🎧 Nghe chương này

QUYỂN X

AEOLUS, NGƯỜI LAESTRYGONIAN, CIRCE.

“Từ đó, chúng tôi giong buồm tới hòn đảo Aeolian, vương quốc của Aeolus1, con trai Hippotas, người được các vị thần bất tử hết lòng sủng ái. Nơi đây là một hòn đảo trôi nổi giữa biển khơi bao la, được bao bọc trọn vẹn bởi một bức tường thành bằng sắt kiên cố. Aeolus có mười hai người con, sáu nam sáu nữ, đều đương độ tráng niên. Ông bèn cho họ kết duyên cùng nhau, và tất thảy đều chung sống dưới mái ấm của cha mẹ, ngày ngày dự yến tiệc và tận hưởng mọi thú vui xa hoa nhất thế gian. Từ bình minh tới chạng vạng, hương thịt nướng thơm lừng lan tỏa khắp gian nhà, ngập tràn cả khoảng sân rộng lớn. Nhưng khi màn đêm buông xuống, họ lại say giấc nồng bên những người vợ hiền trên những chiếc giường êm ái. Đó chính là những con người mà chúng tôi vừa tìm đến.

“Suốt một tháng trời ròng rã, Aeolus đã thiết đãi tôi vô cùng trọng hậu. Ông liên tục gạn hỏi tôi về thành Troy, về hạm đội Argive oai hùng, và cả hành trình hồi hương của những người Achaean. Tôi đã thuật lại cho ông nghe ngọn ngành mọi chuyện. Khi tôi ngỏ ý muốn khởi hành và cầu xin ông giúp đỡ cho chuyến đi, ông chẳng chút nề hà mà lập tức ra tay tương trợ. Ông sai người lột da một con bò mộng chín tuổi, làm thành một chiếc túi lớn để nhốt chặt những luồng gió cuồng nộ. Jove đã phó thác cho Aeolus làm chúa tể cai quản các ngọn gió, ban cho ông quyền năng hô phong hoán vũ tùy ý. Aeolus tự tay đặt chiếc túi lên thuyền của tôi, rồi dùng một sợi chỉ bạc buộc chặt miệng túi, cẩn thận đến mức không một kẽ hở nào cho gió lọt ra ngoài. Ông chỉ chừa lại duy nhất ngọn gió Tây hiền hòa, để thổi những cánh buồm đưa chúng tôi bình an vô sự trở về. Nhưng hỡi ôi, mọi sự đã tan tành mây khói, tất thảy cũng chỉ vì sự ngu muội của chính chúng tôi.

“Chín ngày chín đêm liên tiếp chúng tôi lênh đênh trên biển cả, và đến ngày thứ mười, quê hương thân yêu đã thấp thoáng phía chân trời. Hạm đội lướt đi gần đến độ chúng tôi có thể nhìn rõ những đống lửa trại rực sáng trên bờ. Nhưng đúng lúc ấy, cơn buồn ngủ ập đến bủa vây lấy tôi, bởi tôi đã kiệt sức sau bao ngày đêm không hề rời tay lái, chỉ mong con tàu vút đi nhanh hơn để sớm được trùng phùng. Thấy vậy, những người đồng hành bắt đầu rỉ tai nhau, xì xầm rằng tôi đang cất giấu cả một kho báu vàng bạc trong chiếc túi mà Aeolus đã ban tặng. ‘Lạy hồn,’ một người quay sang nói với bạn mình, ‘sao ngài ấy đi đến bất cứ thành bang hay miền đất nào cũng được người đời trọng vọng và kết giao thế nhỉ? Hãy xem ngài ấy mang về từ Troy biết bao chiến lợi phẩm huy hoàng, trong khi chúng ta, những kẻ đã vào sinh ra tử chẳng kém gì ngài ấy, lại phải trở về với hai bàn tay trắng y như lúc ra đi. Và giờ đây, Aeolus lại còn ban cho ngài ấy thêm bao nhiêu của nả nữa. Nhanh lên nào-hãy mở ra xem trong chiếc túi ấy có chứa những thứ gì, và Aeolus đã cho ngài ấy bao nhiêu vàng bạc.’

“Họ cứ thế bàn tán, và rồi những lời xúi giục đầy đố kỵ đã chiến thắng. Họ rắp tâm cởi trói miệng túi. Ngay tức khắc, muôn luồng cuồng phong gào thét thoát ra ngoài, hung hãn tạo nên một trận bão kinh hoàng cuốn phăng chúng tôi ra khơi xa, mang theo cả những tiếng than khóc xé lòng khi quê hương ngày một lùi xa tít tắp. Giật mình tỉnh giấc, tôi bàng hoàng tột độ, đứng giữa lằn ranh sinh tử, không biết nên gieo mình xuống biển khơi cho xong đời hay nén nỗi đau để tiếp tục sống sót và chống chọi. Nhưng cuối cùng, tôi đành nuốt hận, trùm áo choàng kín mít và gục ngã trên boong tàu. Xung quanh tôi, những người đồng hành than vãn thê lương khi bầy gió dữ dội cuốn hạm đội của chúng tôi quay ngược trở lại hòn đảo Aeolian.

“Vừa cập bến, chúng tôi vội vã lên bờ lấy nước ngọt và lót dạ ngay cạnh thuyền. Bữa ăn vừa dứt, tôi dắt theo một người đưa tin và một người đồng hành đi thẳng đến dinh thự của Aeolus. Bước tới nơi, tôi thấy ông đang quây quần mở tiệc cùng vợ con và gia quyến; thế là chúng tôi đành ngồi sụp xuống ngưỡng cửa như những kẻ hành khất đáng thương. Trông thấy chúng tôi, họ đều kinh ngạc thốt lên, ‘Ulysses, điều gì lại đưa ngươi quay về chốn này? Vị ác thần nào đã đày đọa ngươi thế? Chúng ta đã dốc lòng giúp đỡ ngươi trên đường trở về Ithaca2, hay bất cứ bến bờ nào ngươi khao khát cơ mà.’

“Họ cất lời như thế, nhưng tôi chỉ biết sầu thảm đáp lời, ‘Những người đồng hành của tôi đã hại tôi; họ cùng với giấc ngủ tai ác đã đẩy tôi vào bước đường cùng. Thưa ngài, xin ngài hãy đoái thương mà cứu vãn tai họa này, vì ngài hoàn toàn có thể làm được điều đó nếu ngài muốn.’

“Tôi đã cất lời van xin thảm thiết nhất, nhưng tất cả đều lặng thinh, cho đến khi người cha của họ cất giọng phán quyết, ‘Hỡi kẻ đê tiện nhất thế gian, hãy cút khỏi hòn đảo này ngay lập tức! Kẻ đã bị thần linh căm ghét, ta sẽ không đời nào dang tay cứu vớt. Đi đi, vì ngươi đến đây như một kẻ bị thần linh ruồng bỏ.’ Và bằng những lời cay nghiệt đó, ông ấy đã nhẫn tâm xua đuổi tôi khỏi cửa nhà trong tận cùng đau khổ.

“Từ biệt chốn ấy, chúng tôi lại buồn bã giương buồm rẽ sóng. Các bạn đồng hành của tôi đã kiệt sức vì phải chèo chống rã rời mà chẳng mảy may hi vọng, bởi chẳng còn ngọn gió nào đoái hoài giúp đỡ. Sáu ngày sáu đêm ròng rã nhọc nhằn, đến ngày thứ bảy, chúng tôi đặt chân tới pháo đài đá Lamus-thuộc Telepylus, thành bang của người Laestrygonian3. Nơi đây, người chăn cừu lùa bầy gia súc về vắt sữa cất tiếng chào người đưa đàn ra đồng cỏ, và người kia cũng vui vẻ đáp lời. Tại xứ sở kỳ lạ này, nếu ai đó có thể thức trắng không ngủ, kẻ ấy hẳn sẽ kiếm được gấp đôi tiền công-vừa chăn bò, vừa chăn cừu-bởi lẽ ranh giới giữa ngày và đêm gần như chẳng hề tồn tại.

“Vừa cập bến, chúng tôi lập tức nhận ra nơi đây được bao bọc kín kẽ bởi những vách đá dựng đứng kỳ vĩ, với một lối vào vô cùng chật hẹp kẹp giữa hai mũi đất hiểm trở. Các thuyền trưởng dưới quyền tôi bèn điều khiển toàn bộ chiến thuyền tiến sâu vào trong vịnh và buộc chúng san sát bên nhau. Mặt nước chốn ấy phẳng lặng như tờ, chẳng gợn chút gió mây. Riêng tôi, tôi quyết định giữ con thuyền của mình ở lại phía ngoài, cẩn thận neo chặt vào một tảng đá ngay mép mũi đất. Đoạn, tôi trèo lên một mỏm đá cao chót vót để phóng tầm mắt dò xét. Tuyệt nhiên chẳng có lấy một bóng người hay dấu vết gia súc, chỉ thấp thoáng vài cột khói mờ ảo đang uốn lượn bốc lên từ mặt đất. Thấy vậy, tôi liền cử hai bạn đồng hành cùng một người tùy tùng lên đường do thám, xem thử cư dân xứ này thực chất là những kẻ ra sao.

“Đặt chân lên bờ, những người được cử đi cất bước rảo theo một con đường mòn bằng phẳng-chính là lối mà dân địa phương vẫn dùng để chuyên chở củi rước từ trên núi về thị trấn. Đi được một quãng, họ tình cờ bắt gặp một thiếu nữ đang xách vò đi lấy nước. Đó là con gái của Antiphates, một thủ lĩnh người Laestrygonian. Nàng đang rảo bước về phía dòng suối Artacia trong vắt, nơi cả vùng vẫn thường tụ tập lấy nước sinh hoạt. Khi tiến lại gần, các bạn đồng hành của tôi bèn cất tiếng hỏi xem ai là bậc quân vương đang trị vì vương quốc này, và thần dân của ông ta là những người thế nào. Thiếu nữ ấy chẳng ngần ngại chỉ đường cho họ đến tận dinh cơ của cha mình. Thế nhưng, khi vừa bước qua ngưỡng cửa, họ bỗng điếng người nhận ra vợ của ông ta là một mụ khổng lồ thân hình đồ sộ tựa một ngọn núi. Khung cảnh quái gở ấy khiến tất thảy đều rụng rời kinh hãi.

“Ngay lập tức, mụ ta tru tréo gọi gã chồng Antiphates từ quảng trường hội họp trở về. Vừa về tới nơi, gã tàn độc lao vào tàn sát những người đồng hành của tôi chẳng chút nương tay. Gã chộp lấy một người đáng thương trong số họ, nhẫn tâm xẻ thịt anh ta ngay tại chỗ để làm bữa tối. Cảnh tượng máu me thảm khốc ấy khiến hai người còn lại ba chân bốn cẳng cắm cổ chạy thục mạng về phía thuyền. Nào ngờ, Antiphates hò hét ầm ĩ đuổi theo, và chỉ trong chớp mắt, hàng ngàn gã Laestrygonian vạm vỡ lũ lượt kéo đến bủa vây từ khắp mọi phía. Bọn chúng nào phải con người, mà là những con quái vật khát máu ăn thịt đồng loại! Đứng trên những vách đá chót vót, lũ quỷ dữ thi nhau ném những tảng đá khổng lồ xuống đoàn thuyền của chúng tôi nhẹ bẫng tựa rải sỏi. Tôi nghe rõ mồn một tiếng ván thuyền vỡ vụn, nghiến vào nhau răng rắc, đan xen cùng những tiếng gào thét tuyệt vọng xé ruột xé gan của các anh em đồng hành. Bọn quỷ Laestrygonian tàn nhẫn dùng giáo mác đâm xuyên qua họ như người ta đâm cá, rồi lôi xác họ về hang ổ để mở tiệc cuồng hoan. Trong lúc bọn chúng đang say sưa tàn sát ngay giữa bến cảng, tôi vội vã rút gươm sắc, phập một nhát đứt phăng sợi dây neo con thuyền của mình. Tôi lớn tiếng giục những người còn lại hãy dùng toàn bộ sức tàn mà chèo cật lực nếu không muốn chịu chung số phận hẩm hiu. Ai nấy đều liều mạng chèo chống, vớt vát chút cơ hội sống sót mong manh. Phép màu thay, chúng tôi cũng thoát ra được vùng nước khơi xa, nằm ngoài tầm nã đá oan nghiệt của bọn quỷ dữ. Nhưng xót xa thay, ngoại trừ thuyền của tôi, không một ai trong số những người anh em khác sống sót quay về.

Từ nơi ấy, chúng tôi lại buồn bã giương buồm đi tiếp. Dù vui mừng vì đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần, nhưng lòng chúng tôi vẫn nặng trĩu nỗi đau mất mát những người anh em đồng hành. Cuối cùng, chúng tôi cũng đặt chân đến đảo Aeaean4, lãnh địa của Circe5-một nữ thần quyền năng và đầy mưu mô. Nàng là em gái ruột của phù thủy Aeetes; cả hai đều là giọt máu của thần Mặt Trời và Perse, con gái của thần đại dương Oceanus. Dưới sự dẫn dắt của một vị thần vô hình nào đó, chúng tôi lặng lẽ đưa thuyền tiến vào một bến cảng an toàn. Vừa lên bờ, tất cả đều ngã gục xuống, nằm thiếp đi suốt hai ngày hai đêm vì đã hoàn toàn kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần. Đến buổi sáng ngày thứ ba, tôi cầm lấy ngọn giáo và thanh gươm, rời thuyền đi dò xét xem liệu có thể tìm thấy dấu vết nào của con người hay nghe được một giọng nói nào chăng. Trèo lên một mỏm đá cao để quan sát, tôi chợt thấy một cột khói bốc lên từ dinh thự của Circe, lẩn khuất giữa khu rừng rậm rạp. Nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi băn khoăn tự hỏi liệu có nên tiến thẳng đến đó để tìm hiểu ngay không. Nhưng sau một hồi suy tính, tôi cho rằng tốt nhất là cứ quay lại thuyền trước, cho các anh em dùng bữa tối, rồi cử vài người đi thám thính thay vì tự mình mạo hiểm.

Khi tôi vừa về gần đến thuyền, một vị thần nào đó vì động lòng thương xót trước cảnh ngộ cô độc của tôi, đã phái một con nai sừng tấm tuyệt đẹp đến ngay giữa đường. Dưới cái nóng thiêu đốt của mặt trời, nó rảo bước từ bãi cỏ trong rừng xuống dòng sông để giải khát. Ngay lúc nó đi ngang qua, tôi phóng giáo đâm trúng giữa lưng; mũi giáo đồng xuyên thấu qua thân thể, khiến con vật ngã gục xuống bụi đất rên rỉ cho đến khi chút sinh khí cuối cùng rời bỏ nó. Tôi liền đặt chân lên xác con vật, rút ngọn giáo ra khỏi vết thương rồi để sang một bên. Sau đó, tôi gom những cọng cỏ thô và cỏ lác bện thành một sợi dây thừng chắc chắn dài cỡ một sải, buộc chặt bốn chân của con vật quý giá này lại với nhau. Quàng nó qua cổ và chống giáo làm gậy, tôi lê bước về thuyền, bởi con nai quá lớn nên tôi chẳng thể vác trên vai và giữ thăng bằng chỉ bằng một tay được. Ném phịch con mồi xuống trước mũi thuyền, tôi gọi các bạn đồng hành lại và cất lời động viên từng người một. 'Hãy nhìn đây các anh em,' tôi nói, 'chúng ta sẽ không phải bỏ mạng trước khi tận số đâu, và dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể chết đói chừng nào trên thuyền vẫn còn thức ăn và nước uống.' Nghe tiếng tôi, họ ngẩng đầu lên khỏi bãi cát, xúm lại chiêm ngưỡng con nai, bởi nó quả thực là một con thú vô cùng lộng lẫy. Khi đã ngắm nghía thỏa thích, mọi người đi rửa tay và bắt đầu nổi lửa nấu bữa tối.

Cứ như thế, suốt cả một ngày dài cho đến lúc hoàng hôn buông xuống, chúng tôi quây quần ăn uống no nê. Khi mặt trời lặn hẳn và màn đêm bao phủ, tất cả lại cắm trại ngủ ngay trên bãi biển. Sáng hôm sau, khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, vừa ló dạng, tôi liền triệu tập các anh em lại và nói: 'Hỡi các anh em, chúng ta đang lâm vào tình cảnh vô cùng khốn đốn; vậy nên xin hãy lắng nghe tôi. Giờ đây, chúng ta chẳng còn biết mặt trời mọc hay lặn ở đâu, đến mức phương Đông hay phương Tây cũng không thể nào phân biệt nổi. Tôi hoàn toàn chưa thấy lối thoát nào cả; dù vậy, chúng ta vẫn phải nỗ lực tìm ra một con đường. Tôi đoan chắc chúng ta đang kẹt trên một hòn đảo, bởi sáng nay khi trèo lên một đỉnh đồi cao nhất, tôi thấy biển khơi bao bọc nơi này mịt mùng đến tận chân trời. Hòn đảo này khá thấp, nhưng ngay ở khu vực trung tâm, tôi lại thấy một cột khói bốc lên từ giữa khu rừng rậm rạp.'

Trái tim họ như thắt lại khi nghe những lời tôi nói, bởi ký ức kinh hoàng về tên vua Antiphates xứ Laestrygonian và gã khổng lồ man rợ Polyphemus lại ùa về. Họ bật khóc thảm thiết trong sự bàng hoàng và tuyệt vọng, nhưng nước mắt thì nào có giải quyết được gì. Thế nên, tôi quyết định chia mọi người thành hai nhóm và cử người đứng đầu cho mỗi bên; tôi giao một toán cho Eurylochus, còn tự mình chỉ huy toán còn lại. Sau đó, chúng tôi bỏ thăm vào một chiếc mũ bảo hiểm, và lá thăm đã gọi tên Eurylochus. Vậy là anh ta ngậm ngùi cất bước lên đường cùng với hai mươi hai thuộc hạ. Họ đi trong nước mắt, và những người ở lại như chúng tôi cũng không khỏi nghẹn ngào.

Khi tìm đến dinh thự của Circe, họ thấy ngôi nhà được dựng lên từ những phiến đá đẽo gọt công phu, tọa lạc trên một dải đất cao có thể nhìn thấy từ tít đằng xa, ngay giữa chốn rừng sâu. Quanh nhà là bầy sói và sư tử núi hoang dã lượn lờ rình rập-thực chất đó là những sinh vật đáng thương đã bị nàng ta dùng thần chú và độc dược phù phép để ép phải thần phục. Bọn thú không hề lao vào tấn công các anh em của tôi, trái lại, chúng còn vẫy vẫy những cái đuôi lớn, quấn quýt và âu yếm cọ mũi vào họ. Hệt như bầy chó săn xúm xít quanh ông chủ mỗi khi thấy ngài trở về sau bữa tiệc-bởi chúng biết ông thể nào cũng mang theo chút đồ ăn ngon-những con sói và sư tử với bộ vuốt sắc lẹm kia cũng quấn lấy các bạn đồng hành của tôi y như vậy. Nhưng cảnh tượng kỳ dị đó chỉ khiến họ thêm phần khiếp đảm. Chẳng bao lâu sau, họ đã đứng trước cổng nhà nữ thần. Ngay tại đó, họ nghe thấy giọng hát của Circe vẳng ra từ bên trong; nàng đang cất tiếng ca say đắm trong lúc mải mê bên khung cửi, dệt nên một tấm lụa mỏng manh, tinh xảo và rực rỡ sắc màu đến mức chỉ có bàn tay của thần tiên mới có thể tạo ra. Lúc bấy giờ Polites, người anh em mà tôi trân trọng và đặt niềm tin nhiều hơn bất kỳ ai, mới lên tiếng: 'Có ai đó ở bên trong đang dệt cửi và cất tiếng hát tuyệt hay; âm vang thánh thót khắp cả khu vực này. Chần chừ gì nữa, chúng ta hãy gọi nàng ấy ra xem rốt cuộc đó là một thiếu phụ phàm trần hay một vị nữ thần.'

Họ bèn cất tiếng gọi, và ngay lập tức nàng bước xuống, mở khóa cửa ân cần mời tất cả vào trong. Bọn họ chẳng chút mảy may nghi ngờ, răm rắp bước theo nàng, duy chỉ có Eurylochus vì e ngại có cạm bẫy nên đã cẩn trọng đứng lại bên ngoài. Sau khi đưa họ vào nhà, nàng sắp xếp cho mọi người an tọa trên những chiếc ghế chạm trổ tinh xảo, rồi tự tay pha chế một thức uống hòa quyện từ phô mai, mật ong, bột mì và rượu Pramnian6. Nhưng hỡi ôi, nàng đã lén pha vào đó thứ độc dược hiểm ác hòng xóa sạch ký ức về quê hương trong tâm trí họ. Ngay khi họ vừa cạn chén, nàng vung chiếc đũa phép khẽ chạm vào từng người, biến tất cả thành những con lợn rồi lùa thẳng vào chuồng. Từ đầu đuôi, lông lá cho đến mọi thứ, họ trông hệt như lợn và cũng kêu ủn ỉn y như loài lợn; thế nhưng tâm trí và các giác quan của họ thì vẫn hoàn toàn tỉnh táo, và họ vẫn nhận thức được toàn bộ bi kịch đang giáng xuống đầu mình.

Thế là, họ đành chịu cảnh giam cầm và thét gào trong thảm thiết, còn Circe thì nhẫn tâm ném cho họ vài quả sồi và sồi gai, thứ thức ăn bần cùng của loài lợn. Trong khi đó, Eurylochus vội vã chạy thục mạng về thuyền để báo tin dữ. Anh ta đã hoảng loạn đến mức dù cố mở miệng nhưng chẳng thể thốt nên lời; đôi mắt anh nhòe lệ và lồng ngực cứ rung lên từng nhịp nức nở nấc nghẹn. Phải đến khi chúng tôi gặng hỏi mãi, anh ta mới bắt đầu rặn ra từng chữ, kể lại tường tận thảm kịch vừa giáng xuống đầu những người anh em xấu số.

'Chúng tôi đã đi,' anh kể, 'đúng như lời ngài dặn, băng qua khu rừng thẳm. Ở ngay giữa rừng, hiện lên một dinh thự lộng lẫy được xây bằng những viên đá đẽo gọt vô cùng tinh xảo, nằm ở vị trí cao đến mức có thể nhìn thấy từ rất xa. Tại đó, chúng tôi bắt gặp một người phụ nữ, mà cũng có thể là một vị nữ thần, đang mải mê dệt cửi và cất tiếng hát ngọt ngào. Các anh em bèn hô to gọi, và ngay lập tức nàng ta bước ra, mở rộng cánh cửa đón mời chúng tôi vào trong. Mọi người đều không mảy may nghi ngờ điều gì nên cứ thế đi theo nàng, nhưng tôi thì quyết định đứng lại, bởi tôi linh cảm có một cạm bẫy đang chực chờ. Kể từ khoảnh khắc ấy, tôi không còn nhìn thấy bất cứ ai trong số họ nữa. Dù tôi đã kiên nhẫn rình xem suốt một thời gian rất lâu, tuyệt nhiên chẳng một ai trở ra cả.'

Nghe xong những lời ấy, tôi lập tức lấy thanh gươm đồng đeo lên vai, khoác thêm cung tên, rồi ra lệnh cho Eurylochus quay lại chỉ đường. Nhưng anh ta lại hoảng hốt quỳ xuống, dùng cả hai tay ôm chặt lấy đầu gối tôi mà khóc than thảm thiết: 'Thưa ngài, xin đừng ép tôi phải quay lại chốn ác mộng ấy, xin hãy cho phép tôi được ở lại đây! Tôi biết rõ ngài sẽ chẳng thể cứu được một ai trong số họ đâu, và thậm chí chính ngài cũng sẽ ném đi mạng sống của mình. Chi bằng chúng ta hãy tận dụng cơ hội này để những người còn sống sót mau chóng tháo chạy, họa may mới bảo toàn được tính mạng.'

'Nếu vậy, anh cứ việc ở lại đây,' tôi dõng dạc đáp lời, 'hãy cứ nấp cạnh mạn thuyền mà ăn uống. Nhưng tôi thì phải đi, bởi có một mệnh lệnh khẩn thiết từ sâu thẳm lương tâm đang thôi thúc tôi phải làm thế.'

"Dứt lời, tôi rời thuyền, đơn độc tiến sâu vào đất liền. Xuyên qua khu rừng nhuốm màu ma thuật, khi vừa đến gần ngôi dinh thự lớn của nữ phù thủy Circe, tôi chợt tương ngộ thần Mercury. Ngài cầm trên tay cây đũa phép bằng vàng, hóa thân thành một thiếu niên đương độ thanh xuân rạng rỡ, gương mặt hãy còn vương những sợi lông măng mềm mại. Ngài bước tới, nắm lấy tay tôi, cất lời: ‘Hỡi kẻ đáng thương và bất hạnh, ngươi đang đi đâu trên đỉnh núi hoang vu này, lủi thủi một mình và hoàn toàn lạc lối? Bọn thuộc hạ của ngươi hiện đang bị nhốt trong chuồng của Circe, sống kiếp lợn rừng cuộn mình trong hang ổ. Ngươi thực sự tin rằng mình có thể giải cứu cho chúng sao? Ta e rằng ngươi sẽ một đi không trở lại, rồi cũng đành chung số phận mà bỏ xác nơi đó cùng bọn chúng. Nhưng chớ lo, ta sẽ bảo vệ và đưa ngươi thoát khỏi hiểm nguy. Hãy cầm lấy nhánh thảo mộc này, một loài cây có công năng vô cùng vi diệu. Cứ giữ chặt nó bên mình khi đặt chân vào nhà Circe, nó sẽ trở thành lá bùa hộ mệnh, giúp ngươi chống lại mọi ma thuật ác độc.

"‘Ta sẽ vạch trần mọi ngón đòn tà thuật mà Circe rắp tâm giáng xuống đầu ngươi. Mụ ta sẽ dọn ra một loại thức uống pha chế công phu, âm thầm rắc độc dược vào trong đó. Nhưng mụ sẽ chẳng thể nào mê hoặc được ngươi, bởi uy lực từ nhánh thảo mộc ta ban sẽ hoàn toàn hóa giải mọi bùa chú. Hãy nghe ta dặn cho kỹ. Khoảnh khắc Circe vung đũa phép chạm vào người, ngươi hãy lập tức tuốt gươm, lao thẳng vào mụ với sát khí ngùn ngụt như muốn đoạt mạng. Bị dọa cho khiếp vía, mụ ta sẽ van nài ngươi lên giường cùng mụ. Lúc đó, tuyệt đối đừng cự tuyệt phũ phàng. Bởi lẽ, ngươi không chỉ cần mụ giải lời nguyền cho các bạn đồng hành, mà còn phải bảo toàn tính mạng cho chính mình. Nhưng hãy nhớ kĩ điều này: phải ép mụ lập lời thề độc trước các vị thần thiêng liêng, cam kết sẽ không ấp ủ bất kỳ dã tâm nào nhằm hãm hại ngươi. Bằng không, ngay khi ngươi cởi bỏ xiêm y, mụ sẽ tước đoạt sinh lực, biến ngươi thành một phế nhân hèn mọn.’

"Nói đoạn, ngài cúi xuống nhổ một bụi thảo mộc từ lòng đất, đưa cho tôi xem rõ hình thù. Rễ cây đen nhánh, nhưng đóa hoa lại bung nở một sắc trắng tinh khôi như sữa. Các vị thần gọi nó là Moly; người phàm trần dẫu cố đến mấy cũng chẳng thể nào bứng nổi, nhưng với thần linh, phàm chuyện thế gian nào có gì là không thể.

"Rồi thần Mercury vụt biến, vượt qua hòn đảo rậm rạp cây cối để trở về đỉnh Olympus cao ngất ngưởng. Phần tôi, tôi tiếp tục lê bước đến dinh thự của Circe, mang theo cõi lòng trĩu nặng âu lo suốt dọc đường. Tới trước cổng, tôi dừng bước, cất tiếng gọi. Vừa nghe thấy tiếng tôi, nữ thần lập tức bước ra, mở toang cánh cửa và ân cần mời mọc. Dẫu trong lòng muôn vàn bất an, tôi vẫn cất bước theo sau. Nàng đỡ tôi ngồi xuống một chiếc ghế khảm bạc được chạm trổ hoa mỹ, dưới chân kê sẵn một tấm bục êm ái. Rồi nàng dâng lên một chiếc ly vàng, bên trong sóng sánh thứ đồ uống do tự tay nàng pha chế; nhưng nàng rắp tâm hãm hại tôi nên đã lén bỏ độc vào trong đó. Cầm lấy chiếc ly, tôi thản nhiên uống cạn mà chẳng hề mảy may trúng bùa ngải. Thấy vậy, nàng vung cây đũa phép giáng mạnh lên người tôi, rít lên: ‘Giờ thì cút ngay vào chuồng lợn, ngoan ngoãn nằm trong hang ổ cùng đồng bọn của ngươi đi!’

"Nhưng tôi nhanh như chớp tuốt gươm khỏi vỏ, lao thẳng về phía nàng mang theo sát khí ngùn ngụt. Kinh hãi tột độ, nàng buông tiếng thét thất thanh, quỵ gối xuống ôm ghì lấy chân tôi, nức nở van lơn: ‘Chàng là ai? Chàng từ chốn nào tới? Xứ sở và dân tộc của chàng ở đâu? Sao độc dược của thiếp lại chẳng mảy ক্ষমতায় tác động đến chàng? Từ trước đến nay, chưa từng có một nam nhân nào chịu nổi dù chỉ một giọt thảo mộc thiếp ban; thân thể chàng hẳn đã khắc chế mọi bùa chú. Chắc chắn, chàng không ai khác chính là Ulysses quả cảm - người anh hùng mà thần Mercury từng phán truyền rằng, rồi sẽ có một ngày giong buồm tới đây trên đường hồi hương từ thành Troy. Thôi thì, mọi sự đã an bài. Xin chàng hãy tra gươm vào vỏ, cùng thiếp chung chăn sẻ gối, để đôi ta kết giao tình tự và học cách trao gửi niềm tin.’

"Tôi nghiêm giọng đáp trả: ‘Circe, nàng mong tôi có thể đối đãi dịu dàng với nàng sao, khi chính tay nàng vừa biến tất cả anh em đồng hành của tôi thành lợn? Đã dụ tôi đến chốn này, nàng lại còn rắp tâm hãm hại, mượn cớ chăn gối để tước đoạt sinh lực, biến tôi thành phế nhân. Tôi tuyệt đối sẽ không bước lên giường, trừ phi nàng chịu lập lời thề độc trước thần linh, cam kết từ nay đoạn tuyệt mọi dã tâm mưu hại tôi.’

"Không chút chần chừ, nàng y lời cất lời thề độc. Và khi lời thề son sắt vừa dứt, tôi mới bằng lòng lên giường cùng nàng.

"Cùng lúc ấy, bốn nàng hầu gái phụ trách quán xuyến dinh thự cũng tất bật bắt tay vào việc. Họ đều là những tinh linh sinh ra từ những cánh rừng rậm rạp, những đài phun nước trong vắt và cả những dòng sông thiêng cuộn mình đổ ra biển cả. Một nàng cẩn thận trải tấm vải tía lộng lẫy lên ghế, lót thêm một lớp thảm êm ái xuống chân. Nàng thứ hai kê những chiếc bàn bạc đến bên cạnh, bày biện ngăn nắp những chiếc giỏ bằng vàng ròng. Nàng thứ ba tay thoăn thoắt pha chút rượu ngọt thanh cùng nước suối trong chiếc thố bạc, rồi cẩn thận xếp những chiếc cốc vàng lên bàn. Trong khi đó, nàng hầu cuối cùng đã múc đầy nước đổ vào một chiếc vạc lớn, nổi lửa rực hồng. Chờ cho nước trong vạc sôi sùng sục, nàng liền pha thêm chút nước lạnh sao cho vừa vặn độ ấm tôi ưng ý. Đỡ tôi vào bồn, nàng múc từng gáo nước ấm dội từ đầu xuống vai, nhẹ nhàng gột sạch những mỏi mệt và rã rời đang đeo bám từng thớ thịt. Tắm rửa và xức dầu thơm ngon nghẻ, nàng mặc cho tôi chiếc áo sơ mi cùng tấm áo choàng sang trọng, rồi dìu tôi ngồi xuống chiếc ghế khảm bạc tinh xảo, dưới chân vẫn kê sẵn một chiếc bục êm ái. Tiếp đó, một tỳ nữ khác nâng chiếc bình pha lê viền vàng tuyệt mỹ, rót nước vào chậu bạc để tôi rửa tay, rồi kéo một chiếc bàn tinh tươm đến sát bên cạnh. Cuối cùng, nàng quản gia dọn lên bánh mì cùng vô vàn món ngon vật lạ của dinh thự, tha thiết mời mọc. Dù Circe ra sức nài ép, tôi vẫn ngồi lặng thinh, chẳng màng đến sơn hào hải vị trước mắt, cõi lòng vẫn nặng trĩu những nghi kỵ, ưu phiền.

"Thấy tôi chỉ ngồi trơ ra đó, bỏ mặc cả thức ăn lẫn nước uống trong nỗi buồn đau tột độ, Circe liền bước tới ân cần: ‘Ulysses, cớ sao chàng lại ngồi câm lặng như thế? Tại sao chàng lại tự dằn vặt trái tim mình, hờ hững với mọi đồ ăn thức uống? Lẽ nào chàng vẫn còn ôm lòng hồ nghi? Chàng đâu cần phải dè chừng đến vậy, thiếp đã phát lời thề độc rằng sẽ tuyệt đối không tổn hại đến chàng.’

"Tôi đáp lời: ‘Circe, thử hỏi có một người đàn ông nào hiểu thấu lẽ phải lại nhẫn tâm tận hưởng miếng ăn ngụm nước trong nhà nàng, khi những người anh em vào sinh ra tử vẫn chưa được trả tự do? Nếu nàng thực tâm muốn tôi dự tiệc, hãy mau hóa giải bùa chú cho các anh em đồng hành, đưa họ tới đây để tôi được tận mắt nhìn thấy họ bằng xương bằng thịt.’

"Tôi vừa dứt lời, nàng liền cầm đũa phép băng thẳng qua khoảng sân, mở toang cửa chuồng. Đám đồng hành của tôi lục tục bước ra, mang bộ dạng của những con lợn béo tốt, ngơ ngác chằm chằm nhìn nàng. Nhưng Circe thong thả len lỏi giữa bầy, thoa lên mình từng người một loại linh dược thứ hai. Phút chốc, lớp lông lá gớm ghiếc do thứ độc dược khi xưa bỗng rụng lả tả. Họ trút bỏ lốt thú, trở lại hình hài con người, thậm chí còn phơi phới vẻ trẻ trung, vóc dáng cao lớn và tuấn tú hơn xưa bội phần. Nhận ra tôi ngay tắp lự, từng người nhào tới, bấu chặt lấy tay tôi mà tuôn trào những giọt nước mắt nghẹn ngào sung sướng, khiến cả dinh thự ngập tràn những tiếng reo hò vỡ òa. Khung cảnh ấy khiến chính bản thân Circe cũng chạnh lòng ân hận, nàng bước đến bên tôi dặn dò: ‘Ulysses, hỡi người con trai cao quý của Laertes, chàng hãy lập tức quay về bờ biển nơi thả neo. Trước hết, hãy hợp sức kéo thuyền lên cạn, mang cất giấu toàn bộ ngư cụ và của cải vào một hang đá kín đáo, sau đó dẫn tất cả anh em đồng hành quay trở lại đây.’

"Thuận theo lời nàng, tôi tất tả quay lại bờ biển. Vừa tới nơi, tôi đã bắt gặp những người ở lại đang vật vã khóc lóc, buông những tiếng rên la ảo não khôn cùng. Vừa thấp thoáng bóng tôi, đám ngốc nghếch mau nước mắt ấy mừng rỡ nhảy cẫng lên quấn quýt, hệt như bầy bê con đứt cương nhảy nhót quanh chân mẹ lúc chiều tà, khi bò mẹ no cỏ trở về chuồng đợi vắt sữa, tiếng rống ồn ã vang động cả trang trại. Cái cách họ hân hoan khi thấy tôi bình an vô sự chẳng khác nào niềm vui vỡ òa khi đặt chân về lại vùng đất Ithaca gồ ghề - quê hương máu thịt nơi họ đã cất tiếng khóc chào đời. ‘Thưa ngài,’ những con người giàu tình cảm ấy sụt sùi, ‘nhìn ngài bình yên trở về, chúng tôi mừng rỡ như thể đã an tọa tại Ithaca quê nhà; nhưng xin ngài hãy kể cho chúng tôi nghe, những anh em khác đã gặp phải cớ sự gì?’

"Tôi nhẹ nhàng lựa lời an ủi, rồi dõng dạc bảo: ‘Tất cả hãy xúm vào kéo thuyền lên cạn, đem giấu mọi ngư cụ và của cải vào một hang đá kín đáo! Hoàn tất xong xuôi, các anh em hãy nhanh chân theo tôi đến dinh thự Circe, ở đó, các anh em sẽ tận mắt thấy những người bằng hữu của mình đang tận hưởng muôn vàn sơn hào hải vị.’

"Vừa nghe xong, các anh em đều sôi sục muốn lên đường ngay tức khắc. Riêng chỉ có Eurylochus hoảng loạn đứng ra can ngăn, gào lên: ‘Than ôi, đám người khốn khổ chúng ta rồi sẽ đi về đâu? Đừng tự đâm đầu vào chỗ chết mà mò đến nhà Circe. Mụ ta sẽ dùng yêu thuật biến tất thảy chúng ta thành lợn, sói hay sư tử, rồi ép chúng ta phải làm lính gác canh giữ cho dinh thự của mụ. Mọi người quên tên Cyclops đã tàn sát chúng ta ra sao khi anh em vô tư bước vào hang ổ của hắn rồi sao, lúc ấy Ulysses cũng đi cùng! Chính bởi sự tự cao ngốc nghếch của ngài ấy mới gián tiếp đẩy biết bao anh em vào chỗ chết thảm!’

"Nghe những lời ấy, tôi đã phân vân không biết có nên rút ngay thanh gươm sắc lẹm vắt bên đùi để chém bay đầu anh ta hay không, cho dù cả hai có là máu mủ ruột rà. May thay, các anh em kịp xúm vào can ngăn: ‘Thưa ngài, nếu ngài ân chuẩn, xin cứ mặc kệ người này ở lại canh thuyền. Chúng tôi nguyện một lòng theo bước ngài đến dinh thự của nữ thần Circe.’

"Đồng lòng nhất trí, cả đoàn kéo nhau vào sâu trong đất liền. Thấy vậy, Eurylochus rút cục cũng không dám lủi thủi tụt lại phía sau, lầm lũi cất bước bám theo mọi người, trong lòng vẫn khiếp đảm trước cơn lôi đình và lời quở trách gay gắt của tôi.

“Trong khi đó, Circe đã ân cần chăm sóc những người ở lại, tắm rửa và xức dầu ô liu thơm ngát cho họ. Nàng còn ân cần ban cho họ những tấm áo choàng len và áo sơ mi tươm tất. Khi chúng tôi bước vào, tất cả đang quây quần tận hưởng bữa tối êm đềm trong dinh thự của nàng. Giây phút các anh em tương phùng và nhận ra nhau, họ đã bật khóc trong niềm sung sướng tột cùng, tiếng khóc nghẹn ngào vang vọng khắp các sảnh đường cung điện. Lúc ấy, Circe bước đến bên tôi và cất lời: ‘Hỡi Ulysses, người con trai cao quý của Laertes, xin hãy khuyên các anh em của chàng ngưng tuôn rơi lệ; thiếp thấu hiểu những nỗi truân chuyên các người đã phải oằn mình gánh chịu giữa trùng khơi bão tố, cùng những hiểm nguy kinh hoàng từ bọn man di tàn ác trên đất liền. Nhưng mọi bĩ cực đã lùi lại phía sau. Hãy ở lại chốn này, an hưởng yến tiệc cho đến khi chàng khôi phục lại trọn vẹn sức mạnh và sự tráng kiện như thuở mới rời Ithaca. Giờ đây, cả thể xác lẫn tinh thần chàng đều đang héo mòn vì kiệt quệ; tâm trí chàng mãi ám ảnh bởi những nỗi đắng cay trên dặm đường lưu lạc, cướp đi mọi niềm vui sống trong lòng.’

“Nàng đã thốt những lời như thế, và chúng tôi ưng thuận. Chúng tôi nán lại cùng Circe suốt một năm ròng rã, tiệc tùng thỏa thuê với ê hề thịt nướng và rượu vang. Thế nhưng, khi một năm đã trôi qua cùng bao chu kỳ trăng khuyết, khi những ngày dài dằng dặc lại quay về, các anh em liền kéo tôi ra một góc mà khẩn khoản: ‘Thưa ngài, nay đã đến lúc ngài nên nghĩ về cố hương, nếu như ngài vẫn mong giữ được mạng sống để được trông thấy gia đình và quê cha đất tổ thêm một lần nữa.’

“Nghe những lời đó, tôi đành thuận tình. Suốt cả ngày dài hôm ấy, cho tới tận lúc hoàng hôn buông xuống, chúng tôi mải mê chìm đắm trong tiệc tùng no say. Khi mặt trời đã khuất bóng và màn đêm kéo đến bao trùm, các anh em ngả lưng say giấc dưới những dãy hành lang có mái che. Tuy nhiên, khi cùng Circe bước lên giường ngủ, tôi đã ôm lấy đầu gối nàng mà van nài, và vị nữ thần đã lắng tai nghe những lời tôi thỉnh cầu. ‘Circe,’ tôi cất giọng, ‘xin nàng hãy giữ trọn lời thề về việc giúp đỡ tôi trên hải trình hồi hương. Tôi khao khát được trở về, và những người đồng hành của tôi cũng vậy, họ không ngừng vây lấy tôi bằng những lời ta thán mỗi khi nàng vừa quay bước đi.’

“Vị nữ thần ôn tồn đáp: ‘Hỡi Ulysses, người con trai cao quý của Laertes, sẽ chẳng ai ép buộc các người phải lưu lại chốn này thêm nữa nếu trong lòng không còn vương vấn. Thế nhưng, có một hành trình khác mà chàng buộc phải kinh qua trước khi có thể căng buồm về cố quốc. Chàng phải tìm đến vương quốc của thần Hades và vị nữ vương đáng sợ Proserpine, để thỉnh cầu linh hồn của Teiresias7 - nhà tiên tri mù người Theban, đấng minh triết tuy qua đời nhưng tâm trí vẫn vẹn nguyên sáng suốt. Chỉ duy nhất ông ta được Proserpine ban ân điển giữ lại sự thấu thị dù đã bước sang thế giới bên kia, trong lúc muôn vàn vong linh khác chỉ vật vờ bay lượn như những cái bóng vô hồn.’

“Tôi kinh hãi tột độ khi nghe những lời phán truyền ấy. Tôi bật dậy trên giường, nức nở tuôn rơi nước mắt, thâm tâm thà chết đi còn hơn phải sống để tiếp tục nhìn thấy ánh dương. Nhưng khi đã kiệt sức vì khóc than và trằn trọc, tôi cất lời hỏi: ‘Vậy ai sẽ là người hoa tiêu dẫn lối cho tôi trong chuyến hải trình này đây? Bởi lẽ, vương quốc của thần Hades vốn là bến bờ âm u mà chưa từng có chiếc thuyền trần thế nào chạm tới được.’

“‘Chàng sẽ chẳng cần bất kỳ ai dẫn lối cả,’ nàng quả quyết. ‘Chỉ cần dựng cột buồm, giương cao những cánh buồm trắng muốt, ngồi thật vững vàng, và ngọn gió Bắc sẽ tự khắc đưa chàng đến bờ bến. Khi thuyền chàng vượt qua vùng biển Oceanus bao la, chàng sẽ đặt chân lên bờ biển phù sa thuộc cõi âm của Proserpine, nơi những lùm cây dương vươn cao tít tắp xen lẫn những gốc liễu sầu muộn rụng quả trái mùa. Tại chốn này, hãy kéo thuyền lên bờ Oceanus và đi thẳng tiến vào cõi u minh của thần Hades. Chàng sẽ tìm thấy nó gần nơi hai dòng sông Pyriphlegethon rực lửa và Cocytus - nhánh rẽ của sông Styx - cùng hợp lưu đổ vào dòng Acheron sầu thảm. Ngay tại đó, chàng sẽ bắt gặp một khối đá sừng sững, nơi hai dòng cuồng lưu gầm rống cuộn vào nhau.

“‘Khi đã đến đúng địa điểm thiếp vừa căn dặn, hãy đào một rãnh đất dài, rộng và sâu chừng một cubit. Tại đó, chàng hãy rót đồ tế lễ dâng lên tất cả những vong linh đã khuất: đầu tiên là mật ong sóng sánh pha cùng sữa, tiếp theo là rượu vang đỏ au, và cuối cùng là nước dòng tinh khiết; trên cùng, hãy rắc lên lớp bột lúa mạch trắng ngần. Hơn thế nữa, chàng phải thành tâm dâng muôn vàn lời khấn nguyện đến những hồn ma yếu ớt đáng thương, và thề rằng khi trở về Ithaca, chàng sẽ hiến tế cho họ một con bò cái tơ chưa từng sinh nở, con bò đẹp nhất mà chàng sở hữu, đồng thời chất đầy những món ngon vật lạ lên giàn thiêu. Đặc biệt, chàng phải thề nguyện sẽ dâng riêng cho nhà tiên tri Teiresias một con cừu đen tuyền - con cừu hoàn hảo nhất trong toàn bộ bầy gia súc của chàng.

“‘Khi đã khấn vái và thỉnh cầu các vong linh xong xuôi, hãy dâng lên họ một con cừu đực cùng một con cừu cái lông đen, bẻ gập đầu chúng hướng về cõi Erebus u ám. Còn bản thân chàng, hãy quay lưng lại với chúng, mặt hướng về phía dòng sông. Ngay khoảnh khắc ấy, muôn vàn bóng ma của những người đã khuất sẽ lũ lượt kéo đến. Chàng phải sai các anh em lột da hai con cừu vừa hiến tế, rồi thiêu chúng trên ngọn lửa thiêng kèm theo những lời cầu khẩn gửi đến thần Hades và nữ vương Proserpine. Sau đó, hãy tuốt gươm trần và ngồi tĩnh lặng, nhất quyết xua đuổi mọi hồn ma khốn khổ dám lảng vảng lại gần vũng máu hiến tế trước khi Teiresias ban lời giải đáp cho những khuất tất của chàng. Sau rốt, nhà tiên tri sẽ hiện hình trước mắt chàng, và ông sẽ soi tỏ toàn bộ hải trình - chàng sẽ phải vượt qua những chặng đường nào, và làm cách nào để rẽ sóng trở về quê hương.’

“Khi nàng vừa dứt lời thì bình minh cũng hé rạng. Nàng mang đến cho tôi một tấm áo sơ mi cùng áo choàng khoác ngoài. Về phần mình, vị nữ thần choàng lên vai một dải lụa mỏng nhẹ tuyệt trần, thắt hờ quanh chiếc eo thon thả bằng một sợi đai vàng óng, và trùm kín mái tóc bằng một tấm rèm choàng thanh tú. Rồi tôi bước qua từng hành lang vắng lặng, nhẹ nhàng đánh thức từng anh em khắp nhà, ân cần dặn dò: ‘Các anh em chớ nên nán lại chìm trong giấc ngủ thêm nữa. Chúng ta phải khởi hành ngay thôi, bởi Circe đã chỉ dẫn cặn kẽ mọi bề.’ Nghe những lời ấy, họ răm rắp tuân theo mệnh lệnh của tôi.

“Song, chuyến xuất phát của chúng tôi đã không được suôn sẻ trọn vẹn. Trong đoàn có một chàng trai trẻ tên gọi Elpenor, vốn chẳng có gì nổi trội về trí tuệ lẫn lòng quả cảm. Cậu ta vì nốc rượu quá chén nên đã mò lên tận nóc nhà, nằm tách biệt với những người khác, hòng tìm chút gió mát để tỉnh cơn say. Giữa cơn ngái ngủ, nghe tiếng ồn ào nhốn nháo của mọi người đang sửa soạn lên đường, cậu ta giật mình nhảy dựng lên, quên béng đi lối cầu thang chính dẫn xuống nhà. Thế là cậu trượt chân, ngã lộn cổ thẳng từ trên mái nhà xuống, gãy nát đốt sống cổ, và linh hồn cậu đành bơ vơ bay xuống cõi âm của thần Hades.

“Khi tất cả anh em đã tề tựu đông đủ, tôi cất lời xót xa: ‘Các anh em cứ ngỡ rằng chúng ta đang căng buồm hồi hương, nhưng Circe đã phán truyền một sự thật khác. Giờ đây, chúng ta phải dấn thân xuống tận vương quốc của thần Hades và nữ vương Proserpine, hòng thỉnh cầu lời chỉ dẫn từ hồn ma của nhà tiên tri xứ Theban - Teiresias.’

“Nghe những lời tôi thốt ra, cõi lòng các anh em như vỡ nát. Họ đổ gục xuống mặt đất, không ngừng rên rỉ than vãn, vò đầu bứt tai trong tuyệt vọng, nhưng những giọt nước mắt ấy chẳng thể đổi thay được số phận đã định. Dọc đường tiến ra bờ biển, dẫu chúng tôi cứ mãi khóc than, xót thương cho nghịch cảnh của mình, Circe đã âm thầm mang đến một con cừu đực và một con cừu cái, mà chúng tôi lặng lẽ buộc chặt bên mạn thuyền. Nàng đã nhẹ nhàng lướt qua giữa chúng tôi như một bóng ma vô hình, bởi lẽ, trên cõi đời này, có phàm nhân nào đủ sức nhìn thấu gót chân của một vị thần khi họ không muốn hiện thân?



  1. Trong thần thoại Hy Lạp, Aeolus là chúa tể cai quản các ngọn gió, được thần linh giao phó quyền cất giữ và giải phóng các luồng cuồng phong. Ông sống trên hòn đảo trôi nổi Aeolia. 

  2. Một hòn đảo nằm ở biển Ionian thuộc Hy Lạp, quê hương và vương quốc của người anh hùng Ulysses (Odysseus). 

  3. Một bộ tộc người khổng lồ ăn thịt người trong thần thoại Hy Lạp. Họ sống tại thành phố Telepylus dưới sự cai trị của vua Antiphates. 

  4. Hòn đảo thần thoại, nơi cư ngụ của nữ phù thủy Circe. Trong các văn bản cổ, nơi này thường được miêu tả là nằm ở vùng biển viễn tây hoặc ven bờ nước Ý. 

  5. Một nữ thần và phù thủy quyền năng trong thần thoại Hy Lạp, con gái của thần Mặt Trời Helios, nổi tiếng với khả năng sử dụng độc dược để biến con người thành các loài động vật. 

  6. Một loại rượu vang nổi tiếng từ thời Hy Lạp cổ đại, có đặc tính đậm đặc, chất lượng cao, thường được dùng làm lớp nền để pha trộn với các nguyên liệu khác thành thức uống bổ dưỡng. 

  7. Một nhà tiên tri mù nổi tiếng người Thebes. Theo thần thoại, ông được nữ thần Persephone ban đặc ân duy trì trí tuệ và khả năng tiên đoán ngay cả khi đã trở thành một linh hồn.