QUYỂN IX
ULYSSES XƯNG DANH VÀ BẮT ĐẦU KỂ LẠI CÂU CHUYỆN-NGƯỜI CICON, LOTOPHAGI VÀ CYCLOPES.
Và Ulysses đáp lời: "Thưa ngài Alcinous, quả là một diễm phúc khi được lắng nghe một người hát rong sở hữu chất giọng tựa thần thánh như người đàn ông này. Trên đời phỏng có gì tuyệt mỹ hay thú vị hơn cảnh toàn thể thần dân cùng nhau chan hòa niềm vui, khách khứa tề tựu trang nghiêm để thưởng thức những khúc ca, giữa những chiếc bàn ăm ắp bánh mì và thịt nướng, còn người hầu rượu thì múc thứ rượu thơm lừng rót tràn muôn vàn ly cốc. Đây thực sự là viễn cảnh đẹp đẽ nhất mà đôi mắt phàm nhân có thể chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, lúc này đây, ngài lại có nhã ý muốn gạn hỏi về câu chuyện buồn bã đời tôi, qua đó khơi dậy những ký ức đau thương đã chôn chặt, khiến tôi chẳng biết phải bắt đầu từ đâu, cũng chẳng tỏ tường phải tiếp nối và khép lại thiên dã sử này thế nào, bởi bàn tay của các vị thần đã trút xuống đời tôi những đòn giáng quá đỗi nặng nề.
"Trước tiên, tôi xin xưng danh để ngài tường tận, và biết đâu một ngày nào đó, nếu tôi sống sót qua thời khắc bĩ cực này, tôi có thể được làm khách của ngài cho dù mai này có phải cách xa muôn trùng. Tôi là Ulysses, con trai của Laertes, người mà danh tiếng đã vang dội khắp trần gian nhờ muôn vàn mưu trí, vang đến tận chốn thiên đình cao thẳm. Tôi ngụ tại Ithaca, nơi sừng sững ngọn Neritum vươn mình, phủ bóng rợp những cánh rừng xanh thẳm; và chẳng xa nơi đó là một quần đảo quy tụ sát bên nhau-Dulichium, Same và hòn đảo rợp bóng cây Zacynthus. Hòn đảo của tôi ngả mình thoai thoải trên đường chân trời, vươn cao nhất giữa biển khơi về phía tịch dương, trong khi những hòn đảo khác lại lùi xa về hướng rạng đông. Quê hương tôi mang vẻ gai góc, cằn cỗi, nhưng lại là chiếc nôi ươm mầm nên những con người dũng cảm, và đôi mắt tôi chưa từng thấy nơi nào quyến rũ đến nhường ấy. Nữ thần Calypso từng giam cầm tôi trong hang động của nàng, khao khát ép tôi làm chồng; hệt như nữ thần Circe xảo quyệt của xứ Aeaean cũng từng giăng lưới tình; nhưng chẳng ai trong số họ khuất phục được tôi, bởi lẽ với một người đàn ông, phỏng có thứ gì quý giá hơn quê hương và bậc sinh thành. Dù cho hắn có ở trong một dinh thự tráng lệ chốn bơ vơ, mà cách xa cha mẹ, thì mọi vinh hoa cũng hóa hư không. Giờ đây, tôi xin kể ngài nghe về muôn vàn chuyến phiêu lưu hiểm nghèo mà do ý muốn của Jove, tôi đã phải đương đầu trên nẻo đường hồi hương từ thành Troy.
"Thuở nhổ neo rời khỏi nơi ấy, cơn gió đầu tiên đã đưa tôi dạt đến Ismarus, đô thành của người Cicon. Tại đó, tôi xua quân cướp phá thành trì và tàn sát người dân. Chúng tôi bắt vợ họ, vơ vét vô số chiến lợi phẩm, rồi chia đều để chẳng ai có cớ mà phàn nàn. Sau đó, tôi hạ lệnh phải tức tốc rời đi, nhưng than ôi, các anh em của tôi lại quá đỗi khờ dại, làm ngơ trước quân lệnh. Họ chôn chân lại đó, say sưa men rượu và giết hàng loạt cừu, bò trên bờ biển. Cùng lúc ấy, người Cicon đã kêu gọi viện binh từ những người đồng bào sống nơi nội địa. Đám viện binh này đông đúc hơn, thiện chiến hơn, và lại vô cùng tinh thông binh pháp; họ có thể giao tranh trên xe ngựa hay giáp lá cà tùy bề thế trận. Thế nên, ngay khi bình minh ló rạng, chúng kéo đến đông nghịt như lá và hoa mùa hạ. Bàn tay của các vị thần đã quay lưng lại với chúng tôi, dồn chúng tôi vào thế khốn cùng. Chúng dàn trận giáp các chiến thuyền, và đôi bên chĩa những ngọn giáo bọc đồng vào nhau. Chừng nào ngày còn tỏ và bình minh chưa phai, chúng tôi vẫn cố sức cầm cự, dẫu bị áp đảo về quân số; nhưng khi mặt trời khuất bóng, vào cái khoảnh khắc người ta tháo ách cho bầy bò, người Cicon đã đảo ngược tình thế. Mỗi con tàu của chúng tôi mất đi nửa tá nhân mạng; thế rồi, những người còn sống sót đành vội vã tháo chạy cùng những mảnh vỡ của đội quân.
"Từ nơi đó, chúng tôi lại giương buồm rẽ sóng với cõi lòng trĩu nặng buồn thương, phần vì may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần, nhưng lại xót xa vì đánh mất những người anh em đồng cam cộng khổ. Chúng tôi chỉ rời đi sau khi đã ba lần xướng tên từng người bạn tội nghiệp đã vùi thây dưới tay người Cicon. Tiếp đó, thần Jove giáng một cơn gió Bắc ngược chiều cản bước chúng tôi, gào thét thành một trận cuồng phong, khiến cả đất trời bị nuốt chửng bởi những tầng mây đen đặc, và bóng đêm ập xuống từ bầu trời. Chúng tôi đành phó mặc cho những con tàu lao đi trước mũi bão, nhưng sức gió cuồng loạn đã xé toạc từng cánh buồm. Sợ hãi trước thảm cảnh đắm tàu, chúng tôi hối hả hạ buồm, rồi dốc sức chèo về phía đất liền. Suốt hai ngày hai đêm, chúng tôi nằm lại đó, chịu đựng sự kiệt quệ thể xác và nỗi đau đớn tột cùng trong tâm trí. Nhưng khi rạng đông ngày thứ ba gõ cửa, chúng tôi lại dựng cột, giương buồm, yên vị vào chỗ, phó thác cho gió và người cầm lái định đoạt số phận con tàu. Lẽ ra tôi đã an bình về đến quê nhà ngay lúc ấy, nếu như gió Bắc và dòng hải lưu không bất thần dội ngược lại khi tôi đang vòng qua Mũi Malea, đẩy tôi chệch khỏi hải trình, trôi dạt đến gần hòn đảo Cythera.
"Từ đó, tôi bị những cơn gió độc quăng quật không thương tiếc suốt chín ngày đêm trên biển, để rồi đến ngày thứ mười, chúng tôi dạt vào vùng đất của người Lotophagi, những kẻ sống bằng thức ăn từ một loại hoa thần bí. Tại đây, chúng tôi đổ bộ để tìm nguồn nước ngọt, và thủy thủ đoàn đã dùng bữa ngay trên bờ, sát cạnh các con tàu. Chờ khi họ ăn uống no nê, tôi cử hai người đi thám thính xem dân bản địa là những kẻ thế nào, và cho một người thứ ba theo sát chỉ huy. Họ lập tức lên đường, trà trộn vào giữa những người ăn hoa sen. Đám người này không mảy may làm hại họ, mà lại trao cho họ thứ hoa sen nếm thử. Kỳ lạ thay, hương vị của nó ngọt ngào đến mức bất cứ ai đã nếm qua đều ném bỏ mọi ý niệm về quê nhà, chẳng màng quay lại bẩm báo sự tình. Họ chỉ khát khao được ở lại, nhâm nhi thứ hoa sen ấy cùng những cư dân nơi này, vĩnh viễn vứt bỏ khao khát hồi hương. Dẫu họ có gào khóc thảm thiết, tôi vẫn thẳng tay lôi họ về tàu, trói nghiến họ dưới những băng ghế. Ngay sau đó, tôi ra lệnh cho những người còn lại tức tốc lên tàu, e rằng sẽ có kẻ nếm thử hoa sen và quên bẵng lối về. Mọi người lập tức vào vị trí, vung những nhịp chèo bổ xuống mặt biển xám xịt.
"Chúng tôi lại kéo buồm rời khỏi chốn ấy, lòng luôn trĩu nặng khốn cùng, cho đến khi giạt vào bờ cõi của lũ Cyclopes ngang tàng và bạo ngược. Người Cyclopes chẳng màng gieo hạt cũng chẳng bận cày bừa; họ phó mặc tất thảy cho tạo hóa, sống nhàn hạ nhờ lúa mì, lúa mạch và những chùm nho mọc dại chẳng cần bàn tay chăm bẵm. Những trái nho dại được mặt trời sưởi ấm, được mưa rào tưới tắm, chưng cất cho họ những bầu rượu vang hảo hạng. Họ không có luật lệ, chẳng thiết lập hội đồng nghị sự, mà thu mình trong những hang sâu trên đỉnh núi cao; ở đó, mỗi kẻ là một lãnh chúa trong gia đình mình, chẳng buồn để tâm đến những kẻ láng giềng xung quanh.
"Ngoài khơi bến cảng của họ có một hòn đảo xanh tươi mầu mỡ, không sát rịt vùng đất của lũ Cyclopes, song cũng chẳng hề xa cách. Nơi đây là thánh địa của những đàn dê rừng sinh sôi nảy nở với số lượng khổng lồ, bởi chưa từng có gót chân trần tục nào dẫm lên phá vỡ sự tĩnh lặng. Những thợ săn-kẻ thường dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc, nếm mật nằm gai giữa những vách núi cheo leo-cũng chẳng đoái hoài đến nơi này. Hòn đảo chưa từng một lần chịu ách cày bừa hay in dấu chân gia súc chăn thả, cứ thế hoang vu, không gieo trồng suốt từ năm này qua năm khác, chẳng dung dưỡng một sinh linh nào ngoài bầy dê vô tư lự. Sở dĩ có điều này vì người Cyclopes không hề có tàu bè, cũng chẳng có thợ mộc nào đủ sức đóng thuyền cho họ; thành thử, họ chẳng thể băng qua biển cả thăm thú thành bang của nhau như những dân tộc có nghề hàng hải. Nếu có tàu, hẳn họ đã đến khai hoang và lập nghiệp trên hòn đảo ấy, bởi đó là một mảnh đất màu mỡ hứa hẹn những mùa màng bội thu. Phía chạy dọc bờ biển là những đồng cỏ dốc thoải, đẫm nước và rờn rợp cỏ ngọt; nho sẽ trổ nhánh xum xuê nơi đó; đất đai thì bằng phẳng, lại sâu thẳm phù sa, chắc chắn sẽ mang về năng suất dồi dào cho người cày cấy mỗi độ vào mùa. Bến cảng nơi đây phẳng lặng đến mức chẳng cần cáp neo hay dây chão, tàu thuyền cứ việc kéo thẳng lên bãi biển mà yên tâm nằm lại, đợi đến khi gió thuận buồm xuôi mới tiếp tục ra khơi. Nơi thượng nguồn của bến cảng có một dòng suối trong vắt róc rách tuôn trào từ một hang động, bao bọc bởi những hàng bạch dương rủ bóng.
"Chúng tôi tiến thẳng vào nơi này. Màn đêm tĩnh mịch đặc quánh đến mức hẳn một thế lực thần thánh nào đó đã dẫn đường chỉ lối, bởi chẳng có lấy một tia sáng để nhìn rõ vạn vật. Một lớp sương mù dày đặc buông mình bao bọc các con tàu; vầng trăng lẩn khuất sau một tầng mây, ngăn không cho bất kỳ ai nhận ra hòn đảo dẫu họ có căng mắt tìm kiếm. Ngay cả những con sóng bạc đầu cũng chẳng kịp lên tiếng báo hiệu cho chúng tôi biết đất liền đang ở sát sạt. Khi nhận ra mình đã đặt chân lên bờ bãi, chúng tôi nhanh chóng kéo tàu lên, hạ buồm, đổ bộ rồi dựng trại trên bãi biển, chờ đợi rạng đông.
"Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, đánh thức vạn vật, chúng tôi bắt đầu chiêm ngưỡng hòn đảo và thong dong dạo bước khắp nơi. Lúc này, các tiên nữ, những cô con gái của thần Jove, đã đuổi bầy dê rừng ra khỏi nơi ẩn nấp để chúng tôi có cơ hội kiếm chút thịt tươi cho bữa tối. Nhờ đó, chúng tôi lấy giáo mác và cung tên từ tàu, chia làm ba ngả, lao vào một cuộc đi săn. Mệnh trời đã ưu ái ban cho chúng tôi một chuyến săn thật sự mỹ mãn. Tôi đi cùng mười hai chiến thuyền, mỗi tàu hạ được chín con dê, riêng tàu của tôi thu về mười con. Cứ thế, suốt một ngày dài nhàn hạ cho đến khi mặt trời lặn, chúng tôi no say tiệc tùng. Rượu vang vẫn còn dư dả, bởi mỗi người đã thu vén vô số vò đầy tú ụ sau trận cướp phá thành Ismarus, và lượng rượu dự trữ này vẫn chưa chịu vơi cạn. Giữa lúc yến tiệc, ánh mắt chúng tôi cứ dõi về vùng đất của lũ Cyclopes gần kề, nhìn thấy những cột khói bốc lên từ các đống lửa đốt rơm rạ. Chúng tôi dường như nghe văng vẳng tiếng chúng trò chuyện, cùng tiếng kêu gào của bầy cừu và dê. Nhưng khi mặt trời khuất núi và bóng đêm buông xuống, chúng tôi lại cắm trại trên bãi biển. Sáng hôm sau, tôi triệu tập một cuộc họp khẩn.
"'Hãy ở lại đây, các anh em dũng cảm của ta,' tôi dõng dạc nói, 'tất cả những người còn lại hãy yên vị, trong lúc ta cùng con tàu của mình tự thân đi dò xét bọn người kia. Ta muốn tự mình xác nhận liệu chúng là những kẻ hoang dã chưa được khai hóa, hay là một giống loài nhân đạo, biết đến lòng hiếu khách.'
"Tôi trở lại tàu, ra lệnh cho các anh em đồng loạt lên boong và tháo dây neo. Mọi người nhanh chóng tề tựu vào vị trí, đồng loạt vung mái chèo chém xuống mặt biển xám xịt. Chẳng bao lâu, khi con tàu cập đến vùng đất cách đó không xa, chúng tôi chợt trông thấy một hang động khổng lồ rợp bóng nguyệt quế nằm vắt vẻo trên vách đá sát bờ biển. Nơi ấy tựa như một trạm nhốt cừu dê với quy mô đồ sộ. Bên ngoài hang là một khoảng sân thênh thang, được bao bọc bởi một bức tường đá kiên cố cắm sâu vào lòng đất, đan xen cùng những hàng thông và sồi cổ thụ. Đây chính là sào huyệt của một con quái vật khổng lồ. Lúc bấy giờ, hắn đang mải mê chăn dắt bầy gia súc nơi xa. Bản tính hắn vô cùng đơn độc, chẳng màng giao du cùng ai, chỉ quen sống cuộc đời hoang dã, bất chấp mọi luật lệ ở đời. Mang hình hài gớm ghiếc, hắn chẳng có vẻ gì là con người; thân hình hắn sừng sững, lởm chởm như một mỏm đá chót vót đâm toạc bầu trời trên đỉnh núi cao.
"Tôi căn dặn các anh em kéo tàu lên bãi cát và kiên nhẫn bám trụ tại đó, đồng thời chọn ra mười hai chiến binh can trường nhất để đồng hành cùng mình. Tôi mang theo một bầu da dê chứa thứ rượu vang đen sóng sánh, ngọt ngào. Đây vốn là món quà cất công mang theo từ Maron - con trai của Euanthes, vị thầy tế của thần Apollo bảo trợ xứ Ismarus, người từng sinh sống trong khuôn viên rợp bóng cây thiêng của ngôi đền. Nhớ thuở cướp phá thành bang ấy, chúng tôi đã hết lòng tôn kính, tha mạng cho cả gia đình vị thầy tế. Để đáp đền ân nghĩa, ông đã trao tặng tôi những báu vật vô giá: bảy talent vàng ròng1 đánh nguyên khối, một chiếc bát bạc tinh xảo, cùng mười hai vò rượu cốt sóng sánh với hương vị tuyệt trần. Ngoại trừ ông, phu nhân và một người quản gia thân tín, chẳng một ai - dù là gia nhân hay nữ tì trong nhà - hay biết về loại mỹ tựu này. Mỗi khi thưởng thức, người ta phải pha loãng một phần rượu với hai mươi phần nước, ấy vậy mà hương thơm tỏa ra từ chiếc bát pha vẫn ngào ngạt, quyến rũ đến mức chẳng ai nỡ lòng chối từ. Tôi cẩn thận đong đầy thứ rượu ấy vào một bầu da lớn, khoác thêm túi lương thực dự trữ lên vai, bởi linh tính đã mách bảo rằng tôi sắp sửa chạm trán một gã khổng lồ man rợ, sở hữu sức mạnh vô song nhưng lại chẳng biết đến lề luật hay lẽ phải ở đời.
"Tiến nhanh đến hang động, chúng tôi chẳng thấy bóng dáng gã khổng lồ đâu vì hắn còn đang mải chăn cừu trên triền vách. Nắm lấy thời cơ, cả nhóm lẻn vào trong, đưa mắt săm soi từng ngóc ngách. Những chiếc giá phơi trĩu nặng từng tảng pho mát thơm lừng; bầy cừu và dê non thì đông đúc tới độ các chuồng quây không sao chứa nổi. Chúng được phân tách rành rọt thành từng bầy: đầu tiên là đám cừu non vừa tròn một tuổi, kế đến là lứa vừa qua kỳ bú mẹ, và cuối cùng là những con hãy còn non nớt, tất thảy đều được quây riêng rẽ. Phía khu vực vắt sữa, vô số bình, bát và thùng gỗ đều ngập tràn những váng sữa đặc sánh. Đứng trước cảnh tượng ấy, các anh em chiến hữu hết lời van nài, mong tôi cho phép họ nẫng vài tảng pho mát mang về tàu trước; rồi sau đó sẽ lén quay lại, lùa cả bầy cừu dê non xuống thuyền mà dong buồm tẩu thoát. Phải chi lúc ấy tôi biết nghe lời, hẳn mọi sự đã êm đẹp biết bao! Nhưng không, tôi một mực khước từ. Tôi muốn được diện kiến tận mắt tên chủ nhân, ấp ủ hi vọng hắn sẽ ban tặng cho chúng tôi một món quà hiếu khách. Nào ngờ, khi gã khổng lồ thình lình xuất hiện, những người anh em tội nghiệp của tôi mới cay đắng nhận ra rằng, sinh vật gớm ghiếc này tuyệt nhiên chẳng phải kẻ dễ dàng đối phó.
"Chúng tôi đành nhen lửa, cắt vài tảng pho mát dâng lên tế thần, chia nhau lót dạ chút đỉnh, rồi thấp thỏm ngồi đợi gã Cyclops lùa đàn súc vật trở về. Vừa lù lù bước vào, hắn vác theo một bó củi khô khổng lồ để nhóm lửa nấu bữa tối. Hắn quăng sầm bó củi xuống nền hang, tạo nên một tiếng động rền vang như sấm sét khiến chúng tôi kinh hồn bạt vía, cuống cuồng lùi sâu vào tận hốc tối tăm nhất của hang. Trong lúc ấy, gã khổng lồ lùa toàn bộ những con cừu cái và dê cái vào trong để chuẩn bị vắt sữa, bỏ lại đám cừu đực và dê đực nhốt ngoài khoảng sân. Kế đó, hắn nhấc bổng một tảng đá khổng lồ, sừng sững lấp kín cửa hang. Tảng đá ấy to lớn đến mức, dù có huy động hai mươi hai cỗ xe ngựa bốn bánh vững chãi nhất cũng chẳng tài nào lay chuyển nổi. Xong xuôi đâu đấy, hắn bèn bệt xuống nền đá, từ tốn vắt sữa đám cừu và dê cái theo một trình tự răm rắp, rồi mới lùa từng con non vào bú mẹ. Hắn khéo léo làm đông một nửa lượng sữa, chắt riêng vào các rổ lọc tết bằng liễu gai; nửa còn lại hắn đổ đầy các bát lớn để dành uống trong bữa tối. Khi mọi việc đã đâu vào đấy, hắn bắt đầu nhóm lửa. Ánh lửa bùng lên, soi rõ mồn một chỗ chúng tôi đang nấp. Vừa bắt gặp những kẻ lạ mặt, giọng hắn rống lên:
"'Hỡi những kẻ lạ mặt, các ngươi là ai? Các ngươi giong buồm từ phương nao tới chốn này? Các ngươi là những thương nhân qua đường, hay chỉ là bọn hải tặc lang thang vất vưởng trên biển cả, sẵn sàng vấy máu chống lại mọi người, và cũng bị cả thế gian xua đuổi?'
"Hình thù gớm ghiếc cùng chất giọng ồm ồm rền vang của hắn khiến tim chúng tôi như rớt khỏi lồng ngực. Dù sợ hãi tột độ, tôi vẫn cố trấn tĩnh để cất lời: 'Chúng tôi là những chiến binh Achaea đang trên đường rời thành Troy hồi hương. Nhưng do ý muốn của thần Jove và sự khắc nghiệt của bão tố, con tàu đã bị cuốn dạt khỏi lộ trình. Chúng tôi vốn là thuộc hạ của Agamemnon, con trai Atreus - vị thống soái đã khắc ghi vinh quang chói lọi trên toàn thế giới nhờ công lao san phẳng một thành bang vĩ đại và tiêu diệt vô vàn kẻ thù. Trôi dạt đến đây, chúng tôi khiêm nhường cầu xin ngài mở lòng hiếu khách, hoặc chí ít cũng ban cho chúng tôi chút ân huệ mà những lữ khách phương xa thường mỏi mong. Cầu xin ngài hãy nể sợ cơn thịnh nộ của các vị thần, bởi chúng tôi đang tha thiết nương nhờ sự che chở của ngài. Thần Jove tối cao luôn dang tay bảo bọc những lữ khách hiền lương, và ngài chính là đấng báo thù sẵn sàng giáng họa để đòi lại công bằng cho mọi kẻ ngoại quốc bơ vơ gặp nạn.'
"Đáp lại những lời khẩn cầu ấy chỉ là một giọng điệu tàn nhẫn, lạnh lùng: 'Kẻ lạ mặt kia,' hắn gầm gừ, 'ngươi quả là một tên ngốc, hoặc bằng không thì chẳng biết tí ti gì về vùng đất này. Ngươi dám đứng đó mà răn dạy ta về việc sợ sệt các vị thần hay trốn tránh cơn giận dữ của họ sao? Giống loài Cyclopes chúng ta chẳng hề bận tâm đến Jove hay bất kỳ thế lực thần thánh nào của các ngươi đâu, bởi sức mạnh của chúng ta còn vượt xa bọn họ gấp bội. Đừng hòng mộng tưởng ta sẽ nể mặt thần Jove mà tha mạng cho ngươi cùng đám tùy tùng, trừ phi tự tay ta thấy thích thế. Còn bây giờ, khôn hồn thì khai mau: các ngươi đã neo tàu ở chốn nào khi vừa cập bờ? Nó đang lẩn khuất quanh mũi đất, hay nằm phơi mình ngay sát bãi cát kia?'
"Nghe những lời dò xét ấy, bằng sự xảo quyệt đã ngấm vào máu, tôi dư sức nhìn thấu dã tâm của hắn nên tuyệt nhiên chẳng hề sập bẫy. Tôi buông một lời nói dối không chớp mắt: 'Thần Neptune,' tôi đáp, 'đã giáng những đợt sóng dữ dằn, xô nát bấy con tàu của chúng tôi vào những vách đá sắc lẹm ở đầu kia lãnh địa của ngài. Tàu đắm chìm trong biển khơi cuồng nộ, chỉ còn tôi cùng vài người anh em dạt vào bờ, may mắn thoát khỏi nanh vuốt của thần chết.'
"Chẳng thèm cất nửa lời đáp lại, tên ác ôn tàn nhẫn ấy thình lình vươn tay chộp lấy hai người của tôi cùng một lúc, rồi lạnh lùng quật mạnh họ xuống nền đá tựa như ném những con cún con quặt quẹo. Não của họ tóe ra lênh láng, nhuộm đỏ cả khoảng đất ẩm ướt. Trơ trẽn và điên cuồng, hắn xé toạc xác họ ra thành từng mảnh vụn để làm mồi cho bữa tối. Hắn ngấu nghiến những người anh em của tôi hệt như một con sư tử đói khát chốn hoang dã; hắn nuốt chửng cả thịt, xương, nhai nát tủy và ăn sạch nội tạng, chẳng chừa lại bất cứ mẩu vụn nào. Chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng tột độ ấy, chúng tôi chỉ biết sụp xuống khóc lóc, nức nở giơ tay lên trời xanh cầu cứu, bởi sự hoảng loạn đã tước đi mọi lối thoát. Đợi đến khi cái dạ dày phệ khổng lồ đã ứ hự thịt người, gã Cyclops tợp thêm một ngụm sữa tươi nguyên chất để tráng miệng. Đoạn, hắn ngả ngốn, sải dài thân hình thô kệch trên mặt đất giữa bầy cừu và chìm vào giấc ngủ ngáy vang rền. Lửa giận bốc lên ngùn ngụt, tôi toan rút phăng thanh gươm sắc lẹm, lao tới đâm thẳng một nhát chí mạng vào tim hắn. Nhưng rồi lý trí đã kịp thời kìm hãm tôi lại: nếu kết liễu hắn ngay lúc này, chắc chắn tất cả chúng tôi sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn trong bóng tối, bởi sức người nhỏ bé làm sao xê dịch nổi tảng đá khổng lồ đang lấp kín cửa hang kia. Thế là chúng tôi đành thu mình lại, chôn chân tại chỗ, ôm mặt khóc than, thở dài não nuột chờ đợi cho đến khi những tia sáng đầu tiên của ngày mới ló rạng.
"Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, vừa khoác lên bầu trời dải y phục rực rỡ, gã quái vật lại lồm cồm bò dậy nhóm lửa. Hắn thản nhiên vắt sữa dê và cừu cái theo đúng một trình tự đều đặn, rồi để mặc cho những con non ùa vào bú mẹ. Vừa vắt cạn giọt sữa cuối cùng, gã lại vươn tay chộp lấy thêm hai người anh em của tôi, nhẫn tâm xé xác họ làm bữa điểm tâm buổi sáng. No nê xong xuôi, hắn vươn vai đẩy tảng đá khỏi cửa hang một cách nhẹ bẫng để lùa đàn cừu ra ngoài, rồi lập tức kéo tảng đá lấp lại y như cũ-động tác trơn tru hệt như kẻ dứt khoát đậy nắp một ống đựng tên. Xong việc, hắn hét lớn, vung roi kêu 'Suỵt, suỵt' lùa cả bầy cừu rầm rập tiến lên sườn núi. Bị giam cầm trong không gian ngột ngạt, tôi chìm vào suy tư, nhọc nhằn đan kết một kế hoạch trả thù tàn khốc nhất, với khát khao giành lại vinh quang và bảo toàn mạng sống cho chính bản thân mình."
"Sau một hồi suy tính, tôi nhận ra đây là kế hoạch vẹn toàn nhất: Gã Cyclops để một cây gậy khổng lồ gần chuồng cừu; đó là một thân ô liu còn tươi rói, được hắn đốn về định làm gậy chống khi đã khô. Nó to lớn đến mức trông chẳng khác nào cột buồm của một chiếc tàu buôn hai mươi mái chèo, vạm vỡ đủ sức rẽ sóng vượt đại dương. Tôi tiến đến, chặt lấy một đoạn chừng sáu bộ, rồi giao cho các anh em đẽo gọt một đầu cho thật nhẵn nhụi. Khi họ làm xong, chính tay tôi vót nhọn hoắt và thui trên lửa đỏ để phần đầu cứng cáp hơn. Hoàn tất, tôi vùi kỹ thanh gỗ dưới lớp phân thú rải rác khắp hang, rồi bảo các anh em rút thăm xem ai sẽ liều mạng cùng tôi nâng khúc gỗ đâm thẳng vào mắt con quái vật lúc hắn say giấc. Thăm rơi trúng ngay bốn người mà tôi ưng ý nhất, và tôi là người thứ năm nhập bọn. Chiều muộn, tên ác ôn lùa đàn gia súc trở về hang-nhưng lần này, hắn lùa toàn bộ vào trong, chẳng để sót lại con nào ngoài sân; hẳn là hắn đã đánh hơi thấy điều gì, hoặc có vị thần nào xui khiến. Vừa lấp kín cửa hang bằng tảng đá tảng, hắn ngồi phịch xuống, vắt sữa đàn cừu và dê theo đúng thứ tự, rồi cẩn thận thả lũ con non vào bú mẹ. Mọi việc xong xuôi, hắn lại tóm lấy hai người của tôi mà nhai ngấu nghiến cho bữa tối. Chớp lấy thời cơ, tôi bưng một bát gỗ thường xuân sóng sánh rượu vang đen sậm tiến lại gần hắn:
"'Nhìn này, Cyclops,' tôi nói, 'mi đã xơi cơ man nào là thịt người, vậy hãy cầm lấy và nếm thử chút rượu này, để biết trên tàu của ta chở thứ thức uống hảo hạng nhường nào. Ta mang rượu đến dâng mi làm lễ vật, ôm hi vọng mi sẽ động lòng trắc ẩn mà giúp ta trên hành trình hồi hương. Vậy mà mi chỉ không ngừng lồng lộn và gầm rú thật quá quắt. Mi nên thấy hổ thẹn đi; cư xử tàn độc như thế, mi còn mong chờ ai dám đến thăm mi nữa đây?'
"Hắn liền cầm lấy bát và nốc cạn. Hương vị tuyệt hảo của thứ rượu vang khiến hắn thích thú tột độ, đến mức nài nỉ xin thêm một bát đầy ắp. 'Tốt bụng lắm,' hắn nói, 'hãy rót cho ta thêm chút nữa, và xưng danh ngay cho ta biết. Ta muốn ban cho ngươi một món quà mà chắc chắn ngươi sẽ hài lòng. Xứ này của chúng ta cũng có rượu vang, bởi đất đai trồng được nho và ánh mặt trời ủ cho chúng chín mọng, nhưng thứ tuyệt tửu này ngon tựa hồ như Mật hoa và Thức ăn của thần linh hòa quyện lại vậy.'
"Tôi liền chiều ý hắn; ba lần tôi rót đầy bát, và cả ba lần hắn đều ngửa cổ tu sạch bách chẳng chút e dè. Rồi khi thấy hơi men đã bốc ngùn ngụt lên đầu hắn, tôi mới cất lời với vẻ điềm nhiên, cố tỏ ra đáng tin nhất có thể: 'Cyclops, mi đã hỏi tên ta thì ta sẽ xưng danh; và sau đó, hãy trao cho ta món quà như mi đã hứa. Tên ta là Không Ai Cả; đó là cái tên mà cha mẹ và tất thảy bằng hữu vẫn luôn gọi ta.'
"Nhưng tên ác ôn tàn nhẫn gầm gừ đáp lời: 'Vậy thì ta sẽ nhai xương tất thảy đồng đội của Không Ai Cả trước tiên, và sẽ chừa Không Ai Cả lại cuối cùng. Đó chính là món quà ta dành tặng ngươi.'
"Dứt lời, hắn lảo đảo rồi ngã vật ra đất, nằm ngửa tềnh hênh. Cái cổ vạm vỡ khổng lồ ngoẹo hẳn ra sau, và một giấc ngủ say sưa, miên man nhanh chóng bủa vây lấy hắn. Chẳng mấy chốc, hắn nôn thốc nôn tháo, mửa ra lênh láng cả rượu lẫn những tảng thịt người mà hắn vừa ngấu nghiến, bởi hắn đã say bí tỉ. Ngay lập tức, tôi đẩy thanh gỗ vào sâu trong đống than hồng để nung, không quên hết lời động viên để các anh em chẳng ai nản chí hay run sợ. Khi khúc gỗ tuy còn xanh nhưng đã rực đỏ và chực bốc cháy, tôi liền rút nó ra khỏi ngọn lửa. Các anh em vòng trong vòng ngoài vây quanh tôi, bởi thần linh đã thổi bùng ngọn lửa dũng khí vào tim họ. Chúng tôi cắm phập đầu nhọn hoắt của thanh gỗ vào mắt con quái vật, dồn toàn bộ sức nặng của cơ thể tì chặt lên đó, còn tôi thì không ngừng xoay tít nó, tựa như một người thợ mộc đang hì hục khoan ván tàu bằng cái khoan tay, nơi hai gã thợ kéo bánh xe và dây đai nhịp nhàng xoay vòng không ngơi nghỉ. Cứ thế, chúng tôi xoáy xoáy thanh gỗ rực lửa vào con mắt độc nhất của hắn, cho đến khi dòng máu sôi sùng sục trào ra lênh láng quanh thân gỗ; hơi nóng bốc lên ngùn ngụt từ nhãn cầu đang rực cháy thiêu rụi cả mí mắt và lông mày, làm gốc rễ con mắt cháy xèo xèo trong lửa. Giống như lúc thợ rèn nhúng chiếc rìu hay chiếc búa nhỏ đang đỏ lửa vào máng nước lạnh để tôi sắt-phát ra tiếng xèo xèo chát chúa, giúp cho thứ kim loại ấy thêm phần sắc bén-con mắt của gã Cyclops cũng xì xèo cháy khét lẹt quanh khúc gỗ ô liu hệt như vậy. Tiếng la thét rống lên thảm thiết gớm ghiếc của hắn làm cả hang động rung chuyển, dội vách đá ầm ầm. Quá khiếp đảm, chúng tôi ba chân bốn cẳng lùi lại tìm chỗ nấp. Gã khổng lồ giật phăng thanh gỗ nhầy nhụa máu mủ ra khỏi hốc mắt, quẳng ra xa trong cơn điên cuồng phẫn nộ và đau đớn tột cùng. Vừa quằn quại, hắn vừa gầm rú gào gọi những tên Cyclopes hàng xóm đang cư ngụ quanh những mỏm đất lạnh lẽo lộng gió gần đó. Nghe tiếng la thét, đám khổng lồ rùng rùng kéo đến vây kín ngoài cửa hang, nhao nhao hỏi xem cơ sự gì đã đổ ụp xuống đầu hắn.
"'Có chuyện gì vậy, Polyphemus,' họ lớn tiếng hỏi, 'mà anh lại rống lên ầm ĩ thế, xé toạc cả màn đêm thanh tĩnh và khiến chúng tôi không sao chợp mắt được? Có kẻ nào đang táo tợn ăn trộm cừu của anh sao? Hay có kẻ nào đang mưu toan cướp mạng anh bằng quỷ kế hay vũ lực chăng?'
"Từ trong hang thẳm, Polyphemus gào lên thảm thiết: 'Không Ai Cả đang giết tôi bằng mưu mẹo; không ai giết tôi bằng vũ lực cả!'
"'Vậy thì,' họ đáp, 'nếu không có ai tấn công anh, anh ắt hẳn đã dính bạo bệnh rồi; một khi vị thần tối cao Jove gieo rắc tật nguyền thì chẳng cách nào cứu vãn nổi, tốt hơn hết anh hãy thành tâm cầu nguyện cha mình là thần Neptune đi.'
"Thế rồi bọn họ lục tục kéo nhau đi, còn tôi thì đắc ý cười thầm trong bụng vì mưu kế xảo diệu của mình đã thành công rực rỡ. Về phần gã Cyclops, vừa rên rỉ quằn quại trong cơn đau đớn tột độ, hắn vừa quờ quạng đôi tay mò mẫm cho tới khi chạm được vào tảng đá tảng rồi hất nó ra khỏi cửa. Hắn ngồi tịt ngay lối ra vào, dang rộng hai tay sờ soạng hòng chộp cổ bất cứ kẻ nào định lẻn ra ngoài cùng bầy cừu, bởi hắn ngỡ rằng tôi có thể ngu ngốc đến mức liều mình làm vậy.
"Về phần mình, tôi không ngừng vắt óc suy tính làm sao để cứu lấy mạng sống của bản thân và các anh em. Tôi trù tính, bày mưu lập kế bằng tất thảy sự quyết tâm của một người thấu hiểu mạng sống đang treo lơ lửng trên sợi tóc, bởi lẽ hiểm nguy đang bủa vây trập trùng. Cuối cùng, tôi vạch ra một phương sách vẹn toàn nhất: những con cừu đực vạm vỡ mang trên mình bộ lông rậm rạp đen nhánh. Thừa lúc tĩnh lặng, tôi âm thầm bện những dải liễu gai - thứ mà tên ác quỷ thường dùng lót chỗ ngủ - để buộc chúng lại thành từng cụm ba con. Mỗi cụm sẽ giấu một người dưới bụng con cừu giữa, trong khi hai con hai bên làm mộc che chắn; thế là mỗi người được ba con cừu chở che. Riêng phần tôi, tôi ngắm chuẩn một con cừu đực oai vệ, đẹp mã hơn thảy đồng loại. Tôi bám riết lấy lưng nó, luồn mình ẩn giấu dưới lớp lông dày cộm nơi bụng. Tôi kiên nhẫn nép mình, mặt ngửa lên, tay bám chặt không buông dẫu chỉ một giây.
"Cứ thế, chúng tôi nếm trải những khắc khoải kinh hoàng, mòn mỏi ngóng đợi bình minh. Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, e ấp thức giấc, bầy cừu đực nhộn nhịp ùa ra đồng cỏ, trong khi bầy cừu cái vẫn réo rắt kêu be be quanh chuồng chờ vắt sữa, bởi bầu vú chúng đã căng cứng tưởng chừng như nứt nẻ. Tuy quằn quại trong cơn đau thấu tận tâm can, chủ nhân của chúng vẫn lần mò sờ soạng lưng từng con cừu khi chúng đứng thẳng. Nhưng gã làm sao đủ tinh tường để nhận ra những người đàn ông đang náu mình dưới lớp bụng dày dặn ấy. Con cừu đực đầu đàn nặng nề bước ra sau rốt, trĩu nặng dưới lớp lông mượt mà và sức nặng của chính tôi - kẻ đang cuộn mình ẩn giấu đầy mưu trí. Polyphemus giữ chặt lấy nó và cất tiếng:
"'Con cừu đực thân thiết của ta, cớ sự gì khiến mi nán lại hang cuối cùng vào sáng nay? Xưa nay mi đâu có thói nhường cừu cái đi trước. Mi luôn oai phong dẫn đầu bầy, phóng tung tăng đón thảm cỏ ngát hương hay dòng suối róc rách, rồi thoăn thoắt về chuồng sớm nhất lúc xế bóng. Cớ sao nay mi lại lùi lũi chót bầy? Phải chăng mi đang xót xa cho chủ nhân của mi - kẻ vừa mất đi một con mắt, đang ôm nỗi uất hận tột cùng vì tên Không Ai Cả ác ôn và lũ đồng bọn đê tiện của hắn đã chuốc rượu làm mù mắt ta? Nhưng ta thề sẽ bắt hắn phải đền mạng. Giá mà mi có thể thấu hiểu và cất lời, mi hãy chỉ cho ta biết tên khốn ấy đang lẩn trốn nơi nao. Ta sẽ giáng đòn đập nát sọ hắn, văng tung tóe khắp cái hang này. Có vậy, nỗi oán hờn mà tên vô lại Không Ai Cả gieo rắc cho ta mới vơi đi đôi chút.'
"Dứt lời, gã thả con cừu đực bước ra ngoài. Khi chúng tôi vừa khuất khỏi hang và sân một đoạn, tôi lập tức tuột khỏi bụng con cừu đực, rồi vội vàng cởi trói cứu thoát các anh em. Chúng tôi lùa ngay đàn cừu béo tốt, dồn ép chúng không ngừng nghỉ thẳng xuống con tàu. Thấy chúng tôi sống sót trở về, thủy thủ đoàn vỡ òa trong niềm vui khôn tả, nhưng rồi lại nức nở rơi lệ tiếc thương cho những người xấu số đã vong mạng dưới tay tên Cyclops. Tôi nhíu mày, gật đầu ra hiệu bảo họ kìm nén tiếng khóc, đoạn ra lệnh đưa toàn bộ bầy cừu lên thuyền rồi lập tức giương buồm. Mọi người mau chóng lên tàu, ngồi vào vị trí, nhịp nhàng guồng mái chèo chém rẽ mặt biển xám ngoét. Khi thuyền đã rẽ sóng xa bờ một đoạn vừa vặn đủ nghe tiếng nói, tôi mới cất lời buông tiếng nhạo báng gã Cyclops.
"'Cyclops,' tôi quát lớn, 'mi đáng ra phải tự lượng sức mình trước khi xẻ thịt các anh em của ta ngay trong sào huyệt của mi. Đồ cặn bã, mi dám nhai nuốt cả những vị khách ghé thăm nhà mình sao? Giờ thì mi phải hiểu rằng tội ác của mi đã phơi bày, và thần Jove cùng chư thần đã giáng xuống đầu mi sự trừng phạt đích đáng nhất.'
"Từng lời tôi thốt ra như châm thêm ngòi nổ, khiến gã phẫn nộ đến điên cuồng. Gã bứt tung cả đỉnh núi sừng sững, ném ầm xuống ngay trước mũi tàu của tôi, suýt chút nữa là nghiền nát bánh lái. Biển cả chấn động khi tảng đá khổng lồ giáng xuống, cuộn sóng ào ạt đẩy giật chúng tôi lùi lại, dạt hẳn vào đất liền. Tôi nhanh trí vớ lấy cây sào dài, gắng sức chống thuyền ra xa, vừa gật đầu hối thúc các anh em phải chèo bán sống bán chết. Mọi người vắt kiệt sức bình sinh mà guồng mái chèo. Khi khoảng cách đã xa gấp đôi lúc trước, tôi lại định mỉa mai gã Cyclops thêm một bận nữa, song các anh em đã hốt hoảng khẩn thiết van nài tôi hãy nín lặng.
"'Đừng ngài ơi,' họ kêu thét lên, 'đừng dại dột mà trêu tức con ác thú hung tàn này thêm nữa. Hắn vừa ném một tảng đá hất tung chúng ta lại bờ, chúng tôi ngỡ đâu mạng mình đã tận. Nếu hắn mà nghe thêm tiếng ngài nữa, hắn sẽ giã nát đầu chúng ta, đập vụn từng tấm ván thuyền thành một đống bùng nhùng bằng những tảng đá xù xì kia, vì sức ném của hắn kinh hồn lắm.'
"Nhưng tôi nào để lọt tai lời họ, cứ gân cổ hét lớn về phía gã trong cơn thịnh nộ ngút ngàn, 'Cyclops, nếu có ai gặng hỏi mi kẻ nào đã phế đi con mắt và tàn phá dung mạo của mi, hãy nói đó chính là dũng sĩ can trường Ulysses, con trai của Laertes, người ngự ở Ithaca.'
"Nghe đến đây, gã rên rỉ rồi gào lên, 'Ôi khốn nạn thay, khốn nạn thay, vậy là lời tiên tri xưa kia về ta nay đã ứng nghiệm. Thuở trước, nơi đây từng có một nhà tiên tri vóc dáng vạm vỡ, can trường, tên là Telemus, con trai của Eurymus. Lão là một bậc tiên tri kiệt xuất, đã soi tỏ mọi điềm báo cho giống loài Cyclopes đến tận lúc tuổi già bóng xế. Lão từng phán rằng, mọi cơ sự này một ngày kia sẽ giáng xuống đầu ta, và ta sẽ đánh mất ánh sáng bởi chính bàn tay của Ulysses. Lâu nay, ta vẫn đinh ninh kẻ đó phải mang cốt cách uy nghi, sức mạnh bạt sơn phá thạch, ngờ đâu hắn chỉ là một tên còm nhom, ẻo lả tầm thường. Hắn đã đục mù mắt ta bằng trò tiểu nhân lợi dụng lúc ta say khướt. Lại đây nào, Ulysses, để ta ban cho mi những món quà đáp đền lòng hiếu khách, và khẩn cầu cha ta là thần Neptune phù hộ mi trên bước đường lưu lạc - bởi Neptune chính là đấng sinh thành ra ta. Nếu Người muốn, Người sẽ chữa lành cho ta, điều mà chẳng một kẻ phàm trần hay thần thánh nào có thể làm được.'
"Bấy giờ tôi đanh thép đáp, 'Ta mong sao có thể tự tay đoạt mạng mi tức khắc, đày mi xuống tận cõi âm ty của Hades, chắc chắn như việc một mình thần Neptune cũng chẳng tài nào cứu vãn được con mắt đã hỏng của mi.'
"Nghe vậy, gã vung hai tay lên lưng chừng trời rống lên cầu nguyện, 'Hỡi thần Neptune vĩ đại, xin hãy thấu tiếng con. Nếu con thực sự là giọt máu do chính Người sinh ra, xin Người hãy trút lời nguyền, khiến tên Ulysses vĩnh viễn không bao giờ có thể sống sót trở về quê nhà. Bằng không, nếu số phận đã định cho hắn được trở về bên bằng hữu, thì hãy để hắn trở về trong muộn màng và đớn đau tột độ sau khi đã mất trắng tất thảy các anh em [hãy để hắn trở về trên con thuyền của một kẻ xa lạ và chuốc lấy tai ương ngay trong chính mái ấm của mình.]'
"Gã cầu nguyện như thế, và thần Neptune đã thấu tai. Sau đó, gã vác lên một tảng đá khổng lồ, to hơn tảng trước vạn phần, vươn cao tay rồi phóng đi với sức mạnh tàn khốc. Tảng đá rơi uỳnh ngay sát con tàu, suýt chút nữa đập nát bánh lái. Biển khơi rung chuyển dữ dội, ngọn sóng tạo ra cuồn cuộn hất tung thuyền chúng tôi vút lên phía trước, thẳng tiến về bờ đảo xa.
"Rốt cuộc, khi chúng tôi đặt chân đến hòn đảo nơi những con tàu còn lại đang neo đậu, các anh em đang sụt sùi rơi lệ, cõi lòng như lửa đốt ngóng đợi. Chúng tôi lao tàu lên bãi cát thoai thoải rồi bước xuống bờ. Đàn cừu của gã Cyclops cũng được lùa lên, tôi phân chia công bằng cho tất cả để không ai phải tị nạnh. Riêng con cừu đực đầu đàn, các anh em đồng lòng dâng cho tôi như một phần thưởng danh dự. Thế là tôi hiến tế nó ngay trên bờ biển, hỏa thiêu phần xương đùi để dâng lên thần Jove, đấng chúa tể muôn loài. Nhưng Người lại hờ hững với lễ vật của tôi, trong đầu Người chỉ quẩn quanh những suy tính làm sao để nhấn chìm thảy tàu bè lẫn các anh em của tôi.
"Cứ thế, suốt một ngày dài đằng đẵng cho tới lúc mặt trời khuất bóng, chúng tôi no say thịt nướng và rượu vang. Khi ráng chiều buông xuống, bóng tối bao trùm, chúng tôi ngả lưng cắm trại ngay trên bãi cát. Rồi khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, thức giấc, tôi hạ lệnh cho các anh em tháo dây neo, lên thuyền. Mọi người nhanh chóng vào vị trí, nhịp nhàng guồng mái chèo chém rẽ mặt biển xám ngoét. Chúng tôi lại dong buồm khởi hành, cõi lòng trĩu nặng buồn thương, nhưng vẫn thầm tạ ơn trời vì đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần, dẫu vẫn xót xa vì phải vùi lại những người anh em đồng cam cộng khổ."
-
"Talent" là một đơn vị đo lường trọng lượng và tiền tệ cổ đại của người Hy Lạp. Một talent vàng là một khối lượng vàng rất lớn, thể hiện giá trị cực kỳ to lớn của món quà mà vị thầy tế dành tặng. ↩
BOOK IX
ULYSSES DECLARES HIMSELF AND BEGINS HIS STORY--THE CICONS, LOTOPHAGI, AND CYCLOPES.
And Ulysses answered, “King Alcinous, it is a good thing to hear a bard with such a divine voice as this man has. There is nothing better or more delightful than when a whole people make merry together, with the guests sitting orderly to listen, while the table is loaded with bread and meats, and the cup-bearer draws wine and fills his cup for every man. This is indeed as fair a sight as a man can see. Now, however, since you are inclined to ask the story of my sorrows, and rekindle my own sad memories in respect of them, I do not know how to begin, nor yet how to continue and conclude my tale, for the hand of heaven has been laid heavily upon me.
“Firstly, then, I will tell you my name that you too may know it, and one day, if I outlive this time of sorrow, may become my guests though I live so far away from all of you. I am Ulysses son of Laertes, renowned among mankind for all manner of subtlety, so that my fame ascends to heaven. I live in Ithaca, where there is a high mountain called Neritum, covered with forests; and not far from it there is a group of islands very near to one another-Dulichium, Same, and the wooded island of Zacynthus. It lies squat on the horizon, all highest up in the sea towards the sunset, while the others lie away from it towards dawn.1 It is a rugged island, but it breeds brave men, and my eyes know none that they better love to look upon. The goddess Calypso kept me with her in her cave, and wanted me to marry her, as did also the cunning Aeaean goddess Circe; but they could neither of them persuade me, for there is nothing dearer to a man than his own country and his parents, and however splendid a home he may have in a foreign country, if it be far from father or mother, he does not care about it. Now, however, I will tell you of the many hazardous adventures which by Jove’s will I met with on my return from Troy.
“When I had set sail thence the wind took me first to Ismarus, which is the city of the Cicons. There I sacked the town and put the people to the sword. We took their wives and also much booty, which we divided equitably amongst us, so that none might have reason to complain. I then said that we had better make off at once, but my men very foolishly would not obey me, so they staid there drinking much wine and killing great numbers of sheep and oxen on the sea shore. Meanwhile the Cicons cried out for help to other Cicons who lived inland. These were more in number, and stronger, and they were more skilled in the art of war, for they could fight, either from chariots or on foot as the occasion served; in the morning, therefore, they came as thick as leaves and bloom in summer, and the hand of heaven was against us, so that we were hard pressed. They set the battle in array near the ships, and the hosts aimed their bronze-shod spears at one another.2 So long as the day waxed and it was still morning, we held our own against them, though they were more in number than we; but as the sun went down, towards the time when men loose their oxen, the Cicons got the better of us, and we lost half a dozen men from every ship we had; so we got away with those that were left.
“Thence we sailed onward with sorrow in our hearts, but glad to have escaped death though we had lost our comrades, nor did we leave till we had thrice invoked each one of the poor fellows who had perished by the hands of the Cicons. Then Jove raised the North wind against us till it blew a hurricane, so that land and sky were hidden in thick clouds, and night sprang forth out of the heavens. We let the ships run before the gale, but the force of the wind tore our sails to tatters, so we took them down for fear of shipwreck, and rowed our hardest towards the land. There we lay two days and two nights suffering much alike from toil and distress of mind, but on the morning of the third day we again raised our masts, set sail, and took our places, letting the wind and steersmen direct our ship. I should have got home at that time unharmed had not the North wind and the currents been against me as I was doubling Cape Malea, and set me off my course hard by the island of Cythera.
“I was driven thence by foul winds for a space of nine days upon the sea, but on the tenth day we reached the land of the Lotus-eaters, who live on a food that comes from a kind of flower. Here we landed to take in fresh water, and our crews got their mid-day meal on the shore near the ships. When they had eaten and drunk I sent two of my company to see what manner of men the people of the place might be, and they had a third man under them. They started at once, and went about among the Lotus-eaters, who did them no hurt, but gave them to eat of the lotus, which was so delicious that those who ate of it left off caring about home, and did not even want to go back and say what had happened to them, but were for staying and munching lotus3 with the Lotus-eaters without thinking further of their return; nevertheless, though they wept bitterly I forced them back to the ships and made them fast under the benches. Then I told the rest to go on board at once, lest any of them should taste of the lotus and leave off wanting to get home, so they took their places and smote the grey sea with their oars.
“We sailed hence, always in much distress, till we came to the land of the lawless and inhuman Cyclopes. Now the Cyclopes neither plant nor plough, but trust in providence, and live on such wheat, barley, and grapes as grow wild without any kind of tillage, and their wild grapes yield them wine as the sun and the rain may grow them. They have no laws nor assemblies of the people, but live in caves on the tops of high mountains; each is lord and master in his family, and they take no account of their neighbours.
“Now off their harbour there lies a wooded and fertile island not quite close to the land of the Cyclopes, but still not far. It is over-run with wild goats, that breed there in great numbers and are never disturbed by foot of man; for sportsmen-who as a rule will suffer so much hardship in forest or among mountain precipices-do not go there, nor yet again is it ever ploughed or fed down, but it lies a wilderness untilled and unsown from year to year, and has no living thing upon it but only goats. For the Cyclopes have no ships, nor yet shipwrights who could make ships for them; they cannot therefore go from city to city, or sail over the sea to one another’s country as people who have ships can do; if they had had these they would have colonised the island,4 for it is a very good one, and would yield everything in due season. There are meadows that in some places come right down to the sea shore, well watered and full of luscious grass; grapes would do there excellently; there is level land for ploughing, and it would always yield heavily at harvest time, for the soil is deep. There is a good harbour where no cables are wanted, nor yet anchors, nor need a ship be moored, but all one has to do is to beach one’s vessel and stay there till the wind becomes fair for putting out to sea again. At the head of the harbour there is a spring of clear water coming out of a cave, and there are poplars growing all round it.
“Here we entered, but so dark was the night that some god must have brought us in, for there was nothing whatever to be seen. A thick mist hung all round our ships;5 the moon was hidden behind a mass of clouds so that no one could have seen the island if he had looked for it, nor were there any breakers to tell us we were close in shore before we found ourselves upon the land itself; when, however, we had beached the ships, we took down the sails, went ashore and camped upon the beach till daybreak.
“When the child of morning, rosy-fingered Dawn appeared, we admired the island and wandered all over it, while the nymphs Jove’s daughters roused the wild goats that we might get some meat for our dinner. On this we fetched our spears and bows and arrows from the ships, and dividing ourselves into three bands began to shoot the goats. Heaven sent us excellent sport; I had twelve ships with me, and each ship got nine goats, while my own ship had ten; thus through the livelong day to the going down of the sun we ate and drank our fill, and we had plenty of wine left, for each one of us had taken many jars full when we sacked the city of the Cicons, and this had not yet run out. While we were feasting we kept turning our eyes towards the land of the Cyclopes, which was hard by, and saw the smoke of their stubble fires. We could almost fancy we heard their voices and the bleating of their sheep and goats, but when the sun went down and it came on dark, we camped down upon the beach, and next morning I called a council.
“‘Stay here, my brave fellows,’ said I, ‘all the rest of you, while I go with my ship and exploit these people myself: I want to see if they are uncivilised savages, or a hospitable and humane race.’
“I went on board, bidding my men to do so also and loose the hawsers; so they took their places and smote the grey sea with their oars. When we got to the land, which was not far, there, on the face of a cliff near the sea, we saw a great cave overhung with laurels. It was a station for a great many sheep and goats, and outside there was a large yard, with a high wall round it made of stones built into the ground and of trees both pine and oak. This was the abode of a huge monster who was then away from home shepherding his flocks. He would have nothing to do with other people, but led the life of an outlaw. He was a horrid creature, not like a human being at all, but resembling rather some crag that stands out boldly against the sky on the top of a high mountain.
“I told my men to draw the ship ashore, and stay where they were, all but the twelve best among them, who were to go along with myself. I also took a goatskin of sweet black wine which had been given me by Maron, son of Euanthes, who was priest of Apollo the patron god of Ismarus, and lived within the wooded precincts of the temple. When we were sacking the city we respected him, and spared his life, as also his wife and child; so he made me some presents of great value-seven talents of fine gold, and a bowl of silver, with twelve jars of sweet wine, unblended, and of the most exquisite flavour. Not a man nor maid in the house knew about it, but only himself, his wife, and one housekeeper: when he drank it he mixed twenty parts of water to one of wine, and yet the fragrance from the mixing-bowl was so exquisite that it was impossible to refrain from drinking. I filled a large skin with this wine, and took a wallet full of provisions with me, for my mind misgave me that I might have to deal with some savage who would be of great strength, and would respect neither right nor law.
“We soon reached his cave, but he was out shepherding, so we went inside and took stock of all that we could see. His cheese-racks were loaded with cheeses, and he had more lambs and kids than his pens could hold. They were kept in separate flocks; first there were the hoggets, then the oldest of the younger lambs and lastly the very young ones6 all kept apart from one another; as for his dairy, all the vessels, bowls, and milk pails into which he milked, were swimming with whey. When they saw all this, my men begged me to let them first steal some cheeses, and make off with them to the ship; they would then return, drive down the lambs and kids, put them on board and sail away with them. It would have been indeed better if we had done so but I would not listen to them, for I wanted to see the owner himself, in the hope that he might give me a present. When, however, we saw him my poor men found him ill to deal with.
“We lit a fire, offered some of the cheeses in sacrifice, ate others of them, and then sat waiting till the Cyclops should come in with his sheep. When he came, he brought in with him a huge load of dry firewood to light the fire for his supper, and this he flung with such a noise on to the floor of his cave that we hid ourselves for fear at the far end of the cavern. Meanwhile he drove all the ewes inside, as well as the she-goats that he was going to milk, leaving the males, both rams and he-goats, outside in the yards. Then he rolled a huge stone to the mouth of the cave-so huge that two and twenty strong four-wheeled waggons would not be enough to draw it from its place against the doorway. When he had so done he sat down and milked his ewes and goats, all in due course, and then let each of them have her own young. He curdled half the milk and set it aside in wicker strainers, but the other half he poured into bowls that he might drink it for his supper. When he had got through with all his work, he lit the fire, and then caught sight of us, whereon he said:
“‘Strangers, who are you? Where do sail from? Are you traders, or do you sail the sea as rovers, with your hands against every man, and every man’s hand against you?’
“We were frightened out of our senses by his loud voice and monstrous form, but I managed to say, ‘We are Achaeans on our way home from Troy, but by the will of Jove, and stress of weather, we have been driven far out of our course. We are the people of Agamemnon, son of Atreus, who has won infinite renown throughout the whole world, by sacking so great a city and killing so many people. We therefore humbly pray you to show us some hospitality, and otherwise make us such presents as visitors may reasonably expect. May your excellency fear the wrath of heaven, for we are your suppliants, and Jove takes all respectable travellers under his protection, for he is the avenger of all suppliants and foreigners in distress.’
“To this he gave me but a pitiless answer, ‘Stranger,’ said he, ‘you are a fool, or else you know nothing of this country. Talk to me, indeed, about fearing the gods or shunning their anger? We Cyclopes do not care about Jove or any of your blessed gods, for we are ever so much stronger than they. I shall not spare either yourself or your companions out of any regard for Jove, unless I am in the humour for doing so. And now tell me where you made your ship fast when you came on shore. Was it round the point, or is she lying straight off the land?’
“He said this to draw me out, but I was too cunning to be caught in that way, so I answered with a lie; ‘Neptune,’ said I, ‘sent my ship on to the rocks at the far end of your country, and wrecked it. We were driven on to them from the open sea, but I and those who are with me escaped the jaws of death.’
“The cruel wretch vouchsafed me not one word of answer, but with a sudden clutch he gripped up two of my men at once and dashed them down upon the ground as though they had been puppies. Their brains were shed upon the ground, and the earth was wet with their blood. Then he tore them limb from limb and supped upon them. He gobbled them up like a lion in the wilderness, flesh, bones, marrow, and entrails, without leaving anything uneaten. As for us, we wept and lifted up our hands to heaven on seeing such a horrid sight, for we did not know what else to do; but when the Cyclops had filled his huge paunch, and had washed down his meal of human flesh with a drink of neat milk, he stretched himself full length upon the ground among his sheep, and went to sleep. I was at first inclined to seize my sword, draw it, and drive it into his vitals, but I reflected that if I did we should all certainly be lost, for we should never be able to shift the stone which the monster had put in front of the door. So we stayed sobbing and sighing where we were till morning came.
“When the child of morning, rosy-fingered dawn, appeared, he again lit his fire, milked his goats and ewes, all quite rightly, and then let each have her own young one; as soon as he had got through with all his work, he clutched up two more of my men, and began eating them for his morning’s meal. Presently, with the utmost ease, he rolled the stone away from the door and drove out his sheep, but he at once put it back again-as easily as though he were merely clapping the lid on to a quiver full of arrows. As soon as he had done so he shouted, and cried ‘Shoo, shoo,’ after his sheep to drive them on to the mountain; so I was left to scheme some way of taking my revenge and covering myself with glory.
“In the end I deemed it would be the best plan to do as follows: The Cyclops had a great club which was lying near one of the sheep pens; it was of green olive wood, and he had cut it intending to use it for a staff as soon as it should be dry. It was so huge that we could only compare it to the mast of a twenty-oared merchant vessel of large burden, and able to venture out into open sea. I went up to this club and cut off about six feet of it; I then gave this piece to the men and told them to fine it evenly off at one end, which they proceeded to do, and lastly I brought it to a point myself, charring the end in the fire to make it harder. When I had done this I hid it under dung, which was lying about all over the cave, and told the men to cast lots which of them should venture along with myself to lift it and bore it into the monster’s eye while he was asleep. The lot fell upon the very four whom I should have chosen, and I myself made five. In the evening the wretch came back from shepherding, and drove his flocks into the cave-this time driving them all inside, and not leaving any in the yards; I suppose some fancy must have taken him, or a god must have prompted him to do so. As soon as he had put the stone back to its place against the door, he sat down, milked his ewes and his goats all quite rightly, and then let each have her own young one; when he had got through with all this work, he gripped up two more of my men, and made his supper off them. So I went up to him with an ivy-wood bowl of black wine in my hands:
“‘Look here, Cyclops,’ said I, you have been eating a great deal of man’s flesh, so take this and drink some wine, that you may see what kind of liquor we had on board my ship. I was bringing it to you as a drink-offering, in the hope that you would take compassion upon me and further me on my way home, whereas all you do is to go on ramping and raving most intolerably. You ought to be ashamed of yourself; how can you expect people to come see you any more if you treat them in this way?’
“He then took the cup and drank. He was so delighted with the taste of the wine that he begged me for another bowl full. ‘Be so kind,’ he said, ‘as to give me some more, and tell me your name at once. I want to make you a present that you will be glad to have. We have wine even in this country, for our soil grows grapes and the sun ripens them, but this drinks like Nectar and Ambrosia all in one.’
“I then gave him some more; three times did I fill the bowl for him, and three times did he drain it without thought or heed; then, when I saw that the wine had got into his head, I said to him as plausibly as I could: ‘Cyclops, you ask my name and I will tell it you; give me, therefore, the present you promised me; my name is Noman; this is what my father and mother and my friends have always called me.’
“But the cruel wretch said, ‘Then I will eat all Noman’s comrades before Noman himself, and will keep Noman for the last. This is the present that I will make him.’
“As he spoke he reeled, and fell sprawling face upwards on the ground. His great neck hung heavily backwards and a deep sleep took hold upon him. Presently he turned sick, and threw up both wine and the gobbets of human flesh on which he had been gorging, for he was very drunk. Then I thrust the beam of wood far into the embers to heat it, and encouraged my men lest any of them should turn faint-hearted. When the wood, green though it was, was about to blaze, I drew it out of the fire glowing with heat, and my men gathered round me, for heaven had filled their hearts with courage. We drove the sharp end of the beam into the monster’s eye, and bearing upon it with all my weight I kept turning it round and round as though I were boring a hole in a ship’s plank with an auger, which two men with a wheel and strap can keep on turning as long as they choose. Even thus did we bore the red hot beam into his eye, till the boiling blood bubbled all over it as we worked it round and round, so that the steam from the burning eyeball scalded his eyelids and eyebrows, and the roots of the eye sputtered in the fire. As a blacksmith plunges an axe or hatchet into cold water to temper it-for it is this that gives strength to the iron-and it makes a great hiss as he does so, even thus did the Cyclops’ eye hiss round the beam of olive wood, and his hideous yells made the cave ring again. We ran away in a fright, but he plucked the beam all besmirched with gore from his eye, and hurled it from him in a frenzy of rage and pain, shouting as he did so to the other Cyclopes who lived on the bleak headlands near him; so they gathered from all quarters round his cave when they heard him crying, and asked what was the matter with him.
“‘What ails you, Polyphemus,’ said they, ‘that you make such a noise, breaking the stillness of the night, and preventing us from being able to sleep? Surely no man is carrying off your sheep? Surely no man is trying to kill you either by fraud or by force?’
“But Polyphemus shouted to them from inside the cave, ‘Noman is killing me by fraud; no man is killing me by force.’
“‘Then,’ said they, ‘if no man is attacking you, you must be ill; when Jove makes people ill, there is no help for it, and you had better pray to your father Neptune.’
“Then they went away, and I laughed inwardly at the success of my clever stratagem, but the Cyclops, groaning and in an agony of pain, felt about with his hands till he found the stone and took it from the door; then he sat in the doorway and stretched his hands in front of it to catch anyone going out with the sheep, for he thought I might be foolish enough to attempt this.
“As for myself I kept on puzzling to think how I could best save my own life and those of my companions; I schemed and schemed, as one who knows that his life depends upon it, for the danger was very great. In the end I deemed that this plan would be the best; the male sheep were well grown, and carried a heavy black fleece, so I bound them noiselessly in threes together, with some of the withies on which the wicked monster used to sleep. There was to be a man under the middle sheep, and the two on either side were to cover him, so that there were three sheep to each man. As for myself there was a ram finer than any of the others, so I caught hold of him by the back, esconced myself in the thick wool under his belly, and hung on patiently to his fleece, face upwards, keeping a firm hold on it all the time.
“Thus, then, did we wait in great fear of mind till morning came, but when the child of morning, rosy-fingered Dawn, appeared, the male sheep hurried out to feed, while the ewes remained bleating about the pens waiting to be milked, for their udders were full to bursting; but their master in spite of all his pain felt the backs of all the sheep as they stood upright, without being sharp enough to find out that the men were underneath their bellies. As the ram was going out, last of all, heavy with its fleece and with the weight of my crafty self, Polyphemus laid hold of it and said:
“‘My good ram, what is it that makes you the last to leave my cave this morning? You are not wont to let the ewes go before you, but lead the mob with a run whether to flowery mead or bubbling fountain, and are the first to come home again at night; but now you lag last of all. Is it because you know your master has lost his eye, and are sorry because that wicked Noman and his horrid crew has got him down in his drink and blinded him? But I will have his life yet. If you could understand and talk, you would tell me where the wretch is hiding, and I would dash his brains upon the ground till they flew all over the cave. I should thus have some satisfaction for the harm this no-good Noman has done me.’
“As he spoke he drove the ram outside, but when we were a little way out from the cave and yards, I first got from under the ram’s belly, and then freed my comrades; as for the sheep, which were very fat, by constantly heading them in the right direction we managed to drive them down to the ship. The crew rejoiced greatly at seeing those of us who had escaped death, but wept for the others whom the Cyclops had killed. However, I made signs to them by nodding and frowning that they were to hush their crying, and told them to get all the sheep on board at once and put out to sea; so they went aboard, took their places, and smote the grey sea with their oars. Then, when I had got as far out as my voice would reach, I began to jeer at the Cyclops.
“‘Cyclops,’ said I, ‘you should have taken better measure of your man before eating up his comrades in your cave. You wretch, eat up your visitors in your own house? You might have known that your sin would find you out, and now Jove and the other gods have punished you.’
“He got more and more furious as he heard me, so he tore the top from off a high mountain, and flung it just in front of my ship so that it was within a little of hitting the end of the rudder.7 The sea quaked as the rock fell into it, and the wash of the wave it raised carried us back towards the mainland, and forced us towards the shore. But I snatched up a long pole and kept the ship off, making signs to my men by nodding my head, that they must row for their lives, whereon they laid out with a will. When we had got twice as far as we were before, I was for jeering at the Cyclops again, but the men begged and prayed of me to hold my tongue.
“‘Do not,’ they exclaimed, ‘be mad enough to provoke this savage creature further; he has thrown one rock at us already which drove us back again to the mainland, and we made sure it had been the death of us; if he had then heard any further sound of voices he would have pounded our heads and our ship’s timbers into a jelly with the rugged rocks he would have heaved at us, for he can throw them a long way.’
“But I would not listen to them, and shouted out to him in my rage, ‘Cyclops, if any one asks you who it was that put your eye out and spoiled your beauty, say it was the valiant warrior Ulysses, son of Laertes, who lives in Ithaca.’
“On this he groaned, and cried out, ‘Alas, alas, then the old prophecy about me is coming true. There was a prophet here, at one time, a man both brave and of great stature, Telemus son of Eurymus, who was an excellent seer, and did all the prophesying for the Cyclopes till he grew old; he told me that all this would happen to me some day, and said I should lose my sight by the hand of Ulysses. I have been all along expecting some one of imposing presence and superhuman strength, whereas he turns out to be a little insignificant weakling, who has managed to blind my eye by taking advantage of me in my drink; come here, then, Ulysses, that I may make you presents to show my hospitality, and urge Neptune to help you forward on your journey-for Neptune and I are father and son. He, if he so will, shall heal me, which no one else neither god nor man can do.’
“Then I said, ‘I wish I could be as sure of killing you outright and sending you down to the house of Hades, as I am that it will take more than Neptune to cure that eye of yours.’
“On this he lifted up his hands to the firmament of heaven and prayed, saying, ‘Hear me, great Neptune; if I am indeed your own true begotten son, grant that Ulysses may never reach his home alive; or if he must get back to his friends at last, let him do so late and in sore plight after losing all his men [let him reach his home in another man’s ship and find trouble in his house.’8
“Thus did he pray, and Neptune heard his prayer. Then he picked up a rock much larger than the first, swung it aloft and hurled it with prodigious force. It fell just short of the ship, but was within a little of hitting the end of the rudder. The sea quaked as the rock fell into it, and the wash of the wave it raised drove us onwards on our way towards the shore of the island.
“When at last we got to the island where we had left the rest of our ships, we found our comrades lamenting us, and anxiously awaiting our return. We ran our vessel upon the sands and got out of her on to the sea shore; we also landed the Cyclops’ sheep, and divided them equitably amongst us so that none might have reason to complain. As for the ram, my companions agreed that I should have it as an extra share; so I sacrificed it on the sea shore, and burned its thigh bones to Jove, who is the lord of all. But he heeded not my sacrifice, and only thought how he might destroy both my ships and my comrades.
“Thus through the livelong day to the going down of the sun we feasted our fill on meat and drink, but when the sun went down and it came on dark, we camped upon the beach. When the child of morning rosy-fingered Dawn appeared, I bade my men on board and loose the hawsers. Then they took their places and smote the grey sea with their oars; so we sailed on with sorrow in our hearts, but glad to have escaped death though we had lost our comrades.
-
If the other islands lay some distance away from Ithaca (which the word {Greek} suggests), what becomes of the πόρθμος or gut between Ithaca and Samos which we hear of in Bks. iv. and xv.? I suspect that the authoress in her mind makes Telemachus come back from Pylos to the Lilybaean promontory and thence to Trapani through the strait between the Isola Grande and the mainland-the island of Asteria being the one on which Motya afterwards stood. ↩
-
“Il.” xviii. 533-534. The sudden lapse into the third person here for a couple of lines is due to the fact that the two Iliadic lines taken are in the third person. ↩
-
cf. “Il.” ii. 776. The words in both “Iliad” and “Odyssey” are [Footnote Greek]. In the “Iliad” they are used of the horses of Achilles’ followers as they stood idle, “champing lotus.” ↩
-
I take all this passage about the Cyclopes having no ships to be sarcastic-meaning, “You people of Drepanum have no excuse for not colonising the island of Favognana, which you could easily do, for you have plenty of ships, and the island is a very good one.” For that the island so fully described here is the Aegadean or “goat” island of Favognana, and that the Cyclopes are the old Sican inhabitants of Mt. Eryx should not be doubted. ↩
-
For the reasons why it was necessary that the night should be so exceptionally dark see “The Authoress of the Odyssey” pp. 188-189. ↩
-
None but such lambs as would suck if they were with their mothers would be left in the yard. The older lambs should have been out feeding. The authoress has got it all wrong, but it does not matter. See “The Authoress of the Odyssey” p. 148. ↩
-
This line is enclosed in brackets in the received text, and is omitted (with note) by Messrs. Butcher & Lang. But lines enclosed in brackets are almost always genuine; all that brackets mean is that the bracketed passage puzzled some early editor, who nevertheless found it too well established in the text to venture on omitting it. In the present case the line bracketed is the very last which a full-grown male editor would be likely to interpolate. It is safer to infer that the writer, a young woman, not knowing or caring at which end of the ship the rudder should be, determined to make sure by placing it at both ends, which we shall find she presently does by repeating it (line 340) at the stern of the ship. As for the two rocks thrown, the first I take to be the Asinelli, see map facing p. 80. The second I see as the two contiguous islands of the Formiche, which are treated as one, see map facing p. 108. The Asinelli is an island shaped like a boat, and pointing to the island of Favognana. I think the authoress’s compatriots, who probably did not like her much better that she did them, jeered at the absurdity of Ulysses’ conduct, and saw the Asinelli or “donkeys,” not as the rock thrown by Polyphemus, but as the boat itself containing Ulysses and his men. ↩
-
This line exists in the text here but not in the corresponding passage xii. 141. I am inclined to think it is interpolated (probably by the poetess herself) from the first of lines xi. 115-137, which I can hardly doubt were added by the writer when the scheme of the work was enlarged and altered. See “The Authoress of the Odyssey” pp. 254-255. ↩