CHƯƠNG XVII. NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD-tiếp theo

Khi chúng tôi đến khách sạn Berkeley, giáo sư Van Helsing liền nhận được một bức điện tín đang chờ sẵn:-

"Tôi đang đến bằng tàu hỏa. Jonathan đang ở Whitby. Có tin tức quan trọng.-Mina Harker."

Giáo sư vô cùng mừng rỡ. "Ôi, quý phu nhân Mina tuyệt vời!" giáo sư thốt lên, "Cô ấy đúng là một viên ngọc vô giá giữa đời thường! Cô ấy sẽ đến đây, nhưng ta lại không thể nán lại thêm. Vì vậy, cô ấy phải đến nhà của anh, anh bạn John ạ. Anh hãy ra ga đón cô ấy. Nhớ đánh điện báo trước khi anh đi, để cô ấy kịp chuẩn bị tinh thần."

Sau khi gửi xong bức điện, giáo sư nhâm nhi một tách trà. Vừa uống, ông vừa kể cho tôi nghe về cuốn nhật ký mà Jonathan Harker đã viết trong khoảng thời gian ở nước ngoài. Ông đưa cho tôi một bản sao đánh máy, kèm theo cả nhật ký của cô Harker lúc ở Whitby.

"Anh hãy cầm lấy những thứ này," giáo sư ân cần dặn dò, "và nghiên cứu chúng thật kỹ. Khi ta quay lại, anh sẽ nắm vững tất cả các dữ kiện. Nhờ đó, chúng ta có thể bắt tay vào cuộc điều tra thuận lợi hơn. Hãy giữ gìn chúng cẩn thận, vì bên trong chứa đựng vô vàn điều quý giá. Anh sẽ cần dùng đến trọn vẹn niềm tin của mình, dẫu cho anh đã phải trải qua những chuyện kinh hoàng như ngày hôm nay."

Giáo sư vừa nói vừa đặt bàn tay nặng nề, nghiêm nghị lên tập tài liệu. "Những điều được ghi chép lại ở đây có thể là dấu hiệu bắt đầu cho hồi kết đối với anh, với ta và với bao người khác. Hoặc, nó cũng có thể gióng lên hồi chuông báo tử cho bè lũ Kẻ Không Sống đang gieo rắc tai ương trên mặt đất này. Xin anh hãy đọc tất cả với một tâm trí thật cởi mở. Và nếu anh có thể bổ sung thêm bất cứ điều gì vào câu chuyện này, thì hãy làm ngay lập tức, vì điều đó mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Anh cũng đã ghi chép lại mọi chuyện kỳ lạ vừa qua rồi đúng không? Tốt lắm! Vậy thì chúng ta sẽ cùng nhau xem xét lại tất cả khi gặp lại."

Dặn dò xong, giáo sư chuẩn bị khởi hành và vội vã lên xe đi thẳng đến Phố Liverpool. Tôi cũng lập tức lên đường đến Paddington. Tôi đến nơi khoảng mười lăm phút trước khi chuyến tàu của cô ấy lăn bánh vào ga.

Sau sự nhộn nhịp quen thuộc ở các sân ga đến, đám đông hành khách cũng dần tản đi. Tôi bắt đầu cảm thấy bồn chồn, nơm nớp lo sợ mình đã bỏ lỡ người khách quan trọng. Đúng lúc đó, một cô gái có khuôn mặt ngọt ngào cùng vẻ ngoài thanh tú bước đến chỗ tôi. Chỉ sau một cái nhìn lướt qua, cô nhẹ nhàng cất tiếng hỏi: "Có phải bác sĩ Seward đây không?"

"Và cô hẳn là cô Harker!" tôi lập tức đáp lời. Nghe vậy, cô liền đưa tay ra chào tôi.

"Tôi nhận ra bác sĩ ngay qua lời miêu tả của Lucy đáng thương; nhưng--" Cô đột ngột dừng lại. Một vệt đỏ ửng nhanh chóng lan tỏa trên khuôn mặt xinh đẹp của cô.

Chẳng hiểu sao vệt đỏ ửng ấy cũng xuất hiện trên má tôi. Nó giống như một câu trả lời ngầm xua tan đi sự bối rối của cô, khiến cả hai chúng tôi bỗng cảm thấy bớt đi phần nào căng thẳng. Tôi giúp cô xách hành lý, trong đó có một chiếc máy đánh chữ. Sau đó, chúng tôi cùng đi tàu điện ngầm đến Phố Fenchurch. Trước đó, tôi cũng không quên đánh điện dặn dò người quản gia chuẩn bị sẵn một phòng khách và phòng ngủ tươm tất cho cô Harker.

Chúng tôi đến nơi vừa đúng giờ. Tất nhiên, cô thừa biết nơi này vốn là một trại thương điên. Dù vậy, tôi vẫn tinh ý nhận ra cô không kìm được một cái rùng mình khe khẽ khi chúng tôi bước vào trong.

Cô bảo với tôi rằng, nếu được phép, lát nữa cô sẽ sang phòng làm việc của tôi, vì cô có rất nhiều chuyện muốn trao đổi. Vậy nên lúc này, tôi đang tranh thủ hoàn tất việc ghi chép vào máy quay đĩa nhật ký của mình trong lúc chờ cô ấy. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa có chút thời gian rảnh rỗi nào để xem qua những tài liệu mà giáo sư Van Helsing để lại, mặc dù chúng đang được mở sẵn ngay trước mắt tôi. Tôi phải tìm cách để cô ấy chú ý vào một việc gì đó, nhờ vậy tôi mới có thể tranh thủ đọc chúng. Cô ấy đâu biết rằng thời gian lúc này quý giá đến nhường nào, và cô ấy cũng không hay biết chúng tôi đang gánh vác trên vai nhiệm vụ sinh tử gì. Dù thế nào, tôi cũng phải thật cẩn thận để không làm cô ấy hoảng sợ.

Kìa, cô ấy đến rồi!

Nhật ký của Mina Harker.

Ngày 29 tháng 9.-Sau khi thu xếp ổn thỏa đồ đạc, tôi bước xuống phòng làm việc của bác sĩ Seward. Tới cửa, tôi khẽ khựng lại. Dường như tôi nghe thấy tiếng bác sĩ đang trò chuyện cùng ai đó. Tuy nhiên, vì trước đó ông đã giục tôi xuống nhanh, tôi liền gõ cửa. Tiếng bác sĩ vọng ra, "Mời vào", và tôi đẩy cửa bước vào.

Trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, trong phòng chẳng có ai khác. Bác sĩ hoàn toàn ở một mình. Trên chiếc bàn đối diện, tôi trông thấy một cỗ máy mà qua lời kể trước đây, tôi nhận ra ngay đó là một chiếc máy quay đĩa (phonograph)1. Tôi chưa từng tận mắt thấy vật này bao giờ nên cảm thấy vô cùng thích thú.

"Tôi hy vọng không bắt bác sĩ phải đợi lâu," tôi lên tiếng; "nhưng tôi đã nán lại ngoài cửa vì nghe tiếng bác sĩ đang nói chuyện. Tôi cứ ngỡ trong này đang có khách."

"Ồ," bác sĩ mỉm cười đáp, "tôi chỉ đang ghi lại nhật ký của mình thôi."

"Nhật ký của bác sĩ ư?" tôi ngạc nhiên hỏi lại.

"Đúng vậy," bác sĩ trả lời. "Tôi lưu giữ nó trong thứ này." Vừa nói, ông vừa đặt tay lên chiếc máy quay đĩa. Tôi cảm thấy niềm phấn khích trào dâng và buột miệng thốt lên:-

"Chà, cỗ máy này còn kỳ diệu hơn cả kỹ thuật tốc ký nữa! Liệu tôi có thể nghe thử một đoạn được không?"

"Tất nhiên rồi," bác sĩ sốt sắng đáp, rồi đứng dậy để tinh chỉnh lại máy phát. Nhưng bỗng nhiên ông khựng lại. Một nét âu lo thoáng hiện trên gương mặt ông.

"Sự thật là," bác sĩ ngượng nghịu bắt đầu, "tôi chỉ ghi nhật ký vào đó. Và vì nội dung hoàn toàn-hay gần như hoàn toàn-xoay quanh các ca bệnh của tôi, nên có lẽ sẽ hơi bất tiện... ý tôi là--" Bác sĩ ngập ngừng, và tôi liền tìm cách giúp ông thoát khỏi sự bối rối ấy:-

"Bác sĩ đã tận tình chăm sóc cho Lucy đáng thương trong những giây phút cuối đời. Xin hãy cho tôi nghe về sự ra đi của cô ấy. Tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu được biết mọi thứ về người bạn thân thiết nhất của mình."

Ngoài sức tưởng tượng của tôi, bác sĩ đáp lời với một nét mặt bàng hoàng, kinh hãi:-

"Kể cho cô nghe về cái chết của cô ấy sao? Không đời nào! Cho dù có được cả thế giới này, tôi cũng không bao giờ làm thế!"

"Tại sao lại không?" tôi hỏi. Một linh cảm nặng nề, tồi tệ đang ập đến. Bác sĩ lại chìm vào im lặng. Tôi có thể thấy ông đang cố tìm một lời thoái thác. Cuối cùng, ông lắp bắp:-

"Cô thấy đấy, tôi không biết cách trích xuất bất kỳ đoạn cụ thể nào trong cuốn nhật ký này." Ngay cả khi đang nói, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu bác sĩ. Ông thốt lên với sự ngây ngô vô thức, bằng một chất giọng hoàn toàn khác, tự nhiên hệt như một đứa trẻ: "Điều đó hoàn toàn đúng, tôi xin lấy danh dự ra đảm bảo. Hoàn toàn thật lòng đấy!" Tôi không khỏi bật cười, còn bác sĩ thì nhăn nhó. "Tôi lại tự vạch áo cho người xem lưng mất rồi!" bác sĩ thở dài. "Nhưng cô biết không, dù đã ghi nhật ký ròng rã mấy tháng qua, chưa một lần nào tôi nghĩ đến việc làm thế nào để tìm lại một đoạn cụ thể khi cần." Đến lúc này, tôi đã chắc mẩm rằng nhật ký của một vị bác sĩ từng chăm sóc cho Lucy hẳn sẽ hé lộ thêm điều gì đó về Sinh vật kinh hoàng kia. Tôi mạnh dạn đề nghị:-

"Vậy thì, bác sĩ Seward, tốt hơn hết là bác sĩ hãy để tôi dùng máy đánh chữ chép lại toàn bộ cho ngài." Bác sĩ bỗng chốc tái nhợt như xác chết, ông kêu lên:-

"Không! Không! Không! Dù có thế nào đi chăng nữa, tôi cũng không thể để cô biết được câu chuyện kinh hoàng đó!"

Vậy là câu chuyện ấy vô cùng kinh hoàng. Trực giác của tôi đã đúng! Tôi suy nghĩ chớp nhoáng. Khi ánh mắt lướt quanh căn phòng để vô thức tìm kiếm một tia hy vọng hay một cơ hội nào đó, tôi bắt gặp một xấp tài liệu đánh máy dày cộp nằm trên bàn. Bác sĩ bắt được ánh nhìn của tôi, và không mảy may suy nghĩ, ông cũng nhìn theo. Khi thấy xấp giấy, bác sĩ lập tức hiểu ý tôi.

"Bác sĩ chưa hiểu rõ về tôi đâu," tôi nói. "Khi bác sĩ đọc những tài liệu kia-nhật ký của tôi và của chồng tôi, do chính tay tôi đánh máy-bác sĩ sẽ thấu hiểu tôi hơn. Tôi chưa từng nao núng khi dốc trọn tâm can mình cho cuộc chiến này. Nhưng, dĩ nhiên, bác sĩ chưa biết tôi-cho đến tận lúc này. Và tôi cũng không thể mong đợi bác sĩ lại đặt niềm tin vào tôi nhiều đến thế."

Bác sĩ quả thực là một người mang bản chất cao quý. Lucy đáng thương đã nói đúng về ông. Bác sĩ đứng dậy, kéo một ngăn kéo lớn. Bên trong là vô số những ống trụ kim loại rỗng bọc sáp sẫm màu2 được xếp ngay ngắn. Ông cất lời:-

"Cô nói hoàn toàn đúng. Tôi không tin cô vì tôi chưa biết cô. Nhưng giờ thì tôi đã hiểu. Cho phép tôi được nói rằng, đáng lẽ ra tôi phải biết cô từ rất lâu rồi. Tôi biết Lucy từng kể cho cô nghe về tôi; và cô ấy cũng từng kể cho tôi nghe về cô. Liệu tôi có thể chuộc lỗi bằng cách duy nhất trong khả năng của mình không? Hãy cầm lấy những ống trụ này và nghe thử. Nửa tá ống đầu tiên chỉ là chuyện cá nhân của tôi, chúng sẽ không khiến cô phải sợ hãi đâu; sau đó, cô sẽ hiểu tôi hơn. Lúc ấy bữa tối chắc cũng vừa dọn lên. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ đọc qua vài tài liệu này, và sẽ nắm rõ hơn về một số chuyện." Đích thân bác sĩ mang chiếc máy quay đĩa lên phòng khách và giúp tôi điều chỉnh. Giờ thì tôi chắc chắn mình sẽ biết được những điều giá trị; vì những cuộn sáp này sẽ hé lộ cho tôi một góc khuất khác trong câu chuyện tình yêu chân thực mà tôi mới chỉ biết được một phần...

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 29 tháng 9.-Tôi mải miết lật từng trang nhật ký phi thường của Jonathan Harker, rồi chìm đắm vào những dòng ghi chép của vợ cậu ấy đến mức quên bẵng đi thời gian. Khi người hầu gái gõ cửa báo bữa tối đã sẵn sàng, cô Harker vẫn chưa rời phòng. Tôi khẽ dặn: "Có lẽ cô ấy đang mệt. Cứ lùi bữa tối lại một giờ nhé." Sau đó, tôi tiếp tục công việc của mình. Vừa gập cuốn nhật ký của cô Harker lại, tôi chợt thấy cô bước vào. Cô ấy trông thật xinh đẹp, nhưng nét mặt lại vương buồn bã, và đôi mắt đỏ hoe ngấn lệ. Chẳng hiểu sao, dáng vẻ ấy lại khiến tâm can tôi xúc động mãnh liệt. Gần đây, tôi có quá nhiều lý do để rơi nước mắt, có Chúa mới thấu! Thế nhưng, ngay cả sự nhẹ nhõm từ những giọt lệ ấy cũng ngoảnh mặt với tôi. Giờ đây, khi nhìn vào đôi mắt ngọt ngào, lấp lánh những giọt lệ vừa tuôn rơi của cô, trái tim tôi bỗng nhói lên một nỗi đau xót xa. Bằng tất cả sự dịu dàng có thể, tôi khẽ nói:-

"Tôi e rằng mình đã làm cô buồn lòng mất rồi."

"Ồ, không, không phải bác sĩ làm tôi buồn đâu," cô dịu dàng đáp. "Mà chính tôi đã vô cùng xúc động trước nỗi đau của bác sĩ. Đó là một cỗ máy tuyệt diệu, nhưng nó cũng chân thật đến mức tàn nhẫn. Nó truyền tải đến tôi, qua từng âm điệu run rẩy, cả một sự dằn vặt xé nát trái tim bác sĩ. Nó tựa như tiếng thét gào của một linh hồn cất lên tới Đấng Toàn Năng. Không một ai phải nghe những thanh âm ấy vang lên thêm lần nào nữa! Bác sĩ xem, tôi đã cố gắng giúp ích một chút. Tôi đã tỉ mỉ đánh máy lại những lời đó, và từ nay, không một ai khác phải lắng nghe nhịp đập rỉ máu từ trái tim bác sĩ như tôi đã từng."

"Sẽ chẳng ai cần phải biết, cũng sẽ chẳng ai biết được đâu," tôi thì thầm bằng một giọng thật khẽ. Cô đặt nhẹ tay lên tay tôi, ánh mắt ánh lên một vẻ nghiêm túc vô ngần:-

"A, nhưng họ phải biết chứ!"

"Phải biết sao! Nhưng vì lẽ gì?" tôi gặng hỏi.

"Bởi vì đó là một mảnh ghép của câu chuyện kinh hoàng này, một phần dẫn đến cái chết của Lucy đáng thương cùng tất cả những thảm kịch đã xảy ra. Và bởi vì, trong cuộc chiến sắp tới để thanh tẩy thế gian khỏi loài quái vật tởm lợm ấy, chúng ta cần phải nắm bắt mọi tri thức và tranh thủ mọi sự trợ giúp có thể. Tôi nghĩ những ống thu âm mà bác sĩ giao cho tôi còn ẩn chứa nhiều điều hơn những gì bác sĩ định cho tôi biết. Tôi đã lờ mờ nhận ra trong ghi chép của bác sĩ những tia sáng le lói rọi chiếu vào bí ẩn tăm tối này. Bác sĩ sẽ để tôi giúp một tay chứ? Tôi đã thấu tỏ mọi chuyện cho đến một thời điểm nhất định; và tôi cũng đã thấy, dẫu cho cuốn nhật ký của bác sĩ chỉ đưa tôi đến ngày 7 tháng 9, cách mà Lucy đáng thương bị bủa vây, và cách mà số phận nghiệt ngã đã kết liễu cô ấy. Kể từ khi Giáo sư Van Helsing gặp chúng tôi, Jonathan và tôi đã làm việc quần quật suốt ngày đêm. Anh ấy đã lặn lội đến Whitby để thu thập thêm manh mối, và sẽ có mặt ở đây vào ngày mai để sát cánh cùng chúng ta. Giữa chúng ta không nên có bất kỳ bí mật nào. Chỉ khi kề vai sát cánh với niềm tin tuyệt đối, chúng ta mới có thể mạnh mẽ vươn lên, thay vì để một vài người trong chúng ta phải đơn độc dò dẫm trong bóng tối."

Cô nhìn tôi bằng ánh mắt thiết tha cầu khẩn, song tư thế lại toát lên một sự dũng cảm và quyết tâm mạnh mẽ đến mức tôi lập tức thuận theo ý nguyện của cô. "Cô sẽ được làm theo ý mình trong chuyện này," tôi cất lời. "Xin Chúa rủ lòng thương tha thứ nếu tôi làm sai! Phía trước vẫn còn muôn vàn điều khủng khiếp đang bị chôn vùi; nhưng nếu cô đã dấn bước xa đến thế trên con đường lần theo cái chết của Lucy đáng thương, tôi biết cô sẽ chẳng cam lòng bị giấu kín trong bức màn đêm mù mịt. Biết đâu đấy, đoạn kết-chính cái kết cục ấy-lại có thể mang đến cho cô một tia bình yên tĩnh lặng. Lại đây nào, bữa tối đã dọn sẵn rồi. Chúng ta phải giữ gìn sức khỏe cho nhau vì những thử thách sắp tới; trước mắt chúng ta là một nhiệm vụ vô cùng khốc liệt và kinh hoàng. Ăn xong cô sẽ thấu tỏ phần còn lại, và tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc của cô-nếu có điều gì cô chưa rõ, dù với những người trong cuộc như chúng tôi, mọi thứ đã quá đỗi rành rành."

Nhật ký của Mina Harker.

Ngày 29 tháng 9.-Dùng bữa tối xong, tôi cùng bác sĩ Seward bước vào phòng làm việc của bác sĩ. Bác sĩ tự tay mang chiếc máy quay đĩa từ phòng tôi xuống, còn tôi thì mang theo chiếc máy đánh chữ của mình. Bác sĩ ân cần xếp cho tôi một chiếc ghế đệm êm ái, khéo léo đặt chiếc máy quay đĩa vừa tầm tay để tôi có thể thao tác mà không cần đứng dậy, rồi cẩn thận chỉ cho tôi cách dừng máy phòng khi tôi muốn nghỉ ngơi. Sau đó, bác sĩ chu đáo kéo một chiếc ghế khác, ngồi quay lưng lại phía tôi để tôi được thoải mái nhất có thể, rồi bác sĩ bắt đầu cắm cúi đọc sách. Tôi áp thanh kim loại hình chữ Y vào tai và bắt đầu lắng nghe.

Khi câu chuyện kinh hoàng về cái chết của Lucy, và-và tất cả những tấn bi kịch nối tiếp sau đó khép lại, tôi rã rời ngả người ra ghế, sức lực như bị rút cạn. May mắn thay, tôi không phải là một người yếu đuối dễ ngất xỉu. Khi bác sĩ Seward quay lại và trông thấy tôi, bác sĩ giật mình thốt lên một tiếng hoảng hốt, rồi vội vã chạy đến tủ lấy ra một chai rượu. Bác sĩ rót cho tôi một chút rượu brandy, và nhờ đó, tôi dần dần hồi phục sau vài phút chới với. Đầu óc tôi chao đảo trong một mớ bòng bong hỗn loạn. Nếu không nhờ một tia sáng thánh thiện le lói xuyên qua bức màn kinh hoàng-rằng Lucy vô vàn yêu quý của tôi rốt cuộc cũng đã tìm thấy bình yên-có lẽ tôi đã phát điên lên mất. Mọi chuyện quá đỗi cuồng loạn, bí hiểm, và kỳ dị đến mức nếu chưa từng nghe qua trải nghiệm của Jonathan ở Transylvania, tôi sẽ chẳng đời nào tin được. Thực tình, tôi cũng chẳng biết phải tin vào điều gì nữa, đành tìm lối thoát khỏi sự bế tắc này bằng cách hướng sự chú ý sang một việc khác. Tôi gỡ tấm bạt phủ chiếc máy đánh chữ ra và nói với bác sĩ Seward:-

"Bác sĩ hãy để tôi đánh máy toàn bộ những thứ này ngay bây giờ nhé. Chúng ta phải chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng chờ Giáo sư Van Helsing đến. Tôi đã gửi một bức điện tín cho Jonathan, dặn anh ấy đến thẳng đây khi từ Whitby trở về London. Trong chuyện này, thời gian quý giá hơn tất thảy. Tôi tin rằng, nếu chúng ta chuẩn bị sẵn toàn bộ tài liệu, sắp xếp từng chi tiết rành rọt theo trình tự thời gian, chúng ta sẽ gánh vác được phần lớn công việc. Bác sĩ đã nói Lãnh chúa Godalming và anh Morris cũng sẽ đến đây. Hãy đảm bảo rằng chúng ta có đủ mọi chuyện để kể cho họ nghe khi họ vừa tới."

Nghe vậy, bác sĩ liền chỉnh máy quay đĩa về tốc độ chậm, và tôi bắt đầu gõ lại từ đầu ống thu âm thứ bảy. Tôi lót giấy than để in thành ba bản sao của cuốn nhật ký, hệt như cách tôi đã làm với các phần trước. Khi công việc hoàn tất thì đêm đã khuya, nhưng bác sĩ Seward vẫn đang bận rộn đi các phòng thăm khám cho bệnh nhân. Xong việc, bác sĩ trở lại, kéo ghế ngồi gần tôi và cắm cúi vào những trang sách, cốt để tôi không cảm thấy cô độc trong lúc làm việc. Bác sĩ mới thật tốt bụng và chu đáo làm sao! Thế giới này dường như vẫn tràn ngập những người đàn ông tốt-dẫu cho đâu đó những loài quỷ dữ ẩn nấp. Trước khi tạm biệt bác sĩ, tôi chợt nhớ đến đoạn nhật ký của Jonathan viết về sự hoảng loạn của Giáo sư khi đọc lướt qua một tờ báo chiều tại nhà ga Exeter. Thấy bác sĩ Seward vẫn giữ lại các tờ báo, tôi liền mượn xấp hồ sơ của tờ "The Westminster Gazette" và "The Pall Mall Gazette", rồi ôm chúng về phòng. Những mẩu tin tôi cắt từ tờ "The Dailygraph" và "The Whitby Gazette" trước đây đã giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về chuỗi sự kiện kinh hoàng lúc Bá tước Dracula cập bến Whitby. Vậy nên, tôi quyết định xem qua các tờ báo chiều từ dạo đó đến nay, biết đâu lại tìm thấy một tia sáng mới nào chăng. Tôi chẳng mảy may buồn ngủ, và công việc này sẽ giúp tôi giữ vững sự bình tâm.

Nhật ký của Bác sĩ Seward.

Ngày 30 tháng 9.-Anh Harker đến nơi lúc chín giờ sáng. Cậu ấy đã nhận được bức điện tín của vợ ngay trước lúc khởi hành. Cậu ấy toát lên một vẻ thông minh xuất chúng-nếu ta có thể đánh giá một người qua nét mặt-và tràn trề năng lượng. Nếu cuốn nhật ký kia là sự thật-và đánh giá qua những trải nghiệm kinh hoàng của chính chúng ta, thì hẳn đó phải là sự thật-thì cậu ấy quả là một người có thần kinh thép. Việc dám bước xuống hầm mộ lần thứ hai là minh chứng hùng hồn nhất cho sự quả cảm. Sau khi đọc bài tường thuật của cậu ấy về sự kiện đó, tôi đã đinh ninh mình sẽ gặp một chàng thanh niên mang khí chất mạnh mẽ oai phong, nhưng thật khó mà ngờ, người đứng trước mặt tôi hôm nay lại là một quý ông điềm đạm, toát lên phong thái của một doanh nhân.

Muộn hơn.-Sau bữa trưa, Harker và vợ rút về phòng riêng. Cách đây một lúc, khi đi ngang qua đó, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng lạch cạch của máy đánh chữ. Họ đang làm việc vô cùng miệt mài. Cô Harker bảo rằng hai người đang đan kết từng mảnh bằng chứng lại với nhau theo đúng trình tự thời gian. Harker đã xoay sở lấy được những bức thư trao đổi giữa người nhận các thùng gỗ ở Whitby và đám phu xe vận chuyển chịu trách nhiệm chở chúng ở London. Hiện tại, cậu ấy đang đọc bản đánh máy nhật ký của tôi do vợ mình thực hiện. Không biết họ sẽ khám phá ra điều gì từ đó. Nó đây rồi....

Kỳ lạ thật, sao tôi chưa từng nghĩ rằng ngôi nhà ngay sát vách lại có thể là hang ổ của Bá tước cơ chứ! Có Chúa mới biết, chúng ta đã có đủ mọi manh mối từ hành vi của tên bệnh nhân Renfield! Toàn bộ xấp thư liên quan đến việc mua lại ngôi nhà đó đang được kẹp cùng với bản đánh máy. Ôi, giá như chúng ta nắm được chúng sớm hơn, có lẽ chúng ta đã cứu được Lucy đáng thương rồi! Nhưng dừng lại thôi; lối suy nghĩ dằn vặt ấy chỉ xô ta vào cõi điên loạn! Harker đã quay lại, và đang tỉ mỉ đối chiếu mớ tài liệu của cậu ấy thêm một lần nữa. Cậu ấy bảo rằng trước giờ ăn tối, hai người sẽ dựng lên được một câu chuyện hoàn chỉnh và liền mạch. Trong lúc chờ đợi, cậu ấy khuyên tôi nên đi kiểm tra tình hình của Renfield, bởi từ trước đến nay, hắn luôn đóng vai trò như một chiếc kim chỉ nam báo hiệu sự xuất hiện hay biến mất của Bá tước. Tôi vẫn chưa mường tượng ra sự tình, nhưng một khi xâu chuỗi các mốc thời gian lại, tôi tin mình sẽ hiểu. Thật là một phước lành khi cô Harker đã cất công chuyển những ống thu âm của tôi thành văn bản đánh máy! Nếu không có chúng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ lần ra được các ngày tháng....

Tôi bước vào và thấy Renfield đang bình thản ngồi trong phòng, hai tay khoanh trước ngực, nở một nụ cười hiền hậu. Ngay lúc đó, hắn toát lên vẻ tỉnh táo như bất kỳ người bình thường nào tôi từng gặp. Tôi ngồi xuống và bắt chuyện với hắn về đủ mọi chủ đề, và hắn đối đáp tất thảy một cách hết sức tự nhiên. Sau đó, hắn tự động nhắc đến chuyện muốn về nhà-một chủ đề mà theo tôi nhớ, hắn chưa từng đả động đến trong suốt thời gian lưu trú tại đây. Thực tế, hắn tỏ ra vô cùng tự tin về việc sẽ được xuất viện ngay lập tức. Tôi tin chắc rằng, nếu không trò chuyện với Harker và đối chiếu những lá thư với ngày tháng các cơn bộc phát của hắn, có lẽ tôi đã sẵn sàng ký giấy cho hắn xuất viện sau một thời gian ngắn quan sát. Thế nhưng, tình hình hiện tại lại dấy lên trong tôi một sự nghi ngờ sâu sắc. Tất cả những lần bùng phát đó, bằng một cách nào đó, đều gắn liền với sự hiện diện của Bá tước quanh quẩn đâu đây. Vậy thì sự thỏa mãn tột độ này của hắn có ý nghĩa gì? Có thể nào bản năng của hắn đã được thỏa mãn no nê ngay trước chiến thắng cuối cùng của tên ma cà rồng chăng? Khoan đã; bản thân hắn là một kẻ ăn thịt sống (zoöphagous)3, và trong những cơn cuồng loạn hoang dại bên ngoài cánh cửa nhà nguyện của ngôi nhà hoang vắng kia, hắn luôn miệng nhắc đến "chủ nhân". Tất cả những điều này dường như càng củng cố cho giả thuyết của chúng tôi. Dù vậy, một lát sau tôi liền cáo lui; người bạn của tôi lúc này đang tỏ ra hơi quá mức tỉnh táo để tôi có thể an toàn thăm dò hắn bằng những câu hỏi sâu hơn. Nhỡ hắn bắt đầu suy tính, và rồi-! Vậy nên tôi đành rời đi. Tôi chẳng hề tin tưởng những tâm trạng tĩnh lặng bất thường này của hắn; bởi thế, tôi đã ra hiệu cho người hộ lý phải theo dõi hắn thật gắt gao, và chuẩn bị sẵn áo khoác bó (strait-waistcoat)4 để ứng phó khi cần thiết.

Nhật ký của Jonathan Harker.

Ngày 29 tháng 9, trên chuyến tàu đến London.-Nhận được bức thư hồi đáp nhã nhặn từ ông Billington, hứa hẹn sẽ cung cấp mọi thông tin trong khả năng, tôi nghĩ tốt nhất là nên đích thân đi xuống Whitby để tự mình tiến hành các bước điều tra ngay tại chỗ. Mục tiêu hiện tại của tôi là phải lần ra bằng được dấu vết lô hàng kinh tởm của Bá tước, tìm xem hắn đang cất giấu chúng ở nơi nào tại London. Chuyện xử lý chúng ra sao sẽ tính sau. Cậu Billington nhỏ, một chàng trai tốt bụng, đã ra tận ga đón tôi và đưa về nhà cha cậu, nơi họ đã ân cần sắp xếp cho tôi nghỉ lại qua đêm. Lòng hiếu khách của người dân xứ Yorkshire quả thực danh bất hư truyền: họ nồng hậu thết đãi khách mọi thứ tốt nhất, lại tinh tế để khách được hoàn toàn tự do làm những gì mình thích. Biết rõ tôi đang vô cùng bận rộn và thời gian nán lại rất ngắn ngủi, ông Billington đã chu đáo chuẩn bị sẵn mọi giấy tờ liên quan đến lô thùng gỗ ngay tại văn phòng. Cảm giác gần như choáng váng ập đến khi tôi nhìn lại một trong những lá thư mà tôi từng thấy trên bàn của Bá tước hồi ở lâu đài, trước khi tôi hay biết về những kế hoạch tàn độc của hắn. Mọi đường đi nước bước đều được hắn tính toán vô cùng cẩn trọng, thực thi với sự hệ thống và chuẩn xác đến đáng sợ. Dường như ác quỷ đã lường trước mọi chướng ngại vô tình ngáng đường và giăng sẵn lưới để việc thực hiện ý đồ của hắn không thể sai lệch. Nói theo một câu thành ngữ của người Mỹ, hắn "không để lại bất kỳ kẽ hở nào cho rủi ro", và sự chính xác tuyệt đối trong việc tuân thủ các chỉ thị của hắn đơn giản là hệ quả tất yếu từ sự cẩn trọng ma quái đó. Đọc kỹ tờ hóa đơn, tôi ghi chú lại: "Năm mươi thùng đất thường, dùng cho các mục đích thực nghiệm." Ngoài ra, còn có bản sao của bức thư gửi cho hãng vận chuyển Carter Paterson5, kèm theo thư phản hồi của họ; tôi cũng đã cẩn thận sao chép lại cả hai. Đó là tất cả thông tin mà ông Billington có thể cung cấp, nên tôi rảo bước xuống cảng để gặp gỡ lực lượng bảo vệ bờ biển, các sĩ quan hải quan và viên quản lý bến tàu. Bất cứ ai cũng rôm rả kể về màn cập bến đầy kỳ dị của con tàu nọ, câu chuyện vốn đã trở thành giai thoại ở địa phương; nhưng tuyệt nhiên chẳng ai cung cấp thêm được chi tiết nào ngoài dòng mô tả vỏn vẹn "Năm mươi thùng đất thường". Sau đó, tôi đến gặp trưởng ga, người đã tốt bụng giúp tôi liên lạc với những người thực sự tiếp nhận lô hàng. Số lượng họ xác nhận hoàn toàn khớp với danh sách, và họ cũng chẳng biết gì hơn ngoài việc những cái thùng ấy "nặng kinh hồn bạt vía", khiến việc di dời chúng trở thành một công việc vắt kiệt mồ hôi sôi nước mắt. Một người trong số họ còn bóng gió nói thêm rằng, thật khó khăn khi lúc đó chẳng có lấy một quý ngài rộng rãi nào "như ngài đây, thưa ngài," để thể hiện chút lòng trân trọng cho sự vất vả của họ dưới dạng một chầu thức uống; một anh phu xe khác lại hùa thêm, bảo rằng cơn khát phát sinh lúc đó mãnh liệt đến độ dẫu thời gian có trôi qua cũng chẳng thể làm nó dịu đi hoàn toàn. Chẳng cần phải nói thêm, tôi đã cẩn thận dập tắt vĩnh viễn và triệt để nguồn cơn của lời chê trách ấy trước khi rời đi.

Ngày 30 tháng 9.-Trưởng ga đã tốt bụng viết cho tôi vài dòng giới thiệu để gửi đến người bạn cũ của ông, hiện đang làm trưởng ga ở King’s Cross, nhờ đó, khi đặt chân đến nơi vào buổi sáng, tôi đã có thể hỏi thăm ông ấy về sự xuất hiện của những chiếc thùng. Ông ấy lập tức giúp tôi liên lạc với các quan chức phụ trách, và tôi nhận thấy số lượng thùng hoàn toàn khớp với hóa đơn ban đầu. Những cơ hội để thỏa mãn cơn khát bất thường ở đây đã bị hạn chế; tuy nhiên, một cách tận dụng cao quý đối với chúng cũng đã được thực hiện, và một lần nữa tôi lại buộc phải xử lý hậu quả theo phương thức giải quyết sự đã rồi.

Từ đó, tôi tiếp tục đến thẳng văn phòng trung tâm của Carter Paterson, nơi tôi được đón tiếp với thái độ cực kỳ lịch sự. Họ đã tìm kiếm giao dịch đó trong sổ nhật ký và sổ công văn, rồi ngay lập tức gọi điện đến văn phòng King’s Cross của họ để hỏi thêm chi tiết. May mắn thay, những người làm công việc dỡ hàng đang chờ việc, thế là viên chức lập tức cử các anh sang, đồng thời giao cho một người mang theo vận đơn cùng mọi giấy tờ liên quan đến việc giao những chiếc thùng tại Carfax. Tại đây, tôi lại thấy số lượng khớp nhau hoàn hảo; những người phu xe chở hàng đã có thể bổ sung cho sự ít ỏi của những dòng chữ viết tay bằng một vài chi tiết. Tôi nhanh chóng nhận ra những chi tiết này gần như chỉ xoay quanh tính chất bụi bặm của công việc, cùng cơn khát hậu quả nảy sinh ở những người thợ. Khi tôi tạo cơ hội, thông qua phương tiện tiền tệ của vương quốc6, để làm dịu bớt cái điều tồi tệ nhưng có ích này trong khoảng thời gian sau đó, một người đàn ông trong số họ đã nhận xét:-

"Cái ngôi nhà đó, thưa ngài, là nơi quái đản nhất tôi từng vào. Thề có Chúa! Chắc nó chưa có ai đụng đến cả trăm năm nay rồi. Bụi bám dày cộp ở đó đến mức ngài có thể ngủ ngay trên đấy mà chẳng sợ đau xương; và cái chỗ đó bỏ hoang đến mức ngài có thể ngửi thấy mùi của một cái Jerusalem cũ nát7. Nhưng cái nhà nguyện cũ-đúng là kinh hoàng, thật đấy! Tôi và thằng bạn, bọn tôi cứ tưởng mình không thể nào chuồn ra cho nhanh. Chúa ơi, có trả tôi ít hơn một đồng bảng một phút tôi cũng chả thèm ở lại đó sau khi trời tối đâu."

Từng kinh qua những nỗi kinh hoàng trong ngôi nhà đó, tôi hoàn toàn có thể tin lời anh ta; nhưng nếu anh ta biết những gì tôi biết, tôi nghĩ, anh ta sẽ còn đòi cái giá cao hơn nữa.

Về một điều hiện tại tôi đã chắc chắn: đó là tất cả những chiếc thùng đến Whitby từ Varna trên chiếc tàu Demeter đều đã được ký gửi an toàn vào bên trong nhà nguyện cũ tại Carfax. Đáng lẽ phải có năm mươi chiếc thùng ở đó, trừ khi có bất kỳ chiếc nào đã bị mang đi chỗ khác-như tôi lo sợ từ những dòng ghi chép trong nhật ký của bác sĩ Seward.

Tôi sẽ cố gắng đi gặp người phu xe đã mang những chiếc thùng rời khỏi Carfax vào thời điểm Renfield phát điên lao vào tấn công chúng. Bằng cách theo dõi manh mối này, chúng tôi có thể sẽ tìm hiểu thêm được nhiều điều.

Muộn hơn.-Mina và tôi đã làm việc cả ngày, và chúng tôi đã sắp xếp tất cả các tài liệu vào một trật tự đâu ra đấy.

Nhật ký của Mina Harker

Ngày 30 tháng 9.-Tôi đang vui mừng khôn xiết, đến nỗi chẳng biết làm sao để kìm nén cảm xúc này. Có lẽ đó là phản ứng bật nảy sau bao nỗi sợ hãi cứ ám ảnh tôi mãi: nỗi sợ rằng sự kiện kinh hoàng này, cùng việc khơi lại vết thương lòng thuở trước, sẽ gây tổn hại đến Jonathan. Dù đã cố gắng giữ vẻ mặt bình thản và dũng cảm nhất có thể khi tiễn anh lên đường đi Whitby, nhưng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn không thôi cồn cào lo âu. Thế nhưng, chính chuyến đi ấy lại mang đến cho anh một luồng sinh khí mới mẻ. Chưa bao giờ tôi thấy anh kiên cường đến vậy, mạnh mẽ đến vậy, và cũng chưa từng thấy anh sục sôi một nguồn năng lượng rực cháy tựa núi lửa như lúc này. Quả đúng như lời vị Giáo sư Van Helsing vô cùng đáng kính và hiền từ đã nhận xét: Jonathan thực chất mang trong mình một ý chí sắt đá, và anh sẽ ngày càng trở nên can trường hơn khi đứng trước những áp lực vốn dư sức quật ngã những kẻ yếu đuối. Anh trở về nhà, tràn trề sức sống, đầy ắp hy vọng và hừng hực quyết tâm; vợ chồng tôi đã thu xếp mọi thứ đâu vào đấy cho tối nay. Bản thân tôi lúc này cũng đang rạo rực một nỗi phấn khích đến hoang dại. Thiết nghĩ, người đời hẳn sẽ rủ lòng thương hại bất cứ kẻ nào bị săn đuổi gắt gao như gã Bá tước kia. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Sinh vật ấy chẳng phải con người-thậm chí còn chẳng xứng làm một con dã thú. Chỉ cần lật giở những dòng ghi chép của bác sĩ Seward về cái chết xót xa của Lucy đáng thương, cùng chuỗi sự kiện kinh hoàng theo sau đó, bấy nhiêu thôi cũng đã đủ để vắt cạn đến giọt lòng trắc ẩn cuối cùng trong trái tim bất kỳ ai.

Muộn hơn.-Lãnh chúa Godalming và anh Morris đã đến sớm hơn so với dự kiến. Bác sĩ Seward vừa hay có việc phải ra ngoài và đưa cả Jonathan đi cùng, nên đành để tôi đứng ra tiếp đón hai vị khách. Đối với tôi, đây quả là một cuộc hội ngộ đầy xót xa, bởi nó gợi nhắc lại biết bao ước vọng tươi đẹp của Lucy đáng thương chỉ mới cách đây vài tháng. Dĩ nhiên, họ đã từng nghe Lucy nhắc đến tôi, và có vẻ như giáo sư Van Helsing cũng đã hết lời "thổi phồng" về tôi, mượn theo cách nói của anh Morris. Những chàng trai tội nghiệp, chẳng ai trong số họ hay biết rằng tôi đã tường tận ngọn ngành về những lời cầu hôn mà họ từng trao gửi cho Lucy. Họ bối rối chẳng biết phải nói gì hay làm gì, bởi họ hoàn toàn mù mờ về những điều tôi đang nắm giữ; vậy nên, họ đành phải mạn đàm xoay quanh những chủ đề vô thưởng vô phạt. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận rằng điều đúng đắn nhất tôi nên làm lúc này là giãi bày sự thật một cách cặn kẽ nhất với họ. Xâu chuỗi từ nhật ký của bác sĩ Seward, tôi biết họ đã có mặt ngay tại thời khắc Lucy trút hơi thở-cái chết thực sự của cô ấy-và tôi cũng chẳng việc gì phải e dè chuyện tiết lộ bí mật trước lúc thích hợp. Thế là, tôi lấy hết can đảm để nói với họ rằng mình đã đọc toàn bộ các tài liệu lẫn nhật ký, đồng thời vợ chồng tôi cũng vừa mới phân loại và đánh máy lại chúng theo đúng trình tự. Tôi trao cho mỗi người một bản sao để họ mang vào thư viện đọc. Khi Lãnh chúa Godalming cầm lấy tập tài liệu của mình và lướt qua-đó thực sự là một xấp giấy khá dày-anh cất tiếng:-

"Em đã chép lại tất cả những thứ này sao, phu nhân Harker?"

Tôi khẽ gật đầu, và anh nói tiếp:-

"Anh không thực sự hiểu mục đích của việc này; nhưng mọi người đều quá đỗi tốt bụng và chân thành, ai nấy đều dốc hết sức lực đầy nhiệt huyết, đến mức tất cả những gì anh có thể làm là nhắm mắt nghe theo sự sắp xếp của mọi người và cố gắng giúp sức. Anh đã nhận được một bài học đích đáng về việc phải biết chấp nhận những sự thật mà lẽ ra phải đủ để răn dạy một người đàn ông sống khiêm nhường cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Hơn nữa, anh biết em yêu thương Lucy tội nghiệp của anh-" Nói đến đây, anh quay mặt đi và vùi mặt vào hai bàn tay. Tôi có thể nghe rõ những tiếng nấc nghẹn ngào chực trào trong giọng nói của anh. Anh Morris, với một sự tinh tế mang tính bản năng, chỉ khẽ đặt tay lên vai bạn mình trong chốc lát, rồi lặng lẽ bước ra khỏi phòng. Tôi đoán hẳn phải có một đặc ân nào đó trong bản tính của người phụ nữ, thứ cho phép một người đàn ông tự do gục ngã trước mặt cô ấy, bộc lộ trọn vẹn những khía cạnh yếu đuối hay xúc động nhất của bản thân mà chẳng hề e sợ điều đó sẽ làm suy suyển đi tư cách nam nhi của mình; bởi lẽ, khi Lãnh chúa Godalming nhận ra trong phòng chỉ còn lại mỗi anh và tôi, anh liền ngồi thụp xuống ghế sofa và hoàn toàn buông xuôi, công khai phơi bày mọi nỗi niềm thống khổ. Tôi ngồi xuống cạnh bên và nhẹ nhàng nắm lấy tay anh. Tôi thực lòng hy vọng anh sẽ không coi đó là sự suồng sã, và dẫu sau này có ngẫm lại, anh cũng sẽ chẳng bao giờ bận tâm về điều đó. Không, tôi đã trách lầm anh rồi; tôi biết anh sẽ không bao giờ suy diễn như thế-anh quả thực là một quý ông quá đỗi cao thượng. Tôi thủ thỉ với anh, bởi tôi có thể nhìn thấu trái tim anh đang vỡ vụn thành từng mảnh:-

"Em rất yêu quý Lucy, và em hiểu cô ấy có ý nghĩa lớn lao thế nào đối với anh, cũng như anh có vị trí sâu đậm ra sao trong trái tim cô ấy. Em và cô ấy vốn dĩ thân thiết như hai chị em ruột; và giờ đây khi cô ấy đã rời xa, anh có muốn để em trở thành một người em gái, kề cận bên anh trong những tháng ngày giông bão này không? Em thấu hiểu phần nào những nỗi đau đớn tột cùng mà anh đang oằn mình gánh chịu, dẫu em chẳng thể nào đong đếm được đáy sâu của vực thẳm ấy. Nếu như sự đồng cảm và lòng trắc ẩn này có thể xoa dịu đôi chút vết thương lòng của anh, liệu anh có sẵn lòng cho phép em san sẻ một phần gánh nặng ấy không-vì Lucy?"

Trong khoảnh khắc ấy, chàng trai tội nghiệp như bị nhấn chìm vào biển bi ai. Dường như tất cả những dồn nén mà anh đã phải cắn răng âm thầm chịu đựng suốt bấy lâu nay bỗng chốc vỡ òa. Anh trở nên kích động mãnh liệt, giơ cao hai bàn tay dang rộng, rồi đập mạnh hai lòng bàn tay vào nhau trong một nỗi đau đớn cùng cực. Anh đứng phắt dậy rồi lại đổ gục xuống ghế, và những dòng lệ tuôn rơi lã chã trên gò má. Một niềm thương xót vô bờ bến trào dâng trong tôi, khiến tôi vô thức dang rộng đôi vòng tay. Nấc lên một tiếng nghẹn ngào xé ruột, anh gục đầu lên vai tôi và òa khóc nức nở như một đứa trẻ mệt lả đi vì kiệt sức, toàn thân anh cứ run bần bật lên vì xúc động.

Phụ nữ chúng tôi dường như luôn mang sẵn trong mình một chút bản năng của người mẹ, một thứ bản năng diệu kỳ giúp chúng tôi dễ dàng gạt đi những vụn vặt tầm thường một khi thiên chức ấy được đánh thức; cảm nhận mái đầu của người đàn ông to lớn đang oằn mình trong đau khổ tựa vào vai mình, tôi bỗng thấy thân thương hệt như cái vùi đầu của một sinh linh bé bỏng mà biết đâu vào một ngày nào đó, cũng sẽ say giấc nồng trên lồng ngực tôi, và tôi cứ thế khẽ khàng vuốt ve mái tóc anh như thể đang dỗ dành chính đứa con dứt ruột đẻ ra. Lúc bấy giờ, tôi quả thực chẳng mảy may mường tượng rằng sự tình lại mang một dáng vẻ kỳ lạ đến nhường ấy.

Một đỗi sau, tiếng nức nở của anh dần thưa thớt rồi tắt hẳn, anh ngẩng mặt lên buông một lời xin lỗi, dẫu chẳng hề cố công che đậy đi cảm xúc thật của lòng mình. Anh thổ lộ với tôi rằng trong suốt bao chuỗi ngày đêm đằng đẵng vừa qua-những ngày rã rời kiệt quệ và những đêm trắng thức trắng-anh đã không thể giãi bày tâm sự cùng bất kỳ ai, hệt như một người đàn ông luôn khao khát được trút bỏ cõi lòng giữa cơn bĩ cực. Chẳng có lấy một bóng hình nữ giới nào có thể trao cho anh sự cảm thông, hay một ai đó để anh có thể thoải mái dốc bầu tâm sự, chỉ bởi một lẽ những tình cảnh quá đỗi kinh hoàng cứ mãi bủa vây lấy bi kịch của anh. "Đến tận bây giờ anh mới thấm thía mình đã đớn đau nhường nào," anh cất lời, đưa tay gạt đi dòng nước mắt, "nhưng dẫu là lúc này, chính anh cũng chưa thể thấu suốt hết-và cũng chẳng một ai có thể đo lường được-sự đồng cảm vô giá ngọt ngào mà em trao cho anh hôm nay có ý nghĩa lớn lao đến mức nào. Thời gian rồi sẽ giúp anh hiểu thấu tận ngọn nguồn; nhưng hãy tin anh đi, dù lúc này anh không phải là kẻ vô ơn, lòng biết ơn nơi anh sẽ chỉ càng sâu nặng thêm cùng với sự thấu hiểu nảy mầm. Em sẽ cho phép anh coi em như một người em gái ruột thịt, đi cùng anh trong suốt quãng đời còn lại của chúng ta chứ-vì Lucy đáng thương?"

"Vì Lucy đáng thương," tôi khẽ đáp trong lúc hai chúng tôi siết chặt tay nhau. "Đúng vậy, và cũng vì chính bản thân em nữa," anh nói thêm, "bởi lẽ nếu sự trân trọng và lòng biết ơn của một gã đàn ông trên cõi đời này là thứ đáng để trân quý, thì hôm nay, em đã trọn vẹn nắm giữ lấy nó từ anh rồi. Nếu như ở một ngã rẽ nào đó trong tương lai mang đến cho em những trắc trở cần đến bờ vai nương tựa của một người đàn ông, hãy tin anh, lời thỉnh cầu của em sẽ tuyệt đối chẳng bao giờ rơi vào hư không. Cầu Chúa rủ lòng thương ban phước lành để những thời khắc u ám như thế sẽ vĩnh viễn không bao giờ ập đến, hòng dập tắt đi vầng thái dương sưởi ấm cuộc đời em; nhưng nếu giông bão thực sự kéo tới, hãy hứa với anh rằng em sẽ cho anh biết." Sự chân thành của anh quá đỗi thuần khiết, cùng với nỗi đau hãy còn nguyên vẹn rỉ máu, khiến tôi chợt hiểu rằng một lời hứa sẽ là liều thuốc ủi an anh lúc này, thế nên tôi khẽ đáp:-

"Em xin hứa."

Lúc tản bộ dọc theo dãy hành lang, tôi bắt gặp anh Morris đang đăm đăm phóng tầm mắt ra ngoài khung cửa sổ. Nghe tiếng bước chân vang lên, anh liền quay người lại. "Art thế nào rồi?" anh cất tiếng hỏi. Rồi khi ánh mắt chạm vào đôi mí mắt đang hoe đỏ của tôi, anh nói tiếp: "À, anh thấy cô bé đã an ủi cậu ấy rồi. Chàng trai tội nghiệp! Cậu ấy thực sự rất cần điều đó. Giữa cơn bĩ cực của cõi lòng, chẳng ai ngoài phụ nữ có thể đưa tay kéo một gã đàn ông đứng dậy; và cậu ấy thì lại hoàn toàn cô độc, chẳng có lấy một bờ vai để tựa vào."

Bản thân anh cũng đã can trường nuốt ngược nỗi đau của riêng mình vào trong, đến mức lồng ngực tôi như rỉ máu vì xót thương anh. Đảo mắt qua tập bản thảo anh đang cầm trên tay, tôi hiểu rõ rằng một khi lật giở những trang giấy ấy, anh sẽ vỡ lẽ ra mức độ tường tận của tôi về mọi việc; vì vậy, tôi nhỏ nhẹ mở lời:-

"Em chỉ ước sao mình có thể xoa dịu đi mọi vụn vỡ của những người đang phải gánh chịu nỗi đau cào xé tâm can. Liệu anh có bằng lòng để em trở thành một người bạn tâm giao, và liệu anh sẽ tìm đến em để kiếm tìm hơi ấm ủi an khi anh mỏi mệt chứ? Sau này anh rồi sẽ hiểu tại sao em lại nói vậy." Anh dường như cũng cảm nhận được sự nghiêm túc tuyệt đối trong lời nói của tôi, anh khẽ cúi người xuống, nâng lấy bàn tay tôi, rồi nhẹ nhàng đặt lên đó một nụ hôn. Cử chỉ ấy có vẻ chỉ là một niềm an ủi quá đỗi nhỏ nhoi so với một tâm hồn quả cảm và thấm đẫm vị tha đến nhường này, và rồi, chiều theo một khao khát đầy bốc đồng, tôi hơi rướn người lên và hôn anh. Những giọt lệ chực chờ trào dâng nơi khóe mắt, và một tiếng nghẹn ngào khẽ lướt qua nơi cuống họng anh; anh cố gắng kìm nén để thốt lên với chất giọng khá bình tĩnh:-

"Cô bé à, chừng nào em còn sống trên cõi đời này, em sẽ chẳng bao giờ phải hối tiếc vì tấm lòng chân thành và lương thiện đó đâu!" Nói rồi, anh rảo bước tiến vào phòng làm việc để gặp gỡ người bạn của mình.

"Cô bé!"-đúng chính xác những từ ngữ mà anh đã từng âu yếm gọi Lucy, và ôi, anh ấy quả thực đã chứng minh mình là một người bạn tri kỷ hiếm có khó tìm!



  1. Một thiết bị ghi và phát âm thanh sơ khai do Thomas Edison phát minh năm 1877. Vào thời đại Victoria trong tiểu thuyết, đây là một công nghệ tối tân và đắt đỏ, đại diện cho đỉnh cao khoa học kỹ thuật. 

  2. Chỉ các cuộn sáp (wax cylinders) dùng trong máy quay đĩa thời kỳ đầu. Âm thanh được khắc vật lý thành các rãnh nhỏ trên lớp sáp mềm, cho phép lưu trữ và phát lại giọng nói. 

  3. Thuật ngữ y học tâm thần được ghép từ tiếng Hy Lạp "zoö" (sinh vật sống) và "phagous" (ăn, nuốt). Nó chỉ một chứng ám ảnh cưỡng chế muốn ăn tươi nuốt sống các sinh vật khác để hấp thụ sinh khí. 

  4. Hay còn gọi là straitjacket (áo eo thẳng), một loại áo đặc biệt có ống tay rất dài dùng để buộc chéo hai tay người mặc ra sau lưng. Thời thế kỷ 19, áo này thường dùng trong các trại thương điên để khống chế bệnh nhân. 

  5. Carter Paterson là tên một hãng vận tải và giao nhận hàng hóa rất lớn ở Anh thành lập năm 1860, nổi tiếng với dịch vụ vận chuyển bưu kiện bằng xe ngựa. 

  6. Một cách diễn đạt uyển ngữ (euphemism) và trang trọng của người Anh thời xưa, ý chỉ việc dùng tiền mặt (đồng Bảng Anh) để boa (tip) cho những người phu khuân vác hòng lấy thêm thông tin. 

  7. Một cách ví von lóng ở London cuối thế kỷ 19. Nghĩa gốc ám chỉ bầu không khí ngột ngạt, bụi bặm và mốc meo đặc trưng ở những khu phố chật chội hoặc các cửa hàng bán đồ cũ.