing, “that when you are sending the child home you will caution its parents to keep strict watch over it. These fancies to stray are most dangerous; and if the child were to remain out another night, it would probably be fatal. But in any case I suppose you will not let it away for some days?”
“Certainly not, not for a week at least; longer if the wound is not healed.”
Our visit to the hospital took more time than we had reckoned on, and the sun had dipped before we came out. When Van Helsing saw how dark it was, he said:-
“There is no hurry. It is more late than I thought. Come, let us seek somewhere that we may eat, and then we shall go on our way.”
We dined at “Jack Straw’s Castle” along with a little crowd of bicyclists and others who were genially noisy. About ten o’clock we started from the inn. It was then very dark, and the scattered lamps made the darkness greater when we were once outside their individual radius. The Professor had evidently noted the road we were to go, for he went on unhesitatingly; but, as for me, I was in quite a mixup as to locality. As we went further, we met fewer and fewer people, till at last we were somewhat surprised when we met even the patrol of horse police going their usual suburban round. At last we reached the wall of the churchyard, which we climbed over. With some little difficulty-for it was very dark, and the whole place seemed so strange to us-we found the Westenra tomb. The Professor took the key, opened the creaky door, and standing back, politely, but quite unconsciously, motioned me to precede him. There was a delicious irony in the offer, in the courtliness of giving preference on such a ghastly occasion. My companion followed me quickly, and cautiously drew the door to, after carefully ascertaining that the lock was a falling, and not a spring, one. In the latter case we should have been in a bad plight. Then he fumbled in his bag, and taking out a matchbox and a piece of candle, proceeded to make a light. The tomb in the day-time, and when wreathed with fresh flowers, had looked grim and gruesome enough; but now, some days afterwards, when the flowers hung lank and dead, their whites turning to rust and their greens to browns; when the spider and the beetle had resumed their accustomed dominance; when time-discoloured stone, and dust-encrusted mortar, and rusty, dank iron, and tarnished brass, and clouded silver-plating gave back the feeble glimmer of a candle, the effect was more miserable and sordid than could have been imagined. It conveyed irresistibly the idea that life-animal life-was not the only thing which could pass away.
Van Helsing went about his work systematically. Holding his candle so that he could read the coffin plates, and so holding it that the sperm dropped in white patches which congealed as they touched the metal, he made assurance of Lucy’s coffin. Another search in his bag, and he took out a turnscrew.
“What are you going to do?” I asked.
“To open the coffin. You shall yet be convinced.” Straightway he began taking out the screws, and finally lifted off the lid, showing the casing of lead beneath. The sight was almost too much for me. It seemed to be as much an affront to the dead as it would have been to have stripped off her clothing in her sleep whilst living; I actually took hold of his hand to stop him. He only said: “You shall see,” and again fumbling in his bag, took out a tiny fret-saw. Striking the turnscrew through the lead with a swift downward stab, which made me wince, he made a small hole, which was, however, big enough to admit the point of the saw. I had expected a rush of gas from the week-old corpse. We doctors, who have had to study our dangers, have to become accustomed to such things, and I drew back towards the door. But the Professor never stopped for a moment; he sawed down a couple of feet along one side of the lead coffin, and then across, and down the other side. Taking the edge of the loose flange, he bent it back towards the foot of the coffin, and holding up the candle into the aperture, motioned to me to look.
I drew near and looked. The coffin was empty.
It was certainly a surprise to me, and gave me a considerable shock, but Van Helsing was unmoved. He was now more sure than ever of his ground, and so emboldened to proceed in his task. “Are you satisfied now, friend John?” he asked.
I felt all the dogged argumentativeness of my nature awake within me as I answered him:-
“I am satisfied that Lucy’s body is not in that coffin; but that only proves one thing.”
“And what is that, friend John?”
“That it is not there.”
“That is good logic,” he said, “so far as it goes. But how do you-how can you-account for it not being there?”
“Perhaps a body-snatcher,” I suggested. “Some of the undertaker’s people may have stolen it.” I felt that I was speaking folly, and yet it was the only real cause which I could suggest. The Professor sighed. “Ah well!” he said, “we must have more proof. Come with me.”
He put on the coffin-lid again, gathered up all his things and placed them in the bag, blew out the light, and placed the candle also in the bag. We opened the door, and went out. Behind us he closed the door and locked it. He handed me the key, saying: “Will you keep it? You had better be assured.” I laughed-it was not a very cheerful laugh, I am bound to say-as I motioned him to keep it. “A key is nothing,” I said; “there may be duplicates; and anyhow it is not difficult to pick a lock of that kind.” He said nothing, but put the key in his pocket. Then he told me to watch at one side of the churchyard whilst he would watch at the other. I took up my place behind a yew-tree, and I saw his dark figure move until the intervening headstones and trees hid it from my sight.
It was a lonely vigil. Just after I had taken my place I heard a distant clock strike twelve, and in time came one and two. I was chilled and unnerved, and angry with the Professor for taking me on such an errand and with myself for coming. I was too cold and too sleepy to be keenly observant, and not sleepy enough to betray my trust so altogether I had a dreary, miserable time.
Suddenly, as I turned round, I thought I saw something like a white streak, moving between two dark yew-trees at the side of the churchyard farthest from the tomb; at the same time a dark mass moved from the Professor’s side of the ground, and hurriedly went towards it. Then I too moved; but I had to go round headstones and railed-off tombs, and I stumbled over graves. The sky was overcast, and somewhere far off an early cock crew. A little way off, beyond a line of scattered juniper-trees, which marked the pathway to the church, a white, dim figure flitted in the direction of the tomb. The tomb itself was hidden by trees, and I could not see where the figure disappeared. I heard the rustle of actual movement where I had first seen the white figure, and coming over, found the Professor holding in his arms a tiny child. When he saw me he held it out to me, and said:-
“Are you satisfied now?”
“No,” I said, in a way that I felt was aggressive.
“Do you not see the child?”
“Yes, it is a child, but who brought it here? And is it wounded?” I asked.
“We shall see,” said the Professor, and with one impulse we took our way out of the churchyard, he carrying the sleeping child.
When we had got some little distance away, we went into a clump of trees, and struck a match, and looked at the child’s throat. It was without a scratch or scar of any kind.
“Was I right?” I asked triumphantly.
“We were just in time,” said the Professor thankfully.
We had now to decide what we were to do with the child, and so consulted about it. If we were to take it to a police-station we should have to give some account of our movements during the night; at least, we should have had to make some statement as to how we had come to find the child. So finally we decided that we would take it to the Heath, and when we heard a policeman coming, would leave it where he could not fail to find it; we would then seek our way home as quickly as we could. All fell out well. At the edge of Hampstead Heath we heard a policeman’s heavy tramp, and laying the child on the pathway, we waited and watched until he saw it as he flashed his lantern to and fro. We heard his exclamation of astonishment, and then we went away silently. By good chance we got a cab near the “Spaniards,” and drove to town.
I cannot sleep, so I make this entry. But I must try to get a few hours’ sleep, as Van Helsing is to call for me at noon. He insists that I shall go with him on another expedition.
27 September.-It was two o’clock before we found a suitable opportunity for our attempt. The funeral held at noon was all completed, and the last stragglers of the mourners had taken themselves lazily away, when, looking carefully from behind a clump of alder-trees, we saw the sexton lock the gate after him. We knew then that we were safe till morning did we desire it; but the Professor told me that we should not want more than an hour at most. Again I felt that horrid sense of the reality of things, in which any effort of imagination seemed out of place; and I realised distinctly the perils of the law which we were incurring in our unhallowed work. Besides, I felt it was all so useless. Outrageous as it was to open a leaden coffin, to see if a woman dead nearly a week were really dead, it now seemed the height of folly to open the tomb again, when we knew, from the evidence of our own eyesight, that the coffin was empty. I shrugged my shoulders, however, and rested silent, for Van Helsing had a way of going on his own road, no matter who remonstrated. He took the key, opened the vault, and again courteously motioned me to precede. The place was not so gruesome as last night, but oh, how unutterably mean-looking when the sunshine streamed in. Van Helsing walked over to Lucy’s coffin, and I followed. He bent over and again forced back the leaden flange; and then a shock of surprise and dismay shot through me.
There lay Lucy, seemingly just as we had seen her the night before her funeral. She was, if possible, more radiantly beautiful than ever; and I could not believe that she was dead. The lips were red, nay redder than before; and on the cheeks was a delicate bloom.
“Is this a juggle?” I said to him.
“Are you convinced now?” said the Professor in response, and as he spoke he put over his hand, and in a way that made me shudder, pulled back the dead lips and showed the white teeth.
“See,” he went on, “see, they are even sharper than before. With this and this”-and he touched one of the canine teeth and that below it-“the little children can be bitten. Are you of belief now, friend John?” Once more, argumentative hostility woke within me. I could not accept such an overwhelming idea as he suggested; so, with an attempt to argue of which I was even at the moment ashamed, I said:-
“She may have been placed here since last night.”
“Indeed? That is so, and by whom?”
“I do not know. Some one has done it.”
“And yet she has been dead one week. Most peoples in that time would not look so.” I had no answer for this, so was silent. Van Helsing did not seem to notice my silence; at any rate, he showed neither chagrin nor triumph. He was looking intently at the face of the dead woman, raising the eyelids and looking at the eyes, and once more opening the lips and examining the teeth. Then he turned to me and said:-
“Here, there is one thing which is different from all recorded; here is some dual life that is not as the common. She was bitten by the vampire when she was in a trance, sleep-walking-oh, you start; you do not know that, friend John, but you shall know it all later-and in trance could he best come to take more blood. In trance she died, and in trance she is Un-Dead, too. So it is that she differ from all other. Usually when the Un-Dead sleep at home”-as he spoke he made a comprehensive sweep of his arm to designate what to a vampire was “home”-“their face show what they are, but this so sweet that was when she not Un-Dead she go back to the nothings of the common dead. There is no malign there, see, and so it make hard that I must kill her in her sleep.” This turned my blood cold, and it began to dawn upon me that I was accepting Van Helsing’s theories; but if she were really dead, what was there of terror in the idea of killing her? He looked up at me, and evidently saw the change in my face, for he said almost joyously:-
“Ah, you believe now?”
I answered: “Do not press me too hard all at once. I am willing to accept. How will you do this bloody work?”
“I shall cut off her head and fill her mouth with garlic, and I shall drive a stake through her body.” It made me shudder to think of so mutilating the body of the woman whom I had loved. And yet the feeling was not so strong as I had expected. I was, in fact, beginning to shudder at the presence of this being, this Un-Dead, as Van Helsing called it, and to loathe it. Is it possible that love is all subjective, or all objective?
I waited a considerable time for Van Helsing to begin, but he stood as if wrapped in thought. Presently he closed the catch of his bag with a snap, and said:-
“I have been thinking, and have made up my mind as to what is best. If I did simply follow my inclining I would do now, at this moment, what is to be done; but there are other things to follow, and things that are thousand times more difficult in that them we do not know. This is simple. She have yet no life taken, though that is of time; and to act now would be to take danger from her for ever. But then we may have to want Arthur, and how shall we tell him of this? If you, who saw the wounds on Lucy’s throat, and saw the wounds so similar on the child’s at the hospital; if you, who saw the coffin empty last night and full to-day with a woman who have not change only to be more rose and more beautiful in a whole week, after she die-if you know of this and know of the white figure last night that brought the child to the churchyard, and yet of your own senses you did not believe, how, then, can I expect Arthur, who know none of those things, to believe? He doubted me when I took him from her kiss when she was dying. I know he has forgiven me because in some mistaken idea I have done things that prevent him say good-bye as he ought; and he may think that in some more mistaken idea this woman was buried alive; and that in most mistake of all we have killed her. He will then argue back that it is we, mistaken ones, that have killed her by our ideas; and so he will be much unhappy always. Yet he never can be sure; and that is the worst of all. And he will sometimes think that she he loved was buried alive, and that will paint his dreams with horrors of what she must have suffered; and again, he will think that we may be right, and that his so beloved was, after all, an Un-Dead. No! I told him once, and since then I learn much. Now, since I know it is all true, a hundred thousand times more do I know that he must pass through the bitter waters to reach the sweet. He, poor fellow, must have one hour that will make the very face of heaven grow black to him; then we can act for good all round and send him peace. My mind is made up. Let us go. You return home for to-night to your asylum, and see that all be well. As for me, I shall spend the night here in this churchyard in my own way. To-morrow night you will come to me to the Berkeley Hotel at ten of the clock. I shall send for Arthur to come too, and also that so fine young man of America that gave his blood. Later we shall all have work to do. I come with you so far as Piccadilly and there dine, for I must be back here before the sun set.”
So we locked the tomb and came away, and got over the wall of the churchyard, which was not much of a task, and drove back to Piccadilly.
Note left by Van Helsing in his portmanteau, Berkeley Hotel directed to John Seward, M. D.
(Not delivered.)
“27 September.
“Friend John,-
“I write this in case anything should happen. I go alone to watch in that churchyard. It pleases me that the Un-Dead, Miss Lucy, shall not leave to-night, that so on the morrow night she may be more eager. Therefore I shall fix some things she like not-garlic and a crucifix-and so seal up the door of the tomb. She is young as Un-Dead, and will heed. Moreover, these are only to prevent her coming out; they may not prevail on her wanting to get in; for then the Un-Dead is desperate, and must find the line of least resistance, whatsoever it may be. I shall be at hand all the night from sunset till after the sunrise, and if there be aught that may be learned I shall learn it. For Miss Lucy or from her, I have no fear; but that other to whom is there that she is Un-Dead, he have now the power to seek her tomb and find shelter. He is cunning, as I know from Mr. Jonathan and from the way that all along he have fooled us when he played with us for Miss Lucy’s life, and we lost; and in many ways the Un-Dead are strong. He have always the strength in his hand of twenty men; even we four who gave our strength to Miss Lucy it also is all to him. Besides, he can summon his wolf and I know not what. So if it be that he come thither on this night he shall find me; but none other shall-until it be too late. But it may be that he will not attempt the place. There is no reason why he should; his hunting ground is more full of game than the churchyard where the Un-Dead woman sleep, and the one old man watch.
“Therefore I write this in case.... Take the papers that are with this, the diaries of Harker and the rest, and read them, and then find this great Un-Dead, and cut off his head and burn his heart or drive a stake through it, so that the world may rest from him.
“If it be so, farewell.
“Van Helsing.”
Dr. Seward’s Diary.
28 September.-It is wonderful what a good night’s sleep will do for one. Yesterday I was almost willing to accept Van Helsing’s monstrous ideas; but now they seem to start out lurid before me as outrages on common sense. I have no doubt that he believes it all. I wonder if his mind can have become in any way unhinged. Surely there must be some rational explanation of all these mysterious things. Is it possible that the Professor can have done it himself? He is so abnormally clever that if he went off his head he would carry out his intent with regard to some fixed idea in a wonderful way. I am loath to think it, and indeed it would be almost as great a marvel as the other to find that Van Helsing was mad; but anyhow I shall watch him carefully. I may get some light on the mystery.
29 September, morning..... Last night, at a little before ten o’clock, Arthur and Quincey came into Van Helsing’s room; he told us all that he wanted us to do, but especially addressing himself to Arthur, as if all our wills were centred in his. He began by saying that he hoped we would all come with him too, “for,” he said, “there is a grave duty to be done there. You were doubtless surprised at my letter?” This query was directly addressed to Lord Godalming.
“I was. It rather upset me for a bit. There has been so much trouble around my house of late that I could do without any more. I have been curious, too, as to what you mean. Quincey and I talked it over; but the more we talked, the more puzzled we got, till now I can say for myself that I’m about up a tree as to any meaning about anything.”
“Me too,” said Quincey Morris laconically.
“Oh,” said the Professor, “then you are nearer the beginning, both of you, than friend John here, who has to go a long way back before he can even get so far as to begin.”
It was evident that he recognised my return to my old doubting frame of mind without my saying a word. Then, turning to the other two, he said with intense gravity:-
“I want your permission to do what I think good this night. It is, I know, much to ask; and when you know what it is I propose to do you will know, and only then, how much. Therefore may I ask that you promise me in the dark, so that afterwards, though you may be angry with me for a time-I must not disguise from myself the possibility that such may be-you shall not blame yourselves for anything.”
“That’s frank anyhow,” broke in Quincey. “I’ll answer for the Professor. I don’t quite see his drift, but I swear he’s honest; and that’s good enough for me.”
“I thank you, sir,” said Van Helsing proudly. “I have done myself the honour of counting you one trusting friend, and such endorsement is dear to me.” He held out a hand, which Quincey took.
Then Arthur spoke out:-
“Dr. Van Helsing, I don’t quite like to ‘buy a pig in a poke,’ as they say in Scotland, and if it be anything in which my honour as a gentleman or my faith as a Christian is concerned, I cannot make such a promise. If you can assure me that what you intend does not violate either of these two, then I give my consent at once; though for the life of me, I cannot understand what you are driving at.”
“I accept your limitation,” said Van Helsing, “and all I ask of you is that if you feel it necessary to condemn any act of mine, you will first consider it well and be satisfied that it does not violate your reservations.”
“Agreed!” said Arthur; “that is only fair. And now that the pourparlers are over, may I ask what it is we are to do?”
“I want you to come with me, and to come in secret, to the churchyard at Kingstead.”
Arthur’s face fell as he said in an amazed sort of way:-
“Where poor Lucy is buried?” The Professor bowed. Arthur went on: “And when there?”
“To enter the tomb!” Arthur stood up.
“Professor, are you in earnest; or it is some monstrous joke? Pardon me, I see that you are in earnest.” He sat down again, but I could see that he sat firmly and proudly, as one who is on his dignity. There was silence until he asked again:-
“And when in the tomb?”
“To open the coffin.”
“This is too much!” he said, angrily rising again. “I am willing to be patient in all things that are reasonable; but in this-this desecration of the grave-of one who--” He fairly choked with indignation. The Professor looked pityingly at him.
“If I could spare you one pang, my poor friend,” he said, “God knows I would. But this night our feet must tread in thorny paths; or later, and for ever, the feet you love must walk in paths of flame!”
Arthur looked up with set white face and said:-
“Take care, sir, take care!”
“Would it not be well to hear what I have to say?” said Van Helsing. “And then you will at least know the limit of my purpose. Shall I go on?”
“That’s fair enough,” broke in Morris.
After a pause Van Helsing went on, evidently with an effort:-
“Miss Lucy is dead; is it not so? Yes! Then there can be no wrong to her. But if she be not dead--”
Arthur jumped to his feet.
“Good God!” he cried. “What do you mean? Has there been any mistake; has she been buried alive?” He groaned in anguish that not even hope could soften.
“I did not say she was alive, my child; I did not think it. I go no further than to say that she might be Un-Dead.”
“Un-Dead! Not alive! What do you mean? Is this all a nightmare, or what is it?”
“There are mysteries which men can only guess at, which age by age they may solve only in part. Believe me, we are now on the verge of one. But I have not done. May I cut off the head of dead Miss Lucy?”
“Heavens and earth, no!” cried Arthur in a storm of passion. “Not for the wide world will I consent to any mutilation of her dead body. Dr. Van Helsing, you try me too far. What have I done to you that you should torture me so? What did that poor, sweet girl do that you should want to cast such dishonour on her grave? Are you mad to speak such things, or am I mad to listen to them? Don’t dare to think more of such a desecration; I shall not give my consent to anything you do. I have a duty to do in protecting her grave from outrage; and, by God, I shall do it!”
Van Helsing rose up from where he had all the time been seated, and said, gravely and sternly:-
“My Lord Godalming, I, too, have a duty to do, a duty to others, a duty to you, a duty to the dead; and, by God, I shall do it! All I ask you now is that you come with me, that you look and listen; and if when later I make the same request you do not be more eager for its fulfilment even than I am, then-then I shall do my duty, whatever it may seem to me. And then, to follow of your Lordship’s wishes I shall hold myself at your disposal to render an account to you, when and where you will.” His voice broke a little, and he went on with a voice full of pity:-
“But, I beseech you, do not go forth in anger with me. In a long life of acts which were often not pleasant to do, and which sometimes did wring my heart, I have never had so heavy a task as now. Believe me that if the time comes for you to change your mind towards me, one look from you will wipe away all this so sad hour, for I would do what a man can to save you from sorrow. Just think. For why should I give myself so much of labour and so much of sorrow? I have come here from my own land to do what I can of good; at the first to please my friend John, and then to help a sweet young lady, whom, too, I came to love. For her-I am ashamed to say so much, but I say it in kindness-I gave what you gave; the blood of my veins; I gave it, I, who was not, like you, her lover, but only her physician and her friend. I gave to her my nights and days-before death, after death; and if my death can do her good even now, when she is the dead Un-Dead, she shall have it freely.” He said this with a very grave, sweet pride, and Arthur was much affected by it. He took the old man’s hand and said in a broken voice:-
“Oh, it is hard to think of it, and I cannot understand; but at least I shall go with you and wait.”