🎧 Nghe chương này

QUYỂN IX

ULYSSES XƯNG DANH VÀ BẮT ĐẦU KỂ LẠI CÂU CHUYỆN-NGƯỜI CICON, LOTOPHAGI VÀ CYCLOPES.

Và Ulysses đáp lời: "Thưa ngài Alcinous, quả là một diễm phúc khi được lắng nghe một người hát rong sở hữu chất giọng tựa thần thánh như người đàn ông này. Trên đời phỏng có gì tuyệt mỹ hay thú vị hơn cảnh toàn thể thần dân cùng nhau chan hòa niềm vui, khách khứa tề tựu trang nghiêm để thưởng thức những khúc ca, giữa những chiếc bàn ăm ắp bánh mì và thịt nướng, còn người hầu rượu thì múc thứ rượu thơm lừng rót tràn muôn vàn ly cốc. Đây thực sự là viễn cảnh đẹp đẽ nhất mà đôi mắt phàm nhân có thể chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, lúc này đây, ngài lại có nhã ý muốn gạn hỏi về câu chuyện buồn bã đời tôi, qua đó khơi dậy những ký ức đau thương đã chôn chặt, khiến tôi chẳng biết phải bắt đầu từ đâu, cũng chẳng tỏ tường phải tiếp nối và khép lại thiên dã sử này thế nào, bởi bàn tay của các vị thần đã trút xuống đời tôi những đòn giáng quá đỗi nặng nề.

"Trước tiên, tôi xin xưng danh để ngài tường tận, và biết đâu một ngày nào đó, nếu tôi sống sót qua thời khắc bĩ cực này, tôi có thể được làm khách của ngài cho dù mai này có phải cách xa muôn trùng. Tôi là Ulysses, con trai của Laertes, người mà danh tiếng đã vang dội khắp trần gian nhờ muôn vàn mưu trí, vang đến tận chốn thiên đình cao thẳm. Tôi ngụ tại Ithaca, nơi sừng sững ngọn Neritum vươn mình, phủ bóng rợp những cánh rừng xanh thẳm; và chẳng xa nơi đó là một quần đảo quy tụ sát bên nhau-Dulichium, Same và hòn đảo rợp bóng cây Zacynthus. Hòn đảo của tôi ngả mình thoai thoải trên đường chân trời, vươn cao nhất giữa biển khơi về phía tịch dương, trong khi những hòn đảo khác lại lùi xa về hướng rạng đông. Quê hương tôi mang vẻ gai góc, cằn cỗi, nhưng lại là chiếc nôi ươm mầm nên những con người dũng cảm, và đôi mắt tôi chưa từng thấy nơi nào quyến rũ đến nhường ấy. Nữ thần Calypso từng giam cầm tôi trong hang động của nàng, khao khát ép tôi làm chồng; hệt như nữ thần Circe xảo quyệt của xứ Aeaean cũng từng giăng lưới tình; nhưng chẳng ai trong số họ khuất phục được tôi, bởi lẽ với một người đàn ông, phỏng có thứ gì quý giá hơn quê hương và bậc sinh thành. Dù cho hắn có ở trong một dinh thự tráng lệ chốn bơ vơ, mà cách xa cha mẹ, thì mọi vinh hoa cũng hóa hư không. Giờ đây, tôi xin kể ngài nghe về muôn vàn chuyến phiêu lưu hiểm nghèo mà do ý muốn của Jove, tôi đã phải đương đầu trên nẻo đường hồi hương từ thành Troy.

"Thuở nhổ neo rời khỏi nơi ấy, cơn gió đầu tiên đã đưa tôi dạt đến Ismarus, đô thành của người Cicon. Tại đó, tôi xua quân cướp phá thành trì và tàn sát người dân. Chúng tôi bắt vợ họ, vơ vét vô số chiến lợi phẩm, rồi chia đều để chẳng ai có cớ mà phàn nàn. Sau đó, tôi hạ lệnh phải tức tốc rời đi, nhưng than ôi, các anh em của tôi lại quá đỗi khờ dại, làm ngơ trước quân lệnh. Họ chôn chân lại đó, say sưa men rượu và giết hàng loạt cừu, bò trên bờ biển. Cùng lúc ấy, người Cicon đã kêu gọi viện binh từ những người đồng bào sống nơi nội địa. Đám viện binh này đông đúc hơn, thiện chiến hơn, và lại vô cùng tinh thông binh pháp; họ có thể giao tranh trên xe ngựa hay giáp lá cà tùy bề thế trận. Thế nên, ngay khi bình minh ló rạng, chúng kéo đến đông nghịt như lá và hoa mùa hạ. Bàn tay của các vị thần đã quay lưng lại với chúng tôi, dồn chúng tôi vào thế khốn cùng. Chúng dàn trận giáp các chiến thuyền, và đôi bên chĩa những ngọn giáo bọc đồng vào nhau. Chừng nào ngày còn tỏ và bình minh chưa phai, chúng tôi vẫn cố sức cầm cự, dẫu bị áp đảo về quân số; nhưng khi mặt trời khuất bóng, vào cái khoảnh khắc người ta tháo ách cho bầy bò, người Cicon đã đảo ngược tình thế. Mỗi con tàu của chúng tôi mất đi nửa tá nhân mạng; thế rồi, những người còn sống sót đành vội vã tháo chạy cùng những mảnh vỡ của đội quân.

"Từ nơi đó, chúng tôi lại giương buồm rẽ sóng với cõi lòng trĩu nặng buồn thương, phần vì may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần, nhưng lại xót xa vì đánh mất những người anh em đồng cam cộng khổ. Chúng tôi chỉ rời đi sau khi đã ba lần xướng tên từng người bạn tội nghiệp đã vùi thây dưới tay người Cicon. Tiếp đó, thần Jove giáng một cơn gió Bắc ngược chiều cản bước chúng tôi, gào thét thành một trận cuồng phong, khiến cả đất trời bị nuốt chửng bởi những tầng mây đen đặc, và bóng đêm ập xuống từ bầu trời. Chúng tôi đành phó mặc cho những con tàu lao đi trước mũi bão, nhưng sức gió cuồng loạn đã xé toạc từng cánh buồm. Sợ hãi trước thảm cảnh đắm tàu, chúng tôi hối hả hạ buồm, rồi dốc sức chèo về phía đất liền. Suốt hai ngày hai đêm, chúng tôi nằm lại đó, chịu đựng sự kiệt quệ thể xác và nỗi đau đớn tột cùng trong tâm trí. Nhưng khi rạng đông ngày thứ ba gõ cửa, chúng tôi lại dựng cột, giương buồm, yên vị vào chỗ, phó thác cho gió và người cầm lái định đoạt số phận con tàu. Lẽ ra tôi đã an bình về đến quê nhà ngay lúc ấy, nếu như gió Bắc và dòng hải lưu không bất thần dội ngược lại khi tôi đang vòng qua Mũi Malea, đẩy tôi chệch khỏi hải trình, trôi dạt đến gần hòn đảo Cythera.

"Từ đó, tôi bị những cơn gió độc quăng quật không thương tiếc suốt chín ngày đêm trên biển, để rồi đến ngày thứ mười, chúng tôi dạt vào vùng đất của người Lotophagi, những kẻ sống bằng thức ăn từ một loại hoa thần bí. Tại đây, chúng tôi đổ bộ để tìm nguồn nước ngọt, và thủy thủ đoàn đã dùng bữa ngay trên bờ, sát cạnh các con tàu. Chờ khi họ ăn uống no nê, tôi cử hai người đi thám thính xem dân bản địa là những kẻ thế nào, và cho một người thứ ba theo sát chỉ huy. Họ lập tức lên đường, trà trộn vào giữa những người ăn hoa sen. Đám người này không mảy may làm hại họ, mà lại trao cho họ thứ hoa sen nếm thử. Kỳ lạ thay, hương vị của nó ngọt ngào đến mức bất cứ ai đã nếm qua đều ném bỏ mọi ý niệm về quê nhà, chẳng màng quay lại bẩm báo sự tình. Họ chỉ khát khao được ở lại, nhâm nhi thứ hoa sen ấy cùng những cư dân nơi này, vĩnh viễn vứt bỏ khao khát hồi hương. Dẫu họ có gào khóc thảm thiết, tôi vẫn thẳng tay lôi họ về tàu, trói nghiến họ dưới những băng ghế. Ngay sau đó, tôi ra lệnh cho những người còn lại tức tốc lên tàu, e rằng sẽ có kẻ nếm thử hoa sen và quên bẵng lối về. Mọi người lập tức vào vị trí, vung những nhịp chèo bổ xuống mặt biển xám xịt.

"Chúng tôi lại kéo buồm rời khỏi chốn ấy, lòng luôn trĩu nặng khốn cùng, cho đến khi giạt vào bờ cõi của lũ Cyclopes ngang tàng và bạo ngược. Người Cyclopes chẳng màng gieo hạt cũng chẳng bận cày bừa; họ phó mặc tất thảy cho tạo hóa, sống nhàn hạ nhờ lúa mì, lúa mạch và những chùm nho mọc dại chẳng cần bàn tay chăm bẵm. Những trái nho dại được mặt trời sưởi ấm, được mưa rào tưới tắm, chưng cất cho họ những bầu rượu vang hảo hạng. Họ không có luật lệ, chẳng thiết lập hội đồng nghị sự, mà thu mình trong những hang sâu trên đỉnh núi cao; ở đó, mỗi kẻ là một lãnh chúa trong gia đình mình, chẳng buồn để tâm đến những kẻ láng giềng xung quanh.

"Ngoài khơi bến cảng của họ có một hòn đảo xanh tươi mầu mỡ, không sát rịt vùng đất của lũ Cyclopes, song cũng chẳng hề xa cách. Nơi đây là thánh địa của những đàn dê rừng sinh sôi nảy nở với số lượng khổng lồ, bởi chưa từng có gót chân trần tục nào dẫm lên phá vỡ sự tĩnh lặng. Những thợ săn-kẻ thường dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc, nếm mật nằm gai giữa những vách núi cheo leo-cũng chẳng đoái hoài đến nơi này. Hòn đảo chưa từng một lần chịu ách cày bừa hay in dấu chân gia súc chăn thả, cứ thế hoang vu, không gieo trồng suốt từ năm này qua năm khác, chẳng dung dưỡng một sinh linh nào ngoài bầy dê vô tư lự. Sở dĩ có điều này vì người Cyclopes không hề có tàu bè, cũng chẳng có thợ mộc nào đủ sức đóng thuyền cho họ; thành thử, họ chẳng thể băng qua biển cả thăm thú thành bang của nhau như những dân tộc có nghề hàng hải. Nếu có tàu, hẳn họ đã đến khai hoang và lập nghiệp trên hòn đảo ấy, bởi đó là một mảnh đất màu mỡ hứa hẹn những mùa màng bội thu. Phía chạy dọc bờ biển là những đồng cỏ dốc thoải, đẫm nước và rờn rợp cỏ ngọt; nho sẽ trổ nhánh xum xuê nơi đó; đất đai thì bằng phẳng, lại sâu thẳm phù sa, chắc chắn sẽ mang về năng suất dồi dào cho người cày cấy mỗi độ vào mùa. Bến cảng nơi đây phẳng lặng đến mức chẳng cần cáp neo hay dây chão, tàu thuyền cứ việc kéo thẳng lên bãi biển mà yên tâm nằm lại, đợi đến khi gió thuận buồm xuôi mới tiếp tục ra khơi. Nơi thượng nguồn của bến cảng có một dòng suối trong vắt róc rách tuôn trào từ một hang động, bao bọc bởi những hàng bạch dương rủ bóng.

"Chúng tôi tiến thẳng vào nơi này. Màn đêm tĩnh mịch đặc quánh đến mức hẳn một thế lực thần thánh nào đó đã dẫn đường chỉ lối, bởi chẳng có lấy một tia sáng để nhìn rõ vạn vật. Một lớp sương mù dày đặc buông mình bao bọc các con tàu; vầng trăng lẩn khuất sau một tầng mây, ngăn không cho bất kỳ ai nhận ra hòn đảo dẫu họ có căng mắt tìm kiếm. Ngay cả những con sóng bạc đầu cũng chẳng kịp lên tiếng báo hiệu cho chúng tôi biết đất liền đang ở sát sạt. Khi nhận ra mình đã đặt chân lên bờ bãi, chúng tôi nhanh chóng kéo tàu lên, hạ buồm, đổ bộ rồi dựng trại trên bãi biển, chờ đợi rạng đông.

"Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, đánh thức vạn vật, chúng tôi bắt đầu chiêm ngưỡng hòn đảo và thong dong dạo bước khắp nơi. Lúc này, các tiên nữ, những cô con gái của thần Jove, đã đuổi bầy dê rừng ra khỏi nơi ẩn nấp để chúng tôi có cơ hội kiếm chút thịt tươi cho bữa tối. Nhờ đó, chúng tôi lấy giáo mác và cung tên từ tàu, chia làm ba ngả, lao vào một cuộc đi săn. Mệnh trời đã ưu ái ban cho chúng tôi một chuyến săn thật sự mỹ mãn. Tôi đi cùng mười hai chiến thuyền, mỗi tàu hạ được chín con dê, riêng tàu của tôi thu về mười con. Cứ thế, suốt một ngày dài nhàn hạ cho đến khi mặt trời lặn, chúng tôi no say tiệc tùng. Rượu vang vẫn còn dư dả, bởi mỗi người đã thu vén vô số vò đầy tú ụ sau trận cướp phá thành Ismarus, và lượng rượu dự trữ này vẫn chưa chịu vơi cạn. Giữa lúc yến tiệc, ánh mắt chúng tôi cứ dõi về vùng đất của lũ Cyclopes gần kề, nhìn thấy những cột khói bốc lên từ các đống lửa đốt rơm rạ. Chúng tôi dường như nghe văng vẳng tiếng chúng trò chuyện, cùng tiếng kêu gào của bầy cừu và dê. Nhưng khi mặt trời khuất núi và bóng đêm buông xuống, chúng tôi lại cắm trại trên bãi biển. Sáng hôm sau, tôi triệu tập một cuộc họp khẩn.

"'Hãy ở lại đây, các anh em dũng cảm của ta,' tôi dõng dạc nói, 'tất cả những người còn lại hãy yên vị, trong lúc ta cùng con tàu của mình tự thân đi dò xét bọn người kia. Ta muốn tự mình xác nhận liệu chúng là những kẻ hoang dã chưa được khai hóa, hay là một giống loài nhân đạo, biết đến lòng hiếu khách.'

"Tôi trở lại tàu, ra lệnh cho các anh em đồng loạt lên boong và tháo dây neo. Mọi người nhanh chóng tề tựu vào vị trí, đồng loạt vung mái chèo chém xuống mặt biển xám xịt. Chẳng bao lâu, khi con tàu cập đến vùng đất cách đó không xa, chúng tôi chợt trông thấy một hang động khổng lồ rợp bóng nguyệt quế nằm vắt vẻo trên vách đá sát bờ biển. Nơi ấy tựa như một trạm nhốt cừu dê với quy mô đồ sộ. Bên ngoài hang là một khoảng sân thênh thang, được bao bọc bởi một bức tường đá kiên cố cắm sâu vào lòng đất, đan xen cùng những hàng thông và sồi cổ thụ. Đây chính là sào huyệt của một con quái vật khổng lồ. Lúc bấy giờ, hắn đang mải mê chăn dắt bầy gia súc nơi xa. Bản tính hắn vô cùng đơn độc, chẳng màng giao du cùng ai, chỉ quen sống cuộc đời hoang dã, bất chấp mọi luật lệ ở đời. Mang hình hài gớm ghiếc, hắn chẳng có vẻ gì là con người; thân hình hắn sừng sững, lởm chởm như một mỏm đá chót vót đâm toạc bầu trời trên đỉnh núi cao.

"Tôi căn dặn các anh em kéo tàu lên bãi cát và kiên nhẫn bám trụ tại đó, đồng thời chọn ra mười hai chiến binh can trường nhất để đồng hành cùng mình. Tôi mang theo một bầu da dê chứa thứ rượu vang đen sóng sánh, ngọt ngào. Đây vốn là món quà cất công mang theo từ Maron - con trai của Euanthes, vị thầy tế của thần Apollo bảo trợ xứ Ismarus, người từng sinh sống trong khuôn viên rợp bóng cây thiêng của ngôi đền. Nhớ thuở cướp phá thành bang ấy, chúng tôi đã hết lòng tôn kính, tha mạng cho cả gia đình vị thầy tế. Để đáp đền ân nghĩa, ông đã trao tặng tôi những báu vật vô giá: bảy talent vàng ròng1 đánh nguyên khối, một chiếc bát bạc tinh xảo, cùng mười hai vò rượu cốt sóng sánh với hương vị tuyệt trần. Ngoại trừ ông, phu nhân và một người quản gia thân tín, chẳng một ai - dù là gia nhân hay nữ tì trong nhà - hay biết về loại mỹ tựu này. Mỗi khi thưởng thức, người ta phải pha loãng một phần rượu với hai mươi phần nước, ấy vậy mà hương thơm tỏa ra từ chiếc bát pha vẫn ngào ngạt, quyến rũ đến mức chẳng ai nỡ lòng chối từ. Tôi cẩn thận đong đầy thứ rượu ấy vào một bầu da lớn, khoác thêm túi lương thực dự trữ lên vai, bởi linh tính đã mách bảo rằng tôi sắp sửa chạm trán một gã khổng lồ man rợ, sở hữu sức mạnh vô song nhưng lại chẳng biết đến lề luật hay lẽ phải ở đời.

"Tiến nhanh đến hang động, chúng tôi chẳng thấy bóng dáng gã khổng lồ đâu vì hắn còn đang mải chăn cừu trên triền vách. Nắm lấy thời cơ, cả nhóm lẻn vào trong, đưa mắt săm soi từng ngóc ngách. Những chiếc giá phơi trĩu nặng từng tảng pho mát thơm lừng; bầy cừu và dê non thì đông đúc tới độ các chuồng quây không sao chứa nổi. Chúng được phân tách rành rọt thành từng bầy: đầu tiên là đám cừu non vừa tròn một tuổi, kế đến là lứa vừa qua kỳ bú mẹ, và cuối cùng là những con hãy còn non nớt, tất thảy đều được quây riêng rẽ. Phía khu vực vắt sữa, vô số bình, bát và thùng gỗ đều ngập tràn những váng sữa đặc sánh. Đứng trước cảnh tượng ấy, các anh em chiến hữu hết lời van nài, mong tôi cho phép họ nẫng vài tảng pho mát mang về tàu trước; rồi sau đó sẽ lén quay lại, lùa cả bầy cừu dê non xuống thuyền mà dong buồm tẩu thoát. Phải chi lúc ấy tôi biết nghe lời, hẳn mọi sự đã êm đẹp biết bao! Nhưng không, tôi một mực khước từ. Tôi muốn được diện kiến tận mắt tên chủ nhân, ấp ủ hi vọng hắn sẽ ban tặng cho chúng tôi một món quà hiếu khách. Nào ngờ, khi gã khổng lồ thình lình xuất hiện, những người anh em tội nghiệp của tôi mới cay đắng nhận ra rằng, sinh vật gớm ghiếc này tuyệt nhiên chẳng phải kẻ dễ dàng đối phó.

"Chúng tôi đành nhen lửa, cắt vài tảng pho mát dâng lên tế thần, chia nhau lót dạ chút đỉnh, rồi thấp thỏm ngồi đợi gã Cyclops lùa đàn súc vật trở về. Vừa lù lù bước vào, hắn vác theo một bó củi khô khổng lồ để nhóm lửa nấu bữa tối. Hắn quăng sầm bó củi xuống nền hang, tạo nên một tiếng động rền vang như sấm sét khiến chúng tôi kinh hồn bạt vía, cuống cuồng lùi sâu vào tận hốc tối tăm nhất của hang. Trong lúc ấy, gã khổng lồ lùa toàn bộ những con cừu cái và dê cái vào trong để chuẩn bị vắt sữa, bỏ lại đám cừu đực và dê đực nhốt ngoài khoảng sân. Kế đó, hắn nhấc bổng một tảng đá khổng lồ, sừng sững lấp kín cửa hang. Tảng đá ấy to lớn đến mức, dù có huy động hai mươi hai cỗ xe ngựa bốn bánh vững chãi nhất cũng chẳng tài nào lay chuyển nổi. Xong xuôi đâu đấy, hắn bèn bệt xuống nền đá, từ tốn vắt sữa đám cừu và dê cái theo một trình tự răm rắp, rồi mới lùa từng con non vào bú mẹ. Hắn khéo léo làm đông một nửa lượng sữa, chắt riêng vào các rổ lọc tết bằng liễu gai; nửa còn lại hắn đổ đầy các bát lớn để dành uống trong bữa tối. Khi mọi việc đã đâu vào đấy, hắn bắt đầu nhóm lửa. Ánh lửa bùng lên, soi rõ mồn một chỗ chúng tôi đang nấp. Vừa bắt gặp những kẻ lạ mặt, giọng hắn rống lên:

"'Hỡi những kẻ lạ mặt, các ngươi là ai? Các ngươi giong buồm từ phương nao tới chốn này? Các ngươi là những thương nhân qua đường, hay chỉ là bọn hải tặc lang thang vất vưởng trên biển cả, sẵn sàng vấy máu chống lại mọi người, và cũng bị cả thế gian xua đuổi?'

"Hình thù gớm ghiếc cùng chất giọng ồm ồm rền vang của hắn khiến tim chúng tôi như rớt khỏi lồng ngực. Dù sợ hãi tột độ, tôi vẫn cố trấn tĩnh để cất lời: 'Chúng tôi là những chiến binh Achaea đang trên đường rời thành Troy hồi hương. Nhưng do ý muốn của thần Jove và sự khắc nghiệt của bão tố, con tàu đã bị cuốn dạt khỏi lộ trình. Chúng tôi vốn là thuộc hạ của Agamemnon, con trai Atreus - vị thống soái đã khắc ghi vinh quang chói lọi trên toàn thế giới nhờ công lao san phẳng một thành bang vĩ đại và tiêu diệt vô vàn kẻ thù. Trôi dạt đến đây, chúng tôi khiêm nhường cầu xin ngài mở lòng hiếu khách, hoặc chí ít cũng ban cho chúng tôi chút ân huệ mà những lữ khách phương xa thường mỏi mong. Cầu xin ngài hãy nể sợ cơn thịnh nộ của các vị thần, bởi chúng tôi đang tha thiết nương nhờ sự che chở của ngài. Thần Jove tối cao luôn dang tay bảo bọc những lữ khách hiền lương, và ngài chính là đấng báo thù sẵn sàng giáng họa để đòi lại công bằng cho mọi kẻ ngoại quốc bơ vơ gặp nạn.'

"Đáp lại những lời khẩn cầu ấy chỉ là một giọng điệu tàn nhẫn, lạnh lùng: 'Kẻ lạ mặt kia,' hắn gầm gừ, 'ngươi quả là một tên ngốc, hoặc bằng không thì chẳng biết tí ti gì về vùng đất này. Ngươi dám đứng đó mà răn dạy ta về việc sợ sệt các vị thần hay trốn tránh cơn giận dữ của họ sao? Giống loài Cyclopes chúng ta chẳng hề bận tâm đến Jove hay bất kỳ thế lực thần thánh nào của các ngươi đâu, bởi sức mạnh của chúng ta còn vượt xa bọn họ gấp bội. Đừng hòng mộng tưởng ta sẽ nể mặt thần Jove mà tha mạng cho ngươi cùng đám tùy tùng, trừ phi tự tay ta thấy thích thế. Còn bây giờ, khôn hồn thì khai mau: các ngươi đã neo tàu ở chốn nào khi vừa cập bờ? Nó đang lẩn khuất quanh mũi đất, hay nằm phơi mình ngay sát bãi cát kia?'

"Nghe những lời dò xét ấy, bằng sự xảo quyệt đã ngấm vào máu, tôi dư sức nhìn thấu dã tâm của hắn nên tuyệt nhiên chẳng hề sập bẫy. Tôi buông một lời nói dối không chớp mắt: 'Thần Neptune,' tôi đáp, 'đã giáng những đợt sóng dữ dằn, xô nát bấy con tàu của chúng tôi vào những vách đá sắc lẹm ở đầu kia lãnh địa của ngài. Tàu đắm chìm trong biển khơi cuồng nộ, chỉ còn tôi cùng vài người anh em dạt vào bờ, may mắn thoát khỏi nanh vuốt của thần chết.'

"Chẳng thèm cất nửa lời đáp lại, tên ác ôn tàn nhẫn ấy thình lình vươn tay chộp lấy hai người của tôi cùng một lúc, rồi lạnh lùng quật mạnh họ xuống nền đá tựa như ném những con cún con quặt quẹo. Não của họ tóe ra lênh láng, nhuộm đỏ cả khoảng đất ẩm ướt. Trơ trẽn và điên cuồng, hắn xé toạc xác họ ra thành từng mảnh vụn để làm mồi cho bữa tối. Hắn ngấu nghiến những người anh em của tôi hệt như một con sư tử đói khát chốn hoang dã; hắn nuốt chửng cả thịt, xương, nhai nát tủy và ăn sạch nội tạng, chẳng chừa lại bất cứ mẩu vụn nào. Chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng tột độ ấy, chúng tôi chỉ biết sụp xuống khóc lóc, nức nở giơ tay lên trời xanh cầu cứu, bởi sự hoảng loạn đã tước đi mọi lối thoát. Đợi đến khi cái dạ dày phệ khổng lồ đã ứ hự thịt người, gã Cyclops tợp thêm một ngụm sữa tươi nguyên chất để tráng miệng. Đoạn, hắn ngả ngốn, sải dài thân hình thô kệch trên mặt đất giữa bầy cừu và chìm vào giấc ngủ ngáy vang rền. Lửa giận bốc lên ngùn ngụt, tôi toan rút phăng thanh gươm sắc lẹm, lao tới đâm thẳng một nhát chí mạng vào tim hắn. Nhưng rồi lý trí đã kịp thời kìm hãm tôi lại: nếu kết liễu hắn ngay lúc này, chắc chắn tất cả chúng tôi sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn trong bóng tối, bởi sức người nhỏ bé làm sao xê dịch nổi tảng đá khổng lồ đang lấp kín cửa hang kia. Thế là chúng tôi đành thu mình lại, chôn chân tại chỗ, ôm mặt khóc than, thở dài não nuột chờ đợi cho đến khi những tia sáng đầu tiên của ngày mới ló rạng.

"Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, vừa khoác lên bầu trời dải y phục rực rỡ, gã quái vật lại lồm cồm bò dậy nhóm lửa. Hắn thản nhiên vắt sữa dê và cừu cái theo đúng một trình tự đều đặn, rồi để mặc cho những con non ùa vào bú mẹ. Vừa vắt cạn giọt sữa cuối cùng, gã lại vươn tay chộp lấy thêm hai người anh em của tôi, nhẫn tâm xé xác họ làm bữa điểm tâm buổi sáng. No nê xong xuôi, hắn vươn vai đẩy tảng đá khỏi cửa hang một cách nhẹ bẫng để lùa đàn cừu ra ngoài, rồi lập tức kéo tảng đá lấp lại y như cũ-động tác trơn tru hệt như kẻ dứt khoát đậy nắp một ống đựng tên. Xong việc, hắn hét lớn, vung roi kêu 'Suỵt, suỵt' lùa cả bầy cừu rầm rập tiến lên sườn núi. Bị giam cầm trong không gian ngột ngạt, tôi chìm vào suy tư, nhọc nhằn đan kết một kế hoạch trả thù tàn khốc nhất, với khát khao giành lại vinh quang và bảo toàn mạng sống cho chính bản thân mình."

"Sau một hồi suy tính, tôi nhận ra đây là kế hoạch vẹn toàn nhất: Gã Cyclops để một cây gậy khổng lồ gần chuồng cừu; đó là một thân ô liu còn tươi rói, được hắn đốn về định làm gậy chống khi đã khô. Nó to lớn đến mức trông chẳng khác nào cột buồm của một chiếc tàu buôn hai mươi mái chèo, vạm vỡ đủ sức rẽ sóng vượt đại dương. Tôi tiến đến, chặt lấy một đoạn chừng sáu bộ, rồi giao cho các anh em đẽo gọt một đầu cho thật nhẵn nhụi. Khi họ làm xong, chính tay tôi vót nhọn hoắt và thui trên lửa đỏ để phần đầu cứng cáp hơn. Hoàn tất, tôi vùi kỹ thanh gỗ dưới lớp phân thú rải rác khắp hang, rồi bảo các anh em rút thăm xem ai sẽ liều mạng cùng tôi nâng khúc gỗ đâm thẳng vào mắt con quái vật lúc hắn say giấc. Thăm rơi trúng ngay bốn người mà tôi ưng ý nhất, và tôi là người thứ năm nhập bọn. Chiều muộn, tên ác ôn lùa đàn gia súc trở về hang-nhưng lần này, hắn lùa toàn bộ vào trong, chẳng để sót lại con nào ngoài sân; hẳn là hắn đã đánh hơi thấy điều gì, hoặc có vị thần nào xui khiến. Vừa lấp kín cửa hang bằng tảng đá tảng, hắn ngồi phịch xuống, vắt sữa đàn cừu và dê theo đúng thứ tự, rồi cẩn thận thả lũ con non vào bú mẹ. Mọi việc xong xuôi, hắn lại tóm lấy hai người của tôi mà nhai ngấu nghiến cho bữa tối. Chớp lấy thời cơ, tôi bưng một bát gỗ thường xuân sóng sánh rượu vang đen sậm tiến lại gần hắn:

"'Nhìn này, Cyclops,' tôi nói, 'mi đã xơi cơ man nào là thịt người, vậy hãy cầm lấy và nếm thử chút rượu này, để biết trên tàu của ta chở thứ thức uống hảo hạng nhường nào. Ta mang rượu đến dâng mi làm lễ vật, ôm hi vọng mi sẽ động lòng trắc ẩn mà giúp ta trên hành trình hồi hương. Vậy mà mi chỉ không ngừng lồng lộn và gầm rú thật quá quắt. Mi nên thấy hổ thẹn đi; cư xử tàn độc như thế, mi còn mong chờ ai dám đến thăm mi nữa đây?'

"Hắn liền cầm lấy bát và nốc cạn. Hương vị tuyệt hảo của thứ rượu vang khiến hắn thích thú tột độ, đến mức nài nỉ xin thêm một bát đầy ắp. 'Tốt bụng lắm,' hắn nói, 'hãy rót cho ta thêm chút nữa, và xưng danh ngay cho ta biết. Ta muốn ban cho ngươi một món quà mà chắc chắn ngươi sẽ hài lòng. Xứ này của chúng ta cũng có rượu vang, bởi đất đai trồng được nho và ánh mặt trời ủ cho chúng chín mọng, nhưng thứ tuyệt tửu này ngon tựa hồ như Mật hoa và Thức ăn của thần linh hòa quyện lại vậy.'

"Tôi liền chiều ý hắn; ba lần tôi rót đầy bát, và cả ba lần hắn đều ngửa cổ tu sạch bách chẳng chút e dè. Rồi khi thấy hơi men đã bốc ngùn ngụt lên đầu hắn, tôi mới cất lời với vẻ điềm nhiên, cố tỏ ra đáng tin nhất có thể: 'Cyclops, mi đã hỏi tên ta thì ta sẽ xưng danh; và sau đó, hãy trao cho ta món quà như mi đã hứa. Tên ta là Không Ai Cả; đó là cái tên mà cha mẹ và tất thảy bằng hữu vẫn luôn gọi ta.'

"Nhưng tên ác ôn tàn nhẫn gầm gừ đáp lời: 'Vậy thì ta sẽ nhai xương tất thảy đồng đội của Không Ai Cả trước tiên, và sẽ chừa Không Ai Cả lại cuối cùng. Đó chính là món quà ta dành tặng ngươi.'

"Dứt lời, hắn lảo đảo rồi ngã vật ra đất, nằm ngửa tềnh hênh. Cái cổ vạm vỡ khổng lồ ngoẹo hẳn ra sau, và một giấc ngủ say sưa, miên man nhanh chóng bủa vây lấy hắn. Chẳng mấy chốc, hắn nôn thốc nôn tháo, mửa ra lênh láng cả rượu lẫn những tảng thịt người mà hắn vừa ngấu nghiến, bởi hắn đã say bí tỉ. Ngay lập tức, tôi đẩy thanh gỗ vào sâu trong đống than hồng để nung, không quên hết lời động viên để các anh em chẳng ai nản chí hay run sợ. Khi khúc gỗ tuy còn xanh nhưng đã rực đỏ và chực bốc cháy, tôi liền rút nó ra khỏi ngọn lửa. Các anh em vòng trong vòng ngoài vây quanh tôi, bởi thần linh đã thổi bùng ngọn lửa dũng khí vào tim họ. Chúng tôi cắm phập đầu nhọn hoắt của thanh gỗ vào mắt con quái vật, dồn toàn bộ sức nặng của cơ thể tì chặt lên đó, còn tôi thì không ngừng xoay tít nó, tựa như một người thợ mộc đang hì hục khoan ván tàu bằng cái khoan tay, nơi hai gã thợ kéo bánh xe và dây đai nhịp nhàng xoay vòng không ngơi nghỉ. Cứ thế, chúng tôi xoáy xoáy thanh gỗ rực lửa vào con mắt độc nhất của hắn, cho đến khi dòng máu sôi sùng sục trào ra lênh láng quanh thân gỗ; hơi nóng bốc lên ngùn ngụt từ nhãn cầu đang rực cháy thiêu rụi cả mí mắt và lông mày, làm gốc rễ con mắt cháy xèo xèo trong lửa. Giống như lúc thợ rèn nhúng chiếc rìu hay chiếc búa nhỏ đang đỏ lửa vào máng nước lạnh để tôi sắt-phát ra tiếng xèo xèo chát chúa, giúp cho thứ kim loại ấy thêm phần sắc bén-con mắt của gã Cyclops cũng xì xèo cháy khét lẹt quanh khúc gỗ ô liu hệt như vậy. Tiếng la thét rống lên thảm thiết gớm ghiếc của hắn làm cả hang động rung chuyển, dội vách đá ầm ầm. Quá khiếp đảm, chúng tôi ba chân bốn cẳng lùi lại tìm chỗ nấp. Gã khổng lồ giật phăng thanh gỗ nhầy nhụa máu mủ ra khỏi hốc mắt, quẳng ra xa trong cơn điên cuồng phẫn nộ và đau đớn tột cùng. Vừa quằn quại, hắn vừa gầm rú gào gọi những tên Cyclopes hàng xóm đang cư ngụ quanh những mỏm đất lạnh lẽo lộng gió gần đó. Nghe tiếng la thét, đám khổng lồ rùng rùng kéo đến vây kín ngoài cửa hang, nhao nhao hỏi xem cơ sự gì đã đổ ụp xuống đầu hắn.

"'Có chuyện gì vậy, Polyphemus,' họ lớn tiếng hỏi, 'mà anh lại rống lên ầm ĩ thế, xé toạc cả màn đêm thanh tĩnh và khiến chúng tôi không sao chợp mắt được? Có kẻ nào đang táo tợn ăn trộm cừu của anh sao? Hay có kẻ nào đang mưu toan cướp mạng anh bằng quỷ kế hay vũ lực chăng?'

"Từ trong hang thẳm, Polyphemus gào lên thảm thiết: 'Không Ai Cả đang giết tôi bằng mưu mẹo; không ai giết tôi bằng vũ lực cả!'

"'Vậy thì,' họ đáp, 'nếu không có ai tấn công anh, anh ắt hẳn đã dính bạo bệnh rồi; một khi vị thần tối cao Jove gieo rắc tật nguyền thì chẳng cách nào cứu vãn nổi, tốt hơn hết anh hãy thành tâm cầu nguyện cha mình là thần Neptune đi.'

"Thế rồi bọn họ lục tục kéo nhau đi, còn tôi thì đắc ý cười thầm trong bụng vì mưu kế xảo diệu của mình đã thành công rực rỡ. Về phần gã Cyclops, vừa rên rỉ quằn quại trong cơn đau đớn tột độ, hắn vừa quờ quạng đôi tay mò mẫm cho tới khi chạm được vào tảng đá tảng rồi hất nó ra khỏi cửa. Hắn ngồi tịt ngay lối ra vào, dang rộng hai tay sờ soạng hòng chộp cổ bất cứ kẻ nào định lẻn ra ngoài cùng bầy cừu, bởi hắn ngỡ rằng tôi có thể ngu ngốc đến mức liều mình làm vậy.

"Về phần mình, tôi không ngừng vắt óc suy tính làm sao để cứu lấy mạng sống của bản thân và các anh em. Tôi trù tính, bày mưu lập kế bằng tất thảy sự quyết tâm của một người thấu hiểu mạng sống đang treo lơ lửng trên sợi tóc, bởi lẽ hiểm nguy đang bủa vây trập trùng. Cuối cùng, tôi vạch ra một phương sách vẹn toàn nhất: những con cừu đực vạm vỡ mang trên mình bộ lông rậm rạp đen nhánh. Thừa lúc tĩnh lặng, tôi âm thầm bện những dải liễu gai - thứ mà tên ác quỷ thường dùng lót chỗ ngủ - để buộc chúng lại thành từng cụm ba con. Mỗi cụm sẽ giấu một người dưới bụng con cừu giữa, trong khi hai con hai bên làm mộc che chắn; thế là mỗi người được ba con cừu chở che. Riêng phần tôi, tôi ngắm chuẩn một con cừu đực oai vệ, đẹp mã hơn thảy đồng loại. Tôi bám riết lấy lưng nó, luồn mình ẩn giấu dưới lớp lông dày cộm nơi bụng. Tôi kiên nhẫn nép mình, mặt ngửa lên, tay bám chặt không buông dẫu chỉ một giây.

"Cứ thế, chúng tôi nếm trải những khắc khoải kinh hoàng, mòn mỏi ngóng đợi bình minh. Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, e ấp thức giấc, bầy cừu đực nhộn nhịp ùa ra đồng cỏ, trong khi bầy cừu cái vẫn réo rắt kêu be be quanh chuồng chờ vắt sữa, bởi bầu vú chúng đã căng cứng tưởng chừng như nứt nẻ. Tuy quằn quại trong cơn đau thấu tận tâm can, chủ nhân của chúng vẫn lần mò sờ soạng lưng từng con cừu khi chúng đứng thẳng. Nhưng gã làm sao đủ tinh tường để nhận ra những người đàn ông đang náu mình dưới lớp bụng dày dặn ấy. Con cừu đực đầu đàn nặng nề bước ra sau rốt, trĩu nặng dưới lớp lông mượt mà và sức nặng của chính tôi - kẻ đang cuộn mình ẩn giấu đầy mưu trí. Polyphemus giữ chặt lấy nó và cất tiếng:

"'Con cừu đực thân thiết của ta, cớ sự gì khiến mi nán lại hang cuối cùng vào sáng nay? Xưa nay mi đâu có thói nhường cừu cái đi trước. Mi luôn oai phong dẫn đầu bầy, phóng tung tăng đón thảm cỏ ngát hương hay dòng suối róc rách, rồi thoăn thoắt về chuồng sớm nhất lúc xế bóng. Cớ sao nay mi lại lùi lũi chót bầy? Phải chăng mi đang xót xa cho chủ nhân của mi - kẻ vừa mất đi một con mắt, đang ôm nỗi uất hận tột cùng vì tên Không Ai Cả ác ôn và lũ đồng bọn đê tiện của hắn đã chuốc rượu làm mù mắt ta? Nhưng ta thề sẽ bắt hắn phải đền mạng. Giá mà mi có thể thấu hiểu và cất lời, mi hãy chỉ cho ta biết tên khốn ấy đang lẩn trốn nơi nao. Ta sẽ giáng đòn đập nát sọ hắn, văng tung tóe khắp cái hang này. Có vậy, nỗi oán hờn mà tên vô lại Không Ai Cả gieo rắc cho ta mới vơi đi đôi chút.'

"Dứt lời, gã thả con cừu đực bước ra ngoài. Khi chúng tôi vừa khuất khỏi hang và sân một đoạn, tôi lập tức tuột khỏi bụng con cừu đực, rồi vội vàng cởi trói cứu thoát các anh em. Chúng tôi lùa ngay đàn cừu béo tốt, dồn ép chúng không ngừng nghỉ thẳng xuống con tàu. Thấy chúng tôi sống sót trở về, thủy thủ đoàn vỡ òa trong niềm vui khôn tả, nhưng rồi lại nức nở rơi lệ tiếc thương cho những người xấu số đã vong mạng dưới tay tên Cyclops. Tôi nhíu mày, gật đầu ra hiệu bảo họ kìm nén tiếng khóc, đoạn ra lệnh đưa toàn bộ bầy cừu lên thuyền rồi lập tức giương buồm. Mọi người mau chóng lên tàu, ngồi vào vị trí, nhịp nhàng guồng mái chèo chém rẽ mặt biển xám ngoét. Khi thuyền đã rẽ sóng xa bờ một đoạn vừa vặn đủ nghe tiếng nói, tôi mới cất lời buông tiếng nhạo báng gã Cyclops.

"'Cyclops,' tôi quát lớn, 'mi đáng ra phải tự lượng sức mình trước khi xẻ thịt các anh em của ta ngay trong sào huyệt của mi. Đồ cặn bã, mi dám nhai nuốt cả những vị khách ghé thăm nhà mình sao? Giờ thì mi phải hiểu rằng tội ác của mi đã phơi bày, và thần Jove cùng chư thần đã giáng xuống đầu mi sự trừng phạt đích đáng nhất.'

"Từng lời tôi thốt ra như châm thêm ngòi nổ, khiến gã phẫn nộ đến điên cuồng. Gã bứt tung cả đỉnh núi sừng sững, ném ầm xuống ngay trước mũi tàu của tôi, suýt chút nữa là nghiền nát bánh lái. Biển cả chấn động khi tảng đá khổng lồ giáng xuống, cuộn sóng ào ạt đẩy giật chúng tôi lùi lại, dạt hẳn vào đất liền. Tôi nhanh trí vớ lấy cây sào dài, gắng sức chống thuyền ra xa, vừa gật đầu hối thúc các anh em phải chèo bán sống bán chết. Mọi người vắt kiệt sức bình sinh mà guồng mái chèo. Khi khoảng cách đã xa gấp đôi lúc trước, tôi lại định mỉa mai gã Cyclops thêm một bận nữa, song các anh em đã hốt hoảng khẩn thiết van nài tôi hãy nín lặng.

"'Đừng ngài ơi,' họ kêu thét lên, 'đừng dại dột mà trêu tức con ác thú hung tàn này thêm nữa. Hắn vừa ném một tảng đá hất tung chúng ta lại bờ, chúng tôi ngỡ đâu mạng mình đã tận. Nếu hắn mà nghe thêm tiếng ngài nữa, hắn sẽ giã nát đầu chúng ta, đập vụn từng tấm ván thuyền thành một đống bùng nhùng bằng những tảng đá xù xì kia, vì sức ném của hắn kinh hồn lắm.'

"Nhưng tôi nào để lọt tai lời họ, cứ gân cổ hét lớn về phía gã trong cơn thịnh nộ ngút ngàn, 'Cyclops, nếu có ai gặng hỏi mi kẻ nào đã phế đi con mắt và tàn phá dung mạo của mi, hãy nói đó chính là dũng sĩ can trường Ulysses, con trai của Laertes, người ngự ở Ithaca.'

"Nghe đến đây, gã rên rỉ rồi gào lên, 'Ôi khốn nạn thay, khốn nạn thay, vậy là lời tiên tri xưa kia về ta nay đã ứng nghiệm. Thuở trước, nơi đây từng có một nhà tiên tri vóc dáng vạm vỡ, can trường, tên là Telemus, con trai của Eurymus. Lão là một bậc tiên tri kiệt xuất, đã soi tỏ mọi điềm báo cho giống loài Cyclopes đến tận lúc tuổi già bóng xế. Lão từng phán rằng, mọi cơ sự này một ngày kia sẽ giáng xuống đầu ta, và ta sẽ đánh mất ánh sáng bởi chính bàn tay của Ulysses. Lâu nay, ta vẫn đinh ninh kẻ đó phải mang cốt cách uy nghi, sức mạnh bạt sơn phá thạch, ngờ đâu hắn chỉ là một tên còm nhom, ẻo lả tầm thường. Hắn đã đục mù mắt ta bằng trò tiểu nhân lợi dụng lúc ta say khướt. Lại đây nào, Ulysses, để ta ban cho mi những món quà đáp đền lòng hiếu khách, và khẩn cầu cha ta là thần Neptune phù hộ mi trên bước đường lưu lạc - bởi Neptune chính là đấng sinh thành ra ta. Nếu Người muốn, Người sẽ chữa lành cho ta, điều mà chẳng một kẻ phàm trần hay thần thánh nào có thể làm được.'

"Bấy giờ tôi đanh thép đáp, 'Ta mong sao có thể tự tay đoạt mạng mi tức khắc, đày mi xuống tận cõi âm ty của Hades, chắc chắn như việc một mình thần Neptune cũng chẳng tài nào cứu vãn được con mắt đã hỏng của mi.'

"Nghe vậy, gã vung hai tay lên lưng chừng trời rống lên cầu nguyện, 'Hỡi thần Neptune vĩ đại, xin hãy thấu tiếng con. Nếu con thực sự là giọt máu do chính Người sinh ra, xin Người hãy trút lời nguyền, khiến tên Ulysses vĩnh viễn không bao giờ có thể sống sót trở về quê nhà. Bằng không, nếu số phận đã định cho hắn được trở về bên bằng hữu, thì hãy để hắn trở về trong muộn màng và đớn đau tột độ sau khi đã mất trắng tất thảy các anh em [hãy để hắn trở về trên con thuyền của một kẻ xa lạ và chuốc lấy tai ương ngay trong chính mái ấm của mình.]'

"Gã cầu nguyện như thế, và thần Neptune đã thấu tai. Sau đó, gã vác lên một tảng đá khổng lồ, to hơn tảng trước vạn phần, vươn cao tay rồi phóng đi với sức mạnh tàn khốc. Tảng đá rơi uỳnh ngay sát con tàu, suýt chút nữa đập nát bánh lái. Biển khơi rung chuyển dữ dội, ngọn sóng tạo ra cuồn cuộn hất tung thuyền chúng tôi vút lên phía trước, thẳng tiến về bờ đảo xa.

"Rốt cuộc, khi chúng tôi đặt chân đến hòn đảo nơi những con tàu còn lại đang neo đậu, các anh em đang sụt sùi rơi lệ, cõi lòng như lửa đốt ngóng đợi. Chúng tôi lao tàu lên bãi cát thoai thoải rồi bước xuống bờ. Đàn cừu của gã Cyclops cũng được lùa lên, tôi phân chia công bằng cho tất cả để không ai phải tị nạnh. Riêng con cừu đực đầu đàn, các anh em đồng lòng dâng cho tôi như một phần thưởng danh dự. Thế là tôi hiến tế nó ngay trên bờ biển, hỏa thiêu phần xương đùi để dâng lên thần Jove, đấng chúa tể muôn loài. Nhưng Người lại hờ hững với lễ vật của tôi, trong đầu Người chỉ quẩn quanh những suy tính làm sao để nhấn chìm thảy tàu bè lẫn các anh em của tôi.

"Cứ thế, suốt một ngày dài đằng đẵng cho tới lúc mặt trời khuất bóng, chúng tôi no say thịt nướng và rượu vang. Khi ráng chiều buông xuống, bóng tối bao trùm, chúng tôi ngả lưng cắm trại ngay trên bãi cát. Rồi khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, thức giấc, tôi hạ lệnh cho các anh em tháo dây neo, lên thuyền. Mọi người nhanh chóng vào vị trí, nhịp nhàng guồng mái chèo chém rẽ mặt biển xám ngoét. Chúng tôi lại dong buồm khởi hành, cõi lòng trĩu nặng buồn thương, nhưng vẫn thầm tạ ơn trời vì đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần, dẫu vẫn xót xa vì phải vùi lại những người anh em đồng cam cộng khổ."



  1. "Talent" là một đơn vị đo lường trọng lượng và tiền tệ cổ đại của người Hy Lạp. Một talent vàng là một khối lượng vàng rất lớn, thể hiện giá trị cực kỳ to lớn của món quà mà vị thầy tế dành tặng.