VỊT CON XẤU XÍ
Cảnh thôn quê thật tươi đẹp. Lúc đó đang là mùa hè rực rỡ. Những cánh đồng lúa mì chín vàng ươm, yến mạch xanh rì, cỏ khô được chất thành từng đống trên bãi cỏ xanh mướt. Một chú cò oai vệ bước đi trên đôi chân dài màu đỏ, lảnh lót kêu thứ tiếng Ai Cập1 mà cậu ta học được từ mẹ mình.
Bao quanh những cánh đồng và bãi cỏ là những khu rừng rậm rạp, giữa rừng thẳm lọt thỏm một hồ nước sâu. Cảnh thôn quê quả thật tuyệt đẹp! Ánh nắng ấm áp chiếu rọi xuống một dinh thự cổ kính, được bao bọc bởi những con kênh sâu. Từ những bức tường đá kéo dài xuống tận mép nước mọc lên những tán lá ngưu bàng2 khổng lồ, vươn cao đến mức bọn trẻ con có thể đứng thẳng bên trong mà không ai hay biết.
Nơi này cũng hoang vu tĩnh mịch chẳng kém gì phần rậm rạp nhất của khu rừng, nên một chị Vịt Mẹ đã chọn bãi lá này làm tổ. Chị đang ấp trứng; thế nhưng niềm vui chờ đợi ban đầu giờ đây dần tan biến. Chị đã nằm lỳ ở đây quá lâu, và lại có quá ít khách khứa qua lại hỏi han. Bởi lẽ những con vịt khác thà tung tăng bơi lội dưới dòng kênh mát mẻ còn hơn là cất công lạch bạch chui vào giữa những tán ngưu bàng um tùm để tán gẫu cùng chị.
Rồi cuối cùng, những quả trứng cũng thi nhau nứt vỏ. "Cục, cục!" Tất cả những quả trứng đều đang nở, từng cái đầu nhỏ xíu ngơ ngác lần lượt nhô ra. "Cạp, cạp!" Vịt Mẹ gọi bầy, và tất cả những chú vịt con lóng ngóng vươn mình đứng thẳng dậy. Chúng dáo dác ngó nghiêng khắp xung quanh từ dưới những vòm lá xanh mướt; và vì màu xanh rất tốt cho mắt, vịt mẹ cứ để mặc bầy con tha hồ ngắm nghía.
"Thế giới này mới rộng lớn làm sao!" lũ trẻ thốt lên đầy kinh ngạc, vì chúng thấy nơi ở mới mẻ này rộng rãi hơn hẳn so với cái vỏ trứng chật chội tối tăm trước kia.
"Các con tưởng bấy nhiêu đây đã là toàn bộ thế giới sao?" vịt mẹ nói. "Nó còn trải dài mãi đến tận bên kia khu vườn, vắt sang tận cánh đồng của ngài mục sư kia kìa; nhưng mẹ cũng chưa từng một lần đặt chân đến đó. Nào, các con đã ra hết cả chưa?" Nói rồi, chị vươn mình đứng dậy. "Chưa, vẫn chưa hết, quả trứng to nhất hãy còn nằm lỳ đây. Chẳng rõ còn phải mất công chờ đợi thêm bao lâu nữa? Mẹ thật sự phát mệt với nó rồi!" Và chị lại nặng nề thả mình ngồi xuống ổ.
"Thế nào, tình hình của chị sao rồi?" một bác Vịt Già tạt qua thăm hỏi.
"Quả trứng này làm tôi mất thời gian quá," Vịt Mẹ đáp. "Nó mãi chẳng chịu nứt vỏ. Nhưng chị nhìn mấy đứa kia mà xem! Chúng là những con vịt con xinh xắn nhất mà tôi từng thấy trên đời. Chúng giống hệt bố chúng-cái gã vô tích sự ấy, chẳng thèm ghé thăm tôi lấy một lần!"
"Để tôi xem quả trứng ương bướng ấy nào," Vịt Già nói. "Dám chắc luôn, đó là trứng của loài gà tây. Bản thân tôi cũng từng bị lừa như thế một vố, và tôi đã rước phải đủ thứ rắc rối với đám trẻ ranh đó; bởi vì chúng sợ nước chết đi được, và tôi không tài nào lùa chúng xuống ao. Tôi đã gào thét, đã mắng mỏ, nhưng chẳng ăn thua. Nhưng cứ để tôi ngó quả trứng xem nào-à, phải rồi! Chắc chắn luôn, đó là một quả trứng gà tây. Mặc xác nó đi, chị hãy dẫn những đứa nhỏ khác xuống nước tập bơi thôi."
Vịt Con Xấu Xí
"Tôi sẽ ấp nó thêm một lát nữa," Vịt Mẹ nói. "Tôi đã kiên nhẫn ấp lâu đến thế này rồi, có nán lại đây trải qua cả mùa gặt cũng chẳng hề hấn gì."
"Thế thì tùy chị thôi," Vịt Già nói, và lạch bạch bỏ đi.
Rồi cuối cùng quả trứng khổng lồ cũng nứt rạn. "Cục! Cục!" sinh linh bé nhỏ kêu lên, và lóng ngóng lồm cồm bò ra-nhưng, ôi chao! Trông nó mới to xác và xấu xí làm sao! Vịt Mẹ soi mói nhìn nó. "Thật là một tạo vật to lớn và cục mịch," chị lẩm bẩm. "Chẳng có đứa nào trong bầy trông giống nó lấy một tẹo. Liệu nó có phải là một giống gà tây hay không? Thôi thì, chúng ta sẽ sớm biết thôi. Nó phải xuống nước, cho dù đích thân tôi phải đẩy nó xuống."
Ngày hôm sau, trời hửng nắng rạng rỡ. Ánh nắng ấm áp chiếu xuyên qua những tán lá xanh rì, rọi lên Vịt Mẹ đang dẫn bầy con lạch bạch tiến về bờ kênh. Tùm! Chị phóng mình xuống làn nước mát lạnh. "Cạp! Cạp!" chị cất tiếng gọi đàn. Nghe lời mẹ, từng chú vịt nhỏ nối đuôi nhau nhảy tõm xuống kênh. Nước trùm lên ngập đầu, nhưng thoắt cái, lũ trẻ đã nhao nhao ngoi lên và bơi lội tung tăng một cách thật tự nhiên. Những đôi chân màng mỏng manh quẫy đạp nhịp nhàng, vô cùng khéo léo. Cả bầy đều có mặt đông đủ, kể cả chú vịt xám xịt, có vẻ ngoài kỳ dị kia.
"Không, nó tuyệt nhiên chẳng phải gà tây!" Vịt Mẹ lẩm bẩm đầy tự hào. "Hãy xem cái cách nó rẽ nước mới điệu nghệ làm sao, cái vóc dáng ấy thẳng thớm, hiên ngang biết nhường nào! Thằng bé đích thị là máu mủ của tôi rồi. Trông kỹ lại thì, ừ, nó cũng kháu khỉnh đấy chứ. Cạp! Cạp! Lại đây với mẹ nào các con, mẹ sẽ đưa cả bầy ra ngoài kia, ngắm nhìn thế giới bao la và ra mắt các bậc trưởng bối trong sân. Nhớ là phải bám sát mẹ đấy, lỡ ai vô ý giẫm phải thì khốn; và đặc biệt, phải luôn dè chừng lão Mèo vằn."
Thế rồi, cả gia đình vịt ùa vào mảnh sân chung. Một trận huyên náo đinh tai nhức óc đang nổ ra; hai nhà vịt nọ đang nháo nhác chí chóe tranh nhau một cái đầu lươn, để rồi cuối cùng, mồi ngon lại rơi tọt vào vuốt gã Mèo ranh mãnh.
"Các con thấy chưa, sự đời là thế đấy!" Vịt Mẹ nói, vươn cổ lau cái mỏ, bởi chị cũng đang muốn có được cái đầu lươn kia. "Giờ thì thẳng chân lên nào," chị dặn dò, "xếp hàng ngay ngắn và cùng tới cúi chào bà Vịt Quý Tộc đằng kia. Bà ấy là nhân vật tôn kính bậc nhất chốn này đấy, mang trong mình dòng máu Tây Ban Nha3 danh giá, thảo nào cốt cách lại đĩnh đạc và uy nghi đến thế. Nhìn xem, chân bà ấy còn buộc một dải giẻ đỏ rực! Với loài vịt chúng ta, đó là món đồ trang sức lộng lẫy và là một vinh dự tột bậc. Nhớ kỹ này, không được bước chụm hai chân vào nhau đâu; một chú vịt con gia giáo phải sải bước với hai bàn chân giang rộng, y như dáng vẻ của bố mẹ vậy. Nhìn mẹ làm mẫu đây! Nào, bây giờ thì vươn cổ, ngoan ngoãn cúi chào và nói 'Cạp' đi các con."
Bầy vịt con răm rắp làm theo. Nhưng những ả vịt lân cận lập tức chú ý tới, chúng lườm nguýt rồi quang quác la lên: "Chà chà! Lại thêm một bầy nữa rồng rắn kéo tới, cứ làm như cái sân này chưa đủ chật chội không bằng! Và ôi trời đất ơi, cái thứ kỳ dị kia sao mà gớm ghiếc đến thế! Bọn ta không thể dung thứ cho một kẻ dị hợm như vậy ở đây được." Và chẳng nể nang, một con vịt hung hăng chồm tới, cắn phập vào cổ Vịt Con.

"Buông nó ra ngay!" Vịt Mẹ giương cánh che chở, gắt lên, "Nó đã làm gì tổn hại đến ai cơ chứ!"
"Phải rồi, nhưng cái thân xác nó lêu nghêu quá đỗi, tướng mạo lại dị hợm, thì chịu trận là đáng kiếp!" bọn vịt xúm lại châm chọc.
"Chị hạ sinh được đàn con kháu khỉnh thật đấy," bà Vịt Quý Tộc với mảnh giẻ đỏ trên chân chậm rãi cất lời. "Mọi đứa trẻ đều thanh tú, chỉ trừ cái thứ chướng mắt kia; vẻ ngoài của nó chắp vá cẩu thả quá, ta thật lòng chỉ mong nó được nhét lại vào vỏ mà ấp lại từ đầu."
"Điều đó e là không thể, thưa bà," Vịt Mẹ lên tiếng bênh vực con. "Chắc chắn thằng bé không có được vẻ ngoài ưa nhìn, nhưng nó là một đứa trẻ vô cùng hiền lành. Nó bơi lội chẳng kém cạnh anh chị em nào, nếu không muốn nói là phần nhỉnh hơn đôi chút. Tôi tin rồi thời gian sẽ làm thay đổi dáng vẻ thô kệch kia, giúp nó bớt phần kềnh càng. Suy cho cùng, cũng chỉ tại nó nằm trong lớp vỏ quá lâu nên mới sinh ra cớ sự ấy." Nói rồi, chị nhẹ nhàng rỉa lông cổ, khẽ vuốt ve đứa con bé nhỏ. "Hơn thế nữa," chị nói thêm, "thằng bé lại là con trống. Tôi cược rằng nó sẽ sớm trở thành một gã trai vạm vỡ, khỏe mạnh, rồi ngoại hình cũng chẳng còn là vấn đề to tát. Nhất định nó sẽ mạnh mẽ vươn lên và tự lo liệu được cho bản thân mình."

"Đám trẻ kia quả là mỹ miều," bà Vịt Quý Tộc gật gù bảo. "Chị cứ tự nhiên coi đây như nhà của mình đi, và nếu có nhặt được cái đầu lươn nào tươm tất, chị cứ việc dâng lên cho ta."
Và thế là bầy vịt cứ tự nhiên như ở nhà. Thế nhưng, những ngày tháng khó khăn nhất lại ập đến với chú Vịt Con đáng thương-kẻ phá vỏ muộn màng và mang vẻ ngoài xấu xí. Cậu trở thành mục tiêu cho mọi sự bắt nạt, bị cả bầy vịt lẫn lũ gà xúm lại cắn xé, mổ chích và chê bai không ngớt. "Cái đồ kềnh càng cục mịch!" chúng không ngớt giễu cợt. Ngay cả gã Gà Tây trống, kẻ sinh ra đã mang chiếc cựa sắc nhọn bẩm sinh nên lúc nào cũng huênh hoang coi mình là một đấng quân vương quyền uy, cũng trợn mắt phồng mang, xù lông vĩ đại như một cánh buồm no gió. Gã bệ vệ sải bước đến chỗ Vịt Con, khuôn mặt đỏ gay, bừng bừng tức tối. Chú vịt khốn khổ co rúm lại, hoang mang không biết phải trốn chạy về đâu. Chú cảm thấy vô cùng buồn bã; cậu tủi thân vì ngoại hình dị hợm của mình, cảm thấy thật tồi tệ khi phải trở thành trò cười cho cả cái chốn ồn ào này.
Ngày đầu tiên trôi qua thật tồi tệ, và những chuỗi ngày sau đó lại càng tệ hại hơn, đẩy cậu lùi sâu vào sự ghẻ lạnh. Chú Vịt Con đáng thương bị vứt bỏ, bị hắt hủi bởi tất cả mọi người. Ngay cả anh chị em của cậu cũng tỏ ra lạnh nhạt, xua đuổi cậu bằng những lời lẽ khó nghe: "Cầu cho lão Mèo vằn tha quách mi đi cho rảnh nợ, cái đồ xấu xí!" Cậu vô cùng buồn bã khi chính tai nghe thấy tiếng mẹ thở dài ngao ngán: "Ôi trời, giá mà con có thể đi cho khuất mắt!" Bọn vịt xúm lại cắn xé, lũ gà chực chờ mổ rỉa, và cả cô hầu gái ngày ngày rải cám cũng thường xuyên dùng chân đá đuổi sinh linh bé nhỏ ấy.
Chú cắm đầu cắm cổ chạy tuột qua hàng rào, làm bầy chim nhỏ rúc trong bụi rậm giật mình bay tán loạn. "Chắc tại mình gớm ghiếc quá nên chúng mới khiếp sợ nhường vậy," Vịt Con xót xa thầm nghĩ. Chú nhắm nghiền hai mắt lại, nhưng đôi chân bé nhỏ vẫn cuống cuồng chạy thục mạng. Cuối cùng, chú dạt vào một vùng đầm lầy mênh mông, nơi sinh sống của vài bầy Vịt Trời. Nơi ấy, chú nằm cuộn tròn suốt đêm thâu, vô cùng mệt mỏi và buồn bã. Sáng hôm sau, bầy Vịt Trời tung cánh bay lên, chợt cất tiếng hỏi kẻ lạ mặt: "Cậu là ai thế?". Chú Vịt Con xoay xở đủ mọi hướng, lễ phép cúi đầu chào hỏi chúng hết sức cung kính.
"Cậu xấu xí hiếm thấy thật đấy!" bầy Vịt Trời châm chọc. "Nhưng thôi, chuyện ấy cũng chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta, miễn là cậu đừng hòng kết hôn với bất kỳ ai trong gia tộc này." Ôi, tội nghiệp chú Vịt Con! Chú nào dám tơ tưởng đến chuyện dựng vợ gả chồng; chú chỉ khao khát được phép nằm nép mình giữa đám lau sậy và nhấp vài ngụm nước bùn lầy lội, thế thôi.

Chú thui thủi nằm lại đó ròng rã hai ngày trời. Đến ngày thứ ba, có hai gã Ngỗng Trời, hay đúng hơn là hai tay Ngỗng đực trạc tuổi choai choai, sải cánh lượn tới. Chúng mới nứt mắt chui ra khỏi vỏ trứng cách đây chưa lâu, thảo nào bản tính lại ngông cuồng và xấc xược đến vậy.
"Nghe này," chúng lên giọng trịch thượng, "cậu xấu xí đến mức bọn ta đâm ra lại khoái cậu. Cậu có muốn nhập bọn cùng bọn ta, rong ruổi làm một loài chim di cư không? Cách đây không xa, ở một vùng đầm lầy khác, có mấy ả Ngỗng Trời xinh xắn, ngọt ngào lắm, hễ cất tiếng 'Khè, khè' là đáng yêu chết đi được. Số cậu quả đang phất lên rồi đấy, dẫu cho bộ dạng cậu có thảm hại đến đâu đi chăng nữa."
Đoàng! Một tiếng súng lớn vang lên, và cả hai gã Ngỗng Trời ngã gục, bỏ mạng giữa đám sậy; máu đỏ loang lổ trên mặt nước đầm lầy. Đoàng! Tiếng súng lại dội lên lần nữa. Từng bầy Ngỗng Trời hốt hoảng vỗ cánh bay vút lên không trung, trong khi những tiếng nổ vẫn tiếp tục vang lên.
Đó là một cuộc đi săn quy mô lớn đầy tàn khốc. Thợ săn giăng lưới phục kích tứ bề; có kẻ còn vắt vẻo trên những chạc cây cổ thụ khổng lồ vươn nhánh cành rậm rạp bao trùm lấy mặt đầm. Làn khói súng xanh lè bốc lên, len lỏi qua từng kẽ lá, mờ mịt tựa màn sương rồi từ từ sà xuống mặt nước tan biến. Bầy chó săn hung hãn lao tới sục sạo, quẫy đạp làm bùn lầy bắn tung tóe, đẩy những khóm lau sậy ngả nghiêng la liệt.
Ôi, chú Vịt nhỏ bé tội nghiệp mới hoảng sợ làm sao! Chú ngoảnh đầu lại, toan giấu mặt xuống dưới cánh. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ấy, một con Chó săn dữ tợn đã chồm tới ngay sát bên, cái lưỡi dài thè ra khỏi mõm, đôi mắt hung dữ trừng trừng nhìn chú. Nó gầm gừ về phía Vịt Con của chúng ta, nhe hàm răng nhọn hoắt ra. Rồi, tõm! Tõm!... Tiếng lội nước vang lên. Con chó quay ngoắt bỏ đi-rời đi mà chẳng mảy may đụng chạm hay làm hại gì đến chú.
"Chao ôi! Tạ ơn trời đất," chú trút một tiếng thở dài thườn thượt. "Mình xấu xí đến mức ngay cả con Chó cũng phải gớm ghiếc, chẳng thèm nhai nuốt cái thân này."
Và thế là chú Vịt Con nằm bẹp dí ở đó, im thin thít như đã chết, mặc cho những tiếng súng chát chúa vẫn dội vang ùng oàng giữa những khóm sậy, nổ đoàng đoàng hết phát này sang phát khác.
Tiếng ồn ào ấy chẳng hề dứt cho đến tận lúc ngày tàn, và dẫu cho bóng tối đã buông xuống, sinh linh bé nhỏ đáng thương kia vẫn hoảng sợ chẳng dám cựa quậy. Chú nằm lỳ, chờ thêm vài giờ đồng hồ nữa mới dám he hé mắt nhìn quanh. Rồi chú nhanh chóng chạy trốn khỏi vùng đầm lầy ấy càng nhanh càng tốt. Chú băng qua những cánh đồng hoang và những bãi cỏ mênh mông, mặc cho từng cơn gió dữ dội thổi tới, mạnh đến nỗi chú phải rất vất vả mới có thể bước đi qua cơn bão.
Chiều buông, chú tạt vào một túp lều nhỏ tồi tàn, tồi tàn đến nỗi dường như nó chẳng biết nên đổ về hướng nào nên đành cứ đứng trơ ra đó. Gió gào thét dữ dội khiến Vịt Con đáng thương phải gồng mình, chống cả đuôi xuống đất để khỏi bị cuốn đi. Giông bão mỗi lúc một điên cuồng hơn. Chợt chú nhận ra cánh cửa lều đã bung mất một bên bản lề, treo xiêu vẹo tạo thành một khe hở vừa đủ để chui lọt. Thế là Vịt Con luồn luôn vào trong.
Sống trong lều là một bà lão cùng một chú Mèo đực và một cô Gà Mái. Mèo được bà âu yếm gọi là "con trai cưng", chàng ta chẳng những biết uốn cong lưng và kêu gừ gừ điệu nghệ, mà bộ lông thậm chí còn xẹt ra cả tia lửa nếu bị vuốt ngược. Gà Mái thì sở hữu đôi chân ngắn ngủn nên mang biệt danh "Gà Nhép Chân Ngắn". Cô nàng rất chăm đẻ những quả trứng ngon lành, nên bà lão thương cô chẳng khác nào con ruột.
Tảng sáng hôm sau, sự hiện diện của vị khách lạ ngay lập tức bị phát giác, Mèo gầm gừ còn Gà Mái thì quang quác ầm ĩ.
"Có chuyện gì thế hả?" bà lão hỏi, dáo dác nhìn quanh. Nhưng mắt mũi đã kèm nhèm nên bà cứ đinh ninh Vịt Con là một con vịt mái béo múp míp đi lạc. "Vớ bở rồi đây!" bà hớn hở, "Bây giờ mình sẽ có cả trứng vịt nữa, trừ phi nó là vịt đực. Cứ chờ xem sao."
Thế là Vịt Con được cho ở lại "thử việc" suốt ba tuần liền, nhưng tuyệt nhiên chẳng rặn ra được quả trứng nào. Trong nhà, Mèo nghiễm nhiên coi mình là ông chủ, còn Gà Mái phong luôn làm bà chủ. Cả hai lúc nào cũng ra rả cái điệp khúc "Chúng ta và phần còn lại của thế giới", bởi lẽ chúng tự cho mình không chỉ là một nửa thế giới, mà còn là nửa tinh hoa xuất chúng nhất. Vịt Con ậm ực cho rằng có thể có cách nghĩ khác, nhưng Gà Mái gạt phắt đi.
"Cậu có biết đẻ trứng không?" chị ta hạch sách.
"Không ạ."
"Thế thì ngậm miệng lại đi."
Anh Mèo cũng bồi thêm: "Thế cậu có biết uốn cong lưng không? Có biết kêu gừ gừ không hả?"
"Không ạ."
"Vậy thì cậu lấy tư cách gì mà lên tiếng khi những người hiểu biết đang nói chuyện?"
Vịt Con đành lủi thủi rút vào một góc, tủi thân tột cùng. Giữa lúc ấy, ký ức về bầu không khí trong lành và ánh nắng rực rỡ chợt ùa về, khơi dậy trong chú niềm khao khát được vẫy vùng bơi lội mãnh liệt đến mức chú không kìm được mà trút bầu tâm sự với Gà Mái.
"Cậu ấm đầu à?" Gà Mái gắt. "Rửng mỡ không có việc gì làm nên mới sinh ra mấy cái mộng tưởng viển vông đó. Tốt nhất là hãy đẻ trứng hoặc kêu gừ gừ đi, rồi cậu sẽ quên béng mấy thứ nhảm nhí ấy ngay."
"Nhưng bơi lội tuyệt lắm chị ơi!" Vịt Con nài nỉ. "Thật khoan khoái biết bao khi ngụp lặn để dòng nước tràn qua đầu, và chị lao mình xuống tận đáy sâu!"
"Chà, cái thú vui nghe mới dị hợm làm sao," Gà Mái bĩu môi. "Ta đồ rằng cậu phát điên mất rồi. Chưa cần nói đến ta, cậu cứ thử hỏi anh Mèo - con vật thông thái nhất mà ta từng biết - xem anh ấy có thích bơi lội, hay cắm đầu xuống tận đáy nước không. Hoặc hỏi luôn bà chủ của chúng ta, bà lão ấy - trên đời này làm gì có ai thông thái hơn bà. Cậu nghĩ bà ấy có thích bơi lội và để nước ngập qua đầu không?"
"Chị không hiểu tôi rồi," Vịt Con buồn bã đáp.
"Cái gì! Bọn ta mà lại không hiểu cậu ư? Vậy cậu tưởng mình tinh khôn hơn cả anh Mèo và bà lão cơ đấy, ấy là chưa thèm đếm xỉa đến ta! Đừng có hoang tưởng thế nữa, đồ ranh con; tốt hơn hết là hãy biết ơn sự cưu mang mà mọi người đã dành cho cậu đi. Cậu không thấy vinh hạnh khi được trú ngụ trong căn phòng ấm áp này, được tận hưởng đặc ân của một xã hội tinh hoa nơi cậu có thể học hỏi bao điều hay ho sao? Thật tình cậu chỉ là một gã ngốc, và cứ phải dây dưa với cậu đúng là rước rắc rối vào thân. Tin ta đi, ta nói cũng vì muốn tốt cho cậu thôi. Lời thật thì mất lòng, nhưng có như vậy mới là tình bạn chân chính. Thôi nào, liệu mà cố học lấy cách kêu gừ gừ, hoặc đẻ một quả trứng xem nào!"
"Tôi nghĩ tôi phải đi ra ngoài thế giới bao la kia một lần nữa thôi," Vịt Con khẽ nói.
"Vậy thì cứ việc vác xác đi đi," Gà Mái xua đuổi.
Thế là Vịt Con lại lang thang cất bước. Chú lại được thỏa thuê bơi lội trên mặt nước, được ngụp lặn thỏa thích, nhưng muôn loài thi nhau xa lánh chú chỉ vì vẻ ngoài dị hợm. Rồi mùa thu cũng ập đến, lá cây trên cành úa vàng, khô nâu, bị những cơn gió lạnh buốt cuốn đi và nhảy múa xoáy tít trên không trung. Bầu trời âm u, mây đen xám xịt mang theo những cơn mưa đá hay những bông tuyết lạnh giá, và bầy Quạ đậu trên hàng rào cất tiếng kêu quạ quạ. Chú Vịt Con đáng thương lúc này thực sự chẳng thể tìm đâu ra một chốn bình yên.
Một buổi ráng chiều, ngay khi mặt trời buông xuống những tia sáng rực rỡ đến lạ kỳ, một đàn chim lớn, kiêu sa tuyệt ngần vụt bay lên từ đám sậy um tùm. Vịt Con chưa từng thấy cảnh tượng nào tráng lệ đến vậy; bộ lông của chúng trắng muốt, lấp lánh chói lòa, tôn lên chiếc cổ thon dài thanh tú. Đó là bầy Thiên Nga. Chúng cất lên tiếng kêu vang vọng không trung, sải rộng đôi cánh kiêu hãnh và rời bỏ vùng đất giá rét này, vượt đại dương bao la để tìm về những phương Nam ấm áp. Chúng bay mỗi lúc một cao, cao vút lên tận tầng mây! Chú Vịt Con Xấu Xí bỗng trào dâng một cảm xúc lạ kỳ, mãnh liệt. Nó cứ xoay tít dưới nước như một chiếc guồng quay, rướn cao chiếc cổ dài nhìn theo bóng dáng đàn chim, rồi bật ra một tiếng kêu lớn và the thé đến mức chính nó cũng phải giật mình hoảng sợ. Ôi! Làm sao nó có thể quên được những bóng hình cao quý và ngập tràn hạnh phúc ấy! Khi bầy chim đã khuất bóng, nó lặn một hơi xuống tận đáy sâu, và đến lúc trồi lên mặt nước, nó ngẩn ngơ như kẻ mất trí. Vịt Con chẳng biết tên loài chim ấy là gì, cũng chẳng hay chúng đang bay về đâu; nhưng tự đáy lòng, nó yêu chúng hơn bất cứ điều gì trên đời. Nó chẳng mảy may ghen tị; chưa bao giờ nó dám mơ ước mình có được vẻ đẹp tuyệt trần như thế. Nó sẽ mãn nguyện biết bao nếu đám vịt nhà chịu dung nạp một sinh linh khốn khổ, xấu xí như nó.
Mùa đông năm ấy ập đến lạnh thấu xương. Vịt Con buộc phải bơi lội không ngừng nghỉ để mặt nước khỏi đóng băng. Thế nhưng, đêm từng đêm, khoảng nước trống nho nhỏ của nó cứ hẹp dần, hẹp dần. Trời rét buốt đến nỗi lớp băng nứt nẻ kêu răng rắc. Vịt Con phải ra sức đạp đôi chân nhỏ bé liên hồi mới ngăn được dòng nước đông đặc hoàn toàn. Cuối cùng, sức cùng lực kiệt, nó ngất lịm đi, nằm cứng đơ và lạnh lẽo giữa lớp băng giá.
Sáng tinh mơ hôm sau, một bác nông dân đi ngang qua trông thấy. Bác dùng chiếc guốc gỗ đập vỡ tảng băng, cứu chú vịt khốn khổ rồi ủ ấm mang về nhà cho vợ.
Trong hơi ấm cõi người, Vịt Con đáng thương mau chóng tỉnh lại. Đám trẻ con ùa tới định chơi cùng, nhưng nó lại tưởng lũ trẻ muốn bắt nạt mình. Quá đỗi hoảng loạn, nó nhảy cẫng lên, rơi tọt vào xô sữa làm sữa đổ tràn lênh láng khắp sàn. Người vợ giật mình ré lên, hoảng hốt vỗ tay bôm bốp. Chú Vịt lại quáng quàng lao từ vũng sữa sang chảo bơ, rồi tiện đà chui tọt vào thùng bột lục sục một hồi mới ngoi ra. Giờ đây, trông bộ dạng nó mới thảm hại và kỳ dị làm sao!
Người vợ thét lớn, vơ lấy chiếc kẹp gắp than đuổi đánh nó. Đám trẻ con cũng cười đùa ầm ĩ, hò reo chạy đuổi theo hòng tóm gọn sinh vật tội nghiệp. Ơn trời, cánh cửa nhà vẫn mở toang. Nó vội vã lao ra ngoài, rúc sâu vào một bụi rậm phủ đầy tuyết trắng tinh sương, nằm thở dốc như thể đang trong một giấc mơ màng.
Sẽ thật buồn nếu kể tường tận mọi khó khăn và gian khổ mà Vịt Con phải trải qua giữa sương sa bão tuyết của mùa đông khắc nghiệt ấy. Thế nhưng, khi nó đang nằm cuộn tròn giữa đám sậy trên bãi đầm lầy, vạt nắng ấm áp đầu tiên của mặt trời đã khe khẽ chiếu rọi; những chú chim chiền chiện lại cất tiếng hót véo von. Một mùa xuân tươi đẹp, tràn trề nhựa sống đã thực sự quay về.
Một lần nữa, nó thử vỗ cánh. Đôi cánh giờ đây đã cứng cáp hơn xưa, vút đưa nó lao đi trong gió. Chưa kịp nhận ra, nó đã đáp xuống một khu vườn mênh mông tuyệt đẹp. Ở đó, những cây táo đương độ trổ bông rực rỡ, còn rặng tử đinh hương thì tỏa ngát hương thơm, buông rủ những nhành lá xanh mướt xuống mặt kênh uốn lượn. Ôi! Khung cảnh mới diệu kỳ làm sao, vạn vật như bừng lên sức sống tươi trẻ của mùa xuân! Chợt từ trong bụi rậm bước ra ba con Thiên Nga trắng muốt, đẹp lộng lẫy. Chúng vươn mình khoe bộ lông kiêu hãnh, lướt đi trên mặt nước êm ru, nhẹ tựa thoi đưa! Vịt Con nhận ra ngay những sinh vật lộng lẫy nhường ấy, và bất giác một nỗi buồn kỳ lạ choán lấy tâm trí.
"Mình sẽ bay đến chỗ các ngài ấy, những loài chim tuyệt đẹp kia!" nó thầm nhủ. "Chắc chắn các ngài ấy sẽ giết mình mất, vì thân hình xấu xí nhường này mà lại dám bén mảng đến gần. Nhưng dẫu sao cũng chẳng sao. Thà chết dưới tay các ngài ấy còn tốt hơn là bị lũ Vịt cắn xé, lũ Gà mổ rỉa, bị cô hầu gái đá đuổi, và phải nếm trải bao cực nhọc rét mướt suốt mùa đông lạnh lẽo!"
Nó liền sà xuống mặt nước, dũng cảm bơi về phía những sinh vật tuyệt mỹ kia. Vừa thoáng thấy nó, bầy Thiên Nga đã lao vút tới nghênh đón. "Cứ giết tôi đi," con vật đáng thương cất lời, đoạn cúi rạp đầu xuống mặt nước chờ đợi cái chết. Nhưng kìa, nó vừa nhìn thấy thứ gì dưới làn nước trong vắt vậy? Hình bóng phản chiếu của chính nó đây sao, không còn là một con chim xám xịt, mập mạp thô kệch nữa-đó đích thị là dáng vẻ kiêu sa của một con Thiên Nga!
Chẳng hề hấn gì khi phải sinh ra trong một cái ổ vịt, miễn là bạn được nở ra từ một quả trứng Thiên Nga. Và giờ đây, cậu cảm thấy thật vui sướng sau tất cả những rắc rối và khó khăn mà mình từng nếm trải. Cậu sẽ chẳng bao giờ cảm nhận hết được niềm hạnh phúc trọn vẹn này, nếu như trước đó chưa từng trải qua những tháng ngày khốn khó.
Những con Thiên Nga lớn bơi vòng quanh, dùng mỏ vuốt ve cậu đầy âu yếm. Trên bờ, mấy đứa trẻ đang lăng xăng chạy nhảy trong vườn; chúng tung vụn bánh mì và ngũ cốc xuống dòng kênh. Đứa nhỏ nhất bỗng reo lên: "Nhìn kìa, có một con mới đến!" Những đứa trẻ khác cũng nhảy múa vỗ tay phụ họa: "Đúng rồi, một con Thiên Nga mới đã đến!"
Chúng hớn hở chạy đi gọi bố mẹ, mang thêm bánh ngọt ném xuống nước cho bầy chim, và ai nấy đều trầm trồ: "Con mới là con đẹp nhất, vừa trẻ trung lại vô cùng rực rỡ!" Nghe vậy, những con Thiên Nga già bèn cúi đầu chào cậu đầy tôn kính. Thiên Nga trẻ thấy ngượng ngùng quá đỗi, vội rúc đầu vào dưới cánh. Cậu lúng túng chẳng biết phải làm sao. Hạnh phúc dâng trào ngập lối, nhưng trong lòng không mảy may kiêu ngạo, bởi lẽ một trái tim nhân hậu chân chính thì chẳng bao giờ biết kiêu căng.
Cậu nhớ lại những ngày tháng bị xua đuổi, bị chê bai hắt hủi, để rồi giờ đây được nghe tất thảy mọi người khen ngợi cậu là con chim lộng lẫy nhất trong số những sinh vật tuyệt đẹp trên đời. Rặng tử đinh hương dường như cũng vươn cành rủ lá về phía cậu, và ánh mặt trời rọi xuống thật rực rỡ, ấm áp. Cậu vươn dài chiếc cổ thon thả, khẽ rùng mình giũ bộ lông trắng muốt, rồi thốt lên trong niềm hân hoan: "Khi còn là một chú Vịt Con Xấu Xí bị hắt hủi, mình chưa bao giờ dám mơ tưởng đến một niềm hạnh phúc lớn lao dường này!"

-
Chi tiết bắt nguồn từ quan niệm tự nhiên học phổ biến ở châu Âu thế kỷ 19 rằng loài cò trắng thường di cư đến Ai Cập để tránh rét vào mùa đông. ↩
-
Burdock (ngưu bàng), một loại cây thân thảo phổ biến ở châu Âu, có mọc hoang ven hồ nước, đặc trưng bởi những chiếc lá rất to và rộng. ↩
-
Vào thế kỷ 19, các giống gia cầm có nguồn gốc từ Tây Ban Nha (như gà, vịt Tây Ban Nha) được nhập khẩu vào Bắc Âu thường được coi là giống tốt, có giá trị cao và quý hiếm. ↩
THE UGLY DUCKLING
IT was beautiful in the country. It was summertime. The wheat was yellow, the oats were green, the hay was stacked up in the green meadows, and the stork paraded about on his long red legs, talking in Egyptian, which language he had learnt from his mother.
The fields and meadows were skirted by thick woods, and a deep lake lay in the midst of the woods. Yes; it was indeed beautiful in the country! The sunshine fell warmly on an old mansion, surrounded by deep canals, and from the walls down to the water's edge there grew large burdock leaves, so high that children could stand upright among them without being seen.
This place was as wild as the thickest part of the wood, and on that account a Duck had chosen to make her nest there. She was sitting on her eggs; but the pleasure she had felt at first was now almost gone, because she had been there so long, and had so few visitors, for the other Ducks preferred swimming on the canals to sitting among the burdock leaves gossiping with her.
At last the eggs cracked one after another, "Chick, chick!" All the eggs were alive, and one little head after another peered forth. "Quack, quack!" said the Duck, and all got up as well as they could. They peeped about from under the green leaves; and as green is good for the eyes, their mother let them look as long as they pleased.
"How large the world is!" said the little ones, for they found their new abode very different from their former narrow one in the egg-shells.
"Do you imagine this to be the whole of the world?" said the mother. "It extends far beyond the other side of the garden in the pastor's field; but I have never been there. Are you all here?" And then she got up. "No, not all, for the largest egg is still here. How long will this last? I am so weary of it!" And then she sat down again.
"Well, and how are you getting on?" asked an old Duck, who had come to pay her a visit.
"This one egg keeps me so long," said the mother. "It will not break. But you should see the others! They are the prettiest little Ducklings I have seen in all my days. They are all like their father-the good-for-nothing fellow, he has not been to visit me once!"
"Let me see the egg that will not break," said the old Duck. "Depend upon it, it is a turkey's egg. I was cheated in the same way once myself, and I had such trouble with the young ones; for they were afraid of the water, and I could not get them there. I called and scolded, but it was all of no use. But let me see the egg-ah, yes! to be sure, that is a turkey's egg. Leave it, and teach the other little ones to swim."
The Ugly Duckling
What is the Matter? asked the Old Woman
"I will sit on it a little longer," said the Duck. "I have been sitting so long, that I may as well spend the harvest here."
"It is no business of mine," said the old Duck, and away she waddled.
The great egg burst at last. "Chick! chick!" said the little one, and out it tumbled-but, oh! how large and ugly it was! The Duck looked at it. "That is a great, strong creature," said she. "None of the others are at all like it. Can it be a young turkey-cock? Well, we shall soon find out. It must go into the water, though I push it in myself."
The next day there was delightful weather, and the sun shone warmly upon the green leaves when Mother Duck with all her family went down to the canal. Plump she went into the water. "Quack! quack!" cried she, and one duckling after another jumped in. The water closed over their heads, but all came up again, and swam together quite easily. Their legs moved without effort. All were there, even the ugly grey one.
"No; it is not a turkey," said the old Duck; "only see how prettily it moves its legs, how upright it holds itself! It is my own child. It is also really very pretty, when you look more closely at it. Quack! quack! now come with me, I will take you into the world and introduce you in the duck-yards. But keep close to me, or someone may tread on you; and beware of the Cat."
So they came into the duck-yard. There was a horrid noise; two families were quarreling about the head of an eel, which in the end was carried off by the Cat.
"See, my children, such is the way of the world," said the Mother Duck, wiping her beak, for she, too, was fond of eels. "Now use your legs," said she, "keep together, and bow to the old Duck you see yonder. She is the most distinguished of all the fowls present, and is of Spanish blood, which accounts for her dignified appearance and manners. And look, she has a red rag on her leg! That is considered extremely handsome, and is the greatest honor a Duck can have. Don't turn your feet inwards; a well-educated Duckling always keeps his legs far apart, like his father and mother, just so-look! Now bow your necks, and say, 'Quack.'"
And they did as they were told. But the other Ducks, who were in the yard, looked at them and said aloud, "Just see! Now we have another brood, as if there were not enough of us already. And fie! how ugly that one is. We will not endure it." And immediately one of the Ducks flew at him, and bit him in the neck.
"Leave him alone," said the mother. "He is doing no one any harm."
"Yes, but he is so large and so strange-looking, and therefore he shall be teased," said the others.
"Those are fine children that our good mother has," said the old Duck with the red rag on her leg. "All are pretty except one, and that has not turned out well; I almost wish it could be hatched over again."
"That cannot be, please your Highness," said the mother. "Certainly he is not handsome, but he is a very good child, and swims as well as the others, indeed, rather better. I think he will grow like the others all in good time, and perhaps will look smaller. He stayed so long in the egg-shell, that is the cause of the difference." And she scratched the Duckling's neck, and stroked his whole body. "Besides," added she, "he is a Drake. I think he will be very strong, so it does not matter so much. He will fight his way through."
"The other Ducks are very pretty," said the old Duck. "Pray make yourselves at home, and if you find an eel's head you can bring it to me."
So they made themselves at home.
But the poor little Duckling, who had come last out of its egg-shell, and who was so ugly, was bitten, pecked, and teased by both Ducks and Hens. "It is so large!" said they all. And the Turkey-cock, who had come into the world with spurs on, and therefore fancied he was an emperor, puffed himself up like a ship in full sail, and marched up to the Duckling quite red with passion. The poor little thing scarcely knew what to do. He was quite distressed, because he was so ugly, and because he was the jest of the poultry-yard.
So passed the first day, and afterwards matters grew worse and worse-the poor Duckling was scorned by all. Even his brothers and sisters behaved unkindly, and were constantly saying, "May the Cat take you, you nasty creature!" The mother said, "Ah, if you were only far away!" The Ducks bit him, the Hens pecked him, and the girl who fed the poultry kicked him.
He ran through the hedge, and the little birds in the bushes were terrified. "That is because I am so ugly," thought the Duckling, shutting his eyes, but he ran on. At last he came to a wide moor, where lived some Wild Ducks; here he lay the whole night, very tired and comfortless. In the morning the Wild Ducks flew up, and saw their new companion. "Pray who are you?" asked they; and our little Duckling turned himself in all directions, and greeted them as politely as possible.
"You are really uncommonly ugly!" said the Wild Ducks. "However, that does not matter to us, provided you do not marry into our families." Poor thing! he had never thought of marrying; he only begged permission to lie among the reeds, and drink the water of the moor.
There he lay for two whole days. On the third day there came two Wild Geese, or rather Ganders, who had not been long out of their egg-shells, which accounts for their impertinence.
"Hark ye," said they; "you are so ugly that we like you very well. Will you come with us and be a bird of passage? On another moor, not far from this, are some dear, sweet Wild Geese, as lovely creatures as have ever said 'Hiss, hiss.' You are truly in the way to make your fortune, ugly as you are."
Bang! a gun went off all at once, and both Wild Geese were stretched dead among the reeds; the water became red with blood. Bang! a gun went off again. Whole flocks of Wild Geese flew up from among the reeds, and another report followed.
There was a grand hunting party. The hunters lay in ambush all around; some were even sitting in the trees, whose huge branches stretched far over the moor. The blue smoke rose through the thick trees like a mist, and was dispersed as it fell over the water. The hounds splashed about in the mud, the reeds and rushes bent in all directions.
How frightened the poor little Duck was! He turned his head, thinking to hide it under his wings, and in a moment a most formidable-looking Dog stood close to him, his tongue hanging out of his mouth, his eyes sparkling fearfully. He opened wide his jaws at the sight of our Duckling, showing him his sharp white teeth, and, splash, splash! he was gone-gone without hurting him.
"Well! let me be thankful," sighed he. "I am so ugly that even the Dog will not eat me."
And now he lay still, though the shooting continued among the reeds, shot following shot.
The noise did not cease till late in the day, and even then the poor little thing dared not stir. He waited several hours before he looked around him, and then hurried away from the moor as fast as he could. He ran over fields and meadows, though the wind was so high that he had some difficulty in moving.
Towards evening he reached a wretched little hut, so wretched that it knew not on which side to fall, and therefore remained standing. The wind blew violently, so that our poor little Duckling was obliged to support himself on his tail, in order to stand against it; but it became worse and worse. He then noticed that the door had lost one of its hinges, and hung so much awry that he could creep through the crack into the room. So he went in.
In this room lived an old woman, with her Tom-cat and her Hen. The Cat, whom she called her little son, knew how to set up his back and purr; indeed, he could even throw out sparks when stroked the wrong way. The Hen had very short legs, and was therefore called "Chickie Short-legs." She laid very good eggs, and the old woman loved her as her own child.
The next morning the new guest was discovered, and the Cat began to mew and the Hen to cackle.
"What is the matter?" asked the old woman, looking round. But her eyes were not good, so she took the young Duckling to be a fat Duck who had lost her way. "This is a capital catch," said she, "I shall now have Duck's eggs, if it be not a Drake. We shall see."
And so the Duckling was kept on trial for three weeks, but no eggs made their appearance. Now the Cat was the master of the house, and the Hen was the mistress, and always used to say, "We and the world," for they imagined themselves to be not only the half of the world, but also by far the better half. The Duckling thought it was possible to be of a different opinion, but that the Hen would not allow.
"Can you lay eggs?" asked she.
"No."
"Well, then, hold your tongue."
And the Cat said, "Can you set up your back? Can you purr?"
"No."
"Well, then, you should have no opinion when reasonable people are speaking."
So the Duckling sat alone in a corner, and felt very miserable. However, he happened to think of the fresh air and bright sunshine, and these thoughts gave him such a strong desire to swim again, that he could not help telling it to the Hen.
"What ails you?" said the Hen. "You have nothing to do, and therefore brood over these fancies. Either lay eggs or purr, then you will forget them."
"But it is so delicious to swim!" said the Duckling. "So delicious when the waters close over your head, and you plunge to the bottom!"
"Well, that is a queer sort of pleasure," said the Hen. "I think you must be crazy. Not to speak of myself, ask the Cat-he is the most sensible animal I know-whether he would like to swim, or to plunge to the bottom of the water. Ask our mistress, the old woman-there is no one in the world wiser than she. Do you think she would take pleasure in swimming and in the waters closing over her head?"
"You do not understand me," said the Duckling.
"What! we do not understand you? So you think yourself wiser than the Cat and the old woman, not to speak of myself? Do not fancy any such thing, child; but be thankful for all the kindness that has been shown you. Are you not lodged in a warm room, and have you not the advantage of society from which you can learn something? But you are a simpleton, and it is wearisome to have anything to do with you. Believe me, I wish you well. I tell you unpleasant truths, but it is thus that real friendship is shown. Come, for once give yourself the trouble to learn to purr, or to lay eggs."
"I think I will go out into the wide world again," said the Duckling.
"Well, go," answered the Hen.
So the Duckling went. He swam on the surface of the water, he plunged beneath, but all animals passed him by, on account of his ugliness. And the autumn came, the leaves turned yellow and brown, the wind caught them and danced them about, the air was very cold, the clouds were heavy with hail or snow, and the Raven sat on the hedge and croaked. The poor Duckling was certainly not very comfortable.
One evening, just as the sun was setting with unusual brilliancy, a flock of large, beautiful birds rose from out of the brushwood. The Duckling had never seen anything so beautiful before; their plumage was of a dazzling white, and they had long, slender necks. They were Swans. They uttered a singular cry, spread out their long splendid wings, and flew away from these cold regions to warmer countries, across the open sea. They flew so high, so very high! And the little Ugly Duckling's feelings were so strange. He turned round and round in the water like a mill-wheel, strained his neck to look after them, and sent forth such a loud and strange cry that it almost frightened himself. Ah! he could not forget them, those noble birds, those happy birds! When he could see them no longer he plunged to the bottom of the water, and when he rose again was almost beside himself. The Duckling knew not what the birds were called, knew not whither they were flying; yet he loved them as he had never before loved anything. He envied them not; it would never have occurred to him to wish such beauty for himself. He would have been quite contented if the Ducks in the duck-yard had but endured his company-the poor, ugly creature.
And the winter was so cold, so cold, the Duckling was obliged to swim round and round in the water to keep it from freezing. But every night the opening in which he swam became smaller and smaller. It froze so that the crust of ice crackled and the Duckling was obliged to make good use of his legs to prevent the water from freezing entirely. At last, wearied out, he lay stiff and cold in the ice.
Early in the morning there passed by a peasant who saw him, broke the ice in pieces with his wooden shoe, and brought him home to his wife.
The poor Duckling soon revived. The children would have played with him, but he thought they wished to tease him, and in his terror jumped into the milk-pail, so that the milk was spilled about the room. The good woman screamed and clapped her hands. He flew from there into the pan where the butter was kept, and thence into the meal-barrel, and out again, and then how strange he looked!
The woman screamed, and struck at him with the tongs, the children ran races with each other trying to catch him, and laughed and screamed likewise. It was well for him that the door stood open. He jumped out among the bushes into the new-fallen snow, and there he lay as in a dream.
But it would be too sad to tell all the trouble and misery that he had to suffer from the frost, and snow and storms of the winter. He was lying on a moor among the reeds, when the sun began to shine warmly again; the larks sang, and beautiful spring had returned.
Once more he shook his wings. They were stronger than formerly and bore him forward quickly, and before he was well aware of it he was in a large garden where the apple-trees stood in full bloom, where the syringas sent forth their fragrance and hung their long green branches down into the winding canal. Oh! everything was so lovely, so full of the freshness of spring! And out of the thicket came three beautiful white Swans. They displayed their feathers so proudly and swam so lightly, so lightly! The Duckling knew the glorious creatures, and was seized with a strange sadness.
"I will fly to them, those kingly birds!" said he. "They will kill me, because I, ugly as I am, have dared to approach them. But it matters not. Better to be killed by them than to be bitten by the Ducks, pecked by the Hens, kicked by the girl who feeds the poultry, and to have so much to suffer during the winter!"
He flew into the water and swam towards the beautiful creatures. They saw him and shot forward to meet him. "Only kill me," said the poor creature, and he bowed his head low, expecting death. But what did he see in the water? He saw beneath him his own form, no longer that of a plump, ugly grey bird-it was that of a Swan.
It matters not to have been born in a duck-yard, if one has been hatched from a Swan's egg. And now the Swan began to see the good of all the trouble he had been through. He would never have known how happy he was if he had not first had all his sorrow and unhappiness to bear.
The larger Swans swam round him, and stroked him with their beaks. Some little children were running about in the garden; they threw grain and bread into the water, and the youngest exclaimed: "There is a new one!" The others also cried out: "Yes, a new Swan has come!" and they clapped their hands, and danced around.
They ran to their father and mother, bread and cake were thrown into the water, and every one said: "The new one is best, so young and so beautiful!" And the old Swans bowed before him. The young Swan felt quite ashamed, and hid his head under his wings. He scarcely knew what to do. He was too happy, but still not proud, for a good heart is never proud.
He remembered how he had been persecuted and laughed at, and he now heard everyone say that he was the most beautiful of all beautiful birds. The syringas bent down their branches toward him low into the water, and the sun shone warmly and brightly. He shook his feathers, stretched his slender neck, and in the joy of his heart said: "How little did I dream of so much happiness when I was the despised Ugly Duckling!"
