CHƯƠNG VII. BÀI CẮT TỪ TỜ “THE DAILYGRAPH,” NGÀY 8 THÁNG TÁM
(Được dán trong Ghi chép cá nhân của Mina Murray.)
Từ một Phóng viên.
Whitby.
MỘT cơn bão khủng khiếp và bất ngờ chưa từng thấy vừa càn quét qua đây. Hậu quả nó để lại kỳ lạ đến mức độc nhất vô nhị. Trước đó, thời tiết tuy oi bức nhưng chẳng có gì khác thường đối với tháng Tám. Chiều thứ Bảy trời vẫn đẹp quang đãng. Hàng dài du khách hôm qua còn háo hức lên kế hoạch rong ruổi khắp rừng Mulgrave, vịnh Robin Hood, Rig Mill, Runswick, Staithes, hay dạo quanh khu vực Whitby. Hai chiếc tàu hơi nước Emma và Scarborough nhổ neo thực hiện các chuyến thưởng ngoạn ven biển. Một lượng du khách đông nghẹt đổ về Whitby để cắm trại. Tiết trời cứ êm ả như vậy cho tới sẩm tối. Bấy giờ, vài kẻ hay ngồi lê la đàm tiếu ở nghĩa trang trên vách đá East Cliff bắt đầu để ý đến một hiện tượng lạ. Từ cao điểm này, nơi phóng tầm mắt bao quát toàn bộ vùng biển phía Bắc và phía Đông, họ kinh ngạc chỉ trỏ về dải mây hình "đuôi ngựa" đột ngột xuất hiện ở một vị trí rất cao trên bầu trời Tây Bắc.
Gió lúc ấy chỉ mơn man thổi từ hướng Tây Nam, được thước đo khí áp nhẹ nhàng ghi nhận ở mức "Số 2: gió nhẹ". Đội gác bờ biển đang làm nhiệm vụ ngay lập tức trình báo. Một lão ngư phủ, người đã dành trọn hơn nửa thế kỷ ngắm bầu trời từ vách East Cliff này, kiên quyết khẳng định bão lớn sắp ập tới chẳng báo trước. Cảnh hoàng hôn buông xuống đẹp đến nghẹt thở. Từng khối mây cuộn trào sắc màu rực rỡ, lộng lẫy đến mức thu hút cả một đám đông tản bộ dọc vách đá trong nghĩa trang cũ chỉ để say sưa chiêm ngưỡng.
Trước khi mặt trời hoàn toàn khuất sau khối đen ngòm sừng sững của núi Kettleness vắt ngang trời Tây, vệt nắng cuối ngày nhuộm thắm muôn vàn đám mây. Đỏ rực, tía, hồng, lục, tím và đủ mọi cung bậc diễm lệ của sắc vàng chan hòa bầu không trung. Chấm phá giữa bức tranh lộng lẫy ấy là vài khối mây nhỏ bé nhưng đen đặc quánh. Chúng mang hình thù quái dị, sắc nét hệt như những chiếc bóng cắt khổng lồ vắt ngang không trung. Cảnh tượng ngoạn mục này không thể lọt khỏi cặp mắt tinh tường của các họa sĩ. Chắc chắn vào tháng Năm tới, những bức phác họa mang tên "Khúc Dạo Đầu Của Cơn Bão Lớn" sẽ ngạo nghễ điểm tô cho những bức tường tại Học viện Nghệ thuật Hoàng gia (R.A.) và Viện Họa sĩ Màu nước Hoàng gia (R.I.)1.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà lúc ấy, không ít thuyền trưởng quả quyết giữ lại những chiếc "cobble" hay "mule"2-cách họ gọi những con thuyền cưng của mình-nằm yên vị trong bến cảng chờ giông bão tan đi. Đêm xuống, gió lịm hẳn. Đến nửa đêm, vạn vật chìm vào khoảng không tĩnh lặng như tờ. Hơi nóng hầm hập phả ra, sự ngột ngạt bao trùm nặng nề, thứ cảm giác thường hành hạ những người nhạy cảm mỗi khi sấm sét sắp xé toạc bầu trời. Phóng mắt ra biển, ánh đèn lác đác thưa thớt. Ngay cả những chiếc tàu hơi nước vốn thường bám sát bờ nay cũng lùi tít ra khơi xa, hiếm hoi lắm mới thấy vài chiếc thuyền cá thấp thoáng.
Thứ duy nhất thu hút sự chú ý là cánh buồm của một chiếc tàu viễn dương xa lạ. Con tàu lộng gió, giương hết buồm thẳng tiến về phía Tây. Sự ngông cuồng, hay có lẽ là sự ngu dốt của đám sĩ quan trên chuyến tàu ấy, nhanh chóng biến thành chủ đề đàm tiếu rôm rả suốt thời gian con tàu lọt vào tầm mắt đám đông. Người ta gắng sức ra hiệu, giục nó hạ bớt buồm để tránh thảm họa rình rập, nhưng vô ích. Trước khi bóng đêm hoàn toàn nuốt trọn mọi thứ, người ta vẫn thấy những cánh buồm của nó đập phần phật một cách bất lực. Con tàu cứ trôi nổi vật vờ trên những con sóng nhấp nhô giữa đại dương bao la,
"Nằm im lìm như chiếc tàu vẽ trên mặt đại dương vẽ.3"
Ngay trước mười giờ đêm, bầu không khí bỗng bức bối đến nghẹt thở. Sự im lặng đặc quánh lại, đến mức tiếng một con cừu kêu be be trên đất liền hay tiếng chó sủa ran trong thị trấn cũng vọng lại mồn một. Ban nhạc trên bến tàu vẫn đang dạo khúc nhạc Pháp tươi vui rộn rã, nhưng âm thanh ấy lại chênh phô lạ thường, tựa như một nốt lạc điệu giữa bản giao hưởng câm lặng vĩ đại của thiên nhiên. Chút nữa sang quá nửa đêm, một âm thanh rợn người vẳng lại từ biển khơi. Trên khoảng không cao vút bắt đầu truyền xuống những tiếng rền rĩ trầm đục, xa xăm và quái gở.
Rồi chẳng một dấu hiệu báo trước, bão điên cuồng trút xuống. Tốc độ của nó lúc đó phi lý đến mức khó tin, thậm chí sau này người ta cũng chẳng dám hình dung lại. Vẻ mặt êm ả của thiên nhiên chao đảo chỉ trong chớp mắt. Những ngọn sóng dựng đứng lên, mang theo cơn thịnh nộ mỗi lúc một cuồng loạn. Sóng chồm lên sóng. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, mặt biển phẳng lặng như gương đã hóa thành con quái thú gầm rống, chực chờ há mõm nuốt trọn vạn vật. Bọt tung trắng xóa. Sóng bạc đầu gầm gào đánh ập vào bãi cát phẳng, lao thẳng lên những vách đá thoai thoải. Những con sóng khác hung hãn vượt qua đê chắn, hất tung bọt nước trùm kín ngọn hải đăng sừng sững gác ở hai đầu Cảng Whitby.
Gió rít gào như sấm nổ. Sức mạnh kinh hồn của nó khiến ngay cả những người đàn ông vạm vỡ nhất cũng lảo đảo chật vật, phải ôm ghì tuyệt vọng lấy những cột sắt mới trụ vững. Giới chức trách buộc phải sơ tán toàn bộ đám đông tò mò đang tụ tập ở hai đầu đê chắn. Nhược bằng không, con số thương vong trong đêm kinh hoàng này có lẽ đã tăng theo cấp số nhân.
Giữa lúc hiểm nguy bủa vây, những tảng sương mù từ biển khơi bắt đầu trôi dạt vào bờ. Đám mây trắng toát, ướt sũng lướt qua tởm lợm như bầy ác quỷ vô hình. Chúng lạnh lẽo, buốt giá và ướt át đến mức người ta dễ dàng mường tượng ra những linh hồn vùi thây nơi đáy biển đang quờ quạng, dùng đôi bàn tay lạnh ngắt của thần chết chạm vào những người anh em còn sống. Không ít kẻ rùng mình ớn lạnh khi cuộn sương mù quét ngang. Thi thoảng, màn sương lại hé mở, để lộ mặt biển trải dài tít tắp dưới ánh chớp chói lòa. Sấm chớp giáng xuống dồn dập, xé toạc màn đêm. Những tiếng nổ rền vang trời ập tới bất thình lình, khiến bầu trời như rung lên bần bật dưới gót chân tàn khốc của cơn bão.
Thiên nhiên phô diễn vẻ đẹp kỳ vĩ khôn tả nhưng cũng đầy ma mị qua những khoảng hở của bức rèm giông tố. Biển cả cuộn trào, dâng cao lừng lững như núi. Nó hất tung từng ngọn sóng mang theo bọt tung trắng xóa lên tận trời cao, nơi cơn bão như vồ lấy chúng rồi xé nát giữa không trung. Lác đác đó đây, một chiếc thuyền cá với mảnh buồm tả tơi lao đi điên loạn, trốn chạy những luồng gió giật hung tàn. Đôi khi lại thấy bóng dáng đôi cánh trắng muốt của một con chim biển bị bão táp vùi dập thê thảm.
Trên đỉnh vách đá East Cliff, ngọn đèn pha cứu hộ mới toanh đã nằm chờ sẵn để thử nghiệm. Giới chức trách lập tức kích hoạt, quét những vệt sáng sắc lẹm ngang mặt biển mỗi khi màn sương mù vừa hé mở. Đôi ba lần, luồng sáng ấy đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Có chiếc thuyền cá mạn chìm ngập trong nước vẫn may mắn lách được vào cảng, né được cú đâm kinh hoàng vào đê chắn nhờ sự dẫn đường che chở của ngọn đèn. Mỗi lần một con thuyền cập bến bình an, tiếng reo hò sung sướng lại vỡ òa từ đám đông trên bờ. Tiếng hoan hô như xé toạc trận cuồng phong chốc lát, rồi lại bị gió cuốn phăng đi biền biệt.
Chẳng bao lâu sau, luồng sáng đèn pha vạch trần một bóng dáng xa xa. Đó là chiếc thuyền buồm dọc giương hết buồm, chính là con tàu gây tranh cãi từ chập tối. Gió lúc này đã đổi chiều sang hướng Đông. Sự rùng rợn chạy dọc sống lưng những người chứng kiến trên vách đá khi họ nhận ra mối nguy hiểm chết người đang bủa vây con tàu. Án ngữ giữa nó và bến cảng là dải đá ngầm phẳng lỳ rộng lớn, nấm mồ của biết bao con tàu kiêu hãnh. Gió quật mạnh từ hướng hiện tại, con tàu tuyệt nhiên không thể nào lách qua cửa cảng. Thủy triều đang lên cao, nhưng những con sóng hung bạo khoét sâu xuống những vùng nước nông ven bờ. Chiếc thuyền, với toàn bộ buồm no gió, lao đi với tốc độ xé gió. Một lão thủy thủ dày dặn kinh nghiệm phải thốt lên: "Nó chắc chắn sẽ đâm sầm vào đâu đó, dù đó có là chốn địa ngục."
Rồi sương mù lại cuộn tới. Một lớp sương dày đặc hơn tất thảy, buốt giá thấu xương, trùm lên mọi vật tựa một tấm khăn liệm màu xám xịt. Con người lúc này chỉ còn biết bấu víu vào thính giác. Tiếng gầm rú của cuồng phong, tiếng sấm nổ rền vang, và tiếng sóng đập ầm ầm xuyên qua lớp mù ướt át dội vào tai càng thêm khủng khiếp. Ngọn đèn pha vẫn cố định ở miệng cảng, chiếu thẳng về Đê chắn sóng phía Đông, nơi cái kết bi thảm chực chờ ập tới. Mọi người nín thở. Gió đột ngột chuyển mình sang hướng Đông Bắc, xé toạc tàn tích của bức tường sương mù.
Và rồi, thật kỳ diệu, giữa hai bờ đê chắn, chiếc thuyền buồm dọc lạ lùng ấy nhảy chồm chồm qua từng ngọn sóng với tốc độ chóng mặt. Nó xé gió lướt qua, mọi cánh buồm đều căng phồng, ung dung tiến vào bến cảng an toàn. Đèn pha quét sát theo nó. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng bất kỳ ai chứng kiến. Bị trói nghiến vào bánh lái là một xác chết. Cái đầu vô hồn rũ xuống, lắc lư qua lại đầy ám ảnh theo từng nhịp chao đảo của con tàu. Không một bóng người nào khác trên boong. Một nỗi kính sợ câm lặng đè nặng lên tất cả. Họ sững sờ nhận ra con tàu lọt vào cảng hệt như một phép màu, được lèo lái bởi không ai khác ngoài bàn tay của một kẻ đã chết!
Thế nhưng, mọi việc xảy ra nhanh hơn cả cái chớp mắt. Chiếc thuyền buồm không thèm dừng lại. Nó lao vút qua bến cảng, đâm sầm thẳng vào đụn cát và sỏi tích tụ qua bao đời thủy triều nằm ở góc Đông Nam của đê chắn, ngay dưới vách đá East Cliff. Nơi ấy, người địa phương vẫn thường gọi là Đê chắn sóng Tate Hill.
Vụ va chạm tạo nên một chấn động dữ dội khi thân tàu lao lên bãi cát. Cột buồm, dây thừng, các đoạn dây chằng đồng loạt căng như dây đàn, vài thiết bị trên cao đổ ụp xuống. Nhưng điều kỳ dị nhất là, ngay khoảnh khắc con tàu vừa chạm bờ, một con chó khổng lồ từ dưới hầm vọt lên boong. Cứ như thể sức ép của vụ đâm đã bắn tung nó lên. Con vật lao vút lên phía trước, phóng từ mũi tàu xuống bãi cát. Nó chạy cắm đầu về phía vách đá dựng đứng, nơi nghĩa trang cũ nhô ra chênh vênh ngay trên con hẻm hẹp dẫn ra Đê chắn sóng phía Đông. Dốc đến mức những phiến bia mộ phẳng-hay "đá xuyên4" theo phương ngữ Whitby-nằm thò hẳn ra ngoài khoảng vách đá đã sụp lở. Con ác thú lẩn khuất vào bóng tối, nơi ánh sáng đèn pha không tài nào chạm tới.
May thay, lúc đó không có mống nào trên Đê chắn sóng Tate Hill. Ai nấy đều đã yên giấc hoặc chạy trốn lên vùng đất cao. Người lính gác bờ biển đang làm nhiệm vụ ở phía Đông cảng lập tức lao xuống đê chắn, trở thành người đầu tiên đặt chân lên boong tàu. Nhóm điều khiển đèn pha, sau khi rà soát cửa cảng vô vọng, đành ghim luồng sáng vào con tàu vô chủ và giữ nguyên tại đó. Viên lính gác chạy vội về phía đuôi tàu. Vừa đến sát bánh lái, anh ta cúi xuống xem xét, để rồi ngay lập tức giật lùi lại, mặt cắt không còn một giọt máu vì kinh hoàng. Phản ứng ấy như mồi lửa châm bùng sự tò mò, khiến người người bắt đầu ùa tới.
Đoạn đường vòng từ West Cliff qua Cầu Kéo đến Đê chắn sóng Tate Hill khá dài, nhưng với tư cách là một phóng viên nhanh chân, tôi đã bỏ xa đám đông ở phía sau. Tới nơi, một nhóm người hiếu kỳ đã quây kín trên đê chắn, nhưng cảnh sát và lính gác cương quyết chặn đứng mọi ý định lên tàu. Nhờ sự ưu ái của viên trưởng thuyền dành cho vị trí phóng viên, tôi vinh dự được đặt chân lên boong. Nằm trong số ít những người có mặt, tôi tận mắt chứng kiến người thủy thủ đã khuất bị trói chặt vào bánh lái.
Chẳng trách sao viên lính gác lại khiếp đảm đến thế. Cảnh tượng bày ra trước mắt hiếm hoi và rùng rợn đến gai người. Người đàn ông bị trói nghiến hai tay, tay này đè lên tay kia, khóa chặt vào một nan hoa của bánh lái. Giữa bàn tay áp sát vào trong và lớp gỗ bánh lái là một cây thánh giá. Chuỗi hạt gắn vào nó quấn quanh cả hai cổ tay lẫn bánh lái, tất thảy được siết chặt bằng những vòng dây thừng. Chàng thủy thủ tội nghiệp có lẽ đã ngồi đó khá lâu. Những cánh buồm đập phần phật, va đập liên hồi truyền chấn động qua bánh lái, lôi xệch anh ta qua lại dữ dội đến mức dây trói cứa nát da thịt, sâu tận xương tủy. Bác sĩ phẫu thuật J. M. Caffyn tại số 33, East Elliot Place, người tới hiện trường ngay sau tôi, đã lập tức khám nghiệm và xác nhận: người đàn ông này đã chết ít nhất hai ngày.
Trong túi áo anh ta cất giấu một cái chai được nút kín kỹ lưỡng. Chẳng có gì bên trong ngoại trừ một cuộn giấy nhỏ, hóa ra lại là phần bổ sung cho cuốn nhật ký hàng hải. Viên lính gác bờ biển suy đoán người đàn ông đã tự mình trói tay, dùng răng thắt chặt các nút buộc. Việc lính gác bờ biển là người đầu tiên lên tàu có lẽ sẽ giúp tránh đi bao phiền toái pháp lý tại Tòa án Hải quân5. Lính gác không được quyền đòi tiền trục vớt6-đặc quyền vốn thuộc về thường dân đầu tiên bước lên con tàu vô chủ. Tuy nhiên, giới luật sư đã bắt đầu xì xào bàn tán. Một nam sinh viên luật trẻ tuổi oang oang khẳng định quyền sở hữu của chủ tàu đã hoàn toàn bay biến. Bánh lái-vốn là biểu tượng, nếu không muốn nói là bằng chứng thép của quyền ủy thác sở hữu-lại đang nằm gọn trong bàn tay của người chết. Bất chấp mọi tranh cãi, người cầm lái quả cảm đã được thành kính đưa khỏi vị trí anh từng canh gác đầy danh dự cho đến hơi thở cuối cùng. Sự kiên cường của anh chẳng kém cạnh gì chàng Casabianca vĩ đại7. Thi hài anh được đưa vào nhà xác chờ ngày điều tra rõ ràng.
Bây giờ bão đang tan dần. Sự hung hãn của tự nhiên cũng đã chìm xuống. Đám đông dần tản mác trở về nhà. Phía trên các dãy đồi Yorkshire, bầu trời bắt đầu hửng đỏ ửng. Tôi sẽ gửi cho tòa soạn những tình tiết giật gân hơn về chuyến đi kỳ diệu của con tàu vô chủ này kịp cho số báo ngày mai.
Whitby
Ngày 9 tháng Tám.-Hệ lụy từ sự xuất hiện kỳ quái của con tàu vô chủ trong đêm bão thậm chí còn gây bàng hoàng hơn cả bản thân sự kiện đó. Hóa ra, đó là chiếc thuyền buồm dọc Demeter của Nga, khởi hành từ Varna8. Khoang tàu gần như chất đầy cát bạc để dằn trọng tâm, kèm theo một lượng nhỏ hàng hóa-một loạt những chiếc rương gỗ lớn chứa đầy đất. Toàn bộ số rương này được gửi đích danh cho ông S. F. Billington, một luật sư tọa lạc ở số 7, The Crescent tại Whitby. Sáng nay, vị luật sư đã có mặt trên tàu và chính thức tiếp nhận kiện hàng. Lãnh sự quán Nga, đại diện cho bên thuê tàu, đã tiếp quản con tàu, thanh toán sòng phẳng mọi khoản phí bến bãi.
Hôm nay, cả thị trấn Whitby chẳng bàn tán chuyện gì khác ngoài sự trùng hợp kỳ quái này. Giới chức Hội đồng Thương mại khắt khe đến mức máy móc, quyết tâm tuân thủ mọi quy định khắt khe nhất để tránh rắc rối. Vì vụ việc được dự đoán chỉ là một "cơn sốt nhất thời," họ tuyệt đối không để lại bất kỳ kẽ hở nào cho những khiếu nại về sau.
Mọi ánh mắt đổ dồn vào con chó bí ẩn đã nhảy lên bờ. Không ít thành viên của Hiệp hội Bảo vệ Động vật S. P. C. A.9-tổ chức cực kỳ quyền lực ở Whitby-đã lùng sục khắp nơi hòng cưu mang con vật. Thế nhưng, nó đã bốc hơi khỏi thị trấn một cách khó hiểu, để lại sự thất vọng tràn trề. Người ta đoán nó đã hoảng sợ bỏ chạy lên vùng đồng hoang và đang lẩn trốn trong cơn khiếp đảm. Nhưng cũng có kẻ rùng mình lo sợ sinh vật man rợ ấy sẽ sớm biến thành một mối đe dọa đẫm máu. Ngay sáng sớm nay, một con chó lớn thuộc giống ngao lai của một nhà buôn than gần Đê chắn Tate Hill được phát hiện nằm chết gục trên đường cái, ngay trước cổng nhà chủ. Nó đã trải qua một trận thư hùng ác liệt, đối đầu với một kẻ thù hung tợn. Cổ họng nó bị xé toang hoác, bụng rạch nát bươm như thể chịu đòn chí mạng từ một bộ móng vuốt tàn độc.
Sau đó.-Nhờ sự nới tay của viên thanh tra Hội đồng Thương mại, tôi được đặc cách xem qua cuốn nhật ký hàng hải của tàu Demeter. Cuốn sổ được ghi chép tỉ mỉ cho đến ba ngày trước, nhưng chẳng có gì nổi bật ngoài danh sách những người mất tích một cách bí ẩn. Dẫu vậy, sự chú ý thực sự lại đổ dồn vào tờ giấy giấu trong cái chai. Hôm nay, văn bản này đã được công bố tại cuộc điều tra. Khi xâu chuỗi hai tài liệu lại với nhau, một câu chuyện rùng rợn chưa từng thấy mở ra trước mắt. Vì chẳng có lý do gì phải giấu giếm, tôi được phép sử dụng chúng và gửi đến tòa soạn một bản sao chép, chỉ lược bỏ những thuật ngữ đi biển khô khan. Dường như viên thuyền trưởng đã rơi vào trạng thái cuồng loạn ngay cả trước khi con tàu tiến ra vùng biển sâu, và căn bệnh quái ác này cứ thế gặm nhấm ông ta suốt chuyến hải trình. Tất nhiên, báo cáo của tôi mong độc giả đón nhận với một chút hoài nghi, bởi tôi đang ghi chép lại theo lời dịch của một thư ký Lãnh sự quán Nga do thời gian quá gấp rút.
NHẬT KÝ TÀU “DEMETER.”
Hành trình từ Varna đến Whitby.
Ghi chép ngày 18 tháng Bảy. Quá nhiều dị sự đã dồn dập ập đến, buộc tôi phải biên chép lại rành rẽ mọi cơ sự từ nay cho tới tận lúc tàu cập bến.
Ngày 6 tháng Bảy, toàn bộ hàng hóa gồm cát bạc và những rương gỗ chứa đất đã yên vị dưới hầm tàu. Đúng ngọ, tàu nhổ neo đón gió. Gió đông lộng thổi. Thủy thủ đoàn gồm năm tay chèo dạn dĩ... hai thuyền phó, một đầu bếp, và bản thân tôi trong cương vị thuyền trưởng.
Ngày 11 tháng Bảy, rạng đông vừa ló rạng, tàu đã tiến vào eo biển Bosphorus10. Đám viên chức Hải quan Thổ Nhĩ Kỳ lên tàu kiểm tra. Sau chút tiền lót tay (Backsheesh11), mọi việc êm xuôi. Chúng tôi tiếp tục lên đường lúc bốn giờ chiều.
Ngày 12 tháng Bảy, qua eo Dardanelles12. Lại đụng độ đội Hải quan và tàu cờ của hải đội tuần tra. Vẫn bài cũ, tiền lót tay. Đám quan chức khám xét tỉ mỉ nhưng chớp nhoáng; dường như chúng chỉ muốn tống khứ con tàu đi cho khuất mắt. Tới độ sẩm tối, tàu tiến vào Quần đảo.
Ngày 13 tháng Bảy, lướt qua Mũi Matapan13. Đám thủy thủ có vẻ ấp ủ mầm mống bất mãn vì cớ gì đó. Bọn họ lộ rõ vẻ bồn chồn kinh hãi, nhưng tuyệt nhiên cạy răng cũng không chịu hé nửa lời.
Ngày 14 tháng Bảy, lòng tôi chợt gợn lên nỗi bất an về thủy thủ đoàn. Bọn họ vốn dĩ đều là những tay đi biển dạn dày, từng vào sinh ra tử cùng tôi bao bận. Anh thuyền phó cũng chẳng tài nào hiểu nổi chuyện gì đang bủa vây lấy bọn họ; đám người ấy chỉ run rẩy lẩm bẩm với anh ta rằng có thứ gì đó đang rình rập, rồi liên tục làm dấu thánh giá. Hôm nay, mất hết kiên nhẫn, thuyền phó đã vung tay đánh một kẻ trong đám. Tôi cứ ngỡ một trận ẩu đả nảy lửa sẽ bùng nổ, nhưng rồi vạn vật vẫn chìm trong một sự nín lặng đến gai người.
Ngày 16 tháng Bảy. Sáng nay, thuyền phó báo tin tay thủy thủ tên Petrofsky đã bốc hơi không tăm tích. Chẳng có lấy một lời giải thích cho sự biến mất kỳ lạ này. Tám tiếng chuông đêm qua, hắn nhận ca trực bên mạn trái; Abramoff đến thay ca, nhưng tuyệt nhiên không thấy hắn trở về giường ngủ. Đám người còn lại càng đắm chìm trong vẻ ủ dột, sầu thảm. Bọn họ đồng thanh bảo rằng đã tiên liệu được cơ sự này, nhưng tuyệt không hé răng nói thêm lời nào ngoài việc lặp lại điệp khúc rùng rợn: có thứ gì đó đang ẩn náu trên tàu. Thuyền phó ngày càng mất kiên nhẫn với bọn họ; tôi linh cảm một cơn bão rắc rối đang chực chờ ập xuống.
Ngày 17 tháng Bảy. Hôm qua, tay thủy thủ Olgaren tìm đến tận cabin của tôi. Khuôn mặt hắn tái mét vì kinh hãi khi thú nhận với tôi rằng hắn tin chắc có kẻ lạ mặt đang lẩn khuất trên tàu. Hắn thuật lại, trong ca trực đêm qua, khi đang co ro trú mưa bão sau trạm quan sát trên boong, hắn đã bắt gặp một gã đàn ông cao lớn, gầy nhom, hình dong chẳng giống bất kỳ ai trong thủy thủ đoàn, lầm lũi bước lên từ lối cầu thang. Bóng ma ấy lướt dọc theo boong tàu tiến về phía mũi rồi thình lình tan biến. Olgaren rón rén bám theo, nhưng khi tới mũi tàu thì tịnh không bóng người, mọi nắp hầm đều đã đóng im ỉm. Cơn hoảng loạn nhuốm màu mê tín của hắn khiến tôi lo ngại nỗi khiếp sợ này sẽ lây lan như bệnh dịch. Để trấn an lòng quân, hôm nay tôi quyết định lật tung toàn bộ con tàu từ mũi đến đuôi.
Cuối ngày, tôi triệu tập toàn bộ thủy thủ đoàn. Tôi dõng dạc tuyên bố: nếu đã đinh ninh có kẻ lạ lẩn trốn, chúng ta sẽ lục soát từng ngóc ngách từ mũi tới đuôi tàu. Thuyền phó đùng đùng nổi giận; anh ta sỉ vả đó là một ý tưởng điên rồ, rập khuôn theo mớ tư duy ngu xuẩn sẽ chỉ khiến tinh thần bọn thủy thủ thêm rệu rã. Anh ta thậm chí còn gầm gừ đòi dùng thanh xà beng để dạy dỗ bọn họ một bài học. Mặc kệ sự phản đối, tôi ra lệnh cho anh ta giữ vững tay lái, trong khi đám còn lại dàn hàng ngang, giương cao đèn lồng, say sưa lùng sục. Tuyệt nhiên không một xó xỉnh nào bị bỏ sót. Dưới hầm chỉ toàn những rương gỗ cồng kềnh, chẳng chừa khe hở nào đủ cho một con người ẩn nấp. Việc khám xét khép lại, đám thủy thủ đồng loạt trút tiếng thở phào nhẹ nhõm, hồ hởi quay lại guồng công việc. Thuyền phó mặt hầm hầm cau có, nhưng tuyệt nhiên nín lặng.
Ngày 22 tháng Bảy.-Ba ngày nay, đất trời vần vũ bão tố. Cả thảy đều phải căng mình vật lộn với những cánh buồm, chẳng còn tâm trí đâu mà sợ hãi. Đám thủy thủ dường như đã ném nỗi kinh hoàng ra sau đầu. Thuyền phó cũng lấy lại vẻ hồ hởi thường ngày, không khí trên tàu lại chan hòa như cũ. Tôi cất lời ngợi khen tinh thần quả cảm của họ giữa thời tiết khắc nghiệt. Tàu đã trót lọt vượt qua eo Gibraltar và thoát khỏi khúc eo hẹp. Mọi sự lại êm đềm.
Ngày 24 tháng Bảy.-Phải chăng một lời nguyền hắc ám đang bóp nghẹt con tàu này? Một người đã biệt tăm, và trong lúc tàu đang lao vào Vịnh Biscay14 với cơn thịnh nộ của đất trời chực chờ bủa vây, thì đêm qua... thêm một kẻ nữa đã bốc hơi khỏi thế gian. Y hệt người đầu tiên, anh ta khép lại ca trực và tan biến vào hư vô. Đám người còn sót lại đang run rẩy trong cơn hoảng loạn tột độ. Họ đệ trình một bản kiến nghị tập thể (round robin)15, thống thiết cầu xin được trực gác đôi, bởi không kẻ nào còn đủ can đảm để đơn độc trong màn đêm. Thuyền phó điên tiết. Tôi e rằng giông tố sẽ ập đến, bởi nếu không khéo léo xử lý, máu sẽ đổ giữa biển khơi.
Ngày 28 tháng Bảy.-Bốn ngày ròng rã trầm luân dưới đáy địa ngục, vật lộn giữa vòng xoáy tử thần vần vũ bởi những cơn cuồng phong gào thét. Tuyệt không một ai chợp mắt nổi. Đám thủy thủ đã rã rời kiệt quệ. Chẳng biết phải chia chác ca trực thế nào đây, khi sức lực ai nấy đều cạn kiệt. Thuyền phó thứ hai tự nguyện giành lấy tay lái và gác ca, nhường cho bọn họ vài giờ ngả lưng quý giá. Gió đang dịu lại; biển khơi tuy vẫn gầm gừ đáng sợ, nhưng nhờ tàu lấy lại được thăng bằng nên thảm cảnh cũng vơi đi ít nhiều.
Ngày 29 tháng Bảy.-Tai ương lại giáng xuống. Đêm nay buộc phải áp dụng ca gác đơn, bởi đám người đã kiệt sức để có thể kề vai sát cánh. Khi ca gác ban mai ló dạng trên boong, tuyệt nhiên chẳng thấy một bóng người, duy chỉ còn người bám trụ nơi bánh lái. Tôi gào lên thất thanh, đánh thức tất thảy lao vọt lên boong. Dẫu cất công lùng sục từng tấc ván, vẫn bóng chim tăm cá. Thuyền phó thứ hai đã biến mất, và phần còn lại của thủy thủ đoàn đang rơi vào hố sâu khiếp đảm tột cùng. Tôi cùng anh thuyền phó thống nhất: từ khắc này, vũ khí luôn kề sát thân, sẵn sàng nghênh đón bất cứ dị tượng nào hé lộ căn nguyên ma quái này.
Ngày 30 tháng Bảy.-Đêm hôm qua, lòng cờ mở vì đã cận kề duyên hải nước Anh. Trời quang mây tạnh, căng tràn mọi cánh buồm. Tôi ngả lưng với cơ thể rã rời, ngủ vùi như chết. Chợt giật mình bởi tiếng thuyền phó báo tin dữ: cả lính gác lẫn người cầm lái đều đã bốc hơi vào thinh không. Giờ đây, chỉ còn lại tôi, anh thuyền phó, và vỏn vẹn hai tay thủy thủ lẻ loi lèo lái con tàu chết chóc này.
Ngày 1 tháng Tám.-Hai ngày ròng chìm trong màn sương mù đặc quánh, tịnh không bóng dáng một cánh buồm bạn. Những tưởng khi vào Eo biển Anh có thể bắn tín hiệu cầu cứu hay tấp vào một bến bờ nào đó, nhưng vô vọng. Nhân lực suy kiệt chẳng đủ sức căng buồm, chúng tôi đành phó mặc con tàu thả trôi theo ngọn gió. Tuyệt nhiên không dám hạ buồm, bởi nhỡ đâu sức tàn không thể kéo lên lại được. Dường như số phận đang cuốn chúng tôi trôi tuột về một vực thẳm kinh hoàng. Anh thuyền phó giờ đây còn nhu nhược, rệu rã hơn cả hai tay thủy thủ bần hàn. Bản tính kiên cường từng chảy trong huyết quản dường như đang gầm gào quay lại cấu xé chính anh ta. Còn đám thủy thủ, khi vượt qua lằn ranh tột cùng của sự khiếp đảm, họ bỗng trở nên ráo hoảnh, nhẫn nhịn cắn răng làm việc như những kẻ tử tù chờ đợi phán quyết cuối cùng. Họ là những người Nga, còn anh ta đến từ Romania.
Ngày 2 tháng Tám, lúc nửa đêm.-Vừa thiếp đi được dăm phút, tôi đã bị giật thót bởi tiếng hét xé toạc màn đêm, vọng lại từ ngay ngoài cửa khoang. Lớp sương mù che khuất tầm nhìn. Tôi lao vọt lên boong và đâm sầm vào anh thuyền phó. Anh ta bảo tiếng hét tử thần vừa dứt, chạy tới nơi thì lính gác đã bốc hơi không lưu lại chút dấu vết. Lại thêm một sinh mạng tan biến. Lạy Chúa chí ái, xin cứu vớt bầy chiên khốn khổ! Thuyền phó cho rằng tàu đã lách qua Eo biển Dover, bởi trong một khoảnh khắc sương mù vén lên hé lộ Mũi đất North Foreland, cũng chính là thời khắc anh ta nghe tiếng hét thê lương gióng lên. Nếu thật thế, chúng tôi đang trôi dạt giữa Biển Bắc, và chỉ có Đấng Cứu Thế mới thấu đường dẫn lối giữa lớp sương mù đeo bám tựa bóng ma này; nhưng buồn thay, dường như Người đã ngoảnh mặt bỏ rơi chúng tôi.
Ngày 3 tháng Tám.-Trúng lúc nửa đêm, tôi lên thay ca cho người cầm lái, nhưng vị trí ấy lại trống trơn. Ngọn gió vẫn thổi đều đặn, đẩy con tàu lướt đi êm ả không chút chao đảo. Không dám nhấc chân khỏi bánh lái, tôi gào to gọi thuyền phó. Vài giây sau, anh ta vọt lên boong trong bộ đồ flannel mỏng manh. Đôi mắt anh ta trợn trừng, hoang dại và hốc hác đến độ tôi kinh sợ nhận ra lý trí anh ta đã hoàn toàn vụn vỡ. Anh ta sán lại gần, thì thào bằng chất giọng khàn đặc, kề sát miệng vào tai tôi, tựa hồ e sợ ngay cả làn gió mỏng cũng vểnh tai nghe lén: "Hắn đang ở đây; bây giờ tôi đã thấu. Đêm qua giữa ca trực, tôi đã tận mắt chĩa vào Hắn, mang hình hài một gã đàn ông, cao lêu nghêu, gầy guộc, trắng bệch như thây ma. Hắn đứng vắt vẻo nơi mũi tàu, dõi mắt nhìn ra khơi xa. Tôi rón rén lẻn ra sau lưng, vung dao đâm phập xuống; nhưng lưỡi dao trượt xuyên qua Hắn, xé toạc không khí rỗng tuếch." Vừa dứt lời, anh ta lăm lăm rút con dao, điên cuồng đâm chém vào thinh không. Đoạn, anh ta rít lên: "Nhưng Hắn vẫn đang lẩn khuất, và tôi sẽ moi Hắn ra. Rất có thể hắn giấu mình dưới hầm tàu, cuộn tròn trong một cỗ rương nào đó. Tôi sẽ nạy tung từng chiếc rương để mục kích tận mắt. Thuyền trưởng lo cầm lái đi." Bằng một ánh nhìn đầy ma mị đe dọa, anh ta đặt ngón tay lên môi ra hiệu im lặng, rồi lầm lũi đi xuống. Gió đang nổi cơn giật mạnh, tôi chẳng thể buông lỏng bánh lái. Tầm mắt tôi bắt được bóng anh ta lảo đảo trở lại boong với hộp dụng cụ cồng kềnh và chiếc đèn lồng leo lét, chui tụt xuống hầm tàu phía trước. Điên rồi, anh ta đã hóa rồ, gào thét trong cơn điên loạn, và tôi dẫu có cố gào thét cản ngăn cũng hoài công. Dù sao anh ta cũng chẳng thể phá nát được những chiếc rương khổng lồ ấy: hóa đơn kê khai chúng chứa toàn "đất sét," việc vần vò chúng e chừng là chuyện vô hại nhất anh ta có thể phá phách lúc này. Thế nên, tôi cam chịu bám trụ nơi đây, ghì chặt bánh lái và nắn nót viết những dòng tuyệt mệnh này. Tôi chỉ biết gửi gắm đức tin vào Đấng Tối Cao, ngóng đợi sương tan. Bằng không, nếu chẳng thể lèo lái con tàu tấp vào bến bờ nào giữa cuồng phong này, tôi đành hạ buồm, phó mặc số phận và bắn pháo cầu cứu....
Mọi thứ trên cõi đời này coi như sắp chấm dứt. Ngay khoảnh khắc tôi nhen nhóm hy vọng anh thuyền phó sẽ ngoi lên với tâm trí bình ổn-bởi tôi nghe rõ tiếng anh ta nện đập đồ vật ầm ĩ dưới hầm, một phương thức lao động xả rỗi khá hữu hiệu-thì từ sâu dưới lối hầm, một tiếng thét kinh khiếp xé ruột xé gan dội lên, làm máu trong huyết quản tôi đông cứng. Anh ta bắn vọt lên boong như viên đạn tuột khỏi nòng-một gã điên gào thét cuồng loạn, đôi mắt lộn sòng sọc, nét mặt rúm ró vì nỗi kinh hoàng. "Cứu tôi! Cứu tôi với!" anh ta gào rú, dáo dác nhìn quanh lớp sương mù đặc kịt. Nỗi khiếp sợ tột độ dần đông đặc thành sự tuyệt vọng buốt giá, và bằng một tông giọng lạnh ngắt đều đều, anh ta thốt lên: "Thuyền trưởng tốt nhất cũng nên gieo mình đi, trước khi quá muộn. Hắn đang ngự trị dưới đó. Bây giờ tôi đã phanh phui bí mật tột cùng. Chỉ có lòng biển cả bao la mới đủ sức bảo bọc tôi khỏi Hắn, và đó là lối thoát duy nhất còn sót lại!" Chẳng để tôi kịp cất nửa lời hay chồm tới tóm gáy, anh ta đã vọt qua lan can tàu, tự mình lao thẳng xuống đáy vực thẳm. Giờ thì, tôi thiết nghĩ mình đã lờ mờ nhận ra cái bí mật gớm ghiếc ấy. Đích thị gã điên này đã tự tay thủ tiêu từng sinh mạng một, để rồi gieo mình tự vẫn nối gót bọn họ. Lạy Chúa, xin xót thương linh hồn con! Bằng cách nào tôi có thể giải trình trọn vẹn những thảm kịch máu me này một khi tàu cập bến? Mà đến thuở nào tôi mới cập bến cơ chứ! Liệu cái ngày định mệnh ấy có bao giờ rọi sáng?
Ngày 4 tháng Tám.-Lớp sương mù vẫn bủa vây đặc quánh, ánh bình minh chẳng thể nào xuyên thủng. Bằng bản năng của một thủy thủ lão luyện, tôi biết bình minh đã ló rạng, chứ không lấy cớ gì tôi lại thấu tỏ cơ chứ. Nỗi sợ hãi tột cùng trói chặt tôi tại đây; tôi không dám bước xuống hầm, cũng chẳng dám buông tay khỏi bánh lái. Thức trắng suốt đêm trường, giữa bóng tối mờ ảo tĩnh mịch, tôi đã tận mắt chạm trán Hắn-chính Hắn ta! Lạy Chúa rộng lòng tha thứ, thuyền phó đã hành sự chí lý khi gieo mình qua mạn tàu. Thà ôm cái chết oai hùng của một người đàn ông; chết như một tay thủy thủ vùi thây nơi biển sâu thẳm, phỏng có ai buông lời chê trách. Nhưng phận tôi là thuyền trưởng, tôi không thể đốn mạt rũ bỏ con tàu của mình. Dẫu vậy, tôi sẽ tung hỏa mù lừa gạt thứ ác quỷ gớm ghiếc này, bởi khi sinh lực cạn kiệt, tôi sẽ trói nghiến hai tay vào bánh lái, và thắt chặt vào đó một kỷ vật thiêng liêng mà Hắn-Nó!-tuyệt đối chẳng dám vấy bẩn. Khi ấy, mặc cho gió lành hay gió độc, tôi sẽ bảo toàn linh hồn và danh dự bất khuất của một vị thuyền trưởng. Hơi tàn đang dần rút cạn, và màn đêm lại chực chờ ập xuống. Nếu Hắn dám rọi ánh mắt ma quỷ đâm thẳng vào tôi một lần nữa, e rằng tôi chẳng còn kịp trở tay.... Nhược bằng con tàu tan xác, mong sao chiếc chai này trôi dạt đến tay người, đặng thấu hiểu bi kịch; bằng không... ôi chao, thế thì nhân loại sẽ mãi tạc dạ rằng tôi đã vẹn tuyền lời thề bổn phận. Khẩn cầu Đức Chúa Trời, Đức Trinh Nữ vinh hiển và các vị thánh nhân soi sáng, dang tay cứu rỗi một linh hồn tội nghiệp, u muội, đã trút hơi thở cuối cùng vì trách nhiệm thiêng liêng....
Hiển nhiên, phiên tòa đành khép lại bằng một phán quyết bỏ ngỏ. Tuyệt không một manh mối nào được đưa ra ánh sáng; và liệu vị thuyền trưởng ấy có thực sự nhúng chàm, tự tay đoạt mạng từng thuộc cấp hay không, giờ đây mãi mãi chìm vào vòng bí ẩn vô hình. Dân chúng quanh vùng dường như đồng lòng suy tôn vị thuyền trưởng như một vị anh hùng lẫm liệt, xứng đáng hưởng đặc ân từ một tang lễ trọng thể cấp cộng đồng. Đám rước thi hài ông sẽ vinh dự trôi theo dòng sông Esk một quãng, rẽ sóng quay lại Đê chắn sóng Tate Hill, rồi kiêu hãnh bước lên những bậc thang tu viện linh thiêng đã tề chỉnh; bởi ông sẽ an nghỉ ngàn thu tại khu nghĩa trang tọa lạc trên vách đá sừng sững. Các chủ nhân của hơn một trăm chiếc thuyền chài đã đồng loạt ghi danh, thỉnh nguyện tháp tùng đưa tiễn linh cữu ông vào giấc ngủ vĩnh hằng.
Riêng tung tích con chó khổng lồ vẫn bặt vô âm tín; điều này gieo rắc sự tiếc nuối vô vàn, bởi với làn sóng dư luận đương thời, tôi đoan chắc thị trấn sẽ sẵn lòng dang tay cưu mang nó. Ngày mai, lễ tang sẽ chính thức cử hành; và rồi, tấm màn nhung khép lại vĩnh viễn "bí ẩn của đại dương" này.
Nhật ký của Mina Murray.
Ngày 8 tháng Tám.-Cậu ấy cứ trằn trọc cả đêm, khiến mình cũng trằn trọc lây, chẳng tài nào chợp mắt nổi. Cơn bão thật kinh hoàng, mỗi lần gió rít qua những ống khói là mình lại rùng mình ớn lạnh. Có những luồng gió rít lên mạnh bạo, nghe rền vang như tiếng súng nổ xa xa. Lạ thay, Lucy lại chẳng hề tỉnh giấc; nhưng cậu ấy đã bật dậy hai lần và tự động mặc quần áo. May mắn thay, cả hai lần mình đều choàng tỉnh kịp thời, khéo léo cởi đồ cho cậu ấy mà không làm cậu ấy thức giấc, rồi dìu cậu ấy trở lại giường. Chứng mộng du này quả thật kỳ lạ, bởi chỉ cần ý định của cậu ấy-nếu có-bị cản trở một chút thôi về mặt thể chất, là nó sẽ biến mất ngay lập tức, và cậu ấy lại ngoan ngoãn chìm vào giấc ngủ như thường lệ.
Sáng sớm, cả hai đứa mình cùng thức dậy và đi bộ xuống cảng xem đêm qua có chuyện gì xảy ra không. Chỉ lác đác vài bóng người qua lại. Dù nắng đã lên rực rỡ và không khí trong lành mát mẻ, nhưng những con sóng khổng lồ vẫn cuồn cuộn dữ dội. Lớp bọt trắng xóa trên đỉnh sóng dường như càng làm tôn thêm vẻ tối tăm, hung hãn của chúng khi chen chúc nhau qua miệng cảng chật hẹp-hệt như một gã bặm trợn hung hăng xô đẩy giữa đám đông. Chẳng hiểu sao, mình lại thầm cảm thấy nhẹ nhõm vì đêm qua anh Jonathan không lênh đênh trên biển, mà đang ở đất liền. Nhưng, ôi chao, liệu anh ấy đang ở trên bờ hay đang ngoài khơi? Anh ấy đang ở đâu, và ra sao rồi? Lòng mình cứ quặn thắt nỗi lo âu cho anh ấy. Giá mà mình biết phải làm gì, và có thể làm được điều gì!
Ngày 10 tháng Tám.-Tang lễ của vị thuyền trưởng tội nghiệp hôm nay diễn ra vô cùng xúc động. Dường như tất thảy tàu thuyền trong cảng đều quy tụ về đây. Cỗ quan tài được các thuyền trưởng đích thân khiêng suốt chặng đường từ Đê chắn sóng Tate Hill lên tận nghĩa trang. Lucy đi cùng mình. Chúng mình đã ra chỗ ngồi quen thuộc từ sớm, đưa mắt dõi theo đoàn thuyền ngược dòng sông lên đến Cầu cạn rồi quay trở xuống. Tầm nhìn ở đây thật tuyệt, bao quát được toàn bộ quá trình rước linh cữu. Chàng trai bạc mệnh ấy được an táng ngay gần hàng ghế của chúng mình, nên khi đến giờ cử hành tang lễ, hai đứa chỉ cần đứng lên ghế là có thể chứng kiến trọn vẹn mọi việc. Tội nghiệp Lucy, trông cậu ấy buồn rầu đến lạ. Suốt buổi lễ, cậu ấy cứ bồn chồn lo âu không yên, khiến mình không khỏi e ngại rằng những cơn mộng mị hằng đêm đang dần bào mòn sinh lực của cậu ấy. Có một điểm ở cậu ấy khá kỳ lạ: cậu ấy nhất quyết không chịu thừa nhận với mình về bất kỳ nguyên nhân nào dẫn đến sự bất an này; hoặc giả, chính bản thân cậu ấy cũng chẳng thể lý giải nổi. Còn một tin chấn động khác, sáng nay người ta phát hiện ông cụ Swales đáng thương đã qua đời ngay trên chiếc ghế quen thuộc của chúng mình, cổ bị gãy gập. Theo lời bác sĩ, rõ ràng ông cụ đã ngã ngửa ra sau ghế trong một cơn khiếp đảm tột độ, bởi gương mặt ông hằn sâu một nỗi kinh hoàng, hoảng loạn đến mức ngay cả những người đàn ông cứng rắn cũng phải rùng mình ớn lạnh. Ông cụ đáng thương! Có lẽ đôi mắt hấp hối của ông đã nhìn thấy tận mặt Tử Thần! Lucy vốn mong manh và nhạy cảm, nên cậu ấy luôn cảm nhận mọi chấn động mạnh mẽ hơn người thường. Vừa nãy thôi, cậu ấy đã rất khó chịu vì một chuyện cỏn con mà mình chẳng mấy bận tâm, dù bản thân mình cũng là người vô cùng yêu động vật. Một trong những người đàn ông thường lên đây ngóng tàu luôn dắt theo một con chó. Chú chó lúc nào cũng quấn quýt bên chủ. Cả hai đều lầm lì ít nói; mình chưa từng thấy người đàn ông ấy nổi nóng, cũng chưa bao giờ nghe tiếng con chó sủa. Thế nhưng, trong suốt tang lễ, con chó lại không chịu lại gần chủ-lúc này đang ngồi chung ghế với chúng mình. Nó cứ đứng cách đó vài thước, sủa gắt và tru lên từng hồi. Người chủ dỗ dành mãi không được, đâm ra gắt gỏng, rồi cuối cùng là tức giận quát tháo; vậy mà nó vẫn bướng bỉnh không chịu lại gần, cũng chẳng chịu ngừng làm ồn. Nó như đang rơi vào một cơn cuồng loạn tột độ, ánh mắt hoang dại, toàn bộ lông lá trên người dựng đứng cả lên như đuôi một con mèo khi chuẩn bị lao vào trận chiến. Rốt cuộc, người đàn ông nổi điên thực sự. Anh ta nhảy bổ xuống đá con vật một cú đau điếng, rồi túm lấy gáy nó, nửa lôi nửa quăng nó lên tấm bia mộ ngay cạnh chiếc ghế. Ngay khoảnh khắc thân thể chạm vào tảng đá, con vật tội nghiệp bỗng im bặt và run lên bần bật. Nó chẳng thèm chạy trốn, chỉ thu mình lại, co rúm và run rẩy. Trông nó hoảng loạn và thảm thương đến mức mình đã cố gắng an bảo nó, dù chẳng ích gì. Lucy cũng ngập tràn lòng thương xót, nhưng cậu ấy không cố chạm vào con chó, mà chỉ nhìn nó bằng một ánh mắt đau đớn, dằn vặt khôn nguôi. Mình vô cùng lo ngại rằng, với bản tính quá đỗi nhạy cảm ấy, cậu ấy sẽ khó lòng bước đi giữa cuộc đời này mà không vướng bận những ưu phiền. Chắc chắn đêm nay cậu ấy sẽ lại mơ thấy chuyện này cho xem. Cả một chuỗi những sự việc dồn dập ập đến-con tàu được lèo lái vào cảng bởi một thi thể; tư thế của ông ta, bị trói chặt vào bánh lái cùng cây thánh giá và chuỗi hạt; một tang lễ đầy xúc động; một con chó khi thì điên cuồng hung hãn, lúc lại khiếp đảm tột độ-tất cả những điều đó sẽ dệt nên chất liệu cho những cơn ác mộng của cậu ấy.
Mình nghĩ cách tốt nhất là vắt kiệt sức lực thể chất của cậu ấy trước khi đi ngủ. Vì vậy, mình sẽ dẫn cậu ấy đi bộ một chuyến thật dài, dọc theo các vách đá đến tận Vịnh Robin Hood rồi mới vòng về. Đến lúc đó, chắc hẳn cậu ấy sẽ mệt lử, chẳng còn hơi sức đâu mà mộng du nữa.
-
Hai tổ chức nghệ thuật danh giá nhất ở Anh Quốc. Chữ viết tắt R.A. (Royal Academy) và R.I. (Royal Institute) thường được gắn sau tên các họa sĩ là thành viên của các tổ chức này để chứng nhận đẳng cấp nghệ thuật của họ. ↩
-
Cobble và mule là tên các loại thuyền đánh cá truyền thống của ngư dân vùng đông bắc nước Anh, thường dùng để đi biển gần bờ. ↩
-
Một câu thơ nổi tiếng được trích dẫn từ trường ca "Khúc ca của người thủy thủ già" (The Rime of the Ancient Mariner) của Samuel Taylor Coleridge, miêu tả một con tàu bị mắc kẹt giữa đại dương phẳng lặng một cách đáng sợ. ↩
-
Bản gốc "through-stone", là loại bia mộ bằng đá phẳng, nguyên khối đặt nằm ngang (thường dùng để đậy lên toàn bộ ngôi mộ) theo phong cách truyền thống tại vùng Yorkshire nước Anh. ↩
-
Một tòa án đặc biệt của Anh Quốc thời xưa (Admiralty Court) chuyên giải quyết các tranh chấp trên biển, bao gồm các vụ tàu đắm, hàng hóa thất lạc hay quyền thừa kế tài sản trên tàu. ↩
-
Còn gọi là tiền cứu hộ (salvage). Theo luật hàng hải cổ, người đầu tiên lên được một con tàu bị bỏ hoang hoặc gặp nạn và bảo vệ được hàng hóa trên đó sẽ được nhận một khoản tiền thưởng rất lớn từ chủ hàng. ↩
-
Nhân vật lịch sử có thật được nhắc đến trong bài thơ nổi tiếng "Casabianca" (hay "Cậu bé đứng trên boong tàu bốc cháy"), ca ngợi cậu bé 12 tuổi đã quả cảm đứng vững ở vị trí chiến đấu trên tàu cho đến lúc hy sinh mà không chịu rời đi khi chưa có lệnh của cha mình. ↩
-
Thành phố cảng lớn nhất của Bulgaria, nằm ven bờ Biển Đen. Ở thế kỷ 19, đây là một điểm trung chuyển hàng hải quan trọng kết nối Đông Âu với phần còn lại của thế giới. ↩
-
S.P.C.A (Society for the Prevention of Cruelty to Animals) là một trong những tổ chức bảo vệ quyền động vật lâu đời nhất thế giới, được thành lập tại Anh vào thế kỷ 19 để chống lại việc bạo hành vật nuôi. ↩
-
Eo biển chiến lược ở Thổ Nhĩ Kỳ, ranh giới tự nhiên ngăn cách châu Âu và châu Á, và là lối đi duy nhất nối Biển Đen với Địa Trung Hải. ↩
-
Một thuật ngữ phổ biến ở Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ chỉ tiền boa, tiền hối lộ hoặc tiền lót tay cho các quan chức để được giải quyết công việc nhanh chóng. ↩
-
Một eo biển hẹp ở Thổ Nhĩ Kỳ, nối liền biển Marmara với biển Aegean và Địa Trung Hải. Bất kỳ con tàu nào từ Biển Đen ra đại dương đều phải đi qua eo biển này. ↩
-
Điểm cực nam của bán đảo Peloponnese ở đại lục Hy Lạp, nổi tiếng với những luồng gió giật bất thường khiến việc đi tàu biển qua đây trở nên nguy hiểm. ↩
-
Vùng vịnh nằm giữa bờ biển tây của Pháp và bờ biển bắc của Tây Ban Nha, nổi tiếng là một trong những vùng biển sóng to gió lớn và nguy hiểm bậc nhất châu Âu do thời tiết khắc nghiệt. ↩
-
Một kiểu viết đơn kiến nghị hay chữ ký tập thể của các thủy thủ xưa, trong đó chữ ký của những người tham gia được xếp thành một vòng tròn, nhằm tránh việc người ký đầu tiên bị quy trách nhiệm là kẻ cầm đầu. ↩
CHAPTER VII CUTTING FROM “THE DAILYGRAPH,” 8 AUGUST
(Pasted in Mina Murray’s Journal.)
From a Correspondent.
Whitby.
ONE of the greatest and suddenest storms on record has just been experienced here, with results both strange and unique. The weather had been somewhat sultry, but not to any degree uncommon in the month of August. Saturday evening was as fine as was ever known, and the great body of holiday-makers laid out yesterday for visits to Mulgrave Woods, Robin Hood’s Bay, Rig Mill, Runswick, Staithes, and the various trips in the neighbourhood of Whitby. The steamers Emma and Scarborough made trips up and down the coast, and there was an unusual amount of “tripping” both to and from Whitby. The day was unusually fine till the afternoon, when some of the gossips who frequent the East Cliff churchyard, and from that commanding eminence watch the wide sweep of sea visible to the north and east, called attention to a sudden show of “mares’-tails” high in the sky to the north-west. The wind was then blowing from the south-west in the mild degree which in barometrical language is ranked “No. 2: light breeze.” The coastguard on duty at once made report, and one old fisherman, who for more than half a century has kept watch on weather signs from the East Cliff, foretold in an emphatic manner the coming of a sudden storm. The approach of sunset was so very beautiful, so grand in its masses of splendidly-coloured clouds, that there was quite an assemblage on the walk along the cliff in the old churchyard to enjoy the beauty. Before the sun dipped below the black mass of Kettleness, standing boldly athwart the western sky, its downward way was marked by myriad clouds of every sunset-colour-flame, purple, pink, green, violet, and all the tints of gold; with here and there masses not large, but of seemingly absolute blackness, in all sorts of shapes, as well outlined as colossal silhouettes. The experience was not lost on the painters, and doubtless some of the sketches of the “Prelude to the Great Storm” will grace the R. A. and R. I. walls in May next. More than one captain made up his mind then and there that his “cobble” or his “mule,” as they term the different classes of boats, would remain in the harbour till the storm had passed. The wind fell away entirely during the evening, and at midnight there was a dead calm, a sultry heat, and that prevailing intensity which, on the approach of thunder, affects persons of a sensitive nature. There were but few lights in sight at sea, for even the coasting steamers, which usually “hug” the shore so closely, kept well to seaward, and but few fishing-boats were in sight. The only sail noticeable was a foreign schooner with all sails set, which was seemingly going westwards. The foolhardiness or ignorance of her officers was a prolific theme for comment whilst she remained in sight, and efforts were made to signal her to reduce sail in face of her danger. Before the night shut down she was seen with sails idly flapping as she gently rolled on the undulating swell of the sea,
“As idle as a painted ship upon a painted ocean.”
Shortly before ten o’clock the stillness of the air grew quite oppressive, and the silence was so marked that the bleating of a sheep inland or the barking of a dog in the town was distinctly heard, and the band on the pier, with its lively French air, was like a discord in the great harmony of nature’s silence. A little after midnight came a strange sound from over the sea, and high overhead the air began to carry a strange, faint, hollow booming.
Then without warning the tempest broke. With a rapidity which, at the time, seemed incredible, and even afterwards is impossible to realize, the whole aspect of nature at once became convulsed. The waves rose in growing fury, each overtopping its fellow, till in a very few minutes the lately glassy sea was like a roaring and devouring monster. White-crested waves beat madly on the level sands and rushed up the shelving cliffs; others broke over the piers, and with their spume swept the lanthorns of the lighthouses which rise from the end of either pier of Whitby Harbour. The wind roared like thunder, and blew with such force that it was with difficulty that even strong men kept their feet, or clung with grim clasp to the iron stanchions. It was found necessary to clear the entire piers from the mass of onlookers, or else the fatalities of the night would have been increased manifold. To add to the difficulties and dangers of the time, masses of sea-fog came drifting inland-white, wet clouds, which swept by in ghostly fashion, so dank and damp and cold that it needed but little effort of imagination to think that the spirits of those lost at sea were touching their living brethren with the clammy hands of death, and many a one shuddered as the wreaths of sea-mist swept by. At times the mist cleared, and the sea for some distance could be seen in the glare of the lightning, which now came thick and fast, followed by such sudden peals of thunder that the whole sky overhead seemed trembling under the shock of the footsteps of the storm.
Some of the scenes thus revealed were of immeasurable grandeur and of absorbing interest-the sea, running mountains high, threw skywards with each wave mighty masses of white foam, which the tempest seemed to snatch at and whirl away into space; here and there a fishing-boat, with a rag of sail, running madly for shelter before the blast; now and again the white wings of a storm-tossed sea-bird. On the summit of the East Cliff the new searchlight was ready for experiment, but had not yet been tried. The officers in charge of it got it into working order, and in the pauses of the inrushing mist swept with it the surface of the sea. Once or twice its service was most effective, as when a fishing-boat, with gunwale under water, rushed into the harbour, able, by the guidance of the sheltering light, to avoid the danger of dashing against the piers. As each boat achieved the safety of the port there was a shout of joy from the mass of people on shore, a shout which for a moment seemed to cleave the gale and was then swept away in its rush.
Before long the searchlight discovered some distance away a schooner with all sails set, apparently the same vessel which had been noticed earlier in the evening. The wind had by this time backed to the east, and there was a shudder amongst the watchers on the cliff as they realized the terrible danger in which she now was. Between her and the port lay the great flat reef on which so many good ships have from time to time suffered, and, with the wind blowing from its present quarter, it would be quite impossible that she should fetch the entrance of the harbour. It was now nearly the hour of high tide, but the waves were so great that in their troughs the shallows of the shore were almost visible, and the schooner, with all sails set, was rushing with such speed that, in the words of one old salt, “she must fetch up somewhere, if it was only in hell.” Then came another rush of sea-fog, greater than any hitherto-a mass of dank mist, which seemed to close on all things like a grey pall, and left available to men only the organ of hearing, for the roar of the tempest, and the crash of the thunder, and the booming of the mighty billows came through the damp oblivion even louder than before. The rays of the searchlight were kept fixed on the harbour mouth across the East Pier, where the shock was expected, and men waited breathless. The wind suddenly shifted to the north-east, and the remnant of the sea-fog melted in the blast; and then, mirabile dictu, between the piers, leaping from wave to wave as it rushed at headlong speed, swept the strange schooner before the blast, with all sail set, and gained the safety of the harbour. The searchlight followed her, and a shudder ran through all who saw her, for lashed to the helm was a corpse, with drooping head, which swung horribly to and fro at each motion of the ship. No other form could be seen on deck at all. A great awe came on all as they realised that the ship, as if by a miracle, had found the harbour, unsteered save by the hand of a dead man! However, all took place more quickly than it takes to write these words. The schooner paused not, but rushing across the harbour, pitched herself on that accumulation of sand and gravel washed by many tides and many storms into the south-east corner of the pier jutting under the East Cliff, known locally as Tate Hill Pier.
There was of course a considerable concussion as the vessel drove up on the sand heap. Every spar, rope, and stay was strained, and some of the “top-hammer” came crashing down. But, strangest of all, the very instant the shore was touched, an immense dog sprang up on deck from below, as if shot up by the concussion, and running forward, jumped from the bow on the sand. Making straight for the steep cliff, where the churchyard hangs over the laneway to the East Pier so steeply that some of the flat tombstones-“thruff-steans” or “through-stones,” as they call them in the Whitby vernacular-actually project over where the sustaining cliff has fallen away, it disappeared in the darkness, which seemed intensified just beyond the focus of the searchlight.
It so happened that there was no one at the moment on Tate Hill Pier, as all those whose houses are in close proximity were either in bed or were out on the heights above. Thus the coastguard on duty on the eastern side of the harbour, who at once ran down to the little pier, was the first to climb on board. The men working the searchlight, after scouring the entrance of the harbour without seeing anything, then turned the light on the derelict and kept it there. The coastguard ran aft, and when he came beside the wheel, bent over to examine it, and recoiled at once as though under some sudden emotion. This seemed to pique general curiosity, and quite a number of people began to run. It is a good way round from the West Cliff by the Drawbridge to Tate Hill Pier, but your correspondent is a fairly good runner, and came well ahead of the crowd. When I arrived, however, I found already assembled on the pier a crowd, whom the coastguard and police refused to allow to come on board. By the courtesy of the chief boatman, I was, as your correspondent, permitted to climb on deck, and was one of a small group who saw the dead seaman whilst actually lashed to the wheel.
It was no wonder that the coastguard was surprised, or even awed, for not often can such a sight have been seen. The man was simply fastened by his hands, tied one over the other, to a spoke of the wheel. Between the inner hand and the wood was a crucifix, the set of beads on which it was fastened being around both wrists and wheel, and all kept fast by the binding cords. The poor fellow may have been seated at one time, but the flapping and buffeting of the sails had worked through the rudder of the wheel and dragged him to and fro, so that the cords with which he was tied had cut the flesh to the bone. Accurate note was made of the state of things, and a doctor-Surgeon J. M. Caffyn, of 33, East Elliot Place-who came immediately after me, declared, after making examination, that the man must have been dead for quite two days. In his pocket was a bottle, carefully corked, empty save for a little roll of paper, which proved to be the addendum to the log. The coastguard said the man must have tied up his own hands, fastening the knots with his teeth. The fact that a coastguard was the first on board may save some complications, later on, in the Admiralty Court; for coastguards cannot claim the salvage which is the right of the first civilian entering on a derelict. Already, however, the legal tongues are wagging, and one young law student is loudly asserting that the rights of the owner are already completely sacrificed, his property being held in contravention of the statutes of mortmain, since the tiller, as emblemship, if not proof, of delegated possession, is held in a dead hand. It is needless to say that the dead steersman has been reverently removed from the place where he held his honourable watch and ward till death-a steadfastness as noble as that of the young Casabianca-and placed in the mortuary to await inquest.
Already the sudden storm is passing, and its fierceness is abating; crowds are scattering homeward, and the sky is beginning to redden over the Yorkshire wolds. I shall send, in time for your next issue, further details of the derelict ship which found her way so miraculously into harbour in the storm.
Whitby
9 August.-The sequel to the strange arrival of the derelict in the storm last night is almost more startling than the thing itself. It turns out that the schooner is a Russian from Varna, and is called the Demeter. She is almost entirely in ballast of silver sand, with only a small amount of cargo-a number of great wooden boxes filled with mould. This cargo was consigned to a Whitby solicitor, Mr. S. F. Billington, of 7, The Crescent, who this morning went aboard and formally took possession of the goods consigned to him. The Russian consul, too, acting for the charter-party, took formal possession of the ship, and paid all harbour dues, etc. Nothing is talked about here to-day except the strange coincidence; the officials of the Board of Trade have been most exacting in seeing that every compliance has been made with existing regulations. As the matter is to be a “nine days’ wonder,” they are evidently determined that there shall be no cause of after complaint. A good deal of interest was abroad concerning the dog which landed when the ship struck, and more than a few of the members of the S. P. C. A., which is very strong in Whitby, have tried to befriend the animal. To the general disappointment, however, it was not to be found; it seems to have disappeared entirely from the town. It may be that it was frightened and made its way on to the moors, where it is still hiding in terror. There are some who look with dread on such a possibility, lest later on it should in itself become a danger, for it is evidently a fierce brute. Early this morning a large dog, a half-bred mastiff belonging to a coal merchant close to Tate Hill Pier, was found dead in the roadway opposite to its master’s yard. It had been fighting, and manifestly had had a savage opponent, for its throat was torn away, and its belly was slit open as if with a savage claw.
Later.-By the kindness of the Board of Trade inspector, I have been permitted to look over the log-book of the Demeter, which was in order up to within three days, but contained nothing of special interest except as to facts of missing men. The greatest interest, however, is with regard to the paper found in the bottle, which was to-day produced at the inquest; and a more strange narrative than the two between them unfold it has not been my lot to come across. As there is no motive for concealment, I am permitted to use them, and accordingly send you a rescript, simply omitting technical details of seamanship and supercargo. It almost seems as though the captain had been seized with some kind of mania before he had got well into blue water, and that this had developed persistently throughout the voyage. Of course my statement must be taken cum grano, since I am writing from the dictation of a clerk of the Russian consul, who kindly translated for me, time being short.
LOG OF THE “DEMETER.”
Varna to Whitby.
Written 18 July, things so strange happening, that I shall keep accurate note henceforth till we land.
On 6 July we finished taking in cargo, silver sand and boxes of earth. At noon set sail. East wind, fresh. Crew, five hands ... two mates, cook, and myself (captain).
On 11 July at dawn entered Bosphorus. Boarded by Turkish Customs officers. Backsheesh. All correct. Under way at 4 p. m.
On 12 July through Dardanelles. More Customs officers and flagboat of guarding squadron. Backsheesh again. Work of officers thorough, but quick. Want us off soon. At dark passed into Archipelago.
On 13 July passed Cape Matapan. Crew dissatisfied about something. Seemed scared, but would not speak out.
On 14 July was somewhat anxious about crew. Men all steady fellows, who sailed with me before. Mate could not make out what was wrong; they only told him there was something, and crossed themselves. Mate lost temper with one of them that day and struck him. Expected fierce quarrel, but all was quiet.
On 16 July mate reported in the morning that one of crew, Petrofsky, was missing. Could not account for it. Took larboard watch eight bells last night; was relieved by Abramoff, but did not go to bunk. Men more downcast than ever. All said they expected something of the kind, but would not say more than there was something aboard. Mate getting very impatient with them; feared some trouble ahead.
On 17 July, yesterday, one of the men, Olgaren, came to my cabin, and in an awestruck way confided to me that he thought there was a strange man aboard the ship. He said that in his watch he had been sheltering behind the deck-house, as there was a rain-storm, when he saw a tall, thin man, who was not like any of the crew, come up the companion-way, and go along the deck forward, and disappear. He followed cautiously, but when he got to bows found no one, and the hatchways were all closed. He was in a panic of superstitious fear, and I am afraid the panic may spread. To allay it, I shall to-day search entire ship carefully from stem to stern.
Later in the day I got together the whole crew, and told them, as they evidently thought there was some one in the ship, we would search from stem to stern. First mate angry; said it was folly, and to yield to such foolish ideas would demoralise the men; said he would engage to keep them out of trouble with a handspike. I let him take the helm, while the rest began thorough search, all keeping abreast, with lanterns: we left no corner unsearched. As there were only the big wooden boxes, there were no odd corners where a man could hide. Men much relieved when search over, and went back to work cheerfully. First mate scowled, but said nothing.
22 July.-Rough weather last three days, and all hands busy with sails-no time to be frightened. Men seem to have forgotten their dread. Mate cheerful again, and all on good terms. Praised men for work in bad weather. Passed Gibralter and out through Straits. All well.
24 July.-There seems some doom over this ship. Already a hand short, and entering on the Bay of Biscay with wild weather ahead, and yet last night another man lost-disappeared. Like the first, he came off his watch and was not seen again. Men all in a panic of fear; sent a round robin, asking to have double watch, as they fear to be alone. Mate angry. Fear there will be some trouble, as either he or the men will do some violence.
28 July.-Four days in hell, knocking about in a sort of maelstrom, and the wind a tempest. No sleep for any one. Men all worn out. Hardly know how to set a watch, since no one fit to go on. Second mate volunteered to steer and watch, and let men snatch a few hours’ sleep. Wind abating; seas still terrific, but feel them less, as ship is steadier.
29 July.-Another tragedy. Had single watch to-night, as crew too tired to double. When morning watch came on deck could find no one except steersman. Raised outcry, and all came on deck. Thorough search, but no one found. Are now without second mate, and crew in a panic. Mate and I agreed to go armed henceforth and wait for any sign of cause.
30 July.-Last night. Rejoiced we are nearing England. Weather fine, all sails set. Retired worn out; slept soundly; awaked by mate telling me that both man of watch and steersman missing. Only self and mate and two hands left to work ship.
1 August.-Two days of fog, and not a sail sighted. Had hoped when in the English Channel to be able to signal for help or get in somewhere. Not having power to work sails, have to run before wind. Dare not lower, as could not raise them again. We seem to be drifting to some terrible doom. Mate now more demoralised than either of men. His stronger nature seems to have worked inwardly against himself. Men are beyond fear, working stolidly and patiently, with minds made up to worst. They are Russian, he Roumanian.
2 August, midnight.-Woke up from few minutes’ sleep by hearing a cry, seemingly outside my port. Could see nothing in fog. Rushed on deck, and ran against mate. Tells me heard cry and ran, but no sign of man on watch. One more gone. Lord, help us! Mate says we must be past Straits of Dover, as in a moment of fog lifting he saw North Foreland, just as he heard the man cry out. If so we are now off in the North Sea, and only God can guide us in the fog, which seems to move with us; and God seems to have deserted us.
3 August.-At midnight I went to relieve the man at the wheel, and when I got to it found no one there. The wind was steady, and as we ran before it there was no yawing. I dared not leave it, so shouted for the mate. After a few seconds he rushed up on deck in his flannels. He looked wild-eyed and haggard, and I greatly fear his reason has given way. He came close to me and whispered hoarsely, with his mouth to my ear, as though fearing the very air might hear: “It is here; I know it, now. On the watch last night I saw It, like a man, tall and thin, and ghastly pale. It was in the bows, and looking out. I crept behind It, and gave It my knife; but the knife went through It, empty as the air.” And as he spoke he took his knife and drove it savagely into space. Then he went on: “But It is here, and I’ll find It. It is in the hold, perhaps in one of those boxes. I’ll unscrew them one by one and see. You work the helm.” And, with a warning look and his finger on his lip, he went below. There was springing up a choppy wind, and I could not leave the helm. I saw him come out on deck again with a tool-chest and a lantern, and go down the forward hatchway. He is mad, stark, raving mad, and it’s no use my trying to stop him. He can’t hurt those big boxes: they are invoiced as “clay,” and to pull them about is as harmless a thing as he can do. So here I stay, and mind the helm, and write these notes. I can only trust in God and wait till the fog clears. Then, if I can’t steer to any harbour with the wind that is, I shall cut down sails and lie by, and signal for help....
It is nearly all over now. Just as I was beginning to hope that the mate would come out calmer-for I heard him knocking away at something in the hold, and work is good for him-there came up the hatchway a sudden, startled scream, which made my blood run cold, and up on the deck he came as if shot from a gun-a raging madman, with his eyes rolling and his face convulsed with fear. “Save me! save me!” he cried, and then looked round on the blanket of fog. His horror turned to despair, and in a steady voice he said: “You had better come too, captain, before it is too late. He is there. I know the secret now. The sea will save me from Him, and it is all that is left!” Before I could say a word, or move forward to seize him, he sprang on the bulwark and deliberately threw himself into the sea. I suppose I know the secret too, now. It was this madman who had got rid of the men one by one, and now he has followed them himself. God help me! How am I to account for all these horrors when I get to port? When I get to port! Will that ever be?
4 August.-Still fog, which the sunrise cannot pierce. I know there is sunrise because I am a sailor, why else I know not. I dared not go below, I dared not leave the helm; so here all night I stayed, and in the dimness of the night I saw It-Him! God forgive me, but the mate was right to jump overboard. It was better to die like a man; to die like a sailor in blue water no man can object. But I am captain, and I must not leave my ship. But I shall baffle this fiend or monster, for I shall tie my hands to the wheel when my strength begins to fail, and along with them I shall tie that which He-It!-dare not touch; and then, come good wind or foul, I shall save my soul, and my honour as a captain. I am growing weaker, and the night is coming on. If He can look me in the face again, I may not have time to act.... If we are wrecked, mayhap this bottle may be found, and those who find it may understand; if not, ... well, then all men shall know that I have been true to my trust. God and the Blessed Virgin and the saints help a poor ignorant soul trying to do his duty....
Of course the verdict was an open one. There is no evidence to adduce; and whether or not the man himself committed the murders there is now none to say. The folk here hold almost universally that the captain is simply a hero, and he is to be given a public funeral. Already it is arranged that his body is to be taken with a train of boats up the Esk for a piece and then brought back to Tate Hill Pier and up the abbey steps; for he is to be buried in the churchyard on the cliff. The owners of more than a hundred boats have already given in their names as wishing to follow him to the grave.
No trace has ever been found of the great dog; at which there is much mourning, for, with public opinion in its present state, he would, I believe, be adopted by the town. To-morrow will see the funeral; and so will end this one more “mystery of the sea.”
Mina Murray’s Journal.
8 August.-Lucy was very restless all night, and I, too, could not sleep. The storm was fearful, and as it boomed loudly among the chimney-pots, it made me shudder. When a sharp puff came it seemed to be like a distant gun. Strangely enough, Lucy did not wake; but she got up twice and dressed herself. Fortunately, each time I awoke in time and managed to undress her without waking her, and got her back to bed. It is a very strange thing, this sleep-walking, for as soon as her will is thwarted in any physical way, her intention, if there be any, disappears, and she yields herself almost exactly to the routine of her life.
Early in the morning we both got up and went down to the harbour to see if anything had happened in the night. There were very few people about, and though the sun was bright, and the air clear and fresh, the big, grim-looking waves, that seemed dark themselves because the foam that topped them was like snow, forced themselves in through the narrow mouth of the harbour-like a bullying man going through a crowd. Somehow I felt glad that Jonathan was not on the sea last night, but on land. But, oh, is he on land or sea? Where is he, and how? I am getting fearfully anxious about him. If I only knew what to do, and could do anything!
10 August.-The funeral of the poor sea-captain to-day was most touching. Every boat in the harbour seemed to be there, and the coffin was carried by captains all the way from Tate Hill Pier up to the churchyard. Lucy came with me, and we went early to our old seat, whilst the cortège of boats went up the river to the Viaduct and came down again. We had a lovely view, and saw the procession nearly all the way. The poor fellow was laid to rest quite near our seat so that we stood on it when the time came and saw everything. Poor Lucy seemed much upset. She was restless and uneasy all the time, and I cannot but think that her dreaming at night is telling on her. She is quite odd in one thing: she will not admit to me that there is any cause for restlessness; or if there be, she does not understand it herself. There is an additional cause in that poor old Mr. Swales was found dead this morning on our seat, his neck being broken. He had evidently, as the doctor said, fallen back in the seat in some sort of fright, for there was a look of fear and horror on his face that the men said made them shudder. Poor dear old man! Perhaps he had seen Death with his dying eyes! Lucy is so sweet and sensitive that she feels influences more acutely than other people do. Just now she was quite upset by a little thing which I did not much heed, though I am myself very fond of animals. One of the men who came up here often to look for the boats was followed by his dog. The dog is always with him. They are both quiet persons, and I never saw the man angry, nor heard the dog bark. During the service the dog would not come to its master, who was on the seat with us, but kept a few yards off, barking and howling. Its master spoke to it gently, and then harshly, and then angrily; but it would neither come nor cease to make a noise. It was in a sort of fury, with its eyes savage, and all its hairs bristling out like a cat’s tail when puss is on the war-path. Finally the man, too, got angry, and jumped down and kicked the dog, and then took it by the scruff of the neck and half dragged and half threw it on the tombstone on which the seat is fixed. The moment it touched the stone the poor thing became quiet and fell all into a tremble. It did not try to get away, but crouched down, quivering and cowering, and was in such a pitiable state of terror that I tried, though without effect, to comfort it. Lucy was full of pity, too, but she did not attempt to touch the dog, but looked at it in an agonised sort of way. I greatly fear that she is of too super-sensitive a nature to go through the world without trouble. She will be dreaming of this to-night, I am sure. The whole agglomeration of things-the ship steered into port by a dead man; his attitude, tied to the wheel with a crucifix and beads; the touching funeral; the dog, now furious and now in terror-will all afford material for her dreams.
I think it will be best for her to go to bed tired out physically, so I shall take her for a long walk by the cliffs to Robin Hood’s Bay and back. She ought not to have much inclination for sleep-walking then.