CHƯƠNG XXV. NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD
Ngày 11 tháng Mười, Buổi tối.-Jonathan Harker đã nhờ tôi ghi lại những dòng này, bởi anh thú nhận không còn đủ sức lực để tự tay viết, nhưng vẫn tha thiết muốn lưu giữ một bản ghi chép thật chuẩn xác.
Thật ra, chẳng ai trong chúng tôi mảy may ngạc nhiên khi được gọi đến gặp phu nhân Harker vào khoảnh khắc ngay trước lúc hoàng hôn. Dạo gần đây, mọi người đều thầm hiểu rằng bình minh và chạng vạng chính là những thời khắc hiếm hoi cô có được sự tự do thiêng liêng. Đó là lúc bản ngã thực sự của Mina vươn mình trỗi dậy, thoát khỏi mọi thế lực hắc ám đang lăm le khuất phục, kìm hãm hay thao túng cô. Trạng thái tỉnh táo này thường gõ cửa chừng nửa giờ trước khi mặt trời ló rạng hay khuất bóng, và nhẹ nhàng nán lại cho đến khi vầng thái dương lên cao, hoặc mây trời vẫn còn đắm mình trong ráng đỏ rực rỡ nơi chân trời. Thoạt tiên, đó chỉ là một cảm giác mơ hồ, tựa hồ như một xiềng xích vô hình vừa được nới lỏng, để rồi sự tự do tuyệt đối nhanh chóng ùa về ngập tràn. Thế nhưng, khi sự tự do ấy cạn kiệt, bóng tối lại vồ vập ập tới trong chớp mắt, chỉ kịp báo trước bằng một khoảng lặng câm đầy chết chóc.
Đêm nay, khi đôi bên hội ngộ, thái độ của cô thoạt đầu có phần gượng gạo, hằn rõ dấu vết của một cuộc giằng xé nội tâm dữ dội. Tôi thầm nghĩ có lẽ cô đang dốc cạn sức lực để giành lại lý trí ngay từ giây phút sớm nhất có thể. Vậy mà chỉ vài phút sau, cô đã hoàn toàn trấn tĩnh. Khẽ vẫy gọi chồng đến ngồi cạnh trên chiếc sô pha nơi mình đang tựa lưng, cô trìu mến ra hiệu cho chúng tôi kéo ghế vòng quanh. Đan chặt bàn tay Jonathan trong tay mình, cô cất lời:-
"Lúc này đây, tất cả chúng ta đang ngồi cạnh nhau trong sự tỉnh táo, và có lẽ đây sẽ là lần cuối cùng! Em biết, anh yêu; em biết rõ anh sẽ luôn kề vai sát cánh bên em cho đến tận hơi thở cuối cùng." Cô dịu dàng nói với chồng, người đang bặm môi siết chặt lấy tay vợ. "Sáng ngày mai, chúng ta sẽ bước vào nhiệm vụ định mệnh, và chỉ có Chúa mới thấu điều gì đang chực chờ nuốt chửng chúng ta. Thật tốt biết bao khi anh đồng ý để em đi cùng. Em thấu hiểu tận tâm can rằng, mọi điều lớn lao nhất mà những người đàn ông quả cảm, nhiệt thành có thể làm vì một người phụ nữ yếu đuối, đáng thương với linh hồn có lẽ đã mất-không, không, chưa phải lúc này, nhưng ít nhất đang chênh vênh bên bờ vực thẳm-các anh chắc chắn sẽ làm. Thế nhưng, xin anh hãy khắc cốt ghi tâm rằng, em giờ đây chẳng còn giống như các anh nữa. Có một thứ nọc độc đang cuộn chảy trong máu em, ăn mòn linh hồn em, thứ có thể và chắc chắn sẽ hủy hoại em mãi mãi, trừ khi một sự cứu rỗi nhiệm màu nào đó kịp thời giáng xuống. Ôi, hỡi những người bạn của tôi, các anh đều biết rõ linh hồn tôi đang vướng phải hiểm nguy nhường nào; và dẫu biết vẫn còn một lối thoát mong manh, cả các anh và tôi đều không được phép lựa chọn con đường đó!" Ánh mắt cầu khẩn của cô lướt qua từng gương mặt, bắt đầu từ vầng trán lo âu của chồng và cũng khép lại nơi anh.
"Lối thoát đó là gì?" Giáo sư Van Helsing cất giọng khàn đặc. "Lối thoát đó là gì, mà chúng ta không được-không thể-chọn?"
"Đó là tôi có thể kết liễu đời mình ngay lúc này, bằng chính đôi tay này hoặc nhờ cậy một ai khác, trước khi thứ tội ác tày trời kia kịp bám rễ. Tôi biết, và các anh cũng biết, một khi tôi nhắm mắt xuôi tay, các anh hoàn toàn có thể và sẽ giải phóng cho linh hồn bất tử của tôi, như cách các anh đã làm với Lucy đáng thương. Nếu cái chết, hay nỗi sợ hãi cái chết, là thứ duy nhất ngáng đường, tôi sẽ chẳng ngại ngần quyên sinh ngay tại đây, ngay bây giờ, trong vòng tay của những người hằng yêu thương mình. Nhưng cái chết chưa phải là dấu chấm hết. Tôi không thể nào tin rằng việc chọn cái chết vào lúc này-khi tia hy vọng vẫn đang le lói phía trước và một nhiệm vụ xót xa đang chờ chúng ta gánh vác-lại là sự sắp đặt của Chúa. Vì lẽ đó, tôi cam tâm từ bỏ giấc ngủ ngàn thu bình yên ngay tại đây, để dấn bước vào cõi u minh, nơi có thể ẩn giấu những thứ nhơ nhuốc, đen tối nhất mà cả cõi trần lẫn cõi âm từng chứng kiến!" Bầu không khí chìm vào thinh lặng, bởi tự sâu thẳm, chúng tôi đều linh cảm đây mới chỉ là khúc dạo đầu. Gương mặt mọi người căng cứng, riêng Harker thì tái nhợt như tro tàn; có lẽ anh thấu tỏ điều sắp ập đến hơn bất kỳ ai trong chúng tôi. Cô chậm rãi tiếp lời:-
"Đây là phần tôi có thể đóng góp vào nỗ lực chung." Tôi không khỏi sững sờ trước cách cô dùng cụm từ pháp lý cổ kính ấy trong một hoàn cảnh nhường này, với tất cả sự trang nghiêm tột bậc. "Vậy mỗi người trong các anh sẽ trao đi điều gì? Trừ mạng sống của các anh ra," cô nói nhanh, "bởi điều đó quá đỗi dễ dàng đối với những đấng nam nhi quả cảm. Mạng sống các anh thuộc về Chúa, và các anh sẵn lòng hiến dâng lại cho Người; nhưng các anh sẽ trao cho tôi điều gì?" Ánh mắt cô lại ánh lên vẻ dò hỏi, nhưng lần này cố tình né tránh ánh nhìn của chồng. Quincey dường như đã thấu hiểu; cậu khẽ gật đầu, và nét mặt cô chợt bừng sáng. "Vậy tôi sẽ nói rõ những gì mình khẩn cầu, bởi giữa chúng ta lúc này chẳng thể tồn tại điều gì mơ hồ nữa. Các anh phải thề với tôi, tất cả mọi người-ngay cả anh, người chồng yêu dấu của em-rằng, nếu thời khắc tăm tối ấy điểm, các anh sẽ tự tay kết liễu đời tôi."
"Thời khắc đó là khi nào?" Quincey cất tiếng, giọng cậu trầm đục và căng như dây đàn.
"Là khi các anh thực sự tin rằng tôi đã bị biến đổi đến mức thà chết đi còn hơn phải tồn tại lây lất. Khi thể xác tôi đã thối rữa dưới nhân dạng ấy, các anh phải lập tức-không một giây chần chừ-đóng cọc gỗ xuyên qua tim và chặt đầu tôi; hoặc làm bất cứ điều gì cần thiết để mang lại cho linh hồn này sự yên nghỉ ngàn thu!"
Phá vỡ khoảng lặng trĩu nặng, Quincey là người đầu tiên bật dậy. Cậu quỳ một gối trước mặt phu nhân, nắm chặt tay cô và trịnh trọng thề:-
"Tôi vốn dĩ chỉ là một gã thô lỗ, có lẽ chưa từng sống cho ra dáng một trang nam nhi để xứng đáng nhận được vinh dự nhường này, nhưng tôi xin lấy tất cả những gì thiêng liêng và quý giá nhất đời mình ra mà thề với phu nhân rằng, nếu thời khắc bi thương đó thực sự gõ cửa, tôi quyết không chùn tay trước nhiệm vụ phu nhân giao phó. Và tôi cũng xin hứa sẽ làm mọi việc thật quyết đoán, bởi chỉ cần một tia nghi ngờ thoáng qua, tôi cũng sẽ mặc định rằng thời khắc đó đã điểm!"
"Người bạn đích thực của tôi!" Đó là tất cả những gì cô nấc nghẹn thốt lên giữa dòng nước mắt tuôn rơi lã chã, rồi khom người đặt một nụ hôn lên tay cậu để tri ân lời thề dũng cảm.
"Tôi cũng xin thề như vậy, Madam Mina quý mến của tôi!" Giáo sư Van Helsing nghẹn ngào tiếp lời.
"Và cả tôi nữa!" Lãnh chúa Godalming dõng dạc, khi từng người một lần lượt quỳ gối gieo lời thề trước cô. Cả tôi cũng không ngoại lệ. Lúc này, Jonathan mới hướng ánh nhìn mỏi mệt về phía vợ. Sắc mặt anh nhợt nhạt, xanh xao đến độ làm lu mờ cả mái tóc đã bạc trắng như tuyết. Anh thều thào hỏi:-
"Và em ơi, người vợ của anh, lẽ nào cả anh cũng phải buông một lời thề tàn khốc như vậy sao?"
"Cả anh nữa, hỡi người đàn ông em yêu thương nhất," cô khẽ đáp, ánh mắt và giọng nói ngập tràn một khao khát xót thương vô bờ bến. "Anh quyết không được chùn bước. Anh là người kề cận nhất, yêu thương em nhất và là cả thế giới trong em; linh hồn hai ta đã đan quyện vào nhau, từ kiếp này cho đến tận mai sau. Hãy ngẫm mà xem, anh yêu, đã từng có những dũng sĩ phải đứt ruột tự tay tước đoạt sinh mạng của vợ và những người phụ nữ đời mình, chỉ để bảo vệ họ khỏi việc rơi vào móng vuốt quân thù. Bàn tay họ đã không mảy may run rẩy thêm dẫu cho người họ nhất mực yêu thương có khóc than van nài sự ban ân của cái chết. Đó chính là thiên chức của những đấng nam nhi dành cho người phụ nữ họ yêu, trong những thời khắc thử thách khắc nghiệt tột cùng! Và ôi, anh yêu, nếu như định mệnh buộc em phải đón nhận cái chết từ bất kỳ ai, xin hãy để đó là bàn tay của người yêu em nhất trên đời. Giáo sư Van Helsing, cháu chưa từng quên sự nhân từ mà giáo sư đã dành cho Lucy đáng thương đối với người đã yêu..."-cô ngập ngừng, đôi má ửng đỏ rồi vội vã đổi lời-"...đối với người có quyền tối thượng nhất để ban cho cô ấy sự bình yên. Nếu cái thời khắc oan nghiệt đó lại tái diễn, cháu trông cậy cả vào giáo sư. Xin hãy biến nó thành một ký ức đẹp đẽ trong cuộc đời chồng cháu, để anh ấy tự hào rằng chính bàn tay nhuốm đầy tình yêu của anh đã cứu rỗi linh hồn cháu khỏi sự kìm kẹp kinh hoàng đang ngày đêm đè nặng."
"Ta thề một lần nữa!" Giọng vang rền của giáo sư trầm hùng cất lên. Phu nhân Harker khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng ngời từ tận tâm can, đoạn ngả người ra sau ghế với một tiếng thở phào trút bỏ gánh nặng. Cô thủ thỉ:-
"Và giờ là một lời cảnh báo đanh thép, thứ mà các anh ngàn vạn lần không được lãng quên: lần này, nếu bóng tối thực sự đoạt mạng, nó có thể ập đến chớp nhoáng và đầy rẫy hiểm nguy. Trong tình huống đó, các anh tuyệt đối không được để tuột mất cơ hội quý giá. Vào thời khắc ấy, chính tôi có thể-không! nếu thời điểm đó thực sự ập tới, tôi chắc chắn sẽ-phản trắc và bắt tay với kẻ thù để chống lại các anh."
"Em vẫn còn một thỉnh cầu cuối cùng;" thần sắc cô bỗng trở nên vô cùng trang nghiêm khi cất lời, "dẫu nó chẳng mang tính sống còn hay bức thiết như yêu cầu vừa rồi, nhưng em hằng mong các anh sẽ vì em mà thực hiện, nếu các anh sẵn lòng." Bọn tôi nhất loạt gật đầu đồng thuận, cõi lòng quặn thắt đến độ chẳng ai cất nổi nên lời; thật sự cũng chẳng cần dùng đến ngôn từ:-
"Tôi muốn các anh đọc Bài tang lễ1." Giọng cô đứt quãng bởi tiếng rên rỉ xé ruột xé gan của Jonathan; kéo tay chồng ôm ghì lấy tay mình, cô ép nó lên nơi lồng ngực đang đập liên hồi và dịu dàng tiếp: "Sẽ có một ngày anh phải đọc bài kinh ấy cho em. Bất chấp hồi kết của tấn bi kịch rùng rợn này có ra sao, thì đó vẫn sẽ mãi là một ý niệm ngọt ngào đọng lại trong tất thảy, hoặc ít nhất là với vài người trong chúng ta. Hỡi người em trọn kiếp yêu thương, em khát khao được nghe chính giọng anh đọc những dòng ấy, bởi chỉ có như vậy, thanh âm của anh mới mãi mãi khắc sâu vào tâm trí em-dẫu cho mai này có vật đổi sao dời ra sao đi chăng nữa!"
"Nhưng ôi, người vợ yêu dấu của anh," Jonathan thống thiết van nài, "cái chết vẫn còn cách xa em lắm kia mà."
"Không đâu anh," cô đáp, giơ một tay lên như muốn ngăn cản sự phủ nhận. "Ngay lúc này đây, em đang lún sâu vào cõi chết, sâu thẳm và đáng sợ hơn cả sức nặng của một nấm mồ trần gian đè nặng lên thân xác!"
"Ôi, người vợ của anh, liệu anh có nhất định phải đọc nó không?" anh thều thào, trước khi nghẹn ngào cất tiếng.
"Điều đó sẽ an ủi linh hồn em, hỡi người chồng của em!" đó là tất cả những gì Mina khẽ khàng đáp trả; và Jonathan bắt đầu xướng lên những lời nguyện khi cô đã mở sẵn cuốn kinh.
Làm sao tôi-hay bất kỳ ai trong thế gian này-có thể dùng lời lẽ để phác họa lại được cái khung cảnh kỳ lạ ấy: sự thiêng làm tột bậc đan xen nỗi u buồn chết chóc, sự ảm đạm rùng rợn quyện hòa với niềm kinh hoàng tột độ; và rồi, lấp lánh giữa tất thảy những đớn đau ấy, lại ánh lên một sự ngọt ngào xót xa. Ngay cả một kẻ sắt đá, vô thần, kẻ luôn miệng mỉa mai mọi giá trị thiêng liêng và tình cảm chân thành nhất, chắc chắn cũng sẽ vỡ nát cõi lòng nếu được chứng kiến cảnh nhóm bạn tri kỷ chất chứa đầy tình yêu thương và lòng tận tụy, đang quỳ gối vây quanh người phụ nữ đau khổ tột cùng ấy; hay khi đôi tai mọn lắng nghe được sự dịu dàng tha thiết ẩn giấu trong giọng nói của chồng cô. Nhịp điệu nghẹn đắng, đứt gãy vì những cảm xúc cuộn trào khiến anh cứ phải dừng lại hết lần này đến lần khác, khi cố gắng xướng lên những nghi thức mộc mạc mà tuyệt mỹ của Bài tang lễ. Tôi-tôi không thể viết thêm được nữa-ngôn từ-và-th-thanh-âm-c-của t-tôi-đ-đã ph-phản b-bội t-tôi rồi!
Rốt cuộc thì linh cảm của phu nhân Harker đã hoàn toàn chuẩn xác. Dẫu cho vạn vật có nhuốm màu kỳ dị đến mấy, dẫu cho tháng năm sau này khi hồi tưởng lại sự việc có nhuốm màu hoang đường ngay cả đối với chính chúng tôi-những người đã chìm ngập trong cảm xúc mãnh liệt của thời khắc đó-thì nghi lễ ấy thực sự đã vỗ về tâm hồn chúng tôi biết bao; và cái khoảng lặng câm đặc quánh báo hiệu phu nhân Harker đang trượt dài vào trạng thái ngục tù linh hồn lần nữa, dường như chẳng còn bủa vây ai trong chúng tôi bằng một nỗi tuyệt vọng tột cùng như những gì bọn tôi từng thầm khiếp sợ.
Nhật ký của Jonathan Harker.
Ngày 15 tháng Mười, Varna.-Chúng tôi rời ga Charing Cross vào sáng ngày 12, đặt chân đến Paris ngay trong đêm và lập tức an tọa vào những toa đã đặt trước trên chuyến tàu Tốc hành Phương Đông2. Băng qua cả ngày dài lẫn đêm thâu, chúng tôi đến nơi lúc chừng năm giờ. Lãnh chúa Godalming chạy vội đến Lãnh sự quán xem có bức điện tín nào đang đợi mình hay không, trong lúc những người còn lại tìm tới khách sạn này-"Odessus". Chuyến hành trình hẳn là có những biến cố nhất định; thế nhưng, ngọn lửa nôn nóng thúc giục tôi tiến bước đã thiêu rụi mọi sự bận tâm khác. Giờ đây, cho đến khi con tàu Czarina Catherine cập bến, trên thế gian rộng lớn này chẳng còn thứ gì đủ sức khiến tôi mảy may vướng bận. Tạ ơn Chúa! Mina vẫn bình an, và dường như đang dần mạnh mẽ hơn; sắc hồng hào đã phảng phất trở lại trên gương mặt cô ấy. Cô ấy ngủ rất nhiều; dọc suốt chuyến đi, hầu như lúc nào cô ấy cũng chìm vào giấc ngủ. Dẫu vậy, cứ vào khoảnh khắc rạng đông và hoàng hôn chạng vạng, cô ấy lại vô cùng tỉnh táo và nhạy bén. Việc Van Helsing thôi miên cô vào những thời khắc ấy đã trở thành một thông lệ. Ban đầu, mọi chuyện diễn ra khá chật vật, giáo sư phải phẩy tay liên tục; nhưng giờ đây, cô ấy dường như buông mình vào cơn thôi miên ngay tức khắc, tựa một thói quen ăn sâu mà chẳng cần ông phải làm thêm động tác nào. Dường như ở những thời khắc đặc biệt này, giáo sư sở hữu một quyền năng vô hình, chỉ cần truyền đi ý nghĩ là tâm trí cô ấy tự khắc tuân theo. Lần nào ông cũng hỏi cô ấy đang nhìn thấy và nghe thấy gì. Trả lời cho câu hỏi đầu tiên, cô ấy đáp:-
"Không có gì cả; chỉ một màu đen đặc kịt." Và với câu hỏi thứ hai:-
"Tôi nghe thấy tiếng sóng vỗ đập vào mạn thuyền, cùng tiếng nước chảy xiết ào ạt. Những nếp vải bạt và dây thừng căng ráo riết, cột buồm cùng xà rầm kêu cọt kẹt. Gió gào thét dữ dội-tôi cảm nhận được nó luồn qua những sợi dây văng, và mũi tàu đang rẽ sóng, hất tung bọt nước trắng xóa về phía sau." Rõ ràng là con tàu Czarina Catherine vẫn đang rẽ sóng ngoài khơi, lao vút trên hải trình tiến về Varna. Lãnh chúa Godalming vừa quay lại. Anh nhận được bốn bức điện, mỗi ngày một bức kể từ khi chúng tôi lên đường, và tất cả đều mang chung một thông điệp: vẫn chưa có bất kỳ nơi nào báo cáo tung tích của Czarina Catherine cho hãng Lloyd's3. Trước lúc rời London, anh đã cẩn thận dặn dò người đại diện mỗi ngày phải đánh điện báo tin xem con tàu đã cập bến nơi nào chưa. Anh yêu cầu phải nhận được điện báo ngay cả khi không có tin tức gì của con tàu, cốt để đoan chắc rằng mạng lưới theo dõi ở đầu dây bên kia vẫn đang vận hành sát sao.
Chúng tôi dùng bữa tối rồi đi nghỉ sớm. Ngày mai chúng tôi sẽ diện kiến Phó Lãnh sự, và nỗ lực thu xếp để có thể lên tàu ngay khoảnh khắc nó cập bến. Van Helsing quả quyết rằng thời cơ vàng để chúng tôi lên tàu là khoảng thời gian nằm giữa bình minh và hoàng hôn. Bá tước, dẫu có hóa thân thành một con dơi, cũng chẳng thể nào tự mình vượt qua dòng nước chảy, vì thế hắn bị cầm chân vĩnh viễn trên con tàu. Bởi không dám hiện nguyên hình người mà không chuốc lấy sự nghi ngờ-điều hắn hiển nhiên luôn muốn lẩn tránh-hắn buộc phải nằm im lìm trong chiếc rương. Nếu chúng ta lên tàu thành công sau khi mặt trời ló dạng, sinh mệnh của hắn sẽ hoàn toàn nằm trong tay chúng ta; lúc ấy, ta có thể cạy nắp rương và định đoạt mọi thứ, y như cách ta đã làm với Lucy đáng thương, ngay trước khi hắn kịp choàng tỉnh. Sự nhân từ mà chúng ta dành cho hắn rồi sẽ chỉ mỏng manh như một sợi chỉ. Chúng tôi tin rằng mình sẽ chẳng vướng phải quá nhiều rắc rối với các quan chức hay cánh thủy thủ. Tạ ơn Chúa! Ở cái đất nước mà sức mạnh đồng tiền có thể bôi trơn mọi thứ này, chúng tôi lại đang nắm trong tay một nguồn tài lực vô cùng dồi dào. Chỉ cần đảm bảo con tàu không thể tự tiện cập cảng trong khoảng thời gian từ chập tối đến mờ sáng mà chúng tôi không được báo trước, thì mọi chuyện sẽ êm xuôi. Tôi tin rằng, "Quan tòa Túi Tiền"4 sẽ phân xử trót lọt vụ này!
Ngày 16 tháng Mười.-Báo cáo của Mina không có gì mới: tiếng sóng đập mạn tàu và dòng nước ào ạt, bóng tối bủa vây cùng những cơn gió xuôi chiều. Rõ ràng chúng tôi đã đến rất kịp lúc, và ngay khi nhận được hung tin về Czarina Catherine, chúng tôi sẽ vào vị trí nghênh chiến. Vì con tàu buộc phải đi ngang eo biển Dardanelles5, kiểu gì chúng tôi cũng sẽ tóm được chút manh mối.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ngày 17 tháng Mười.-Tôi đồ rằng mọi thứ giờ đây đã được bày binh bố trận đâu ra đấy, sẵn sàng tổ chức một màn chào đón nồng nhiệt khi Bá tước trở về từ chuyến đi bão táp của hắn. Godalming đã bắn tiếng với đám phu khuân vác rằng anh tin chiếc rương sắp được dỡ xuống kia chứa một món kỷ vật bị đánh cắp từ người bạn của mình, và đã dụ dỗ được họ gật đầu nửa vời cho phép anh tự ý mở nó ra, miễn là anh phải gánh mọi rủi ro. Ông chủ hãng tàu còn trao cho anh một tờ giấy chỉ thị Thuyền trưởng phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để anh tự do hành động trên tàu, đi kèm một tờ giấy ủy quyền mang nội dung tương tự gửi cho người đại diện của ông ta tại Varna. Chúng tôi đã gặp gỡ viên đại diện, một gã hoàn toàn bị khuất phục trước thái độ ân cần, trịch thượng vừa đủ của Godalming. Tất thảy chúng tôi đều thở phào mãn nguyện khi biết rằng ông ta sẵn lòng làm bất cứ điều gì trong khả năng để đáp ứng yêu cầu của chúng tôi. Chúng tôi đã vạch sẵn kế hoạch tác chiến phòng khi cạy được nắp rương. Nếu Bá tước thực sự nằm trong đó, Van Helsing và Seward sẽ lập tức vung dao đoạt mạng, chặt đứt đầu hắn và đóng một mũi cọc nhọn hoắt xuyên thủng trái tim quỷ dữ. Morris, Godalming và tôi sẽ lập thành lá chắn cản bước mọi sự can thiệp, dẫu có phải rút những món vũ khí mà chúng tôi đã lận lưng sẵn ra để đối phó. Giáo sư đoan chắc rằng nếu chúng tôi xử lý cái xác của Bá tước theo cách đó, nó sẽ lập tức hóa thành cát bụi. Nhờ vậy, sẽ chẳng còn lại mảnh bằng chứng nào chống lại chúng tôi, nhỡ đâu có ai đó dấy lên nghi ngờ về một vụ giết người. Song, dẫu cho điều tồi tệ nhất có xảy ra đi nữa, chúng tôi vẫn sẽ kiêu hãnh đứng vững hoặc ngã xuống bởi chính hành động của mình. Và có lẽ, một ngày nào đó, những dòng nhật ký này sẽ trở thành mảnh bằng chứng duy nhất ngăn cách một vài người trong chúng tôi khỏi thòng lọng tử thần. Về phần mình, tôi nguyện ôm lấy kết cục ấy với lòng biết ơn sâu sắc nếu nó thực sự giáng xuống. Chúng tôi đã hạ quyết tâm sẽ dùng mọi thủ đoạn, không từ nan bất cứ điều gì để đạt được mục đích. Các thỏa thuận với một vài viên chức cũng đã xong xuôi: chỉ cần dáng dấp tàu Czarina Catherine vừa ló dạng nơi chân trời, một người đưa tin hỏa tốc sẽ lập tức phi ngựa báo cho chúng tôi.
Ngày 24 tháng Mười.-Cả một tuần đằng đẵng đợi chờ. Những bức điện tín gửi đến tay Godalming mỗi ngày đều lặp đi lặp lại một điệp khúc mòn mỏi: "Vẫn bặt vô âm tín." Những lời thì thầm của Mina trong cơn thôi miên lúc tinh mơ lẫn khi chạng vạng cũng chẳng mảy may thay đổi: tiếng sóng đập, dòng nước cuộn chảy và tiếng cột buồm cọt kẹt réo rắt.
Điện tín, ngày 24 tháng Mười.
Rufus Smith, hãng Lloyd's, London, gửi Lãnh chúa Godalming, thông qua Phó Lãnh sự H. B. M., Varna.
"Sáng nay, tàu Czarina Catherine đã được báo cáo xuất hiện tại eo biển Dardanelles."
Nhật ký của Bác sĩ Seward.
Ngày 25 tháng Mười.-Tôi nhớ chiếc máy quay đĩa của mình biết bao! Phải ngồi viết nhật ký bằng bút mực thế này quả thật phiền toái, nhưng Van Helsing bảo tôi cần phải ghi chép lại. Hôm qua, khi Godalming nhận được bức điện tín từ Lloyd's, tất cả chúng tôi đều sôi sục trong một niềm hưng phấn cuồng nhiệt. Giờ thì tôi đã thấu hiểu cảm giác của những người lính giữa sa trường, khi tiếng kèn xung trận vang lên. Phu nhân Harker, thành viên nữ duy nhất trong nhóm, lại không mảy may để lộ chút cảm xúc nào. Xét cho cùng, sự bình thản ấy cũng chẳng có gì lạ; bởi chúng tôi đã cẩn trọng giữ kín mọi chuyện, không để lọt đến tai cô ấy một lời, đồng thời luôn cố gắng che đậy sự phấn khích mỗi khi cô ấy có mặt. Nếu là những ngày trước đây, tôi dám chắc cô ấy sẽ lập tức nhìn thấu mọi tâm tư, bất chấp nỗ lực che giấu của chúng tôi. Nhưng chao ôi, cô ấy đã thay đổi quá nhiều trong suốt ba tuần qua. Một sự thờ ơ lạnh nhạt đang dần chiếm lấy cô, và dù cô ấy trông vẫn khỏe mạnh, sắc mặt cũng đã hồng hào trở lại, song cả tôi và Van Helsing đều canh cánh nỗi bất an. Chúng tôi thường xuyên trao đổi riêng về tình trạng của cô ấy, tuyệt nhiên không hé nửa lời với bất kỳ ai khác. Trái tim của Harker tội nghiệp sẽ vỡ vụn-và tôi tin chắc tinh thần anh ấy cũng sẽ sụp đổ hoàn toàn-nếu biết chúng tôi mảy may có ý niệm nghi ngờ về sự an nguy của vợ mình. Van Helsing kể lại rằng, trong lúc cô ấy chìm vào trạng thái thôi miên, giáo sư đã cẩn thận kiểm tra hàm răng của cô. Chừng nào những chiếc răng chưa bắt đầu nhọn hoắt đi, thì chưa có nguy cơ hiện hữu nào về một sự biến đổi. Nhưng một khi điều kinh khủng ấy thực sự xảy ra, chúng tôi buộc phải hành động!... Cả hai chúng tôi đều thấu hiểu những bước đi tiếp theo sẽ là gì, dẫu chẳng ai buông lời xác nhận. Dù viễn cảnh ấy có khủng khiếp đến nhường nào, chúng tôi cũng sẽ không chùn bước trước nhiệm vụ nghiệt ngã này. "Cái chết êm ái"-một cụm từ tuyệt mỹ và tràn đầy sự an ủi! Tôi thực sự biết ơn kẻ nào đã sáng tạo ra nó.
Từ Dardanelles đến đây chỉ mất vỏn vẹn khoảng hăm bốn giờ đi thuyền, nếu tính theo tốc độ mà tàu Czarina Catherine đã vượt qua quãng đường từ London. Do đó, con tàu hẳn sẽ cập bến vào một lúc nào đó trong buổi sáng; nhưng vì nó không thể vào cảng sớm hơn, tất cả chúng tôi quyết định đi ngủ sớm. Một giờ sáng, chúng tôi sẽ thức dậy để sẵn sàng nghênh đón.
Ngày 25 tháng Mười, Buổi trưa.-Vẫn bặt vô âm tín về con tàu. Những lời báo cáo của phu nhân Harker trong cơn thôi miên sáng nay chẳng có gì khác lạ, nên có thể chúng tôi sẽ nhận được tin tức bất cứ lúc nào. Những người đàn ông chúng tôi đều đang chìm trong cơn sốt phấn khích, ngoại trừ Harker. Anh ấy tĩnh lặng đến dị thường; đôi bàn tay lạnh buốt như băng, và chỉ một giờ trước, tôi còn bắt gặp anh đang mài sắc lẹm lưỡi dao Ghoorka6 lớn mà giờ đây luôn vật bất ly thân. Quả là một điềm gở dành cho Bá tước, nếu lưỡi dao "Kukri" ấy cứa vào cổ họng hắn, được vung lên bởi bàn tay buốt giá, kiên quyết đó!
Hôm nay, Van Helsing và tôi lại dấy lên chút âu lo về phu nhân Harker. Khoảng giữa trưa, cô ấy rơi vào một trạng thái lờ đờ mà chúng tôi vô cùng chán ghét; dẫu luôn giữ im lặng trước những người khác, cả hai chúng tôi đều chẳng hề an tâm. Suốt buổi sáng cô ấy đã trằn trọc không yên, nên thoạt đầu, chúng tôi rất mừng khi biết cô ấy chìm vào giấc ngủ. Tuy nhiên, lúc Harker vô tình nhắc đến việc vợ mình ngủ say đến mức chẳng thể nào đánh thức nổi, chúng tôi liền hối hả bước vào phòng để tự mình kiểm tra. Thấy cô ấy thở đều đặn, nét mặt thanh thản và toát lên vẻ khỏe mạnh, chúng tôi mới đồng tình rằng giấc ngủ này có lợi cho cô ấy hơn bất cứ phương thuốc nào. Cô gái tội nghiệp, có quá nhiều ký ức hãi hùng cần phải xóa nhòa, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi giấc ngủ-nếu nó có thể mang lại sự lãng quên-lại chính là chốn nương tựa tuyệt vời nhất.
Muộn hơn.-Nhận định của chúng tôi quả nhiên chính xác. Sau vài giờ say giấc nồng, cô ấy tỉnh dậy, trông rạng rỡ và tràn đầy sức sống hơn hẳn những ngày qua. Khi hoàng hôn buông xuống, cô ấy thực hiện buổi báo cáo thôi miên như thường lệ. Dù đang trôi dạt ở phương trời nào trên Biển Đen, Bá tước vẫn đang vội vã lao đến đích. Hắn đang lao đầu vào chỗ chết, tôi tin chắc là vậy!
Ngày 26 tháng Mười.-Lại một ngày ròng rã trôi qua mà vắng bặt tin tức của Czarina Catherine. Lẽ ra giờ này con tàu đã phải cập bến. Nhưng rõ ràng nó vẫn đang lênh đênh ở đâu đó, bởi báo cáo thôi miên lúc rạng đông của phu nhân Harker vẫn không hề thay đổi. Có lẽ con tàu phải tạm neo đậu do sương mù che khuất; tối qua, một số tàu hơi nước khi vào cảng đã báo cáo về những màn sương mù dày đặc rải rác ở cả phía bắc lẫn phía nam. Chúng tôi buộc phải tiếp tục túc trực, vì con tàu có thể phát tín hiệu bất kỳ lúc nào.
Ngày 27 tháng Mười, Buổi trưa.-Thật kỳ lạ khôn tả; vẫn chẳng thấy tăm hơi con tàu mà chúng tôi hằng mong đợi. Đêm qua và sáng nay, phu nhân Harker vẫn lặp lại những báo cáo thường nhật: "sóng vỗ và nước chảy xiết," dẫu cô có nói thêm rằng "những con sóng rất yếu ớt." Các bức điện tín từ London cũng chỉ đều đặn truyền đi một nội dung cũ mèm: "không có báo cáo gì thêm." Van Helsing đang bồn chồn lo lắng tột độ, giáo sư vừa thổ lộ nỗi sợ hãi rằng Bá tước đang dần trốn thoát khỏi tay chúng tôi. Rồi giáo sư lầm bầm đầy ẩn ý:-
"Tôi không thích trạng thái thờ ơ đó của Madam Mina chút nào. Trong những cơn hôn mê, linh hồn và ký ức có thể vẽ nên những điều kỳ dị." Tôi toan gặng hỏi thêm, nhưng ngay lúc đó Harker bước vào, và giáo sư khẽ giơ tay ra hiệu im lặng. Tối nay, lúc mặt trời lặn, chúng tôi buộc phải thử khai thác thêm nhiều chi tiết hơn khi cô ấy chìm vào thôi miên.
Ngày 28 tháng Mười.-Điện tín. Rufus Smith, London, gửi Lãnh chúa Godalming, thông qua Phó Lãnh sự H. B. M., Varna.
"Czarina Catherine được báo cáo tiến vào Galatz lúc một giờ hôm nay."
Nhật ký của Bác sĩ Seward.
Ngày 28 tháng Mười.-Khi bức điện tín báo tin con tàu đã cập bến Galatz gửi đến, tôi lại không thấy ai trong chúng tôi tỏ ra bàng hoàng như lẽ thường tình. Phải, chúng tôi chẳng tài nào đoán được tia sét định mệnh sẽ giáng xuống từ đâu, bằng cách nào, hay vào lúc nào; song tôi đồ rằng ai nấy đều thầm linh cảm một sự kiện kỳ lạ sắp sửa nổ ra. Sự chậm trễ ở Varna đã khiến mỗi người trong chúng tôi ngầm tự nhủ rằng mọi chuyện sẽ chẳng bám theo đúng quỹ đạo đã định; chúng tôi chỉ nín thở chờ xem biến số sẽ xuất hiện ở đâu. Dẫu vậy, tin tức này vẫn mang lại một cú chấn động. Tôi trộm nghĩ rằng tạo hóa vốn dĩ được dựng xây trên một nền tảng đầy ắp hy vọng, nên chúng ta luôn bám víu vào niềm tin đi ngược lại lý trí, rằng mọi việc rồi sẽ diễn ra như lẽ ra chúng phải thế, thay vì chấp nhận thực tại mà chúng ta thừa biết sẽ xảy đến. Chủ nghĩa siêu việt7 giống như ngọn hải đăng soi đường cho các thiên thần, song với con người, nó chẳng khác nào ngọn lửa ma trơi dụ dỗ kẻ lữ hành. Đó quả là một trải nghiệm dị thường, và mỗi người chúng tôi lại đón nhận nó theo một cách riêng. Van Helsing vung hai tay ôm đầu mất một lúc, tựa hồ đang uất ức oán trách Đấng Toàn Năng; nhưng giáo sư tuyệt nhiên không thốt ra nửa lời, và chỉ vài giây sau, ông đứng thẳng dậy, nét mặt đanh lại đầy kiên quyết. Lãnh chúa Godalming thì tái nhợt hẳn đi, thả mình xuống ghế và thở những nhịp nặng nhọc. Về phần mình, tôi chỉ biết ngồi đó bàng hoàng, hết nhìn người này lại ngó người kia trong sự ngỡ ngàng tột độ. Quincey Morris vội đưa tay siết chặt thắt lưng bằng một động tác dứt khoát mà tôi đã quá đỗi quen thuộc; trong những tháng ngày lang bạt xưa kia của chúng tôi, động tác ấy đồng nghĩa với "sẵn sàng chiến đấu." Phu nhân Harker bỗng chốc trắng bệch như một bóng ma, đến mức vết sẹo trên trán cô tưởng chừng đang bốc lửa rực đỏ, nhưng cô chỉ lặng lẽ chắp tay hiền hòa và ngước mắt lên trời cầu nguyện. Harker lại mỉm cười-anh thực sự mỉm cười-một nụ cười u ám, cay đắng của một kẻ đã bị tước đoạt mọi tia hy vọng; nhưng đồng thời hành động của anh lại hoàn toàn trái ngược với vẻ mặt đó, bởi đôi tay anh theo bản năng đã trượt xuống tìm chuôi con dao Kukri cỡ lớn và đặt hờ lên đó. "Chuyến tàu tiếp theo đến Galatz sẽ khởi hành lúc mấy giờ?" Van Helsing lớn tiếng hỏi tất cả chúng tôi.
"Lúc sáu giờ rưỡi sáng mai!" Tất cả chúng tôi đều giật nảy mình, bởi câu trả lời ấy lại thốt ra từ miệng phu nhân Harker.
"Làm cái quái nào mà cô lại biết được thế?" Art buột miệng hỏi.
"Lãnh chúa quên mất rồi-hoặc có lẽ anh chưa từng biết, dẫu cho Jonathan và Bác sĩ Van Helsing đều rõ-rằng tôi là một tín đồ cuồng nhiệt của xe lửa. Hồi còn ở nhà tại Exeter, tôi vẫn luôn giữ thói quen lập bảng giờ tàu chạy để tiện giúp đỡ chồng mình. Lắm lúc, tôi nhận ra thói quen này hữu ích đến độ giờ đây tôi luôn dành thời gian nghiên cứu các lịch trình tàu hỏa. Tôi thừa hiểu rằng nếu có bất cứ biến cố nào buộc chúng ta phải tiến đến Lâu đài Dracula, chúng ta ắt hẳn phải đi ngang qua Galatz, hoặc chí ít cũng phải qua Bucharest. Do vậy, tôi đã cẩn thận ghi nhớ toàn bộ lịch trình. Chỉ tiếc là chẳng có mấy thông tin để nghiên cứu, bởi chuyến tàu duy nhất của ngày mai sẽ khởi hành đúng vào giờ tôi vừa nói."
"Thật là một người phụ nữ phi thường!" Giáo sư khẽ thầm thì.
"Liệu chúng ta có thể thuê một chuyến tàu đặc biệt không?" Lãnh chúa Godalming nôn nóng hỏi. Van Helsing lắc đầu đáp: "Ta e là không thể. Vùng đất này khác xa quê hương của cậu hay của ta; ngay cả khi có thuê được một chuyến tàu đặc biệt, cũng chưa chắc nó sẽ đưa chúng ta đến đích sớm hơn chuyến tàu thường kỳ. Hơn nữa, chúng ta vẫn còn một số việc cần phải chuẩn bị. Chúng ta phải suy tính thật kỹ. Bây giờ, hãy phân công lại nhiệm vụ. Cậu, anh bạn Arthur, hãy chạy ngay ra ga tàu để mua vé, đồng thời sắp xếp sao cho mọi thứ sẵn sàng để chúng ta có thể khởi hành vào sáng sớm. Cậu, anh bạn Jonathan, hãy đi tìm gặp viên đại lý của hãng tàu thủy và lấy những lá thư ủy quyền gửi cho đại lý ở Galatz, kèm theo giấy phép cho phép chúng ta tiến hành lục soát con tàu giống y như những gì chúng ta đã làm tại đây. Cháu, Morris Quincey, hãy đi gặp ngài Phó Lãnh sự, nhờ ông ấy đánh tiếng hỗ trợ tới người đồng cấp ở Galatz, cùng mọi sự giúp đỡ có thể để dọn đường cho chúng ta, đảm bảo không có phút giây nào bị lãng phí khi vượt sông Danube. Anh John sẽ ở lại cùng Madam Mina và ta, rồi chúng ta sẽ cùng nhau hội ý. Phân công như vậy để nhỡ các cậu có mất thời gian thì mới bị chậm trễ; và cũng chẳng hề hấn gì khi mặt trời lặn, bởi ta đã ở lại đây cùng Madam Mina để thực hiện những báo cáo cần thiết."
"Còn tôi," phu nhân Harker cất giọng rạng rỡ, thần thái của cô bỗng chốc rạng ngời và giống với con người cũ của cô hơn bất cứ lúc nào trong suốt khoảng thời gian đằng đẵng vừa qua, "sẽ cố gắng hết sức để giúp ích về mọi mặt. Tôi sẽ suy ngẫm và ghi chép cẩn thận cho các anh giống hệt như những gì tôi vẫn thường làm. Có một thế lực nào đó dường như đang kỳ lạ rút khỏi người tôi, và tôi cảm thấy tâm hồn mình tự do hơn hẳn so với dạo gần đây!" Ba người đàn ông trẻ tuổi lập tức bừng lên vẻ hạnh phúc khi dường như lờ mờ nhận ra ý nghĩa phía sau những lời cô nói; thế nhưng, Van Helsing và tôi lại lẳng lặng quay sang nhìn nhau, mỗi người đều bắt gặp một ánh mắt nghiêm nghị và trĩu nặng âu lo nơi người kia. Dù vậy, ngay tại khoảnh khắc ấy, chúng tôi chẳng ai hé nửa lời.
Khi ba người đàn ông đã rời đi để thi hành nhiệm vụ của mình, Van Helsing bèn yêu cầu phu nhân Harker lục tìm bản sao của các cuốn nhật ký và trích xuất cho giáo sư đoạn ghi chép nhật ký của Harker hồi còn ở Lâu đài. Cô vâng lời đi lấy nó; và ngay khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng cô, giáo sư liền quay sang nói với tôi:-
"Chúng ta đang có chung một suy nghĩ! Anh hãy nói ra đi!"
"Đang có một sự biến chuyển nào đó. Đó là một tia hy vọng mỏng manh đến mức khiến tôi phát ốm, bởi rất có thể nó chỉ là một ảo ảnh đang lừa phỉnh chúng ta."
"Đúng vậy. Anh bạn có biết lý do tại sao ta lại nhờ cô ấy đi lấy bản thảo không?"
"Tôi không rõ!" tôi đáp, "trừ phi giáo sư muốn mượn cớ đó để có cơ hội nói chuyện riêng với tôi."
"Anh nói đúng một phần, bạn John ạ, nhưng chỉ một phần thôi. Ta thực sự muốn nói với anh một điều. Và ôi, người bạn của ta ơi, ta đang đánh cược bằng một rủi ro tày đình-một rủi ro khủng khiếp; nhưng ta vững tin rằng điều đó là hoàn toàn đúng đắn. Ngay vào cái khoảnh khắc Madam Mina thốt ra những lời thu hút sự chú ý của cả hai chúng ta, một tia sáng bừng lên trong tâm trí ta. Trong cơn hôn mê của cô ấy ba ngày trước, tên Bá tước đã phóng linh hồn hắn đến để bòn rút tâm trí cô; hay nói đúng hơn, hắn đã lôi kéo cô đến để nhìn thấy hắn đang ẩn náu trong chiếc hộp đất trên con tàu xuôi theo dòng nước chảy xiết, vào đúng thời khắc hắn được giải phóng tự do lúc bình minh và hoàng hôn. Chính qua đó, hắn đã đánh hơi được rằng chúng ta đang túc trực ở đây; bởi trong cuộc sống rộng mở này, với đôi mắt thấu thị và đôi tai thính nhạy, cô ấy có quá nhiều điều để thu thập và kể lại so với một kẻ đang bị giam hãm chật vật trong cỗ quan tài tối tăm như hắn. Giờ đây, hắn đang dốc toàn bộ sinh lực để tìm đường trốn chạy khỏi chúng ta. Và lúc này, hắn không còn cần cô ấy nữa.
"Dựa vào nguồn kiến thức khổng lồ của mình, hắn đinh ninh rằng cô ấy nhất định sẽ đáp lời mỗi khi hắn vẫy gọi; nhưng giờ hắn đã chủ động cắt đứt mối liên kết ấy-hắn đã hất cô ra khỏi phạm vi thao túng của chính mình, để cô không thể truy ra tung tích của hắn. Ah! Ta chỉ hy vọng rằng bộ não con người của chúng ta, vốn đã làm người từ muôn thuở và chưa từng đánh mất ân sủng của Đức Chúa Trời, sẽ đủ sức vươn cao, vượt mặt cái bộ não non nớt của hắn. Một bộ não dẫu đã mục ruỗng dưới nấm mồ qua hàng thế kỷ, nhưng vẫn chưa phát triển đến tầm vóc hoàn thiện của chúng ta, chỉ biết hành động xoay quanh những mưu đồ ích kỷ, ti tiện. Madam Mina đang tới kia; tuyệt đối đừng hé răng lấy nửa lời với cô ấy về cơn hôn mê vừa rồi! Cô ấy hoàn toàn không hay biết gì; và nếu biết, sự thật ấy sẽ đè bẹp cô, nhấn chìm cô vào hố sâu tuyệt vọng ngay trong thời khắc chúng ta cần toàn bộ hy vọng, toàn bộ lòng can đảm nơi cô; vào lúc chúng ta khao khát nhất cái trí tuệ tuyệt vời của cô-một trí tuệ sắc sảo được rèn giũa như đàn ông, nhưng lại ẩn sâu trong hình hài một người phụ nữ ngọt ngào, mang trong mình thứ sức mạnh đặc biệt mà tên Bá tước đã truyền sang, và là thứ mà hắn không tài nào tước đoạt lại hoàn toàn-mặc dù hắn đang lầm tưởng như thế. Suỵt! Cứ để ta nói, rồi anh sẽ dần hiểu ra. Ôi, John, người bạn của ta, chúng ta đang bị dồn vào một thế kẹt khủng khiếp. Ta đang run sợ, một nỗi sợ hãi tột cùng mà ta chưa từng nếm trải. Giờ đây, chúng ta chỉ còn biết phó mặc niềm tin vào Đức Chúa Trời nhân từ. Im lặng nào! Cô ấy đã đến rồi!"
Nhìn bộ dạng ấy, tôi cứ ngỡ Giáo sư sắp sửa suy sụp và mất kiểm soát hoàn toàn, y hệt như cái đêm Lucy trút hơi thở cuối cùng. Thế nhưng, bằng một nỗ lực phi thường, ông đã kìm nén được cảm xúc và nhanh chóng lấy lại sự bình tĩnh tuyệt đối ngay khi phu nhân Harker vừa bước vào phòng. Trông cô lúc này thật tươi sáng, hạnh phúc, và dường như guồng quay công việc đã giúp cô tạm quên đi tấn bi kịch đang đeo bám mình. Vừa tiến vào, cô liền trao một xấp giấy đánh máy cho Van Helsing. Giáo sư cẩn trọng lướt mắt qua từng dòng, khuôn mặt ông bừng sáng rạng rỡ khi lật giở những trang giấy. Đoạn, ông dùng ngón trỏ và ngón cái kẹp chặt tập tài liệu lại rồi cất giọng:-
"Bạn John, đối với một người đã dày dặn kinh nghiệm như anh-và cả cháu nữa, Madam Mina thân mến, một tâm hồn hãy còn tươi trẻ-đây quả là một bài học đắt giá: đừng bao giờ run sợ trước tư duy của chính mình. Một ý niệm dang dở thường xuyên vo ve lẩn khuất trong tâm trí ta, nhưng ta lại hèn nhát không dám thả cho nó vỗ cánh bay đi. Và giờ đây, khi đã đúc kết được nhiều manh mối hơn, ta quay ngoắt lại khởi nguồn của ý niệm dang dở đó, chỉ để bàng hoàng nhận ra nó vốn chẳng hề dang dở; nó là một ý niệm toàn vẹn, dẫu hãy còn quá đỗi non nớt để tự tung đôi cánh bé nhỏ của mình lên bầu trời. Không, giống hệt như chú 'Vịt con xấu xí' của người bạn Hans Andersen của ta, nó tuyệt nhiên không mang hình hài tư duy của một con vịt, mà mang dấp dáng tư duy của một con thiên nga kiêu hãnh giương rộng đôi cánh oai vệ bơi lướt trên mặt hồ, một khi thời khắc chứng tỏ bản lĩnh của nó đã điểm. Này, hãy xem ta vừa đọc được những gì Jonathan đã chắp bút ghi lại ở đây:-
"'Một hậu duệ thuộc dòng máu của hắn, sống ở thời đại sau này, đã hết lần này đến lần khác thống lĩnh đại quân vượt qua Dòng Sông Lớn để tràn vào Vùng đất Thổ Nhĩ Kỳ; kẻ mà, dẫu có bị đánh tơi tả bật sới, vẫn ngoan cố quay lại một lần, một lần, rồi lại một lần nữa. Mặc cho hắn phải lê bước cô độc trở về từ những chiến trường đẫm máu, bỏ mặc quân sĩ của mình đang bị tàn sát không thương tiếc, hắn vẫn không chùn bước, bởi hắn ôm niềm tin mãnh liệt rằng chỉ có duy nhất hắn mới đủ khả năng giành lấy vinh quang tối hậu.'"
"Đoạn văn này tiết lộ cho chúng ta điều gì? Không nhiều sao? Sai rồi! Khối óc ngây ngô của tên Bá tước không lường trước được gì cả; do đó hắn mới tự đắc buông lời. Bộ não sắc bén của anh không nhìn thấu được gì; bộ não già cỗi của ta cũng chẳng nhìn thấu được gì, cho mãi tới tận khoảnh khắc này. Chẳng có gì sất! Nhưng lại có một từ khóa thốt ra từ miệng một người đang nói mà không hề toan tính, bởi chính cô ấy cũng chẳng hay biết nó thực sự mang ý nghĩa gì-nó có thể mang ý nghĩa gì. Cũng giống như những nguyên tố nằm bất động, nhưng thuận theo dòng chảy của tự nhiên, chúng từ từ dịch chuyển trên quỹ đạo của mình rồi vô tình va đập vào nhau-và bùm! Một tia chớp chói lòa xé toạc cả bầu trời, làm mù mắt, cướp đi sinh mạng và tiêu diệt một số kẻ kém may mắn; nhưng đồng thời, nó cũng thắp sáng toàn bộ vùng bình nguyên bên dưới trải dài hàng dặm. Có phải vậy không? Thôi được, ta sẽ giải thích cặn kẽ. Để bắt đầu, anh đã bao giờ nghiên cứu về triết học tội phạm chưa? 'Rồi' và 'Chưa.' Anh, anh bạn John, anh đã từng; bởi nó gắn liền với chuyên ngành nghiên cứu về bệnh tâm thần của anh. Còn cháu, cháu thì chưa, Madam Mina; bởi tội ác chưa từng chạm tay đến cháu-ngoại trừ duy nhất một lần này. Dẫu vậy, tâm trí cháu vẫn vận hành vô cùng nhạy bén, và không hề sa đà vào thói quen lập luận theo kiểu a particulari ad universale8. Bọn tội phạm luôn chia sẻ một đặc điểm chung. Đặc điểm này kiên định đến mức, bất kể ở quốc gia nào hay thời đại nào, ngay cả lực lượng cảnh sát-những người vốn chẳng rành rẽ về triết học-cũng tự rút ra kết luận từ kinh nghiệm thực tiễn rằng nó đích thị là như vậy. Đó là khoa học thực nghiệm. Bọn tội phạm chỉ luôn hành động theo một phương thức phạm tội cố hữu-đó là loại tội phạm thực thụ, dường như sinh ra là để nhúng chàm, và chúng sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đổi hướng. Tên tội phạm này không sở hữu một bộ não hoàn thiện của một người đàn ông trưởng thành. Hắn thông minh, xảo quyệt và đầy mưu mẹo; nhưng xét về cấu trúc tư duy, hắn không vươn tới tầm vóc của một con người. Ở nhiều khía cạnh, hắn chỉ mang bộ não của một đứa trẻ lên ba. Bây giờ, tên tội phạm đang đối đầu với chúng ta cũng là một kẻ sinh ra để gieo rắc tội ác; hắn mang trong mình trí tuệ trẻ con, và những trò hắn thi triển cũng hệt như hành vi của một đứa trẻ. Đám chim chóc non nớt, bọn cá nhỏ, hay những con thú bé con học hỏi thế giới xung quanh không phải bằng nguyên tắc học thuật, mà bằng kinh nghiệm thực tế; và khi chúng đã nắm được mánh lới, đó chính là nền tảng vững chắc để chúng bắt đầu mở rộng trò chơi. 'Dos pou sto9,' Archimedes từng nói. 'Hãy cho tôi một điểm tựa, và tôi sẽ bẩy tung cả Trái đất!' Thực hiện trót lọt một lần, đó chính là điểm tựa để bộ não trẻ con lột xác thành bộ não đàn ông; và cho đến khi hắn nung nấu ý định bành trướng, hắn sẽ ngoan cố lặp đi lặp lại những hành vi cũ rích ở mọi thời điểm, rập khuôn y chang những gì hắn từng làm trong quá khứ! Ồ, cháu yêu, ta thấy mắt cháu đã mở to rồi kìa, và tia chớp nhận thức đó đã thắp sáng cả dặm đường mịt mùng cho cháu," bởi phu nhân Harker đã bắt đầu vỗ tay tán thưởng và đôi mắt cô long lanh sáng rực. Giáo sư liền tiếp lời:-
"Bây giờ đến lượt cháu nói. Hãy phân tích cho hai gã làm khoa học khô khan chúng ta nghe xem cháu đã nhìn thấu được gì qua đôi mắt vô cùng sáng ngời đó." Giáo sư vừa nói vừa nắm lấy tay cô và giữ chặt trong lúc cô cất lời. Tôi lờ mờ nhận ra ngón trỏ và ngón cái của giáo sư đang đặt hờ lên mạch đập của cô, dường như ông đang hành động theo bản năng và hoàn toàn trong vô thức, khi cô dõng dạc nói:-
"Tên Bá tước là một tên tội phạm, và rõ ràng mang đặc trưng của bọn tội phạm. Cả Nordau lẫn Lombroso10 chắc chắn sẽ phân loại hắn vào nhóm đó. Và với tư cách là một tên tội phạm, hắn sở hữu một trí tuệ chưa phát triển trọn vẹn. Do đó, mỗi khi bị dồn vào bước đường cùng, hắn buộc phải bấu víu vào thói quen cũ để tìm kiếm lối thoát. Quá khứ của hắn chính là chìa khóa tháo gỡ vấn đề, và trang duy nhất hé lộ về quá khứ mà chúng ta được biết-được thốt ra từ chính miệng hắn-đã vạch trần một sự thật rằng, trước đây đã có một lần, khi rơi vào cảnh ngộ mà anh Morris hay gọi là 'tình thế ngặt nghèo', hắn đã từ bỏ vùng đất đang hòng xâm lược để tháo chạy về cố hương. Rồi từ đó, không hề đánh mất mục tiêu ban đầu, hắn âm thầm dưỡng quân chờ ngày vùng lên cho một nỗ lực mới. Hắn quay trở lại với sự chuẩn bị kỹ càng hơn, vũ trang đầy đủ hơn; và kết cục là hắn đã giành phần thắng. Lần này cũng vậy, hắn mò đến London để bành trướng lãnh thổ sang một vùng đất mới. Nhưng hắn đã chuốc lấy thất bại, và khi mộng tưởng thành công tan thành mây khói, mạng sống lại bị đe dọa nghiêm trọng, hắn bèn ôm đầu máu chạy trốn qua biển để tìm đường về nhà; kịch bản lặp lại y đúc như cái cách hắn từng vượt qua dòng sông Danube để tháo chạy khỏi Vùng đất Thổ Nhĩ Kỳ khi xưa."
"Giỏi, xuất sắc lắm! Ôi, quý cô thông minh của ta!" Van Helsing nhiệt thành tán thưởng, trong lúc giáo sư cung kính cúi xuống hôn lên tay cô. Lát sau, ông quay sang tôi bình thản nói, tựa hồ chúng tôi đang tiến hành một cuộc hội chẩn y khoa thường nhật ngay trong phòng bệnh:-
"Nhịp tim chỉ đo được bảy mươi hai; ngay cả giữa lúc đang phấn khích tột độ thế này. Ta đang tràn trề hy vọng." Đoạn, giáo sư lại quay sang cô ấy, ánh mắt ánh lên một niềm kỳ vọng mãnh liệt:-
"Nhưng cháu hãy tiếp tục đi. Tiếp tục phân tích đi! Vẫn còn nhiều điều ẩn khuất để phơi bày nếu cháu sẵn lòng. Đừng run sợ; anh John và ta đều am tường điều này. Hơn nữa, ta đã nắm được mấu chốt, và sẽ vạch rõ cho cháu thấy nếu lập luận của cháu là đúng đắn. Hãy mạnh dạn nói đi, đừng sợ hãi!"
"Cháu sẽ cố gắng; nhưng xin các giáo sư hãy lượng thứ nếu như cháu có trót tỏ ra đang quá đề cao bản thân mình."
"Không hề! Đừng e ngại gì cả, cháu phải đề cao bản thân, bởi cháu chính là trung tâm của mọi bề suy tính lúc này."
"Nếu vậy thì, bởi hắn mang bản tính tội phạm, hắn vô cùng ích kỷ; và bởi trí tuệ của hắn thiển cận, lại chuyên hành động dựa trên lòng dạ hẹp hòi, hắn tự trói buộc bản thân vào duy nhất một mục đích. Mục đích ấy tàn độc đến tận cùng. Y hệt như cái lần hắn ôm đầu chạy trốn qua sông Danube, nhẫn tâm bỏ mặc quân sĩ của mình cho kẻ thù thẳng tay tàn sát, thì giờ đây hắn cũng chỉ nhất nhất lo bảo toàn mạng sống, bất chấp tất thảy. Chính vì lẽ đó, sự ích kỷ tột độ của hắn đã vô tình cởi trói linh hồn cháu khỏi thứ sức mạnh kinh hoàng mà hắn đã chiếm đoạt được từ cháu trong cái đêm kinh hoàng nọ. Cháu đã cảm nhận được điều đó! Ôi, cháu cảm nhận được rõ mồn một! Tạ ơn Chúa vì lòng nhân từ bao la của Người! Linh hồn cháu đã tự do hơn hẳn kể từ thời khắc kinh hoàng ấy; và tất cả những gì còn sót lại ám ảnh cháu giờ đây chỉ là nỗi sợ hãi chập chờn, rằng trong một cơn hôn mê hay một giấc mơ thoáng qua nào đó, hắn có thể đã thừa cơ bòn rút kiến thức của cháu để phục vụ cho những mưu đồ đen tối của hắn." Giáo sư bỗng bật đứng dậy:-
"Hắn đã lợi dụng tâm trí cháu y như vậy; và bằng đúng thủ đoạn đó, hắn đã lừa chúng ta chôn chân ở Varna, trong khi con tàu chở hắn đang xuyên qua lớp sương mù dày đặc để lao thẳng tới Galatz, nơi mà chẳng còn chút nghi ngờ nào nữa, hắn đã dọn sẵn đường êm để trốn thoát khỏi chúng ta. Thế nhưng, cái trí tuệ non nớt của hắn cũng chỉ tính được xa đến chừng ấy; và có lẽ, đúng như sự an bài huyền diệu của Chúa vẫn thường diễn ra, chính những mưu mô mà kẻ làm ác dày công toan tính để vun vén lợi ích cho mình, rốt cuộc lại trở thành đòn chí mạng quật ngã hắn. Kẻ đi săn cuối cùng lại sập bẫy của chính mình, hệt như lời vị Thơ xưng tụng vĩ đại đã răn dạy. Giờ đây, khi hắn dương dương tự đắc rằng mình đã rũ bỏ được mọi sự bám đuôi của chúng ta, và tin chắc rằng mình đã cao chạy xa bay với ngần ấy lợi thế thời gian trong tay, thì chính cái bộ não trẻ con, thiển cận ấy sẽ ngân nga ru hắn chìm vào giấc ngủ say sưa. Hắn còn ngây thơ tin rằng, một khi hắn chủ động phong tỏa đường truyền vào tâm trí cháu, sẽ chẳng còn chút tin tức nào về hắn lọt được đến tai cháu nữa; và đó chính là bước ngoặt đánh dấu sự thất bại thảm hại của hắn! Chính cái phép rửa tội bằng máu kinh hoàng mà hắn ép cháu phải chịu đựng đã vô tình giải phóng linh hồn cháu, cho phép cháu tự do lướt đến chỗ hắn bằng tâm linh, như cách cháu vẫn thường làm vào những khoảnh khắc tự do của mình, lúc mặt trời mọc và lặn. Tại những thời điểm linh thiêng đó, cháu tìm đến hắn bằng chính ý chí kiên định của mình chứ không phải chịu sự sai khiến của hắn; và quyền năng kỳ diệu này sinh ra là để mang lại ánh sáng cho cháu cùng mọi người, một món quà xứng đáng bù đắp cho những đọa đày mà cháu phải gánh chịu dưới bàn tay nhơ nhuốc của hắn. Quyền năng ấy lúc này càng trở nên vô giá bởi hắn hoàn toàn mù tịt về điều đó, và mỉa mai thay, vì quá lo bảo vệ bản thân, hắn thậm chí đã tự bịt mắt mình, cắt đứt luôn nguồn thông tin để dò la hành tung của chúng ta. Thế nhưng, chúng ta chẳng hề ích kỷ, và chúng ta mang niềm tin mãnh liệt rằng Chúa đang kề vai sát cánh, dắt tay chúng ta vượt qua mọi vực thẳm u minh và những canh giờ đen tối đằng đẵng này. Chúng ta sẽ ráo riết truy cùng diệt tận hắn; chúng ta sẽ quyết không chùn bước; dẫu có phải đẩy bản thân vào những tình thế hiểm nghèo tột độ đến mức biến mình thành thứ giống như hắn. Bạn John, đây quả thực là một canh giờ trọng đại; và sự phát hiện này đã chắp cánh mạnh mẽ, hối thúc chúng ta vững bước trên con đường phía trước. Anh hãy đảm đương vai trò thư ký, cẩn thận chép lại tất cả những gì vừa được phơi bày, để khi những người khác hoàn thành nhiệm vụ quay về, anh có thể trình ngay cho họ xem; qua đó họ sẽ tức tốc thấu hiểu những gì chúng ta đang nắm giữ."
Và thế là tôi cặm cụi ghi chép lại mọi việc trong lúc nín thở chờ đợi nhóm của Arthur trở về, còn phu nhân Harker thì thoăn thoắt đánh máy lại toàn bộ những diễn biến vừa xảy ra kể từ cái khoảnh khắc cô mang xấp bản thảo đặt lên bàn cho chúng tôi.
-
Nguyên gốc là "Burial Service" (Nghi thức an táng của Giáo hội). Việc Mina yêu cầu đọc bài kinh này khi cô vẫn còn sống cho thấy cô đã tự coi mình như người đã chết, sẵn sàng hy sinh linh hồn để tiêu diệt cái ác. ↩
-
(Orient Express) Chuyến tàu khách đường dài huyền thoại của châu Âu (từ Paris đến Istanbul), biểu tượng cho sự sang trọng và tốc độ vượt trội thời bấy giờ. ↩
-
Lloyd's of London là một tổ chức bảo hiểm và thị trường thông tin hàng hải nổi tiếng thế giới tại Anh, chuyên cập nhật vị trí và tin tức của các con tàu trên khắp các đại dương. ↩
-
Nguyên gốc "Judge Money-bag", một cách chơi chữ ngụ ý dùng sức mạnh của tiền bạc để bôi trơn, hối lộ các quan chức hải quan và nhà chức trách địa phương nhằm lách luật. ↩
-
Một eo biển chiến lược ở Thổ Nhĩ Kỳ, là cửa ngõ hàng hải độc đạo bắt buộc tàu thuyền phải đi qua để tiến từ Địa Trung Hải vào Biển Đen. ↩
-
Hay còn gọi là dao Kukri. Đây là loại vũ khí đặc trưng của lính đánh thuê người Nepal (Gurkha), có lưỡi cong, rất nặng và sắc bén, với nhát chém uy lực đủ sức chặt đứt đầu mục tiêu. ↩
-
(Transcendentalism) Triết lý nhấn mạnh vào trực giác và niềm tin siêu nhiên thay vì lý trí. Bác sĩ Seward mỉa mai rằng lối suy nghĩ lạc quan mù quáng này đôi khi chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm. ↩
-
Thuật ngữ logic học bằng tiếng Latin, nghĩa là "từ cái cá biệt suy ra cái phổ quát". Giáo sư khen ngợi Mina không mắc lỗi ngụy biện vơ đũa cả nắm khi đánh giá vấn đề. ↩
-
Cụm từ tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa là "Hãy cho tôi một chỗ đứng". Nhà toán học Archimedes dùng câu này để minh họa cho nguyên lý đòn bẩy, ý nói kẻ ác dùng một thành công nhỏ làm điểm tựa để tiếp tục mở rộng. ↩
-
Max Nordau và Cesare Lombroso là hai học giả lừng danh thế kỷ 19 về tội phạm học. Lombroso khởi xướng lý thuyết cho rằng tội phạm mang những đặc điểm thể chất và tâm thần bẩm sinh không thể cải tạo. ↩
CHAPTER XXV DR. SEWARD’S DIARY
11 October, Evening.-Jonathan Harker has asked me to note this, as he says he is hardly equal to the task, and he wants an exact record kept.
I think that none of us were surprised when we were asked to see Mrs. Harker a little before the time of sunset. We have of late come to understand that sunrise and sunset are to her times of peculiar freedom; when her old self can be manifest without any controlling force subduing or restraining her, or inciting her to action. This mood or condition begins some half hour or more before actual sunrise or sunset, and lasts till either the sun is high, or whilst the clouds are still aglow with the rays streaming above the horizon. At first there is a sort of negative condition, as if some tie were loosened, and then the absolute freedom quickly follows; when, however, the freedom ceases the change-back or relapse comes quickly, preceded only by a spell of warning silence.
To-night, when we met, she was somewhat constrained, and bore all the signs of an internal struggle. I put it down myself to her making a violent effort at the earliest instant she could do so. A very few minutes, however, gave her complete control of herself; then, motioning her husband to sit beside her on the sofa where she was half reclining, she made the rest of us bring chairs up close. Taking her husband’s hand in hers began:-
“We are all here together in freedom, for perhaps the last time! I know, dear; I know that you will always be with me to the end.” This was to her husband whose hand had, as we could see, tightened upon hers. “In the morning we go out upon our task, and God alone knows what may be in store for any of us. You are going to be so good to me as to take me with you. I know that all that brave earnest men can do for a poor weak woman, whose soul perhaps is lost-no, no, not yet, but is at any rate at stake-you will do. But you must remember that I am not as you are. There is a poison in my blood, in my soul, which may destroy me; which must destroy me, unless some relief comes to us. Oh, my friends, you know as well as I do, that my soul is at stake; and though I know there is one way out for me, you must not and I must not take it!” She looked appealingly to us all in turn, beginning and ending with her husband.
“What is that way?” asked Van Helsing in a hoarse voice. “What is that way, which we must not-may not-take?”
“That I may die now, either by my own hand or that of another, before the greater evil is entirely wrought. I know, and you know, that were I once dead you could and would set free my immortal spirit, even as you did my poor Lucy’s. Were death, or the fear of death, the only thing that stood in the way I would not shrink to die here, now, amidst the friends who love me. But death is not all. I cannot believe that to die in such a case, when there is hope before us and a bitter task to be done, is God’s will. Therefore, I, on my part, give up here the certainty of eternal rest, and go out into the dark where may be the blackest things that the world or the nether world holds!” We were all silent, for we knew instinctively that this was only a prelude. The faces of the others were set and Harker’s grew ashen grey; perhaps he guessed better than any of us what was coming. She continued:-
“This is what I can give into the hotch-pot.” I could not but note the quaint legal phrase which she used in such a place, and with all seriousness. “What will each of you give? Your lives I know,” she went on quickly, “that is easy for brave men. Your lives are God’s, and you can give them back to Him; but what will you give to me?” She looked again questioningly, but this time avoided her husband’s face. Quincey seemed to understand; he nodded, and her face lit up. “Then I shall tell you plainly what I want, for there must be no doubtful matter in this connection between us now. You must promise me, one and all-even you, my beloved husband-that, should the time come, you will kill me.”
“What is that time?” The voice was Quincey’s, but it was low and strained.
“When you shall be convinced that I am so changed that it is better that I die than I may live. When I am thus dead in the flesh, then you will, without a moment’s delay, drive a stake through me and cut off my head; or do whatever else may be wanting to give me rest!”
Quincey was the first to rise after the pause. He knelt down before her and taking her hand in his said solemnly:-
“I’m only a rough fellow, who hasn’t, perhaps, lived as a man should to win such a distinction, but I swear to you by all that I hold sacred and dear that, should the time ever come, I shall not flinch from the duty that you have set us. And I promise you, too, that I shall make all certain, for if I am only doubtful I shall take it that the time has come!”
“My true friend!” was all she could say amid her fast-falling tears, as, bending over, she kissed his hand.
“I swear the same, my dear Madam Mina!” said Van Helsing.
“And I!” said Lord Godalming, each of them in turn kneeling to her to take the oath. I followed, myself. Then her husband turned to her wan-eyed and with a greenish pallor which subdued the snowy whiteness of his hair, and asked:-
“And must I, too, make such a promise, oh, my wife?”
“You too, my dearest,” she said, with infinite yearning of pity in her voice and eyes. “You must not shrink. You are nearest and dearest and all the world to me; our souls are knit into one, for all life and all time. Think, dear, that there have been times when brave men have killed their wives and their womenkind, to keep them from falling into the hands of the enemy. Their hands did not falter any the more because those that they loved implored them to slay them. It is men’s duty towards those whom they love, in such times of sore trial! And oh, my dear, if it is to be that I must meet death at any hand, let it be at the hand of him that loves me best. Dr. Van Helsing, I have not forgotten your mercy in poor Lucy’s case to him who loved”-she stopped with a flying blush, and changed her phrase-“to him who had best right to give her peace. If that time shall come again, I look to you to make it a happy memory of my husband’s life that it was his loving hand which set me free from the awful thrall upon me.”
“Again I swear!” came the Professor’s resonant voice. Mrs. Harker smiled, positively smiled, as with a sigh of relief she leaned back and said:-
“And now one word of warning, a warning which you must never forget: this time, if it ever come, may come quickly and unexpectedly, and in such case you must lose no time in using your opportunity. At such a time I myself might be-nay! if the time ever comes, shall be-leagued with your enemy against you.”
“One more request;” she became very solemn as she said this, “it is not vital and necessary like the other, but I want you to do one thing for me, if you will.” We all acquiesced, but no one spoke; there was no need to speak:-
“I want you to read the Burial Service.” She was interrupted by a deep groan from her husband; taking his hand in hers, she held it over her heart, and continued: “You must read it over me some day. Whatever may be the issue of all this fearful state of things, it will be a sweet thought to all or some of us. You, my dearest, will I hope read it, for then it will be in your voice in my memory for ever-come what may!”
“But oh, my dear one,” he pleaded, “death is afar off from you.”
“Nay,” she said, holding up a warning hand. “I am deeper in death at this moment than if the weight of an earthly grave lay heavy upon me!”
“Oh, my wife, must I read it?” he said, before he began.
“It would comfort me, my husband!” was all she said; and he began to read when she had got the book ready.
“How can I-how could any one-tell of that strange scene, its solemnity, its gloom, its sadness, its horror; and, withal, its sweetness. Even a sceptic, who can see nothing but a travesty of bitter truth in anything holy or emotional, would have been melted to the heart had he seen that little group of loving and devoted friends kneeling round that stricken and sorrowing lady; or heard the tender passion of her husband’s voice, as in tones so broken with emotion that often he had to pause, he read the simple and beautiful service from the Burial of the Dead. I-I cannot go on-words-and-v-voice-f-fail m-me!”
She was right in her instinct. Strange as it all was, bizarre as it may hereafter seem even to us who felt its potent influence at the time, it comforted us much; and the silence, which showed Mrs. Harker’s coming relapse from her freedom of soul, did not seem so full of despair to any of us as we had dreaded.
Jonathan Harker’s Journal.
15 October, Varna.-We left Charing Cross on the morning of the 12th, got to Paris the same night, and took the places secured for us in the Orient Express. We travelled night and day, arriving here at about five o’clock. Lord Godalming went to the Consulate to see if any telegram had arrived for him, whilst the rest of us came on to this hotel-“the Odessus.” The journey may have had incidents; I was, however, too eager to get on, to care for them. Until the Czarina Catherine comes into port there will be no interest for me in anything in the wide world. Thank God! Mina is well, and looks to be getting stronger; her colour is coming back. She sleeps a great deal; throughout the journey she slept nearly all the time. Before sunrise and sunset, however, she is very wakeful and alert; and it has become a habit for Van Helsing to hypnotise her at such times. At first, some effort was needed, and he had to make many passes; but now, she seems to yield at once, as if by habit, and scarcely any action is needed. He seems to have power at these particular moments to simply will, and her thoughts obey him. He always asks her what she can see and hear. She answers to the first:-
“Nothing; all is dark.” And to the second:-
“I can hear the waves lapping against the ship, and the water rushing by. Canvas and cordage strain and masts and yards creak. The wind is high-I can hear it in the shrouds, and the bow throws back the foam.” It is evident that the Czarina Catherine is still at sea, hastening on her way to Varna. Lord Godalming has just returned. He had four telegrams, one each day since we started, and all to the same effect: that the Czarina Catherine had not been reported to Lloyd’s from anywhere. He had arranged before leaving London that his agent should send him every day a telegram saying if the ship had been reported. He was to have a message even if she were not reported, so that he might be sure that there was a watch being kept at the other end of the wire.
We had dinner and went to bed early. To-morrow we are to see the Vice-Consul, and to arrange, if we can, about getting on board the ship as soon as she arrives. Van Helsing says that our chance will be to get on the boat between sunrise and sunset. The Count, even if he takes the form of a bat, cannot cross the running water of his own volition, and so cannot leave the ship. As he dare not change to man’s form without suspicion-which he evidently wishes to avoid-he must remain in the box. If, then, we can come on board after sunrise, he is at our mercy; for we can open the box and make sure of him, as we did of poor Lucy, before he wakes. What mercy he shall get from us will not count for much. We think that we shall not have much trouble with officials or the seamen. Thank God! this is the country where bribery can do anything, and we are well supplied with money. We have only to make sure that the ship cannot come into port between sunset and sunrise without our being warned, and we shall be safe. Judge Moneybag will settle this case, I think!
16 October.-Mina’s report still the same: lapping waves and rushing water, darkness and favouring winds. We are evidently in good time, and when we hear of the Czarina Catherine we shall be ready. As she must pass the Dardanelles we are sure to have some report.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
17 October.-Everything is pretty well fixed now, I think, to welcome the Count on his return from his tour. Godalming told the shippers that he fancied that the box sent aboard might contain something stolen from a friend of his, and got a half consent that he might open it at his own risk. The owner gave him a paper telling the Captain to give him every facility in doing whatever he chose on board the ship, and also a similar authorisation to his agent at Varna. We have seen the agent, who was much impressed with Godalming’s kindly manner to him, and we are all satisfied that whatever he can do to aid our wishes will be done. We have already arranged what to do in case we get the box open. If the Count is there, Van Helsing and Seward will cut off his head at once and drive a stake through his heart. Morris and Godalming and I shall prevent interference, even if we have to use the arms which we shall have ready. The Professor says that if we can so treat the Count’s body, it will soon after fall into dust. In such case there would be no evidence against us, in case any suspicion of murder were aroused. But even if it were not, we should stand or fall by our act, and perhaps some day this very script may be evidence to come between some of us and a rope. For myself, I should take the chance only too thankfully if it were to come. We mean to leave no stone unturned to carry out our intent. We have arranged with certain officials that the instant the Czarina Catherine is seen, we are to be informed by a special messenger.
24 October.-A whole week of waiting. Daily telegrams to Godalming, but only the same story: “Not yet reported.” Mina’s morning and evening hypnotic answer is unvaried: lapping waves, rushing water, and creaking masts.
Telegram, October 24th.
Rufus Smith, Lloyd’s, London, to Lord Godalming, care of H. B. M.
Vice-Consul, Varna.
“Czarina Catherine reported this morning from Dardanelles.”
Dr. Seward’s Diary.
25 October.-How I miss my phonograph! To write diary with a pen is irksome to me; but Van Helsing says I must. We were all wild with excitement yesterday when Godalming got his telegram from Lloyd’s. I know now what men feel in battle when the call to action is heard. Mrs. Harker, alone of our party, did not show any signs of emotion. After all, it is not strange that she did not; for we took special care not to let her know anything about it, and we all tried not to show any excitement when we were in her presence. In old days she would, I am sure, have noticed, no matter how we might have tried to conceal it; but in this way she is greatly changed during the past three weeks. The lethargy grows upon her, and though she seems strong and well, and is getting back some of her colour, Van Helsing and I are not satisfied. We talk of her often; we have not, however, said a word to the others. It would break poor Harker’s heart-certainly his nerve-if he knew that we had even a suspicion on the subject. Van Helsing examines, he tells me, her teeth very carefully, whilst she is in the hypnotic condition, for he says that so long as they do not begin to sharpen there is no active danger of a change in her. If this change should come, it would be necessary to take steps!... We both know what those steps would have to be, though we do not mention our thoughts to each other. We should neither of us shrink from the task-awful though it be to contemplate. “Euthanasia” is an excellent and a comforting word! I am grateful to whoever invented it.
It is only about 24 hours’ sail from the Dardanelles to here, at the rate the Czarina Catherine has come from London. She should therefore arrive some time in the morning; but as she cannot possibly get in before then, we are all about to retire early. We shall get up at one o’clock, so as to be ready.
25 October, Noon.-No news yet of the ship’s arrival. Mrs. Harker’s hypnotic report this morning was the same as usual, so it is possible that we may get news at any moment. We men are all in a fever of excitement, except Harker, who is calm; his hands are cold as ice, and an hour ago I found him whetting the edge of the great Ghoorka knife which he now always carries with him. It will be a bad lookout for the Count if the edge of that “Kukri” ever touches his throat, driven by that stern, ice-cold hand!
Van Helsing and I were a little alarmed about Mrs. Harker to-day. About noon she got into a sort of lethargy which we did not like; although we kept silence to the others, we were neither of us happy about it. She had been restless all the morning, so that we were at first glad to know that she was sleeping. When, however, her husband mentioned casually that she was sleeping so soundly that he could not wake her, we went to her room to see for ourselves. She was breathing naturally and looked so well and peaceful that we agreed that the sleep was better for her than anything else. Poor girl, she has so much to forget that it is no wonder that sleep, if it brings oblivion to her, does her good.
Later.-Our opinion was justified, for when after a refreshing sleep of some hours she woke up, she seemed brighter and better than she had been for days. At sunset she made the usual hypnotic report. Wherever he may be in the Black Sea, the Count is hurrying to his destination. To his doom, I trust!
26 October.-Another day and no tidings of the Czarina Catherine. She ought to be here by now. That she is still journeying somewhere is apparent, for Mrs. Harker’s hypnotic report at sunrise was still the same. It is possible that the vessel may be lying by, at times, for fog; some of the steamers which came in last evening reported patches of fog both to north and south of the port. We must continue our watching, as the ship may now be signalled any moment.
27 October, Noon.-Most strange; no news yet of the ship we wait for. Mrs. Harker reported last night and this morning as usual: “lapping waves and rushing water,” though she added that “the waves were very faint.” The telegrams from London have been the same: “no further report.” Van Helsing is terribly anxious, and told me just now that he fears the Count is escaping us. He added significantly:-
“I did not like that lethargy of Madam Mina’s. Souls and memories can do strange things during trance.” I was about to ask him more, but Harker just then came in, and he held up a warning hand. We must try to-night at sunset to make her speak more fully when in her hypnotic state.
28 October.-Telegram. Rufus Smith, London, to Lord Godalming, care H. B. M. Vice Consul, Varna.
“Czarina Catherine reported entering Galatz at one o’clock to-day.”
Dr. Seward’s Diary.
28 October.-When the telegram came announcing the arrival in Galatz I do not think it was such a shock to any of us as might have been expected. True, we did not know whence, or how, or when, the bolt would come; but I think we all expected that something strange would happen. The delay of arrival at Varna made us individually satisfied that things would not be just as we had expected; we only waited to learn where the change would occur. None the less, however, was it a surprise. I suppose that nature works on such a hopeful basis that we believe against ourselves that things will be as they ought to be, not as we should know that they will be. Transcendentalism is a beacon to the angels, even if it be a will-o’-the-wisp to man. It was an odd experience and we all took it differently. Van Helsing raised his hand over his head for a moment, as though in remonstrance with the Almighty; but he said not a word, and in a few seconds stood up with his face sternly set. Lord Godalming grew very pale, and sat breathing heavily. I was myself half stunned and looked in wonder at one after another. Quincey Morris tightened his belt with that quick movement which I knew so well; in our old wandering days it meant “action.” Mrs. Harker grew ghastly white, so that the scar on her forehead seemed to burn, but she folded her hands meekly and looked up in prayer. Harker smiled-actually smiled-the dark, bitter smile of one who is without hope; but at the same time his action belied his words, for his hands instinctively sought the hilt of the great Kukri knife and rested there. “When does the next train start for Galatz?” said Van Helsing to us generally.
“At 6:30 to-morrow morning!” We all started, for the answer came from Mrs. Harker.
“How on earth do you know?” said Art.
“You forget-or perhaps you do not know, though Jonathan does and so does Dr. Van Helsing-that I am the train fiend. At home in Exeter I always used to make up the time-tables, so as to be helpful to my husband. I found it so useful sometimes, that I always make a study of the time-tables now. I knew that if anything were to take us to Castle Dracula we should go by Galatz, or at any rate through Bucharest, so I learned the times very carefully. Unhappily there are not many to learn, as the only train to-morrow leaves as I say.”
“Wonderful woman!” murmured the Professor.
“Can’t we get a special?” asked Lord Godalming. Van Helsing shook his head: “I fear not. This land is very different from yours or mine; even if we did have a special, it would probably not arrive as soon as our regular train. Moreover, we have something to prepare. We must think. Now let us organize. You, friend Arthur, go to the train and get the tickets and arrange that all be ready for us to go in the morning. Do you, friend Jonathan, go to the agent of the ship and get from him letters to the agent in Galatz, with authority to make search the ship just as it was here. Morris Quincey, you see the Vice-Consul, and get his aid with his fellow in Galatz and all he can do to make our way smooth, so that no times be lost when over the Danube. John will stay with Madam Mina and me, and we shall consult. For so if time be long you may be delayed; and it will not matter when the sun set, since I am here with Madam to make report.”
“And I,” said Mrs. Harker brightly, and more like her old self than she had been for many a long day, “shall try to be of use in all ways, and shall think and write for you as I used to do. Something is shifting from me in some strange way, and I feel freer than I have been of late!” The three younger men looked happier at the moment as they seemed to realise the significance of her words; but Van Helsing and I, turning to each other, met each a grave and troubled glance. We said nothing at the time, however.
When the three men had gone out to their tasks Van Helsing asked Mrs. Harker to look up the copy of the diaries and find him the part of Harker’s journal at the Castle. She went away to get it; when the door was shut upon her he said to me:-
“We mean the same! speak out!”
“There is some change. It is a hope that makes me sick, for it may deceive us.”
“Quite so. Do you know why I asked her to get the manuscript?”
“No!” said I, “unless it was to get an opportunity of seeing me alone.”
“You are in part right, friend John, but only in part. I want to tell you something. And oh, my friend, I am taking a great-a terrible-risk; but I believe it is right. In the moment when Madam Mina said those words that arrest both our understanding, an inspiration came to me. In the trance of three days ago the Count sent her his spirit to read her mind; or more like he took her to see him in his earth-box in the ship with water rushing, just as it go free at rise and set of sun. He learn then that we are here; for she have more to tell in her open life with eyes to see and ears to hear than he, shut, as he is, in his coffin-box. Now he make his most effort to escape us. At present he want her not.
“He is sure with his so great knowledge that she will come at his call; but he cut her off-take her, as he can do, out of his own power, that so she come not to him. Ah! there I have hope that our man-brains that have been of man so long and that have not lost the grace of God, will come higher than his child-brain that lie in his tomb for centuries, that grow not yet to our stature, and that do only work selfish and therefore small. Here comes Madam Mina; not a word to her of her trance! She know it not; and it would overwhelm her and make despair just when we want all her hope, all her courage; when most we want all her great brain which is trained like man’s brain, but is of sweet woman and have a special power which the Count give her, and which he may not take away altogether-though he think not so. Hush! let me speak, and you shall learn. Oh, John, my friend, we are in awful straits. I fear, as I never feared before. We can only trust the good God. Silence! here she comes!”
I thought that the Professor was going to break down and have hysterics, just as he had when Lucy died, but with a great effort he controlled himself and was at perfect nervous poise when Mrs. Harker tripped into the room, bright and happy-looking and, in the doing of work, seemingly forgetful of her misery. As she came in, she handed a number of sheets of typewriting to Van Helsing. He looked over them gravely, his face brightening up as he read. Then holding the pages between his finger and thumb he said:-
“Friend John, to you with so much of experience already-and you, too, dear Madam Mina, that are young-here is a lesson: do not fear ever to think. A half-thought has been buzzing often in my brain, but I fear to let him loose his wings. Here now, with more knowledge, I go back to where that half-thought come from and I find that he be no half-thought at all; that be a whole thought, though so young that he is not yet strong to use his little wings. Nay, like the “Ugly Duck” of my friend Hans Andersen, he be no duck-thought at all, but a big swan-thought that sail nobly on big wings, when the time come for him to try them. See I read here what Jonathan have written:-
“That other of his race who, in a later age, again and again, brought his forces over The Great River into Turkey Land; who, when he was beaten back, came again, and again, and again, though he had to come alone from the bloody field where his troops were being slaughtered, since he knew that he alone could ultimately triumph.”
“What does this tell us? Not much? no! The Count’s child-thought see nothing; therefore he speak so free. Your man-thought see nothing; my man-thought see nothing, till just now. No! But there comes another word from some one who speak without thought because she, too, know not what it mean-what it might mean. Just as there are elements which rest, yet when in nature’s course they move on their way and they touch-then pouf! and there comes a flash of light, heaven wide, that blind and kill and destroy some; but that show up all earth below for leagues and leagues. Is it not so? Well, I shall explain. To begin, have you ever study the philosophy of crime? ‘Yes’ and ‘No.’ You, John, yes; for it is a study of insanity. You, no, Madam Mina; for crime touch you not-not but once. Still, your mind works true, and argues not a particulari ad universale. There is this peculiarity in criminals. It is so constant, in all countries and at all times, that even police, who know not much from philosophy, come to know it empirically, that it is. That is to be empiric. The criminal always work at one crime-that is the true criminal who seems predestinate to crime, and who will of none other. This criminal has not full man-brain. He is clever and cunning and resourceful; but he be not of man-stature as to brain. He be of child-brain in much. Now this criminal of ours is predestinate to crime also; he, too, have child-brain, and it is of the child to do what he have done. The little bird, the little fish, the little animal learn not by principle, but empirically; and when he learn to do, then there is to him the ground to start from to do more. ‘Dos pou sto,’ said Archimedes. ‘Give me a fulcrum, and I shall move the world!’ To do once, is the fulcrum whereby child-brain become man-brain; and until he have the purpose to do more, he continue to do the same again every time, just as he have done before! Oh, my dear, I see that your eyes are opened, and that to you the lightning flash show all the leagues,” for Mrs. Harker began to clap her hands and her eyes sparkled. He went on:-
“Now you shall speak. Tell us two dry men of science what you see with those so bright eyes.” He took her hand and held it whilst she spoke. His finger and thumb closed on her pulse, as I thought instinctively and unconsciously, as she spoke:-
“The Count is a criminal and of criminal type. Nordau and Lombroso would so classify him, and quâ criminal he is of imperfectly formed mind. Thus, in a difficulty he has to seek resource in habit. His past is a clue, and the one page of it that we know-and that from his own lips-tells that once before, when in what Mr. Morris would call a ‘tight place,’ he went back to his own country from the land he had tried to invade, and thence, without losing purpose, prepared himself for a new effort. He came again better equipped for his work; and won. So he came to London to invade a new land. He was beaten, and when all hope of success was lost, and his existence in danger, he fled back over the sea to his home; just as formerly he had fled back over the Danube from Turkey Land.”
“Good, good! oh, you so clever lady!” said Van Helsing, enthusiastically, as he stooped and kissed her hand. A moment later he said to me, as calmly as though we had been having a sick-room consultation:-
“Seventy-two only; and in all this excitement. I have hope.” Turning to her again, he said with keen expectation:-
“But go on. Go on! there is more to tell if you will. Be not afraid; John and I know. I do in any case, and shall tell you if you are right. Speak, without fear!”
“I will try to; but you will forgive me if I seem egotistical.”
“Nay! fear not, you must be egotist, for it is of you that we think.”
“Then, as he is criminal he is selfish; and as his intellect is small and his action is based on selfishness, he confines himself to one purpose. That purpose is remorseless. As he fled back over the Danube, leaving his forces to be cut to pieces, so now he is intent on being safe, careless of all. So his own selfishness frees my soul somewhat from the terrible power which he acquired over me on that dreadful night. I felt it! Oh, I felt it! Thank God, for His great mercy! My soul is freer than it has been since that awful hour; and all that haunts me is a fear lest in some trance or dream he may have used my knowledge for his ends.” The Professor stood up:-
“He has so used your mind; and by it he has left us here in Varna, whilst the ship that carried him rushed through enveloping fog up to Galatz, where, doubtless, he had made preparation for escaping from us. But his child-mind only saw so far; and it may be that, as ever is in God’s Providence, the very thing that the evil-doer most reckoned on for his selfish good, turns out to be his chiefest harm. The hunter is taken in his own snare, as the great Psalmist says. For now that he think he is free from every trace of us all, and that he has escaped us with so many hours to him, then his selfish child-brain will whisper him to sleep. He think, too, that as he cut himself off from knowing your mind, there can be no knowledge of him to you; there is where he fail! That terrible baptism of blood which he give you makes you free to go to him in spirit, as you have as yet done in your times of freedom, when the sun rise and set. At such times you go by my volition and not by his; and this power to good of you and others, as you have won from your suffering at his hands. This is now all the more precious that he know it not, and to guard himself have even cut himself off from his knowledge of our where. We, however, are not selfish, and we believe that God is with us through all this blackness, and these many dark hours. We shall follow him; and we shall not flinch; even if we peril ourselves that we become like him. Friend John, this has been a great hour; and it have done much to advance us on our way. You must be scribe and write him all down, so that when the others return from their work you can give it to them; then they shall know as we do.”
And so I have written it whilst we wait their return, and Mrs. Harker has written with her typewriter all since she brought the MS. to us.